Đề tài Bảo tồn, phát huy diễn xướng dân gian Hát Dô (xã Liệp Tuyết, huyện Quốc Oai, tỉnh Hà Tây) hệ thống bộ môn diễn xướng dân gian Hát Do ở Liệp Tuyết dể tìm ra cái hay, cái đẹp, đặc điểm văn hóa tín ngưỡng, văn hóa tâm linh, thẩm mỹ của vùng quê Liệp Tuyến nói riêng và một phần của văn hóa xứ Đoài. Từ đó tìm ra hướng bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa của Hát Dô và Hội Dô.
Trang 1
BOGIAO DUC VA DAO TAO HO VANHOA, THE THAO VA DULICH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HÓA HÀ NỘI sa DANG THI HANH,
BAO TON, PHAT HUY DIỄN XƯỚNG DÂN BIAN HAT 06
(XÃ LIỆP TUYẾT, HUYỆN QUỐC OAI, TĨNH HÀ TÂY)
LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HÓA HỌC
HÀ NỘI - 2008
Trang 2
ĐĂNG THỊ HẠNH
BAO TON, PHAT HUY DIỄN XƯỞNG DÂN GIAN HÁT DO
(XÃ LIỆP TUYẾT, HUYỆN QUỐC OAI, TỈNH HÀ TÂY)
“Chuyên ngành: VĂN HÓA HỌC
"Mã số: 60 4170 LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HÓA HỌC
"NGƯỜI HƯỚNG DAN KHOA Hoc (0, TSKH TỔ NGỌC THANH
HÀ NỘI -2008
Trang 3Muc Luc Mục lục
anh mu ede chi viết ắt và ky hiệu
Mo nau
‘CHUONG ts DIEU KIÊN TỰ NHIÊN XÃ HỘI; TRUYỀN THUYẾT VÀ SỰ TỔN
“TẠI CỦA HÁT ĐÔ ở LIỆP TUYI
1.1, Điệu kiện tự nhiền- sĩ hội
LL vit ialy
L.L2 Dân cự,
1.1 Đời sống kinh tế
1-14 Truyền thống vàn hóa gián đục
1-L% Đời sống tâm lnh ín ngưỡng
13 Tuyền thuyết và sự ổn ti của Hát,
1.2.1, Tryén thuyết
"`
'CHƯƠNG 3:HÌNH THÚC VÀ ĐẶC ĐIỂM CỦA HÁT HỘI ĐÔ,
2.1 Những hình thức của Hát Hội Dô
311 Tổ chứ hội Do
2.1.2 Ning hinh thi diễn xướng hát D
32 Đặc điền của Hái Hội Dó
3221 Ca ngợi ảnh hùng dân tộc và lịch sử dân tộc
32:3 Mô tả cuộc sống giản đị cũa người ân thông qua đ hùy Lô óc
‘wong cube sing no sim yen sui học hành đỗ đạt
2.2.3 Ca mggi cin sic tien nhiên làng xóm,
2.2.4 Thirtim hidu gd uj nhiều mại của Hát Hội Độ
(CHUONG 3: THUC TRANG VÀ NHỮNG GIẢI PHÁP BẢO TỔN, PHẤT HUY ĐIỄN XUONG DAN GIAN HAT DO TRONG DOI SONG VAN HÓA CỦA NGƯỜI DAN LIỆP TUYẾT,
$6
37
39
63 ái
Trang 43.13 Những hạn chế
3.2 Gili pháp ảo ồn, phát huy diễn sướng Hát D trong những năm tới 32:1, Phumg án bảo tổn ống
3.22 Bio tin Hoi Do
3.2.3 Nang cao pit uy tic dung cia CLB Hit Do
3.2.4 Ri ồn, lưu giữcác văn bản chếptay hằng chữ Nôm được coi
80
sa
si 87
Trang 5DANH MUC CAC CHU VIET TAT VA KY HIEU
Trang 6‘Van hod din gian là hộ phận cấu thành của văn hoá dân tộc Trong hơn S0 tộc người trên đất nước Việt Nam, đều hình thành nên những sắ thái, diện mạo, cách sống cách nghĩ cách cảm khác nhau chơ mỗi tộc người Văn hóa cdân gian còn tường ổa mãi với Trang ca Dam San của đồng bào Ê De; Silt
“Nhã của đồng bào Gia Lai Tiến dặn người với của đồng bào Tay, Dé dt dé
“ước của đồng bào Mường: Hút quan họp Bắc Ninh; Hút Ví Nghệ Tĩnh; Hát
on Vin Phi Ning bo phn vain hóa đn gian ấy đã làm giàu cổ thêm cho Kho tầng văn hóa Việt Nam,
[Nig nam gin diy iệc nghiên cứu văn hoá truyền thống trong phạm,
vi cả nưấc đã được Đăng, Nhà nước và giới nghiên cứu quan tâm, chỉ đạn
“Cảng tức bảo tốn và phát huy các giá tị văn hoá tuyển thống đã được uiển khả rộng khấp trên phạm vỉ cả nước, súp phần chỉ ra sự thống nhất nhưng không kêm phần phong phú mang sắc thi của từng dịa phương
à Tây, địa anh cổ nằm trong cái nôi của nên văn mình châu thổ Song Hồng, thuộc nước Van Lang dud thi các Vua Hùng buổi dấu dựng nước Ni đây đã bảo lưu được nhiều giá ị văn hoi truyền thống (giá tị vật thể và phí
‘vat thể với hơn 3000 đi ch rong đó có I.112 đi ích đã được xếp hạng) Gắn liền với ác i ích là những hình thức diễn xướng dãn ian, tr chơi dân gian, sinh hoạt văn hóa dân gian phung phú nhự Hội chùa Hương, chùa Thấy, chùa
“Tây Phương, Tram Giaa, hội đền Và, hội làng La, ước Giá Những lẽ hội và các hình thức diễn xướng dân gian này là điều kiện sản sinh một vùng văn hóa cdân gian Hà Tây phong phú và đọc đầu với nhiều loi
tủ các huyện Hoài Đức, Chương Mỹ Thanh Oai; hò Cửa dịnh và múa hát TRi bông ở huyện Phổ Xuyên, Hát Chèo Tâu ở Đạn Phượng, Hát Đồ ở huyện
“Quốc 0i
h diễn xướng: hất cá
Trang 7“Xã hội ngày nay đang xuất hiện nhiều loại hình nghệ thuậi, đặc bie phát triển rắm rộ cũa âm nhạc hiện đại đã làm cho một xố môn nghệ thuật truyền thống dang đứng trước nguy cơ hị mai một rong đó có diễn xướng Hát TDo ở xã Liệp Tuyết, huyện Quốc Oai, tỉnh Hà Tây Lâm gì để bảo tổn một bộ môn diễn xướng dân ca nghĩ lễ độc đáo ở Hà Tây, Đó là một câu hỏi lớn đồi
hi các nhà chuyên môn và những người có ch nhiện của địa phương trì lời, Cho đến nay Củ lạc bộ Hát Dò xã Liệp Tuyết đã được Hội Văn nghệ dàn gian Việt Nam công nhận là địa chỉ văn nghệ dân gian Do vậy chỉ ra cái hay cái đẹp của Hát Dô, các mới quan hệ giữa Hát Dò với các chủ thể ở tững địa phương: những phương hướng bảo tốn, lưu giữ phát huy những giấ
tị tích cực đồ cũng là cách tiếp cận để mọi người trăn trọng, gì giữ những
to của nhân dân, từ đấy nêu cao ý thức giữ
hát huy giá trị văn hoá truyền thống trước nhủ cấu đổi mới của đấ nước,
‘ip tng nhủ cấu tm về văn hoá cội nguồn đã và dang dig ra tong đời sống xã hội Với lý do trên tác giả luận văn chọn Ho đầm, phát huy điểm
"tổng dân gian Hát Dỏ (xã Liệp Tuyết, huyện Quốc Oi, tỉnh Hà Tây) làm,
để Lãi luận văn thạc sỹ của mình
Trang 8
gu din ea tong Hat DO
+ Mit Đô, hát Chèo Tâu của ác gi Trấn Bảo Hưng- Nguyễn Đăng Hod, i Vin hod thông in Hà Tây ti bản lần I năm 1999, Công trình này giới thiệu ương đi đấy đã về Hat Do
= Hội Dô Kiễu Thủ Hoạo
ở VHTT Hà Tây 1999, niệu Hội Dô
= Dự án sưu tâm, bảo về dân ca Hà Tây, Bio cáo khoa học, Sở VHTT- Trung tâm VHTT Hà Tây- 2001
+ Ditch và lễ hội đền Khánh Xuân của Phùng Văn Thành - Viện Nghiên cứu Van hoá (Để ti tap sy) Để tôi tập trừng chủ yếu vào phân ch mmiệu tả ến Khánh Xuân và Hội Dũ,
[gol a hit Hoi Do di được nhác tới rong các báo, ạp chí văn hoá văn nghệ, tong các sinh hoạ khoa học
‘Voisin thin ip thu, iếp nổi, kế hứa kết quả nghiên cứu của các công tte, tài Báo tồn, phát hay diễn xướng dâm gien Hát Dô (xã Liệp
“Tuyết, huyện Quốc Oai, nh Hà Tây) nhấn mạnh việc quan sát những biến đồi hiện nay để từ đồ thấy được xu thế và nguyện vọng của nhân dân ung việc
"hảo tần và phất huy giá t văn hoá cổ tuyên
3 MUC DICH VÀ NHIÊMM VỤ NGHIÊN CỨU
Jul Mue dich nghien ctu
“Tác giả luận văn muốn hệ thống bộ min din xing dn gin Ht Do Liệp Tuyết để im ra cái hay, cái đẹp, đặc điểm vàn hoá tín ngường, văn hoá
um tinh, than my ca ving quê Liệp Tuyết nối iêng và một phần của văn
ho xứ Đaài, Từ đồ ìm rã hướng bả lồn và phất huy các giá tị văn hoá của
at Do a Hoi Do (got tt Hat Hi Do)
Trang 9-32 Nhiệm vụ nghiên cứu
~ Tầm hiểu điều kiện tự nhiền xã hội của xã Liệp Tuyểi, huyện Quốc
“Oai tình Hà Tây: ruyền huyết à sự bại của Hát Dó
- Hình hức, đc điềm của diễn xướng dân gian Hit Hoi Do với những hân ích nhận dịnh khách quan và khoa học,
~ Nêu thự trạng Hát D hiện nay và để ra những giải php cho việc bảo tổn, nhất tiển Hát Dũ trong những năm tới
-+-ĐỐI TƯỢNG VA PHAM VE NGHIEN CCU
.41.Đôi tương nghiên cứnc
Tất Dô là một thể loại điền sướng dân gian phong phú, da dạng, mang Cđặc trừng của dân cá nghỉ lễ đồng thời cổ sự vận động ong không gian và thời gian, D vậy đối tượng nghiên cứu của luận vn
- Nghệ thuật diễn xướng dân gian Hit Do trong môi rường tự hiện và
xã hội xã Liệp Tuyế, huyện Quốc Oai và một số tha liền quan thuộc các xã lan cin
= Nehien cau amg |
ình thức và đặc diểm của Hát Hội Dò
= Các hoạt động diễn xướng khi ich khỏi ía ngưỡng tốn ti như một loại hình dân ca tmyyễn thống
42 Pham rỉ nghiên cứu:
Không gian:
Nghiên cứu Khảo sát các thôn của 2 xã Liệp Tuyết và Tuyết Nghĩa,
“huyện Quốc Odi Bạo gốm các thôn: Đại Phụ, Vĩnh Phúc, Bái Nội, Bấi Ngoại
‘Thong Dut, Dit DS, Ao Sen, Cổ Hiền, Đúng Sơn, Có Lâm, Tuyết Nghĩa Tập trăng chủ yếu ở 4 thôn Bái Nội, Bái Ngoại, Đại Phú, Vĩnh Phúc và một số sĩ lần cận
Trang 105 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CŨU
Tác gí nột số phương pháp nghiền cứu như: điền dã, Kio si, quan si trv tis thống kẻ, xo ánh; tổng hợp để àm nồi bật những sắc thấ iệng của nghệ thuật diễn xướng dân gian Hát,
Ý NGHĨA THỤC TIỀN, ĐỒNG GÓP MỚI CỦA LUẬN VĂN
văn bổ sung những diều mới phất hiện thêm và đặc bi là tìm hiểu những biến
Gi hiện nay để ừ đổ thấy được xu thể và nguyện vọng của nhân dân trung việc hảo tổ và phát huy giá tị văn hoá cổ uyễn
- Trên cơ sử khảo sát, đánh giá thực trạng diễn xướng dân gian Hát Dh
xã Liệp Tuy, Quốc Oai, Hà Tây để từ đó để xuất một số biện pháp bả tổn
và phất huy nghệ thut diễn xưởng văn hoá dân gian đạc sắc này,
- Cổ thể làm tà liệu tham khảo cho các nhà quả lý v
bảo ổn và phất huy những i sản vn hoá tuyề
hoá trong việc thống
2-KẾT CẤU
"Ngoài phần mở đâu, kế luận, danh mục
nội dang của luận văn được tình bày trong 3 chương:
lêu tham khảo và phụ lục, Chương Ì: Điều kiện tự nhiên xã hội của xã Liệp Tuyết (huyện Quốc
“Oai tình Hà Tây); truyện thuyết và sự ổn ti của Hát DS,
CChương 2: Hình thức và đặc điển của Hát Hội Dã
Chương 3: Thực trạng và những giải hấp hảo tồn, phát hay diễn xướng
«dan gian Hat Do trong di sng vin bổ của người dân Liệp Tuyết
Trang 11CHUONG 1
‘DIEU KIEN TY NHIEN- XA HOI, TRUYEN THUYET VA SU TON
“TẠI CỦA HÁT ĐÔ Ở LIỆP TUYẾT
1.1 Điều kiện tự nhiền - xã hội
LL Vite dials
‘HL Tay 18 tin ign ké pia Tay Nam của thi do Hà Nội Trước cách mạng Tháng Tám địa danh này bảo gồm một phần của đất Phong Châu và đất 'Smn Nam Thượng, min đất văn hiến của nước Dai Việt, Hà Tây được cơ là
“li tụ khí anh hoa”, là "gấi bình phong che chấn Trung Đồ”, là vùng đất
“bốn bề như gầm như hoa, nhịn vào quê lụa, nhìn rà kỉnh kỳ”, là quê hương của những người thợ khéo, là đất trăm nghề, Đặc bit Hà Tùy là đấ đa lí nhân kiệt i sin ra biết bao vị anh
ng hào kệ, các nhà khoa ng, cấc ộc danh sỹ làm vẻ vang cho lich sử dân tộc và văn hiến nước nhà Trong mảnh,
đã địa nh nhân kiệt ấy, cồn có vốn dân ca cổ ruyễn phong phú, đậm đà bản
sc Trang mạch nguồn đấy xúc sống của nên dân ca Việt Nam, dân ca Hà Tây
cố một số loi hình phong phú với những làn điệu, lời ca làm say đấm lòng
“người: Hát Độ, hit Chit Ti ở Quốc Oai, Đạn Phượng: hò Cửa định và móa hát Bùi bông gắn với tục tỉ bơi ải ở vùng chiêm rững Phú Xuyên; hất Ví, hát Thống quân ở lưu vue song Đáy, sông Nhu, hất Ca trù ở Thanh Oai,
“Chương Mỹ, Hoài Đác tuyền thuyết Sơn Tính- Thuy Tinh vị thần đứng đâu trong tử bấ tử gắn liến với núi Tân sng Đà hàng vĩ đây huyền thoạ; đi tích đến thừ Hai Bà Trưng, quấn thể di ích Đường Lâm, đất ai vua gắn với những trang xử hào hùng của dân tộc, định Thuy Phiêu, đình Tây Đẳng, chùa
“Thầy, chủa Tây Phương, chùa Trầm Gian được xếp vào loi cổ nhấ rong cả nước Cũng từ bao đời Hà Tây đã nối tiếng là vàng đấ có nhiều làng nghề truyền (hống nên được mệnh danh là it trăm nghệ” tấ cả đã hoà quyện, Bun đúc để ạo nên một vùng đãi giàu ayền thống văn hoá
Trang 12
coi then ha khu vực Hà Đông và Smn Tây, vàng đất Sơn Tây thường gọi là xứ
‘Dodi Dac bigt Hà Tây có ị trí đ lý thuận lợi nim của ngộ (hủ đô Hà Nội,
"di có các trụ giao thông quan rọng của quốc gia ni liền Hà Tây với các tính Bắc - Trung - Nam và Hà Nội
‘V6 dịa hình, Hà Tây có một số đặc điểm dáng chổ ý ác động đến quá trình hình thành văn hoá, văn mình của vũng đất này, Đó là sự hình thành hai Vũng đồng hằng và vùng đổi núi, Giữa hai vùng đó là vùng bán sơn địa (Quốc Osi 18 mot rong lá huyện, thành phố của nh Hà Tây, nằm ở phía Tây cách nh ị Hà Dang và Hà Nội 20 km với sự đa dạng vẻ địa hình
"hao gồm vũng bán sơ,
gian thông đi lộ khá thuận lợi vi đường cao tốc Láng Hoà Lạc, quốc lộ 21
A chay qua cùng tỉnh lộ 0, 81, Hai cơn sông Đáy và sông Tích chịy song
vũng đồng ng và vùng ven sàng Đầy Hệ thống
sang tên dịu bàn huyện xưa Ma là con dưỡng huyết mạch ch giao thông đường thuỷ, tạo cho huyện có vị tí quân ự quan trong vi thuận lợi cho pht triển nàng nghiệp Quanh bai bờ sông là những điểm quần tụ của cư dân Việt
“Theo dòng chảy văn hoá đó Quốc Oai đãtm được rất nhiều trống đồng cổ và csấc dã chỉ đồ dồng khác Bón cạnh U6 cũng xuất hiện nhiều loại hình diễn -xưông dân gian ge đảo gắn với những đồng sông ong đố có nghệ thuật Hát
Vi, Hat Do,
"Năm đạc theo bờ sông Tích uốn khúc quanh co, xã Liệp Tuyết ni có điệu Hát Dô nổi iếng nằm giấp vớ các xã Nge Liệp, Cấn Hữu, Naọc Mỹ,
"Nghĩa Hương của huyện Quốc Oai Từ Hà Nội đi (heo đường cao tốc Láng - Hoà Lạc khoảng 25 km đến cầu Liệp Mai (bác qua sông Tích) rẽ ti theo đường đê Tích khoảng 2 km, rễ phải là đến nơi Xã gốm 5 thon: Bai Phu, Son
“Đồng, Vĩnh Phúc, Bái Nội, Bãi Ngoại và Thang Đạt
Trang 13B
"Xưa vùng đã Liệp Tuyết chính là xã Lạp Hạ, tổng Lạp Thượng, huyện
`Yên Sm, phủ Quốc Đi, trấn Sơn Tây, Đến đời vua Tự Đức được đổi tên thành
xã Liệp Tuyết Xã Liệp tuyết cũ gồm có các thôn: Đại Phú, Vĩnh Phúc, Bái
Nội, Bũi Ngoại, Đồng Som vec wa Dat Ba, Ao Sea, Đồng Thị, Đồng Gi
“Thông Đại, Tai Quen, Tai Tai Su này (hành lập dơn vị hành chính mi,
"Đồng Sơn và các tủ hợp với một số thôn ở xã Nghĩa Hương thành lập xã
“Tuyết Nghĩa (nữ ti Thông Đạ0, Do đồ xã Liệp Tuyết mối có Š than như hiện nay Đồ là thn Dai Pu, thôn Vĩnh Phúc, thôn Thông Đại, tin BA NO, Bái Ngoại
Địa bàn Liệp Tuyết nổi liền giữa vùng bán sơ địa, miễn rồng núi Hoài Bình với vùng đồng bằng phía Đông Nam huyện Quốc Oai và tỉnh Hà Tây,
“Đây là đị bàn có nhiều thế mạnh về nh tế và quân sự
“Thế mạnh của xã đ là có dòng sông Tích và sông Đáy chạy qua, uốn khúc, rất thuận li cho phát iển nông nghiệp và giao thông Chạy xuôi theo đồng sông Tích là con đê Tích, chạy theo chiếu dài của xãnối với đường 21 A
vi đưồng số 6 và trữ thành mạch máu liên xã trong vàng
"rước kia Liệp Tuyế là cái ốn nước của vàng Do là vàng iếp xúc với
‘nén sơn địa khỏi nguồn từ xã Phú Cứt, Hoà Thạch ở vùng phía Nam và vũng đổi gồ bên kia sông Tích tràn vào nền hấu như quanh năm ngập úng Cảnh tượng ngập ứng cù dược phần ảnh tưong câu ca dao
Cam ăn mãi bu mối mo:
Ly ching Lip Tus hilo Wi da,
‘Su ny Ki o6 de Teh, cdg tie du lợi được hoàn thiện dán th người
«in on thoát khổ cảnh lũ lục Ngày nay Liệp Tuyết đã không còn bóng dáng của vùng ngập ạt xưa kia mà đường bè tông đã nối liên các xóm, giao thông,
cH li thuận tiện đồ sống của nhân dân ngày càng phát ign
Trang 14có mới quan hệ đặc biệt khăng khí, đoàn kết dự vào nhan để tốn tạ Cũng, giếng như hân hết các làng xã Việt Nam, cư dàn Liệp Tuyết chủ yếu sống hằng nghề nông và đến hiện nay vẫn theo phương châm “lĩ nông vỉ bản”, vì dan eu ở dây khá thuần nhất Theo tuyến thuyết dân gian tì Liệp Tuyết
‘4 ith Hàng Vương, Các cụ cao tuổi rong thôn Đại Phơ kể rằng: có một vị
“quan lang lên à Chiêu Công được vua Hùng vương thứ 6 phong cho tước bu, cho về cai quân vàng đãi Lạp Hạ Chiều công lấy vợ người làng Vĩnh Phúc rồi xây dựng "Đại Phú cũng tứ đệ” và sinh được 3 người con trổ là Thiếu Lang, Thin Lang và Gia Lang Cả hạ ông đếu có công theo Thánh Gióng dẹp giặc
Ân tồi trở vẻ làng Sau khí các ðng mát nhân dân tôn thừ và trở hành thắn hoàng làng Chính vì thế 3 thôn Đại Phụ, Vĩnh Phúc, Bái Nội, Bái Ngoại có
“quan hệ anh cm Thôn Đại Phụ là ảnh cả, thôn Vĩnh Phúc là anh hai, hi thôn
L3, Đời sống kinh
“Xưa kia sống trên mảnh đất quanh năm lấy lội, cuộc sống của người
«dan chỉ đựa vào nông nghiệp là chính mà thiên nhiên và môi trường hi không thuận li nên dời sống của nhân dân gặp không f khó khăn, phần lớn cơm,
“hông đủ ân, áo không đã mặc, Chính vì cuộc sống khổ cực nền người dân
Trang 15
Ligp Tuyet di dn hình thành đức tính chịu thương chịu khó, cần cù lao dong, dim bọc, giúp đỡ nhau trung lao độn
"hoạ hàng ngày sản xuất cũng như rong sinh
êm nay, cuộc sống của người dân Liệp Tuyết có pht iển hơn, giao thông đi lạ thuận tiện, địa thế gần với thủ đô Hà Nội nên nhân đân có điều Kiến thuận lợi trong giao lưu, tiếp xúc, buôn bán với các nơi khác Một số nghề phụ cũng đã có mặt ở dây như nghề mộc, xay st gạo, mũy giang dan xuất khẩu Nghề may mặc và các dịch vụ bán hàng t địa phương dã cho người dân thụ nhập ổn định Song nói chung thì nn kinh tế nông nghiệp vẫn
là yếu tổ eơ bản trong đồi sống của người dân Liệp Tuyết Người dân phần dong vin day tt ph ea kink tế theo hướng trồng trt và chăn nuôi Xã 0i
hú trọng chuyển đối cơ cấu nông nghiệp theo hướng hiệu quả bên vững, phá
bỏ thế độc canh cây hứa tiế tới đa canh để phù hợp với địa inh da dang cna địa phương Đổ là chăn nuôi CChính vì biết kế hợp trồng trụ, chân nuôi và kinh doanh dich wy mtn hiện nay dồi sống của người
«din Liệp Tuyết đã được năng cao Tổng gi thủ nhập năm 2007 xã đạt hơn
24 ding, bình quản đâu người đã lê tối xấp xi 47 uiệu đồng Đồ à bước tiến vat bậc so với nhiều năm về tước,
1.14, Truyền thống vân hoá «giáo duc
Không chỉ là vùng đất cổ, Liệp Tuyết cồn là nơi cư trồ của một cộng công dân cư nông nghiệp giàu chất nghệ sỹ Ngoài diễn xướng dân gian Hát
‘Do ni ing, người dàn Liệp Tuyết hiện nay vẫn còn truyền nhau câu ca
By nay nd mie ting din ain ring tra gũi lục thôn chơi bởi
Cho nen anh phi de tong den day
Trang 16“Thánh đạt ra từ buổi đầu khi Người về đây lập Đến và dạy dân ca hát Chơi bài
Là nối đến tài ứng đối rong các đêm hát Ví thường diễn ra vào suối tuần trăng sing hing iy, tháng ám ð chạc bạ Hàm Rồng - nơi dưỡng vào ba thôn Đồng Sen, Ti Muôn, Trại Do gặp nhau ở rên đê sông Tĩch (nên còn gọi tHm Rồng) Các cụ cao niên trơng làng còn kể rằng, xã xưa ở nơi đậy còn có nghệ tối nuốc Chứng ích là đã có một cái ao ở trước đền Khánh Xuân, cổ lên
là áo tối Theo gii thích dân gian tả Thiến sư Tự Đạo Hạnh (ii Lý dầu thế
"kỷ XD là tổ sự nghề rối có gốc ích ở thôn Đồng Bạt, xã Ngọc Liệp, huyện
“Quốc Oai, rấ gần với xã Liệp Tuyếi, ngài đã tnuyền nghề rồi ở nhiễu nơi
“huống chỉ vùng đất Lạp Hạ l là nơi chuộng cá hấ Như vậy nói nghề rối đã tông ổn tại ở Liệp Tuyết không hải là không có c sử
bt vi
ào cuối thời Tiến Vũ Qunh và Kiểu Ph hiệu inh vio ho Le, it
Trang 17Kiểu Phú không những giữ trọn chữ hiểu với mẹ mà còn giữ trn chữ kính với thấy dậy mình Khi được hưởng bồng lộc, ông đã không quên om thy cdạy nên bỏ tiến mua bai đám th cá và cấy lúa, giao cho dân làng cúng giỗ thấy dạy học của mình là Nguyễn Trực, Danh ting cia ông đã được khắc rong bia đá Quốc Tử Giám - Hà Nội Đức hạnh và công đúc của ông được các hậu nhân hế lời ngợi ca Ở nhà thờ Kiều Phú hiện vẫn còn cu đồi, thơ
hú do người đi su phúng ng Ông như một tấn gưnng cho hậc hậu học
ng theo, ngài rụ còn có một số sắc phòng củ đồi vua phong tặng nhữ sắc hong của vua Khải Định, năm 1934 phong ông làm Trung đẳng thần [go ữ Lip ToyẾt còn có quyền văn tế lơ danh những người để dị: Quyển sách này do ông Hoàng Văn Thức ở thôn Cổ Hin cá giữ Một người à lệ tên ty là Kiểu Quang Hồi tiê id
= Quốc Tứ Giám gián sinh giảng dạ quế ương tử ên tự là Nhã Thực, tên hiệu là Lạc Đạo tên hú đồ Tc in ảnh
- Quốc Từ Giám giám ảnh Thanh Hạn hiến sát sử tự độn hi đồ in
- Quốc Từ Giám giám xinh tên ự là Thái Sơ tên hiệu là Tạ Phúc Nghiên tên sin
~ An châu đồng tíchâ ent Kid Hưng iên sinh
- Quế Từ Giám giám dinh tên tự là Bhn Thn, êo hiệu là Tạ Phúc Lid isn si
~ Quốc Tit Gi im sin ự Đồ Khác Min tế ảnh
~ Quốc Tứ Giám giấm snh tê ựlà Lâm, ên Iệu Trấn Tí TH tên
138, rag 13)
“Truyền thống văn bu giá dục ở Liệp Tuyế là iền tự io ea gus
ân, khí 1 tính tần ợt khó, học tập Ở Liệp Tuyết ngày căn cổ nhiều người con đỗ đạ thành danh làm rạng rỡ truyền thống và tiếp nối truyền thống iến học của quế hương
ng tam oa, cẩm ý vệ chỉ huy sứ m
Trang 18
ngưỡng nào đó Điều đổ có nghĩa Hà họ có niếm tỉ vào đấng siêu nhiên, thiêng liêng hay thần thánh cũng như những đạo lý, lễ nghỉ tập tục vã tổ chức liên quan đến niềm tin đó Người dân Liệp Tuyế cũng giống như hấu hết
"người dân vùng đồng bằng Bắc Bộ, iềm tin của họ được biểu hiện qua những thiết chế văn hoá như đình, chùa, đn, miếu, nhà thờ Đến Liệp Tuyết ta có thể nhận thấy những kiến trúc cổ tuyển của người Việt Nhà rào cũng có bàn thờ gia tiên tục hờ cứng tổ tiên cho đến nhà thờ họ, văn chỉ, đền miếu, nh
“chữa Mỗi kiến tróc mang một sắc hái ín ngường tòngiáo khác nhau, có một
di Hô, vị ut khá nhan rong đời sống cộng đồng,
“được xây lạ cách đây vài chục năm Đình Đại Phủ là một ngồi đình nhỏ, đã bị xuống cấp trầm trọng, dân làng đã quyên sp và đang tiến hành tiển khai xây cảnh mối cạnh trụ sử UBND xã Liệp Tuyết cũ
“Công với Phật giáo, Nho giáo cũng có ị trí quan trọng rong đời sống tính thần của cự dân Liệp Tuyết Đó là ự tờn thờ và khuyến khích đạo bọc
“Điều này dược thể hiện rõ tong vàn chỉ của làng ước kia Văn Ch thờ đức Không Từ và tứ phối (Bổn học trò của Không Tứ: Nhan Uyên, Từ Tự, Tang Sim, Mạnh Kha) Đến ngày may Văn chỉ không còn nữa nhưng những hồi văn
Trang 19tế các vịiên hiển rong cuốn sích văn ế của làng th vẫn còn Nơi đây dành cho những bậc tiên hiển và con chấu cu việc bạc hành đỗ đại Ở thôn Vĩnh, thúc còn có Văn chỉ của đồng họ Kiều mới được hoàn thiện năm 2104,
"Ngoài hai đạo này, ở Liệp Tuyết còn có một số nhà theo đạo Giáo Đó
là có nhiều nhà đã lập am, miếu diện để thờ, Ngoài ra xã Liệp Tuyết côn có những dàng họ lớn có người đỗ đạt, vinh hiển Đặc bệ là nh thờ đồng họ Kiểu Phú nơi thờ danh nhân rạng nguyên Kiêu Phú, đã được Sử Văn hoá
“Thông tỉa Hà Tùy công nhận và xếp hạng di th lịch sử văn hoá năm 1994
“rong số các di ích iên quan đến đi sống tâm lính tín ngưỡng thì đình)
là ni iễn ra sinh hoạ văn ho cộng đồng Định thờ thành hoàng làng = người
6 cong lao lớn đối với làng Trong khing chiến đình, chùa bị phí và cũng đang được xây mới Còn đến Khính Xuân - thờ Tân Viên Sơn Thánh Không gian chính mỗi khi diễn a lễ hội và là nơi để ình diễn các làn điệu hát
Tô, Đến Khánh Xuân đã được UBND tỉnh công nhận là di cs Hh xử vn hoế năm 2005
Tân Viên Sen Thánh hay Sơn Tính là ị thần của ni Tần Viên (Ba VÌ), chủ sửn của nước Việt Nam la (còn gợi là nổ thiêng hay ni tổ
“của các ngọn núi) Sơn Tính được co là vị anh hùng tị thủy biểu hiện ước vụng chỉnh phụ thiên nhiên, tự nhiền, chiến thắng thiên ti Chính vì vậy nhân dân đã gọi một cách kính cn là Đức Thánh Tin và đượ tôn là Thượng cảng tối lĩnh thần, Đệ nhất phúc thân
tổ được coi
Trang 20“rên đất nước ta có hàng trăm ngồi đền thờ Tân Viên Sơn Thánh, mỗi điểm thờ gắn với một truyền thuyết, một huyền thoại nhưng có lẽ không ở đâu những truyền thuyết ề Sơn Tĩnh hị phong phú như ở vũng sông Đà, nồi Tân của Hà Tây Theo thống ke của Ban Quản lý di ích tnh, Hà Tây có 150 đi tích thờ Thánh Tản Viên, tập trung nhiều ở các huyện, Ba Vì, Quốc Oai
“Chương Mỹ, Thạch Thấ GS Định Gia Khánh viết: “Riêng Hà Tây thi về mật địa lý cũng như về mặt lịch sử, rất
“Chẹ và nứi Chẹ đồng trên đồng sông Đà uốn khúe? Đó đều là do yêu cấu chiến đấu của Sơ Tỉnh Tại sao ở Liệp Tuyết cứ 36 năm hạ 6 chức Hội Dô một lần tại sao ở Đến Và cũng như ở một số nơi khác rong nh lại cổ hộ bát
cá vào ngày 1Š thắng 9 hàng năm? Đó là vì để đón Sơn Tính mỗi kh thần rổ lại với nhân dân theo nhông kỳ hợ ae Ma Tay thì nhiều quả ni khúc sông, nhiều gò đống, ao đầm đã ghỉ li dấu vết lào động của Sơn Tỉnh Nhiều nghề nghiệp như làm ruộng, dánh c, sản thú Nhiều kỹ thuật như cấy Ma, đo giếng, đt vải, lầm nhà mà phát uiển được tì đều là nhờ m dạy bảo, gip đỡ của Sơn Tính” H21, tr]
V6 uuyén thuyết Hát Do & Liệp Tuyế, hiện vẫn còn lưu trụ
Truyền thuyết thứ nhi: Một hôm Tản Viện chủ du qua vũng ven sông
“Tích (vùng này là xã Liệp Tuyết, huyện Quốc O4) thấy mộng đất phì nhiều môi gọi dân ầng đến dạy cách lấy hat a o làm giống đem gieo xuống mộng
có đất hà xa mối bối đấy nước Tân Viên xuống muộng làm trước, mọi người
bo Sau đó ðng đi nơi khác hợn này lúa chí tì vẻ Nhưng khi lúa chín, mọi người ra đồng gặt hái, thúc gạo đấy nhà nhưng chữ mi mắt cũng không
Trang 21a thấy ăn nhân của mình quay hi Đúng ba mui sáu năm sau Omg md quay Hới lại thi hy dan ling đã giàu cĩ, thốc lứa đấy nhà bền tập hợp trải gi rong lãng để dạy họ muía há, mừng dân no ấm được mùa Từ đĩ dân làng xây đến thờ để nhớ cơng ơn ơng và cứ 6 năm dân làng theo lệ hi mử hội ca múa tưng bừng, gợi là hội múa Dã 1, tr I6]:
Một truyền thuyết khác cũng rấ lý thú về nguơn gốc Hát Do (Do các cụ cao niên trong ầng kể lạ: Tương truyền Tản Viên Sơn Thánh đã cĩ lần qua vũng đất Lạp Hạ, thấy phong cảnh tươi đẹp, con trữ con pấi cĩ tiếng hất éo thanh kỹ bên dừng lại choi, Khí ấy ở dưới đĩng mộng tri gấi Lạp Hạ vừa cày cấy vữa bất ví van trêu ghẹo nhau, Đức Thánh Tân thấy vậy bền cho xiy
‘dung Xuân Ca cung (An Khánh Xuân) và gợi đếm tri gái đến dạy họ hát núa Các Bài ca Thánh Tân Viên dạy đều dược lưu truyền rong xích Quce
“hạc diễn cũ (ở Liệp Tuyết bì
rim do Tae Hit Hai Him sao năm Khải Định (1916), từ một bản sáo năm,
“Ty Bite 29 (1875) Bản gốc cĩ ừ thời Lê, do một ơng cổng người địa phương, lập các bồi ca truyền miện
bản như hiện nay) Do sựtích này mà Liệp Tuyế sĩ hội múa hát để ghỉ nhổ cơng tơ Đức Thánh Các cụ cao niên ở Liệp Tuyết cồn kể rng: thần cịn nổi chuyện với đầm thợ cấy và xia họ vợ ăn tru, nhưng con gái ở đây d nh nghịch lại đưa cho ơng cứt cị Chính vì vậy sau này ở Liệp Tuyết miếng trấn
“sáng Thần khơng được hỏi vơi
Tội Dị dine 6 chứ từ ngày mĩng 10 đến ngày 15 tháng Giêng âm, lịch tại đến Khính Xuân Nhưng 36 năm hội mối tổ chức một lần Theo cách giải thích của truyễn thuyết thì đồ à chủ kỹ trở lạ của Thánh Tân, sau một
“quá tình đi chu du thiên hạ Cơn số 36 trung tảm thức cũa người Việt được coi là cơn số thiêng, cũng cĩ khi chỉ là con số đểchỉ số nhiều: 36 thứ châm, trên tồi, Vua Ngo 36 tin ving Binh php Ton Tr vi 36 mưu kế, Hà Nội 36
hố phường Như vậy ễ hội Dơ 36 năm tổ chức một lần vừa mang ý nghĩa là
Trang 22
một con số cụ th (gắn với tục hềm của dịa phương) vừa mang ý nghĩa là cơn 7.1
Hội Dò là một lễ hội lớn trong vàng xứ Đui với nhiều nghỉ thức độc đáo, Trong ngày hội có tế lễ, rước kệu, các
"hoá nh thần của người dân đến mức nào
`VỀ nguồn gốc của ên gợi Nhà nghiên cứu Yên Giang (31, tr23] đã lý giải lên Hát Dò như sau: Chính môi tường sống chủng với lự lội mà những
Ti ca giả diệu chèo thuyền dấu iên được cát lên đ sau đồ hội với các yếu tố
fn tig khác, lồi đưa đà huy đô, dỡ huậy đền dập, ôi nổi, ngẫu hững đã trở thành tên gọi của một thể logï dân e4 độc đáo Hát Dô và lấ lên hi làng là Hội Do
Những giả luận văn lĩ cho rằng nguồn gốc tên gi Hất Dõ không bản xuất phát từ môi tường sống chung với lụt li Hát Chèo Tắu ở Đàn Phuong, Hat Dam ở Quyền Sơn đều là đân ca nghĩ lễ, đều có những hình thức
ca hất giống nhau đặc iệt là ở ph hát chèo thuyền nhưng cả bai loại hình dân ca nghỉ lễ Hát Chèo tấu và Hát Dậm này đều không phải xuất phát
Trang 2323 Diu này có thể cho chúng ta suy loận rằng
bản đân đ lấy phân hát chèo thuyền để đạ lên cho mỗi loi dân ca Các loại hình này đã có sự gấn bồ, gắn gi về nội dung Hơ nữa Hát Dô, một loại hình văn hoá dân gian cố tính chất tẳng hợp nên không thể Không ảnh hưởng với những tuyển thống văn hoá ở các địa phương khác và uyễn thống văn hoá ấy được nhàn dân tiến
“hận một cách tự nhiên từ xa xưa Có thể thấy diều này qua lõi ca Hat Do, trọng đổ biểu hiện sự thâm nhập ảnh hưởng của các loại hình văn hoá dân gian Khác Lãi ca Hat DO wong ế thần không khác là mấy trong hất ví giao duyên, đặc biệ là trang phần hất Bồ bộ vừa có nết độc đáo iêng của vùng Xứ Đoài, vữa có những âm điệ chung của cân ca nghỉ lễ vùng trung du và đồng bằng Bic by,
"Những nết gián dị chất phác ấy khiển cho hình tượng nhân vặt cảng thêm đẹp, căng có tính nhân dân cao Nhờ Thần dạy bảo mà nhân dân Liệp Tuyết mối bil Hat Do, Nhung khong phi vùng nào cũng học được những bài hát của thần, phải là sư dân Liệp Tuyết có đời sống văn bo tỉnh thần phong phú, bát hay móa giỏi mới học được Điều này đã lầm sáng ô một luận điểm: các ình thúc thờ thần và sinh hoạt nghỉ lẺ trước kia của nhân dn ta vùng nào cũng có, hưng phi là vùng có truyền thống văn hoá với nhiều hình thức sinh hoạ văn nghệ phong phú mới có thé sing go la truyền và dẫn dấn hoàn chỉnh các ình thức nghỉ lễ ấy thành một chỉnh thể văn hoá tổng hợp dân ca nhí lễ,
Trang 24
1.33 Sự tấn ti của hết Độ
TĐể tiến tới một hình thức tựa vẹn như ngày nay, Hát Dõ đã ải qua một quá tình tổn tại từ đơn giản đến phúc tạp, từ nghệ thuật đơn giản, nghỉ lỂ đơn giản đến nghệ thot - ngh lễ phức tạp Cũng giống như các loại hình dân
ủi lễ khác ở vùng trung dụ và đồng bằng Bắc bọ, lời Hát Dõ đã được cối định thành văn bản Nhưng trước khí dược cổ định hoá thì Hát Dô đã cổ rit
“nhiều biến đổi mà ngày nay chúng ta không có cứ iệu để xác định được sự biến đối ấy Việc cổ định hoá lời ca của ác loại dân ca nghỉ lễ nói chúng và Hit Hoi Do noi eng theo Trấn Bào Hưng và Nguyễn Đăng Huê tì đó là kết
qu yếu the các su hướng
hiển đổi hơn các loại hình dân ca khác, Nó gắn liền
hoàn thiện lồi cá trung mỗi giao với các loại hình,
Thứ bạ quá tình hoàn hiện văn bản cũng là quế tình tác động qua lại giữa những ảnh hưởng phong kiến và ác gi dan gan,
[Nam 1445 Lê Thánh Tôn, tong chỉ dụ khuyến nông đã nối rõ "các -quan phải thường xuyên d tuần hành trong hạt mình Khi đĩ đế làng xóm nào cấn hải xem những li dạy hảo ề ễ nhạc của thính vương Nế thấy việc gì lâm hại đến giáo hoá, làm nát cả phong tục thì cần ph
`vậy nhà nước phong kiến thường can thiệp và uốn nắn những sinh hoại văn hoá dân gian Sự can thiệp này rất mạnh mẽ nhất là tung giải Joan the kj XI cđến thế kỳ XV Đây là gi doạn xây dựng và hoàn tiện nhà nước rung ương Lập quyển của chế độ phong kiến Việt Nam Nhà nước phong kiến của các
ân cấm ngay Như
Trang 252s triểu Lý, Trần, Lê cổ gắng để thống nhất giữa chính quyền và thần quyền, lập trăng các vị thần ở địa phươn
"về một mối dưới sự
đạo của Nhà nước phong kiến trung ương tập quyền
“Chúng ta có thể thấy rõ sự cố gắng đó của Nhà nước phang kiến Việt Nam, của các đợt phong thần, qua việc Nguyễn Bính soạn thân ch vào thế kỳ XXVL Những việc làm này của Nhà nước phong kiến rõ ràng là có ảnh hướng cđến hình thứ và nội dụng của các lại dân ca nghĩ , nhưng cũng có th giáp
“ho văn bản của các loại dân ca được cổ định lại thang qua hin ty eta ting lớp nho sỹ, Vệ lời ca Hát Dô được ghỉ chép bằng chữ Nôm với đầu để Quốc hạc điễn ca tồ rằng là có sự tham gia của ắng lớp nho xỹ và có thể chịu ảnh
hưởng của cải cách lỄ nhạc do Nguyễn Trãi chủ trưng dưới tiều Lê Thánh
“Tôn I5, tz20211
Cũng theo Trấn Bảo Hung và Nguyễn Đăng Hod, chúng cứ tên cộng
đi một số chứng cứ khác khiến chúng ta có thế đoán định rằng văn bản đầu tiên Hát Hội Dô được định hình vào thi Lê «thời kỳ cực thịnh của nhà nước hong kiến Việt Nam, Có thể nghĩ rủ từ những bài ht lễ ẻ, ổn tại độc lập xuất hiện từ thời nguyên thuỷ đến giai đoạn này nó được tập hợp, dọn sửa
Và trữ thành một hệ thống tương đối ổn định,
‘Van hin Hit Hoi Do đượ định hình và hoàn chỉnh thành một hệ thống 1h có hệ từ thế kỹ XV tủ về san
“Chúng ta có thể chỉa sự tổn tại của Hát Hội Đô ở Liệp Tuyết một
“cách ôm tát theo các mốt thời gian như sau:
(Giải đoạn trước cách mạng Thắng Tám (rước năm 1945)
.Hất Hội Đô chỉ được bất trung những ngày hội 36 năm tổ chức một lần,
là log dân ca nghĩ ễ, xuất hiện và lưu truyền ong một hoàn cảnh lịch sử nhất định nên số người tham gia Hội Hát Dô không nhiều Lần mỡ hội cuối cùng
ho đến tận ngày nay là vào năm 1926, Cái hát về các son hát được tập trừng ở
Trang 26
các thôn được tập luyện thần thục trong tồi gian dài trước khi mi i Ce
“con há đêu là những nam thanh nữ tú chưa vợ chưa chống Nhưng việc việc luyện tập cũng chỉ được tiển khs rắm rộ vào những tháng trước ngày hội Su
“gầy hội dan Liệp Tuyết sẽ không ai được bát nữa (nhân đân Liệp Tuyết có túc kiêng ắng nếu i hát tì sẽ bị Thánh phạ (cũng có người ni là xẽ Mĩ cảm)
“Chính v lẽ đồ Hát Dò chỉ được lưu truyền ưng tí nhớ của lớp người đã từng tham giá Hội Hát D Nhưng do số lần mổ hội cách nhau quá xa lại không được ập luyện thường xuyên nên những vấn đ lên quan đến nó như tổ chức đám hội, cách ăn mặc của những người tham ga diễn sướng, những tực lệ có tính chất nghĩ ễ không được lu gi ong tr nhớ nghệ nhân một cách chí xác, hình th tổ chứ lễ hội và lề li hất rong mỗi hội vẽ không tránh khối những lạc nhất định
là nơi dùng lầm kho chứa thúc công lương, đồ thờ trung đến bị thất lạc nhiều
"Đây là hời gian dường như Hát ô bị lăng quên
= Giai đoạn từ 1954 den nay
‘Vi mot loa hình dân ca ngh lễ và li qua một tời gian dài mấy chục
"năm không tổ chức hội nên ngày nay Hát Hội Dõ không được iếp nối Những
"nghệ nhân này đều đã gi Sau hoà bình ập lại, vào những năm T0, ngành Văn,
"hoá Thông in Hà Tây và một số cơ quan chức năng đã có hướng khôi phục làn điệu Hát Đô, Năm 197Ä nhà nghiên cứu Trần Bảo Hơng và Nguyễn Đăng
"Ho đã cho ra tập sách Hát Dô - Hát Chèo Tu sưu tầm và nghiên cứu hát DĐ,
"một cách kỹ kưông Năm 1989 S VHTT Hà Tay phối hợp với Phòng Văn hoi
Trang 272 huyện Quốc Oai sưu tâm và dụng lạ làn digu hit, ma Do, Nhang cong vige này được phục hồi theo ký ức của các nghệ nhân duge tham gia Hoi DO kin cuối công
[Nam 1990, Liệp Tuyết đã tổ che due IE rae ừ quần Sở ở về đình,
"Đại Phu (sau 74 năm tính từ hội DO mim 1926) rong đó đáng chú ý là mục Hát Dô, đã được nhân dân đón nhận vái một niêm háo hức mới Thực
hiện Nghị quyết trung ương 5 khoá VINH vẻ xây dựng nên văn hoá Việt Nam, tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc, với quyết tâm đưa Hát Dò trở vể với đồi xứng, cô Nguyễn Thị Lan - Chủ tịch Hội Phụ nữ xã dã để xuấ với lãnh dạo UBND xã ý tưỡng phục hồi, khôi phục điệu Hát Dô Được sự ủng hộ của chính quyền xã, cỡ Lan bất tay ào việc ìm kiếm, thụ thập lời bài hát tập hợp, chị em rối thường xuyên đến trao đi, gặp gỡ thuyết phục các cụ gi trong làng, Lúc dâu có rất nhiều người © nga phản đổi bởi lệ làng
tiếm thức Su dần với sự thuyết phục của cô Lan họ đã hiểu được gi tị quý báu của cha ông để hi, còng với ni lo thất truyền, xổ người ông hộ cô Lan nhiều thêm Trong năm 1998, Câu lạc bộ Hát Do dược thành lập với gắn 30 thành viên, bạn dầu chỉ là những phụ nữ tuổi đã ngoại 40 Sa đó, lớp học sau
rể hoi đn có độ mồi từ 3 đến 20 Đến nay Câu lạc hộ Hát Dã Liệp Tuyết
đã lên tới hơn 50 người, Với các thể hệ trẻ đĩạ phương tì Hát Dò ngày nay tổa tại dưới dạng có tính chết thuần tuý vàn nghệ Cu lạc bộ Hát Dô ở Liệp
“Tuyết đã thường xuyên luyện tập dưới sự hướng dẫn của cô Ngoyễn Thị Lan ~
“Chỗ nhiệm câu lạ bộ Hát Dô, người có công ong tệ học tập các lần điệu Mất Dô từ các cụ cao tuổi và ruyển dạy cho các thế hệ sau Câu ye bộ đã cđược đã biểu diễn ở nhiều nơi tung các hội điền, hội,
nghệ trung ỉnh và các tỉnh bạn, được công chứng đón nhận nhiệt tỉnh CLB đã
ân su vào
ác chương ình vàn nhận được nhiều bằng khen, giấy khen, được nhân dân địa phương động viên
lẻ giữa đền KI nhỏ vừa há, vừa biểu diễn những làn diệu Hát Dò giữa sự say mê cổ vũ của
cổ vũ Vào dịp hội hồ, h Xuân, cô Lăn ị cùng các chấu
Trang 28đồng đảo người xem, Năm 2003 Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam công nhận (CLB Hit Do xã Liệp Tuy là địa chỉ lưu uyền các hoại động văn nghệ dân gian: roy tặng danh hiệu “Nghệ nhân dân gian” Hát Dò cho cụ Kiếu Thị Nhận và bạ Bằng khen cho 3 thành viên là cụ Tạ Văn Lai tóc Trim), cy Ban
“Thị The và hà Nguyễn Thị Lan Cũng tồi gian này đến Khánh Xuân cũng được tình Hà Tây lạng Bàng công nhận đi ích lịch sử văn ho
"Những việc lầm đổ đã khuấy động phong trào Hát Dô ở Liệp Tuyết tạo được không Khí tươi vi, phấn khỏi và niêm tn tưởng về một hộ môn nghệ thuật hông như có nguy cơ bị thất truyền nay đượ: khỏi phục lạ Vì vậy
“người dân Liệp Tuyết, không chỉ nhiệt nh cho con em ain tham gia luyện tập hất múa mà cồn động viên giúp đỡ câu lạc bộ về nh thần và vật chát để
“Câu lạc bộ luôn được duy t và hát iể
‘VE Ligp Tuyết rong những ngày nông nhàn, trong không khí thanh) ình của vùng quê vẫn vang vọng đầu đồ tiếng Hát Dô tron tro của những gái đang luyện tập Đơn giản thế thôi cđược điều này là cả một
“quá tình từ thay đối nhận thức, hay sắn với phong tục cổ xưa đã Cũng tổn tại lâu Hong đồi sống cộng đồng, Được sự dâu tư của các đơn vị,
“Câu lạc bộ đã mua ẳm được trang phục biểu diễn theo ối cổ, Cũng khi xếp, 4o the, yếm đào, đếp cong, quạt giấ Và như thế điệu Hát Dô, một tong
“những nết vấn hoá tuyền thống của người dân Liệp Tuyết sẽ không chỉ được hỏi phục mà còn dang được nuôi dưỡng một sức sống mới, là một phần quan trọng không th hiến trong đời sống tỉnh thần của người dân nơi đây
(Tae gi se bơi vẻ sựiổ ử của Hát Dô chưng 3 của hận văn)
Trang 29» CHUONG 2 HÌNH THỨC VẢ ĐẶC ĐIỂM HÁT HỘI ĐÔ
.Hất Dô à loại hình diễn xưống đân gian, (huộc dân ca nghỉ lễ thể hiện lông tú của con người vào đáng iêu nhiền thần thính khi thế giới quan thân
căn ngự tị, Theo truyền thuyết ì Hát Dò có từ lâu lắm, điệu Hất Dò do chính Tần Viên sơn thính truyền dạy người dân Liệp Tuyết Do là
"bộ môn không biểu diễn thường xuyên, ải qua thời gian khá làu không mời Hội, các cụ tham gia Hát Hội Dô lần cuối cũng còn ại không nhiu lại đã gi yến trên NÓ tuổi nên Hát Hội Dã đãhị thất truyền nhiều chí iế Vigo mig tình thức, đặc điểm và những điều iên quan đến Hát Hội Dô chúng tôi gỉ theo li kẾ của các cụ cao tui rong xã và đồng thài tham khảo cuốn xách Hát
Tà - Hát Chèo Tắu của hai tác giá Trin Bảo Hung và Nguyễn Đăng Hoệ
linh chủ ng
chức hội Đô
Muc dich của tổ chức Hội Đồ
Cũng giống nh hấu hết các làng quê vùng ding hing Bic Bộ, người
‘dan Liệp Tuyế đến với lễ hội và thông qua lẽ hộ để thể hiện cách ứng xử văn hod thiên nhiên, xã hội và cộng đồng, với thánh thần và coa người; biểu hiện khất vọng vươn tối chân, hiện, mỹ: m thấy cho nình sự hưng phấn nghệ thuật, sự n nhiên chất phíc, dân giá rong tình cảm và hành động
"Bất nguồn từ mối quan hệ giữa con người với thế giới tự nhiền, giữa con người với thân thánh, cũng giống như hầu hốt các vùng nông thôn của đồng hằng Bic Bộ, người dân Liệp Tuyết tổ chức Hội Da để thể hiện niêm tia thiêng liêng của mình với thánh thần, với ổ tiền thông dua các hình thức nh hoại nghĩ lễ mang nh cộng đồng
Trang 30
“Thánh Tản Vien Som (Sm Tĩnh) chiến vị tí quan trọng rong dời sống tỉnh thần của người dân Liệp Tuyết ni riêng và nhân dân Hà Tây nói chư Bảng chứng là rên địa hàn toàn inh J có hơn một trăm di ch thờ Tân Viên
`Và Hất Hội Dê là một rong những inh hoại văn hóa thể hiện lòng ngưỡng
mộ đối ới thần Tân Viên - nh hồng văn hoá của dân tộc ta, chứa đựng trong cđồ những khát vọng của nhân dân trong chỉnh phục thiên nhiễn cũng như tạo lập cuộc sống bình an cho con người Chính vì ngiĩa đồ mỗi khi mở Hội Dò
là người dân các nơi nhất là vùng xứ Đoài hị nườm nượp đổ vẻ dự hội, gũi
ấm Khát xong về một cuộc sống bình an, no đủ cho mình và cho cả cộng cống Chính vĩ vậy, Hội Dô đã vượt rủ khôi ranh giới một làng, một xã trổ thành Hội của vũng xứ Đoài vàlà một rong những Hội có nhiều nét đặc sắc của nh Hà Tây
“của cộng đồng đều hướng vào vị thn được thờ phụng, vị thánh của làng đó
ng làng, Những nhân vật này vữa
cao cả Do đồ
nh là thần Tản Viên và các vị thành ho
sắn gũi với cuộc xống cña người dân, vữa thiêng Hi
Trang 31a ngập trong nghỉ thức, nghỉ lễ, hoại động của ngày hội là yếu tổ hiêng, Chất thiêng này cổ kối các số phận con nạ
sáng, hình an của tâm hồn |S2,tr41] , hướng cơn người vn tới a TĐến với Hội Dô, người dân Liệp Tuyết như gũi gắm trung đó mọi niềm,
di nối buổn Có thể nối Hội Dô là chỗ dựa nh thần của cá thể, gia đình, đồng họ và cộng đồng: là thời gian đẹp nhất đỀ mọi người dân thể hiện niềm, bit om, niễm tin tưởng ấy với những vị thánh thân mà cộng đồng mình thời họng Vào thời điểm diễn m lễ ội người dân gắn bó với nhau theo hướng "cộng mệnh và cộng cân" (Chữ của GS, TS Ngõ Đức Thịnh) Tái cả đều có chúng một suy nghĩ là hướng đến nhân vật hờ Nhân vặt thờ ở Hội Dò là Tân Viên som
“Thánh Nhân vậ này vẽ quyế định đến quy mô và ính chất của Hội Dõ
Trang 32[Nam Som i da xuất thần lone Sam Th to lai cng Iain tons, Lap Hạ hành cung ngô sở ti, {een hong ho di than Khun
Neha:
Dat dep ti Nam au thin rng Som thus cng chu vé mgt mat Hanh cane Litp Ha i cata Ngàn năm lương loi mãi cùng tời
“Thơ ca, yến tiệc xong xuôi, Sơn Thành nói với nhân dân rằng: “Dan chúng dây vốn là con dân của ta Nay ta qua diy thấy đị thế dân cư có chân long qu mạch nên lập hành cung để sáu này đến đây vui chơi Nay ta cho hếp dân chúng coi là hành cung của làng mình Vả lạ xem địa thế của dàn chúng nơi đáy có én nhân tà gii ở hướng tây bác châu vể hành cung, sau này ất sẽ được giu có, anh tài đông đúc, nhân dân cường tịnh, nam nữ vui
vẻ nhan sắc dẹp đề "Nay ta cho phép nhân dân cha làm 6 giấp (tức đông,
ty, nam, bắc và ong, ngoà), lập thành 6 khu (ức 6 thôn ở Liệp Tuyết như ngày nay), lập hành 6 bộ, lặp phường xuân ca, mỗi năm sẽ bạn cho 6 tm
‘quan tiga cùng miễn cho nh lương để suân cả vui vẻ Đây chỉ là nhân đức nhỗ hế của ta Nay ta han cho 3 hất tiễn vàng để hưu làm của công, nếu hành căng có hư hông th tu sữa hạ, cũng dạ tên là Xuân Ca, muôn dồi không được thay đối"
"Nhân dân tuân phụng nghề theo Sơn Thánh dạn dò xong, iền khởi giá
ể tiểu, Thời gia đó, nhân dân các dồng họ ở Liệp Tuyết theo hấu Sơ Thánh, trong đó có những người hấu được coi như thủ túc có đến 62 người tấ cả còa là trả tẻ, thường hạ ca hấ phục vụ trung biểu, dượ: ấu hạ ð ấn ông
“Từ khi Sơn Thánh ngối trong uiều nhậm sự tì bốn bể thanh bình, nhân
«dan gid 66 Tri qua 10 nim Sơn Thánh thường hay trở ề hành cung ở Liệp
Trang 33
"hổ lớn, Hồ này theo (huyết phong thủy tì đây là chiếc hồ tụ phúc, với ý nghĩa chữ chiếc gương phần chiếu lấy "khí đương” của ười chà sui vào d tích cấu cho mưa thuận gió hòa, để muôn dân dược no ấm, mùa màng tốt tươi |1, 6]
“Theo Phó Giáo sư tiến sỹ Trấn Lâm Biến th hi thin đi ích mang yến tố dang, còn hồ nước mang yếu tổ âm, Âm dương hòa hợp thì dân khang vật thịnh”, Đây nhấn nào là những lý do mà người xa đã chọn vị để xây dựng đến
Cũng tương truyền ao phía tước là ao ối, để biểu diễn nghệ thuật rồi
"nước rong những dịp mổ hội Phía ôn trái đền là văn chỉ, xung quanh
‘ring tr cổ hụ nhưng đã mất nay chỉ còn về,
Đến Khánh Xun thi Tin Vien tam vị quốc Iry đại vương: bao gốm,
“Tùng Công, Cao sơn, Quý Minh Trơng đó vị thần Tân Viên sơ thánh (Tùng
“Công là được thừ chính cồn ba ị Cao Sơn và Quý Minh là được phối th
Bên cạnh tam vị Tân Viên sơn còn có a vị thắn nữ cũng được phối thời tong đến đồ là: Độ nhất Lang lnh Khê dại vương (Thiều Lang); Đệ nhị Lang linh Khê dại vướng (Thấn Lang); BY tum Lang tinh Khê dại vương (Gia Lang) Việc thờ cúng Tân Vien sơn thánh và các vị thành hoàng làng cho thấy
Sự ích hợp truyền thống văn hoá địa phương với tuyển thống văn ho chưng
của cũ nước, Tam vị Tân Viên sơn là vị thần có công lao đối với cả nước những đối với địa phương am vị thành hoàng làng cũng có công lao không kém, Nhân dân đã kết hợp mối quan bệ này một cách bợp lý Ngoài đến thời riêng ở mỗi thôn các vị thành huàng làng cũng được thờ tung đền Khánh
Trang 34Đến Khánh Xuân có kiến trúc hình chữ nhị: Bao gồm Đại hái và Hậu càng Ding kể là tòa Đại bấ có kết cấu kiến trúc lành chữ Nhất, Còn Hậu
“cung của đến là sẵn phẩm được lô tạo ong những năm gắn đây để tăng thêm,
"hông gian và diện ích sử dụng cho dich,
Nền từ bên ngoài tòa Đại bấ đền Khánh Xuân được xây dựng với 4 má đao cũng, lợp ngũ Ta kiến trúc này sn đã thận song phần mái ngời xử đã Làm rấ thấp, có những vị í phấn mái xc xuống thấp nhất chiến ti 2/3 độ can của đitích Theo kính nghiệm dân gian truyền thống thì điểu này sp phần tạo sợ mát mệ trung mùa hề nóng nực, ấm áp rong mùa đông rũ but
và xuống cấp nghiêm trọng Ngày nay trong đến chỉ còa li một số đồ thờ, vật dạng và 4 đạo sc phong Ngoài m còn có nhiều đôi câu đi với nội dung ca nag cong lao của đúc thính Tản Viên đối với dân cứ nơi này, ca nợi cảnh cđẹp của núi Sử Sơn cho đến đồng sng Tích quanh eo uốn khúc
Trang 3535
“rải qua hơn 200 năm, với nhiề lần tụ sửa, ngồi đền vẫn giữ dược nết
$ uy nghiêm, tỉnh mặc Năm 2003, ến Khánh Xuân dược UBND tỉnh Hà Tây xếp hạng à DĨ ích lịch sử van hoá Nam 2008, đến cũng đã được
XS VHT cấp kính phí để tu bổ, ôn tạo
24.1.3, Hoi DS
~ Công tác chuẩn bị Hội
(Chun bj cho việc th há: heo tập quán dân gian thì Hội Dô 36 năm, mmổitổ chức một lần Nhưng mỗi ấn mở hội đã thụ hút nhân dân tong cả tổng cđến dự Tuy hội chỉ diễn ra có năm ngày nhưng người dân Liệp Tuyết phi chuẩn bị trước đồ hàng năm Việc ập ca hát cũng được dân làng bắt du từ râm TTng thú năm trước, hoặc cổ khi côn sôm am Cc Ban ning th ra sie tập thâu đêm suối sáng, có khi cơm nắm vào mo cau rồi mang đi the để tận hit Các thôn phan ei mot doi Hit Do, tra ai thi dua tp uyện để còn th tài
‘i nba Vige ya chon vio Hoi Do rit in trong, (heo một quy dịnh nghiêm, ngặt New di bất Hội phả là cơn trú, con gái chưa chống, có khuôn mặt xinh, giọng hát hay, gia đình hải hoà thuận, không vặn áo xám (có tang)
`Về độ tuổi tham gia ht Hoi Do, Cai hát là nam giới ở độ tuấ từ I6 đến
18, Người được chọn phải là người có diện mạo khối nô, phong thi đình, đạc cố giọng hất ương và khuẻ
Tu hếi các Bạn nàng tham gia Hát Hội Dô có độ tuổi từ 12 đến 17 hoc cũng có Bạn nàng nhỏ tui hơn, khi hát mới 9, 10 tuổi, âu vẫn còn để
"ai tr đào Phẩn lớn các hạn nàng đề là con nhà khá giả, nhiều mộng, nhiều trau bò, Khi chủ cơn tham giá hát Hội giá ình phải bán vài xào rhộng huậc
i con trâu tì mới đủ
y sắm quần áo, Vì thế không phải ia đn cũng có thể cho con the hát (Theo lồi kể của cụ Kiều Thị Tạo 94 tuổi, thôn 'Vĩnh Phúc hiện ở ti thôn Ao Sen, xã Ngọc Liệp và cụ Kiểu Thị Hạnh, 0I tuổi, thôn Vĩnh Phúc, xã Liệp Tuyết, Cũ hai cụ đều đóng vài Bạt nằng rong Hội Dò năm 1926)
Trang 36Li ca điệu hất chính của hội Dò có ấn văn bản từ xưa để hi, được sao
hp bing chi Hin Nom để ữ đến miếu của các thôn Khi tập luyện làng cứ các cụ lớn tối có kinh nghiệm múa hát để dạy cho lếp trẻ Phương thúc dạy chủ yếu là tuyên miệng vì phần lớn các con hát đều không hiết ch Có gia ảnh tì bà tnyễn cho mẹ, mẹ truyền hát cho con (như gia đình cụ Kiễu Thị
“Hạnh thôn Vĩnh Phúc) Vì thế tuy hội chưa mỡ mà không khí rung lùng đã thấy nhộn nhịp khác thường Cuộc tập luyện kéo dài đến tháng Chịp th ngừng,
để dân ầng chuẩn hị quần áo và các vặt đụng chơ ngày vào đếm,
‘Dé chuẩn bị cho ngày hội long ưọng, công việc không th tiếu dược đổi vối cụ từ trông đến Khánh Xuân là làm lễ Bao sử (hạy còn gọi là lễ mộc cdục) Cụ từ lấy nước ở giểng khơi hoc lấy nước mưa, dàng khăn mầu đồ lau tửa long ng bà vị và các đỗ thờ tự tong đến, Lau xong cụ dồng trà tấy u,
"ước côn thừa đem tưới cây xung quanh đến, khan đô sau đổ được cụ từ dùng
ôi, điễu này liên quan đến tục hềm của địa phương đề nối ở rên) Ngoài ra thôn nào khá giá, ẽ vật rừng ngày dạ tế côn cổ thêm tru, lợn Vật cứng tế
"ong, cuối ngày hội sẽ được các cụ em ra thụ lộc,
(Cc vai đồng trong Hội
“Trong hộ làng có rất nhiều nghỉ lễ nhâm biểu tị tấm lồng tôn kính và ghỉ nhớ công ơn của dân làng đố với thính thân, đối với tổ tiên, với thành hoàng làng Qua các nhĩ l, dân làng cầu mong thính thần phù hộ độ tả, chế
“chữ cho mùa màng bội thủ, dân khang vặt thịnh
Trang 37m Khi vào hội lối sống bình dị, khung cảnh thanh hình của ngày thường biến mất thay vào đó là khung cảnh lộng lấy, dền hoa rực rỡ ở các thon, xm die bist là ở đến Khánh Xuân với những trăng phục muôn màu:
"hân vật lễ hội với những trăng phục khác nhau Và đồ th, cờ quạt, tần lòng
‘46 rũ và uy nghĩ trung tiếng tống ếng tiếng chiếng huyền náo, thúc zive mọi người đã xen hội
Hội Dò tổ chức vào ngày mùng Mười đến ngày Mười lâm thing Giêng
“hưng cuộc nước kiệu tì bất đâu từ chiều mồng Chín, bất đầu một cuộc rước kiệu toàn xã từ định, miếu ra đến Việc nước kiệu cũng cổ những tục lệ vì nghỉ thức chặt chế ong đó không thể tiếu các thành phín là vi đóng ung Hội
“Từ quá trưa ngày mồng Chín tháng Giêng, đân 6 thôn đã nô nức đi làm nhiệm,
vụ mà mình được phân công, Đáu tiên là việc rước Thính từ đình, miếu thôn
"mình về tập trung tiền Khánh Xuân Việ rước kiệu làng cũng quyđịnh rất [hit kh Trl tring khoŠ mạnh, trong sạch mới được chọn khiêng kiệu Và chỉ là nam mới được rue kiệu Tủ khiêngkiệu mộc áo he den, quấn trắng, đâu quấn khăn lượt màu den, thất lưng đổ, chân đi giấy vải Cứ 4 người khiêng một kiệu, người này môi tì người khác thay Đi trước kiệu là các bô ã, các
VÌ chức sắc trong xã: hai bên kiệu có người vác cử, vác lọng đi kèm
“Tiếp au đó à những người trung bạn hát Góm Cát hát (do người cơn trai dẫn đầu ty cm sênh đề dẫn nhịp Cá bát đầu đội khăn xếp đen, mình,
"mặc áo the thăm, quân lọa ting, chin di guốc mộc Các cơn hất (cồn gọi là Bạn nàng) cũng dược dĩ rước kiệu Con hát rong mặc yếm dõ, giữa mặc án xanh hoặc màu mỡ gà, ngoài mae do the den, chan đi đếp cong, cổ đeo chuối hại vòng, tay đeo nhân, cầm khăn đổ, quạt siấ, tay cấm tú mồi cam nhiều màu sậc sỡ (Theo lồi kể của cụ Kiểu Thị Hạnh thôn Vĩnh Phúc)
"Đầm rước được nối dài theo thứ tự kiệu của các thôn Đại Phu là thôn anh cả nên dẫn đân tiếp đến là thôn Vĩnh Phúc, Bái Nội, Bấi Ngoại, Thông
"Đạt và Đồng Sơn Cảnh tượng tưng bững, náo nhiệt của ngày hội được chếp tong lời ex
Trang 38
‘Sip thdp chan chan
“Sân đến tấn tia long sank Thu tin vấn vỡ bá quan,
“Ngự xe võng giá
“ước vế Lập Ha Đồng dâm Khánh Xuân
Đi sau kiệu là đông đão nhân dân trung xã và khách thập phương về dự -ũng nhấn khởi, hồ hỏi Đám nước hợp thành một đoàn đài với vi cỡ tần,
‘qua long bop với âm thanh của tiếng trống, tiếng cheng diy di TA cd two nid mot Khong kh va si dong, rỡ li vừa tăng nghiền, tình kín,
‘Sau Kh mre kt thie à đã đến lúc ngà chiều, đoàn kiệu đã đạt yên
vi ong Đại ai theo thứ tực Kiệu anh cả Đại Phú ở giữa, xếp trên một hàng Hồng đưới ngay sau Đại Phu là kiệu thôn Vĩnh Phúc Bên phải từ giữa ra là
‘Bui Noi, Thong Bat, bên ri từ giữa r là Búi Ngoại, Đồng Sưu, Lúc này ưừ một số chức si, bô lão là người phục dịch ở hạ còn tất cả mọi người a ue
Ệ nhà kế cả Ci và Bạn nàng,
“Sáng hôm sâu mồng 10 tháng Giêng là thực sự bắt đầu vào hội Thờn
"Đại Phụ là anh cả hải đến sm và được vào hát trước tiên, Trình tự cuộc hất
Tế như san: Cái dẫn các Bạn nàng vào trước đến, rối gõ ba nhịp nh ( nh là
hi thank re vớt nhấn, chiều rồng khoảng 4 cn
cho các Bạn nàng vào rước bàn th, Tất cổ đều đi theo ình chữ chỉ Bạn nàng, hải bồ dép rối mới được bước ào chí
“Từ síng đến quá ta, lạ sân lọng sấu phường bát the thứ bậc, ln lượt
từ chiể bát thờ theo lệ Hát đấu (há th), Vì hát tỉ có giãi thưởng nên phường thất của cúc thôn đều cổ sáng dể giành giải thưởng
ci khoảng 20 cm) làm hiệu
‘Sng khi hất xong một chấu, thì các ban hát được nghỉ và hy giờ là các cuộc tế lễ, Các Bạn nàng cổ th ra chơi các tò ở quanh Khu vục đến Khánh Xuân d dợi đến khi ế lễ xong sẽ vào thì hát Bồ Bộ,
Trang 39làng, xã
Người viết vân tế phải do làng cử chọn; phải là người hông tỉnh Hán học, am hiểu phong tụ tập quấn của quê hương, sa đình vợ chống hạnh phúc
con cái song toàn, gi định quang qué không vướng bi
Ban lễ gốm ông chủ tế và các thành in tế thông thường từ 13 đến 1Š người, Cả bạn tế đều ph là những người gia dình hạnh phúc, không có bụi (66 tang) Trong cuộc tế, ong chủ tế phi là người dược làng lựa chọn kỹ: tướng mạo khôi ngỏ, que thuse, dep Ho, có chất giọng khoẻ, Ban tế hao gồm, một ông Đông xướng, mội ðng Tây xướng, một ông chuyển chúc, một ông chấp đăng và các thành viên tế Ba tế ứng ở ại bái để làm lề tế Thôi gian tế
từ 2 đến 3 giờ đồng hồ, và qua từ 3 đến 5 tuấn tế
“rang phục ế: Ông chủ tế mặc bộ cân dai từ ban gầm mũ đổ, ha
“đỏ, quân áo màu đỏ, còn li các quan viên tế quần áo mâu xanh, mũ xanh, ha xanh Ho cùng với tế xăng ing là âm thành của tiếng tng, cig, thành
la, phường bất âm, múa sẻ
đi các tò vui dân dã như đánh dụ, chọi ồ, cờ
đông đo người dân ung xã và dự khách thập phương về ự hội
Sau khi tếlỄ xong thì đến hát Bồ bộ Theo tà iệ của Trấn Bảo Han Nguyễn Đăng Hoè tì chỉ có thon Bai Noi, Bái Nguại mới dược bát Bộ bộ Những the lời kể của cụ Kiều Thị Tạo (hôn Vĩnh Phúc) mà chúng tôi mới chỉ được tì Hội Đô năm 1936 tất cả các phường hát của 6 thôn đều được hát
Bộ bộ, Chộc vú cứ thế kóo dồi cho đến Ø, thụ ht rấi đông nam thanh nữ tế
dở các địa phương Bồi lẽ dây là phần hất rất trữ tnh không mang tính chất
Trang 40tất Hội Dù thêm phong phú đa dạng: vừa có tính nghỉ lễ rang nghiêm của
‘hin hát chúc, vữa có tính hiện thực hoà nhập với cuộc sống đời thường để thoả mãn nhủ cu giao tiếp cộng đồng không thể thiếu rung những kỷ lễ hội cdân gian Chính và vậy mà các bài hát Bỗ bộ cho đến hôm nay dã được tuyên truyền rộng ãi và ngày càng có xc sống mạnh tt tạo ấn tượng tốt đẹp trong lòng khán giá
Đến chiếu ngày 15 thẳng Giêng thì hết hội, nhân dân các thôn lại rước kigu về đền, niế thôn mình, Ai công lộ vẻ nui iếc vì 36 năm sau mới được
nở hi tiếp Su đó các cụ bô lão trung xã cùng đông đảo các quan khách, các
di đồng ong hội được thụ lộc tại đền còn ạ nhân dân ỉ về nhà nấy làm cỗ tiếp đón khách thập phương vẻ gia đình mình Các cụ ở Liệp Tuyết còn kể
"ngoài những mảm dâng ễ của các thôn mang ra thụ lộc, làng cồn mồ thêm, lợn, thêm tru an uống lnh đình j đền Khánh Xuân, sau đồ còn mang chịa phần cho từng gia định Nhà ai đông khẩu tì dược phần nhiều, ít khẩu th được phần nhỏ hơn Vì Hội Dò tổ chúc lớn như vậy nên nhắn đông gia đình
hi bán mộng, bán trần để sâm sanh, chuẩn bị cho Hội Dò được chủ đáo,
hình diễn xướng Diễn
‘rong thực thểcũa đời sống nhân dân bằng phương thức
Nối ti diễn xướng dân gian ức là nối tối các ình thi inh hoạt vàn
"nghệ của nhân dân, thực sự do tập thể nhân dân lao động sáng tạo nên không chịu ảnh hưởng của các hình thức nghệ thuật chuyên nghiệp,