Về tình hình thế giới: Trong hơn 40 năm:1592-1635, là thời kỳ Nhật Bản thực hiện chính sách mở cửa, hàngtrăm thương thuyền được Mạc phủ cấp “ châu ấn” Shuin sen để xuất bến buôn bán vớin
Trang 1Bài tập thực hành học phần: Một số vấn đề về chúa Nguyễn và
vương triều Nguyễn
Tên đề tài:
DIỆN MẠO KINH TẾ-XÃ HỘI ĐÀNG
TRONG
GVHD: TS Trần Thị Thanh Thanh SVTH: Nhóm 3-Sử 3A
Tp Hồ Chí Minh, ngày 20/10/2012
Trang 2Mục lục
A Sự thiết lập chính quyền họ Nguyễn ở Đàng Trong : 2
B ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN ĐÀNG TRONG 6
B.I Địa hình 6
B.II Khí Hậu 7
B.III Sông Ngòi 7
B.IV Thổ Nhưỡng 8
C Kinh tế-xã hội 8
C.I Kinh tế 8
C.I.1 Nông nghiệp 8
C.I.2 Thủ công nghiệp 11
C.I.3 Thương nghiệp 13
C.I.4 Đô thị Đàng Trong dưới thời các chúa Nguyễn 23
C.II Diện mạo xã hội của Đàng Trong 36
C.II.1 Tư tưởng, tôn giáo, tính ngưỡng 36
C.II.2 Sự thâm nhập của đạo Thiên Chúa và sự ra đời của chữ “Quốc ngữ” 37
C.II.3 Tín ngưỡng cổ truyền 38
C.II.4 Giáo dục, khoa cử 39
C.II.5 Văn học 41
C.II.6 Nghệ thuật 43
C.II.7 Khoa học-kĩ thuật 45
D Vai trò của các chúa Nguyễn 47
Trang 3A Sự thiết lập chính quyền họ Nguyễn ở Đàng Trong :
Ngay từ khi chiến tranh Nam Bắc Triều còn đang tiếp diễn thì nội bộ Nam triều
đã nảy sinh mầm mống của sự chia rẽ Năm 1545, sau khi Nguyễn Kim bị mưu sát, Trịnh Kiểm được vua Lê đưa lên thay thế chỉ huy mọi việc.
Để giữ vững quyền hành của mình Trịnh Kiểm tìm cách loại trừ phê cánh của Nguyễn Kim mà trước hết là con trai của ông Người con đầu là Nguyễn Uông bị ám hại, người con thứ là Nguyễn Hoàng lo lắng tìm cách thoát khỏi mối đe dọa đó Được
sự gợi ý của trạng nguyên Nguyễn Bĩnh Khiêm, Nguyễn Hoàng nhờ chị (vợ của Trịnh Kiểm) xin cho vào trấn đất Thuận Hóa Bấy giờ ở xứ Thuận Hóa mới dẹp yên, tuy nhà Lê đã đặt tam ti (Đô ti, Thừa ti, Hiến ti) và phủ huyện để cai trị nhưng nhân dân vẫn chưa một lòng Mặt khác, Kiểm thấy vùng đất ở đó hiểm nghèo, xa xôi cho ngay cho Nguyễn Hoàng.
Anh Tông lên ngôi Trịnh Kiểm dâng biểu nói: “Thuận Hóa là nơi quan trọng, quân và của do đó mà ra, buổi quốc sơ nhờ đấy mà nên nghiệp lớn Nay lòng dân hãy còn tráo trở, nhiều kẻ vượt biển đi theo họ Mạc, sợ có kẻ dẫn giặc về cướp, vì không được tướng tài trấn thủ vỗ yên thì không thể xong Đoạn quân công là con nhà tướng,
có tài trí mưu lược có thể sai đi trấn ở đấy để cùng với tướng trấn thủ Quảng Nam cùng nhau giúp sức thì mới đỡ lo đến miền Nam” Vua Lê nghe theo và trao Nguyễn Hoàng trấn tiết, phàm mọi việc đều ủy thác cả, chỉ mỗi năm nộp thuế mà thôi Nguyễn Hoàng đã thành công với nước cờ thí này (lúc ấy là năm 1558).
Theo Li Tana nhận định rằng: “Trịnh Kiểm chỉ có ý tống khứ một địch thủ, nhưng Trịnh Kiểm đã đi sai nước cờ Và thay vì tống khứ ông đã cho không Nguyễn Hoàng một vương quốc”
Thuận Hóa (vùng đất từ phía Nam đèo Ngang đến đèo Hải Vân) vốn là đất cũ của Champa, tuy đã được sáp nhập vào Đại Việt từ lâu nhưng đến lúc này dân cư vẫn thưa thớt, kinh tế thì kém phát triển.
Trang 4Tháng 11 năm 1558, Nguyễn Hoàng đem theo nhiều anh em, bà con người Tống Sơn (Thanh Hóa) và cùng các quan lại cũ của Nguyễn kim; các “nghĩa dũng” Thanh - Nghệ vào trấn thủ Thuận Hóa.
Năm 1570, khi quân Mạc tấn công vào vùng Thanh – Nghệ, chúa Trịnh phải triệu trấn thủ Quảng Nam về bảo vệ Nghệ An và giao cho Nguyễn Hoàng cai quản đất Quảng Nam (vùng đất từ đèo Hải Vân đến đèo Cù Mông).
Họ Nguyễn vừa lo phát triển kinh tế, vừa lo củng cố quyền thống trị để thoát ly dần sự lệ thuộc và trở thành một lực lượng đối địch với họ Trịnh Dần dần khu vực Thuận – Quảng trở thành vùng đất của tập đoàn phong kiến họ Nguyễn Sau khi đã
ổn định tình hình ở xứ Thuận – Quảng, năm 1593 Nguyễn Hoàng đêm quân ra Thăng Long giúp Trịnh Tùng trấn áp các tàn quân của nhà Mạc và sau đó đến năm 1600 vượt biển trở về Thuận Hóa.
Năm 1613, trước khi chết Nguyễn Hoàng dặn lại con là Nguyễn Phúc Nguyên
cố gắng bảo vệ dòng họ của mình: “Đất Thuận – Quảng phía Bắc có Hoành Sơn và Linh Giang, phía Nam có núi Hải Vân và Thạch Bi, địa thế hiểm cố, thật là một nơi
để cho người anh hùng dụng võ Nếu biết dạy bảo nhân dân, luyện tập binh sĩ kháng
cự lại họ Trịnh thì gây dựng được cơ nghiệp muôn đời”.
Sau khi lên kế nghiệp, Nguyễn Phúc Nguyên tổ chức lại chính quyền, tách khỏi sự phụ thuôc họ Trịnh, chỉ nộp phú thuế theo lệ Năm 1620, họ Trịnh đem quân vào, Phúc Nguyên không chịu nộp thuế nữa Năm 1627, lấy cớ đó họ Trịnh đem quân vào đánh Thuận Hóa Cuộc chiến tranh Trịnh – Nguyễn bắt đầu.
Trong gần nửa thế kỉ, hai bên đánh nhau 7 lần vào các năm 1627; 1630; 1643; 1648; 1655 – 1660; 1661 và 1672, trong đó có một lần quân Nguyễn vào sông Gianh tiến đánh quân Trịnh chiếm vùng đất ở phía nam sông Lam (Nghệ An) mấy năm rồi rút về Từ nam Nghệ An đến bắc Quảng Bình (địa phận sông Gianh và sông Nhật Lệ) trở thành chiến trường Sau 7 lần đánh nhau dữ dội mà không có kết quả, quân sĩ hao tốn, chán nản, nhân dân khổ cực, hai họ Trịnh – Nguyễn đành phải ngừng chiến, lấy sông Gianh làm giới hạn chia cắt Đàng Ngoài, Đàng Trong.
Trang 5Diễn ra đồng thời với cuôc chiến tranh Trịnh – Nguyễn là quá trình mở rộng lãnh thổ và thiết lập chính quyền họ Nguyễn ở Đàng Trong.
Trong những thập kỉ đầu và giữa thế kỉ XVII, cùng với các nhóm cư dân người Việt thì một số người Trung Quốc cũng đến khai khẩn đất hoang và sinh sống làm ăn
ở vùng đất Nam Bộ Nhân việc nhà Thanh thay thế nhà Minh ở Trung Quốc, một số quan lại và quân lính trung thành với triều đình nhà Minh không chấp nhận sự thống trị của nhà Thanh đã vượt biển đến Đàng Trong tìm đất sinh sống và thúc đẩy nhanh hơn quá trình khai phá của chúa Nguyễn.
Để thu hút nhiều người đến Thuận Hóa làm ăn sinh sống, chúa Nguyễn đã thi hành chính sách khuyến khích đặc biệt đối việc khai phá đất hoang, cho phép người dân biến ruộng đất khai hoang được thành sở hữu tư nhân Đồng thời, chúa Nguyễn còn thi hành một chế độ khoan hòa, khuyến khích sản xuất, người mới đến không phải trả thuế trong 3 năm đầu định cư.
Vì vậy, làn sóng tự phát di cư vào Nam tìm đất sinh sống của đông đảo những người nông dân Thuận - Quảng, chúa Nguyễn đã cho lập thành các xã, thôn, phường,
ấp của người Việt Chúa Nguyễn tạo mọi điều kiện thuận lợi cho những địa chủ giàu
có ở Thuận - Quảng đem tôi tớ và chiêu mộ nông dân lưu vong vào đây khai hoang lập ấp
Bảo vệ dân chúng khẩn hoang và xác lập chủ quyền là hai quá trình được các chúa Nguyễn tiến hành song song đồng thời Trong đó xác lập chủ quyền là để bảo vệ tính hợp pháp của công cuộc khẩn hoang và thành quả của công việc khẩn hoang chính là cơ sở để xác lập chủ quyền một cách thật sự Từ thế kỉ thứ XVII đến thế kỉ thứ XVIII, toàn bộ khu vực phía Nam đến tận Đồng Bằng Sông Cửu Long đã hoàn toàn thuộc quyền cai quản của chúa Nguyễn và nhanh chóng trở thành vùng phát triển kinh tế - xã hội năng động Đây là thành quả lao động cần cù và sáng tạo của tất
cả các cộng đồng dân cư trong guồng máy phát triển chung của đất nước, trong đó vai trò của các cư dân người Việt, người Khmer, người Chăm va người Hoa là rất nổi bật.
Trang 6Năm 1774, chúa Nguyễn đã chia vùng đất từ nam dãy Hoành Sơn đến Cà Mau làm 12 đon vị hành chính gọi là dinh Vùng đất Thuận – Quảng cũ gồm 6 dinh: Bố Chính, Quảng Bình, Lưu Đồn, Cựu Dinh (hay Chính Dinh cũ), Chính Dinh, Quảng Nam Vùng đất mới chia làm 6 dinh: Phú Yên, Bình Khang, Bình Thuận, Trấn Biên, Phiên Trấn, Long Hồ ( Vĩnh Long) Ngoài ra, còn có một trấn phụ thuộc là Hà Tiên Mỗi dinh quản hạt một phủ, dưới phủ có huyện, tổng hay xã Riêng dinh Quảng Nam
có 3 phủ: Thăng Hoa, Quảng Ngãi, Quy Nhơn.
Thủ phủ ban đầu đóng ở xã Ái Tử thuộc Cựu Dinh, năm 1570 dời vào xã Trà Bát (Triệu Phong – Quảng Trị), năm 1626, dời vào xã Phước Yên sau đó dời sang Kim Long (đều thuộc Thừa Thiên), cuối cùng vào khoảng năm 1687 dời về Phú Xuân (Huế).
Năm 1614, Nguyễn Phúc Nguyên lên thay Nguyễn Hoàng đã quyết định thải hồi các quan lại do nhà Lê cử, cải tổ lại bộ máy chính quyền Dưới các dinh đều có những ti.
Năm 1646, chúa Phúc Lan bắt đầu mở khoa thi, hai cấp Chính đồ (cấp cao) và Hoa văn (cấp thấp),về sau nhiều kì thi được mở tiếp Song sang thế kỉ XVIII, chế độ mua quan bán tước bắt đầu phát triển Quan lại không được cấp bổng lộc nhất định
mà chỉ được ban một số dân phu hoặc được phép thu thêm một số tiền gạo ngoài thuế của dân.
Quân đội thời chúa Nguyễn gồm 3 loại: Quân Túc vệ hay Thân quân, quân chính quy ở các dinh và thổ binh hay tạm binh Các loại quân đều chia thành cơ, đội, thuyền.
Các chúa Nguyễn đã bố trí lực lượng quân sự thiết lập các đồn thủ “nơi xung yếu” để chống giặc, giữ dân, bảo vệ chủ quyền,…Quân đội thời chúa Nguyễn gồm bộ binh, thủy binh, tượng binh và pháo binh Đầu thế kỉ XVII, người Đàng Trong học được cách đúc súng, các thuyền lớn đều có 5 khẩu đại bác Chúa Nguyễn cũng thường tổ chức các hội thi bắn súng, huấn luyện thủy quân.
Trang 7Như vậy, từ sau khi Nguyễn Hoàng từ bỏ đất Bắc đi vào vùng đất Thuận Quảng, họ Nguyễn dần dần phát triển xuống phía Nam, xây dựng vùng đất Đàng Trong thành một lãnh địa riêng có quyền độc lập mặc dầu cho đến trước năm 1744 vẫn giữ tước vị Quốc công, dùng niên hiệu của vua Lê Nhưng nhân dân luôn luôn xem vùng đất Thuận – Quảng là Đàng Trong của Đại Việt xưa kia.
-B ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN ĐÀNG TRONG
Năm 1558 Nguyễn Hoàng xin vào trấn đất Thuận Hóa và lập nên căn cứ của mình tạiphương Nam, mở rộng biên giới của mình xuống phía nam, tới tận đồng bằng sông CửuLong
B.I Địa hình
Vùng đất này bao gồm một dải đất dài và hẹp, nằm giữa núi ở phía tây và biển ở phíađông Địa hình của vùng đất này có đặc điểm : vùng núi là dãy Trường Sơn phủ đầy rừngrậm, chạy dài, ở phía Bắc thường hẹp và gồ ghề, càng xuống phía nam càng thấp dần, cóchiều mở rộng tạo thành cao nguyên, thường được gọi là Tây Nguyên hay Cao NguyênTrung phần, có diện tích khoảng 20.000 dặm vuông (100 dặm chiều rộng và 200 dặm chiềudài) Vùng cao nguyên này thường được dùng làm nơi trú ẩn ngoài ra còn có các dãy núi bịnhiều con sông nước chảy mạnh và mũi núi cắt ngang làm thành một khu vực nhỏ và hẹp, ítgắn kết với nhau về mặt địa lý
Địa hình bị chia cắt mạnh, các dãy núi đâm ngang ra biển hình thành nên các vũngvịnh tạo điều kiện xây dựng các hải cảng Đây cũng là một trong những điều kiện để ĐàngTrong phát triển về mặt kimh tế đặc biệt là ngoại thương
Vùng đồng bằng rộng lớn, chỉ tính riêng đồng bằng sông Cửu Long đã gấp hơn hailần đồng bằng sông Hồng ở Đàng Ngoài, ngược lại , dải đồng bằng ven biển từ Đà Nẵng –Quảng Nam trở vào lại nhỏ hẹp và bị chia cắt bởi các đồi núi, vũng vịnh và đầm phá
Có ba đồng bằng lớn là:
Quảng Nam : đây là một vùng đồng bằng phì nhiêu, có diện tích khoảng 1.800 cây
số vuông Nước do sông Thu Bồn và nhiều nhánh của con sông này cung cấp
Trang 8 Bình Định: đây là vùng đồng bằng trù phú, có tổng diện tích là 1.550 cây số vuông,
có hai dãy núi khác nhau bao quanh Hai thung lũng của vùng đất này sử dụng nướccủa hai con sông Đà Rằng và Lai Giang
Đồng bằng sông Cửu Long: địa hình bề mặt châu thổ với nhiều bồn trũng rộng lớntrong nội địa và hang loạt các cồn cát duyên hải Bề mặt đồng bằng sông Cửu Longcòn được phù sa mùa lũ bồi đắp hàng năm Đồng bằng sông Cửu Long được phủ lênmột mạng lưới sông ngòi và kênh đào dày đặc, chằng chịt gồm hai hệ thống sôngchính là sông Cửu Long , phần hạ lưu sông chảy vào địa phận Nam Bộ dài 250km và
hệ thống sông Đồng Nai dài 580km
B.II Khí Hậu
Đèo Hải Vân nằm giữa Huế và Đà Nẵng tạo thành một làn ranh khí hậu : phía bắc làvùng khí hậu pha trộn với nhiệt đới và cận nhiệt đới, có mùa đông kéo dài từ 3 đến 4 thángrất lạnh Mùa hè rất nóng, tuy nhiên ở vùng núi khí hậu mát mẻ và mưa nhiều hơn
Phía Nam: nền nhiệt độ cao quanh năm, có hai mùa rõ rệt, mùa mưa với lượng mưalớn có thể gây nên lũ lụt, mùa khô kéo dài và dễ bị hạn hán đe dọa
B.III Sông Ngòi
Hệ thống sông ngòi Đàng Trong dày đặc nên ít hạn hán hơn Đàng Ngoài Mạng lướisông ngòi có quan hệ chặt chẽ với địa hình, tại những nơi sườn đông hẹp và dốc các sôngven biển là những cuồng lưu sông nhỏ Còn các cao nguyên xếp tầng , dòng sông có nhữngđoạn êm đềm và những đoạn chảy xiết với những thác nước rất hùng vĩ Sông ngòi có haimùa là : Mùa cạn từ tháng 3 đến tháng 8, mùa lũ từ tháng 9 đến tháng 12
Trang 9 Đất đỏ bazan tập trung ở Tây Nguyên và Đông Nam Bộ
Ngoài ra còn có các loại đất khác như: đất xám đất phù sa cổ, đất phù xa mới…
Tóm lại: điều kiện tự nhiên ở vùng ở vùng đồng bằng và ven biển phía đông thuận lợi cho
sự phát triển nông nghiệp và ngoại thương do có đường bờ biển dài và nhiều cảng nước sâu,thuận lợi cho việc giao lưu buôn bán với nước ngoài Tuy nhiên cũng phải đối phó với thiêntai( lũ, lụt, bão…), mất mùa thường xuyên
Vùng núi tuy đi lại khó khăn, địa hình hiểm trở , do khai thác theo kiểu làm rẫy, năngsuất không cao nhưng luôn luôn được mùa
C Kinh tế-xã hội
C.I Kinh tế
C.I.1 Nông nghiệp.
Là vùng đất ở xa mới khai phá việc quản lí của nước lỏng lẻo, người nông dân có điềukiền phát huy hết sức lao động, nâng cao năng suất sản xuất
Ruộng đất ở Thuận Quảng khá nhỏ hẹp so với Bắc Hà Ruộng đất công Đàng Trong chialàm “quân điền trang” và “quân đồn điền” thuộc quyền quản lý của chúa Nguyễn ChúaNguyễn cấp ruộng này cho người thân thích và công thần Người thân thích nhà chúa được
10 mẫu, chưởng cơ 5 mẫu, cai cơ 4 mẫu, cai đội 3 mẫu
Ruộng đất ở các xã được phân chia theo lệ làng Sang thế kỷ 18, mỗi xã dân được chia
5-6 sào ruộng, binh lính thì được khẩu phần gấp 3 lần
Ruộng đất tư được gọi là bản bức tư điền Các chúa Nguyễn có chính sách kích thích sựphát triển ruộng tư: các đầm, đất thổ nhưỡng chiêm trũng, vùng nhiễm mặn, rừng rú đều đượccải tạo thành các làng xã mới Ruộng đất tư ở vùng Thuận Quảng phân tán, chủ yếu là loại vừa vànhỏ
Chính sách cho phép các nhà giàu mộ dân phiêu tán vào nam khai phá đất mới đã tạo điềukiện hình thành bộ phận tư hữu ruộng đất Đồng thời, việc kiêm tính ruộng đất cũng xảy ra ở vùngNam Bộ mới hình thành, tạo ra các địa chủ lớn, có ruộng đất hàng ngàn mẫu
Thời kỳ đầu, các chúa Nguyễn chưa nắm được số ruộng đất, thuế khóa còn nhẹ nên đời sống nôngdân khá cao Từ năm 1669, Nguyễn Phúc Tần bắt đầu ban hành phép thu thuế Phép thu thuế của
Trang 10Đàng Trong không phải quá nặng, nhưng các quan lại coi việc thu quá nhiều, hay phiền nhiễu nhândân, truy xét rà soát nhiều và tham nhũng khiến nhân dân bị bóc lột nặng nề.
Từ đầu thế kỷ 17, Nam Bộ còn là vùng đất hoang vu Từ khi khai phá vùng này, cácchúa Nguyễn có chính sách quan tâm đến nông nghiệp Hàng loạt con sông và kênh đượcđào vét ở Thuận Quảng, điển hình như kênh Trung Đan và Mai Xá Sang thế kỷ 18, nhữngvùng đất hoang vu ở Nam Bộ đã trở thành ruộng phì nhiêu, ruộng tốt bậc nhất Đại Việt.Nghề nông Đàng Trong đã tạo ra 26 giống lúa nếp và 23 giống lúa tẻ Ngoài ra, nôngdân còn trồng khoai, ngô, hạt bo bo (tức ý dĩ), vừng (gọi là mè) và các cây ăn quả gồmmãng cầu (na), mít, xoài, chuối; các loại rau
Mỗi vùng đều có đặc sản riêng như bí, dưa bở ở Bà Rịa, khoai lang và ngô ở Biên Hòa,lạc ở Gia Định, xoài ở Bình Định, hồ tiêu ở Hà Tiên, mía ở Bình Thuận và Quảng Nam,măng cụt ở Vĩnh Long và Biên Hòa, dâu ở Thuận Hóa, Quảng Nam, bông ở Quảng Ngãi,quế ở Quy Nhơn, Thăng Hoa, Điện Bàn
Chế độ thuế khóa
Từ năm 1558, khi mới vào cai quản Thuận-Quảng, Nguyễn Hoàng chưa định ngạch thuế khóacho ruộng đất nông nghiệp Khi đến mùa gặt, ông thường sai người chiếu theo số ruộng đất để thuthuế
Năm 1586, Trịnh Tùng nhân danh Lê Thế Tông sai Nguyễn Tạo vào thu thuế Thuận Quảng,nhưng không đi trực tiếp mà cho các phủ huyện tự làm sổ rồi mang về
Từ năm 1600, Nguyễn Hoàng bắt đầu ly khai họ Trịnh, trực tiếp quản lý việc thu thuế đất này.Năm 1618, ông sai người đo đạc ruộng công của các xã để thu thuế
Năm 1669, Nguyễn Phúc Tần theo đề nghị của Vũ Phỉ Thừa, sai Hồ Quảng Đại đi đo đạcruộng đất ở các huyện, định ra 3 bậc và chia các hạng ruộng để thu thuế thóc
Ruộng công, ruộng tư đều được chia làm 3 hạng, đánh thuế ngang nhau:
Nhất đẳng nộp 40 thăng thóc 8 hợp gạo
Nhị đẳng nộp 30 thăng thóc 6 hợp gạo
Tam đẳng nộp 20 thăng thóc 4 hộp gạo
Ruộng mùa thu và đất khô thì không chia hạng, mỗi mẫu nộp 3 tiền
Ngoài ra, người nông dân cày ruộng công phải nộp các loại: phiến cót, tiền cung đốn, tiềnnộp thóc vào kho, tiền bao mây, tiền trình diện
Quan điền trang và quan đồn điền thì có lệ thế riêng (khoảng 205 thăng/mẫu)
Trang 11Ruộng ở vùng cực nam được thu theo thửa hoặc từ 4-10 hộc, hoặc từ 2-4 hộc (mỗi hộc =
Dân hạng: 1 quan 9 tiền
Lão hạng: 2 quan 1 tiền
Tuy nhiên, do những điều kiện đặc biệt của Đàng Trong, nhân dân nghèo đói đi lưuvong có thể tìm đến các vùng đất hoang, khai khẩn, lập nghiệp và sống một cuộc đời ítnhiều tự do, mặc dù không phải lúc nào cũng thuận lợi tốt đẹp Mâu thuẫn xã hội tạm thờiđược giải quyết và đó là lí do làm cho cuộc khủng hoảng xã hội ở Đàng Trong đến muộnhơn Đàng Ngoài
Sự phát triển của nông nghiệp ở Đàng Trong, do những điều kiện đặc biệt của nó, đã
có tác dụng duy trì lâu dài sự tồn tại của những quan hệ sản xuất phong kiến và cũng là cơ
sở cho sự yên ổn tương đối của xã hội Đàng Trong, của chính quyền phong kiến ở ĐàngTrong Những điều kiện đặc biệt về mặt khai thác đất đai cũng tạo ra một cơ sở khá bềnvững về lực lượng địa chủ cho tập đoàn thống trị Nguyễn và đó là một trong những nhân tốgiải thích sự chuyển biến của lịch sử nước ta cuối thế kỉ XVIII đầu thế kỉ XIX
C.I.2 Thủ công nghiệp
a/ Thủ công nghiệp nhà nước
Trang 12Các chúa Nguyễn lập nhiều xưởng đóng thuyền ở các nơi, đặt Nhà đồ chuyên chế tạo
vũ khí, làm đồ trang sức, đồ gỗ phục vụ chúa, đặt ti Nội pháo tượng lấy dân hai xã Phan Xá
và Hoàng Giang lành nghề đúc súng vào làm (vừa đúc đại bác vừa đúc súng tây)
Các xưởng thủ công nhà nước đã làm được nhiều sản phẩm có chất lượng cao, nhiềuloại vũ khí, thuyền lớn nhưng sử dụng chế độ công tượng, bắt thợ khéo trong nhân dân làmcông tượng suốt đời Điều này ảnh hưởng không nhỏ đến sự phát triển sáng tạo chung củathợ thủ công
b/ Thủ công nghiệp nhân dân:
Hoàn cảnh mới của đất nước đã làm tăng nhu cầu về hàng thủ công Khắp các làng xã,đâu đâu cũng hình thành những nghề thủ công, những thợ thủ công chuyên các nghề rèn,mộc, dệt vải lụa, kéo tơ, tô tượng, làm đá, làm gốm, làm đồ trang sức…
Kéo tơ; dệt lụa: tồn tại hầu hết ở các làng Giáo sĩ A đơ Rốt đã nhận xét “Đàng Trong
rất nhiều tơ, nhân dùng cả tơ để làm lưới đánh cá”, lái buôn Bori cũng đồng quan điểm khiviết “ở Đàng Trong có rất nhiều tơ lụa, đến nỗi những người lao động và hạ lưu dùngthường xuyên, hằng ngày” Khối lượng sản xuất lớn, ngay từ đầu thế kỉ XVII, theo Bori “tơ
có một số lượng rất lớn…đến nỗi cung cấp cả cho Nhật Bản, gửi sang cả vương quốcLais…”
Mặt hàng vải lụa gồm nhiều loại như: lụa trắng, lụa vàng, the, lĩnh, lượt, lụa hoa,nhiễu, đoạn, vải nhỏ, vải trắng, vải hoa, vải sợi đôi…kĩ thuật dệt, theo như nhận định của LêQuý Đôn là “không thua kém gì Quảng Đông”
Về tổ chức sản xuất chủ yếu mang tính chất gia đình Những hạn chế của nhà nước vềkhổ vải, độc quyền thu mua tơ và bán tơ cho thương nhân nước ngoài, thuế má, lao dịch…
đã làm cho nghề dệt không phát triển mạnh lên để chuyển sang một phương thức sản xuấtmới
Nghề làm đường, vùng Quảng Nam, Quảng Ngãi, nghề làm đường đặt biệt phát triển.
Hàng năm, nhà chúa đã thu 15.922 cân đường phên, 7960 cân đường cát thuế của châuXuân Đài (Quảng Nam) 24.438 cân đường phên của xã Đông Phiên (Quảng Nam)…tínhchung toàn miền Nam, nhà chúa thu thuế 48.320 cân 9 lạng đường, 5300 chĩnh mật mía.Theo Bori, đường Việt Nam thuộc loại “đẹp nhất Ấn Độ” Trong nghề làm đường đã có sự
Trang 13phân công: người thì trồng mía, người thì mua mía ép lấy nước, người thì đốt lò đun mía ép
và tinh chế đường
Nghề rèn sắt: phổ biến ở khắp các làng xã, chế tạo các công cụ cần cho sản xuất hay
trong sử dụng của các gia đình Sản xuất cũng mang tính chất hộ gia đình Một số thợ rènsắt đã phát triển nghề mình lên thành nghề đúc súng và được nhà nước trưng dụng
Các nghề thủ công cổ truyền phổ biến khác như dệt chiếu, làm nón, nhuộm, đúcđồng… cũng tăng cường hoạt động, sản xuất ra hàng loạt mặt hàng khác nhau, phục vụ cuộcsống Nhìn chung thủ công nghiệp nhân dân ở các thế kỉ XVII-XVIII vừa mở rộng, vừa pháttriển, đáp ứng ở một mức độ nhất định nhu cầu của nhân dân trong nước và nhu cầu củathương nhân nước ngoài, đi sâu hơn vào nền kinh tế thị trường có tính quốc tế
Nghề khai mỏ: ở Đàng Trong ít mỏ nhưng công cuộc khai quặng cũng giữ một vị trí
quan trọng Ở Phú Bài (Thừa Thiên) có mỏ sắt, dân khai mỏ hàng năm nộp thuế sắt và đượcmiễn phu dịch Ở Bố Chính (Quảng Bình) cũng có mỏ sắt, một năm dân nộp thuế 500 khốisắt Vàng rải ra ở nhiều nơi từ Thừa Thiên cho đến Bình Định, Phú Yên Tóm lại, ở các thế
kỉ XVII-XVIII, khai thác hầm mỏ đã trở thành một bộ phận quan trọng của thủ công nghiệp
Do tính chất của công việc, ở đây đã hình thành một phương thức sản xuất tập trung, thuêmướn có tính tư nhân
C.I.3 Thương nghiệp
Trang 14 Phủ Diên Khánh có 3 chợ: chợ Dinh Nha Trang, chợ Vĩnh An, chợ Phú Vinh
Phủ Gia Định có 5 chợ: chợ Lạch Cát, chợ Sài Gòn, chợ Phú Lâm, chợ Lò Rèn, chợBình An
Đến thế kỷ 18, ở Gia Định còn có thêm chợ Bến Nghé, chợ Cây Đa, chợ Bến Sỏi, chợĐiều Khiển, chợ Thị Nghè, chợ Tân Kiểng, chợ Bình An, chợ Sài Gòn, chợ Nguyên Thực.Chúa Nguyễn áp dụng mức thuế khá cao, lập ra 140 tuần ty, có ở hầu hết các phủ,huyện, miền thượng du và miền biên
Luồng buôn bán trao đổi
Sự phát triển của kinh tế hàng hóa đã dẫn đến sự hình thành các luồng buôn bán lưuthông hàng hóa giữa các vùng trong nước
Gia Định trở thành đầu mối thị trường gạo Gạo từ đây chuyển ra vùng Thuận Quảng
và các nhu yếu phẩm từ Thuận Quảng được mang vào tiêu thụ ở Nam Bộ
Dù bị các chúa Trịnh và chúa Nguyễn ngăn cấm, giữa Đàng Trong và Đàng Ngoài vẫn cóluồng buôn bán trao đổi không chính thức Gạo từ Gia Định được bán ra Bắc Hà để đổi lấylụa, đĩnh, đoạn, quần áo
Ngoài việc buôn bán bằng xe ngựa, xe bò, gòng gánh, các thương nhân thường sửdụng thuyền để chở hàng đi các vùng xa Người miền xuôi thường chở gạo, muối, hải sản,bát đĩa, ấm chén, vải vóc, tơ lụa…lên bán cho dân miền núi và mua các thứ lâm sản chở vềxuôi Dân buôn thường chở gạo thóc từ Gia Định ra bán cho dân Thuận Quảng và mua cáchàng phương bắc trở vào
b/ Ngoại thương
Vùng đất Thuận – Quảng, một trung tâm kinh tế quan trọng của miền Trung, có tàinguyên và nguồn lâm thổ sản phong phú, có những cảng biển nổi tiếng đã từng thu hútthương khách nước ngoài trong nhiều thế kỷ trước đó Đối với Nguyễn Hoàng, việc tậndụng và phát huy những tiềm năng của xứ Thuận – Quảng để nó có khả năng đảm bảo chomột tương lai chính trị mà thuở ra đi ông đã bắt đầu toan tính là những việc làm tiên quyết.Nhận thấy những hạn chế của điều kiện tự nhiên đối với cư dân nông nghiệp vùng khô,Nguyễn Hoàng và sau đó là Nguyễn Phúc Nguyên đã xác lập một chiến lược phát triển mớivới những bước đi và hình thức khác biệt nhằm hòa nhập mạnh mẽ hơn với những bước
Trang 15chuyển biến chung của khu vực Cách thức lựa chọn con đường phát triển đó đã đưa ĐàngTrong hội nhập với mô hình phát triển chung của hầu hết các quốc gia Đông Nam Á lúc bấygiờ là hướng ra biển Phát triển ngoại thương đã trở thành một chiến lược kinh tế liên quanđến sự sống còn của thể chế mà các chúa Nguyễn ra công tạo dựng.
Với chủ trương trọng thương, các chính sách khuyến khích kinh tế đối ngoại của cácchúa Nguyễn đã có tác dụng cổ vũ ngoại thương Đàng Trong Vào thế kỷ XVII – XVIII,Đàng Trong đã có quan hệ buôn bán với nhiều quốc gia, trong đó có những quốc gia có nềnkinh tế hàng hóa phát triển thuộc loại bậc nhất của thế giới Hầu hết các cường quốc kinh tếlúc bấy giờ, cả ở châu Á lẫn châu Âu đều đến và thiết lập quan hệ giao thương với chínhquyền Đàng Trong
Về tình hình thế giới:
Trong hơn 40 năm:1592-1635, là thời kỳ Nhật Bản thực hiện chính sách mở cửa, hàngtrăm thương thuyền được Mạc phủ cấp “ châu ấn” (Shuin sen) để xuất bến buôn bán vớinước ngoài góp phần tạo nên một hiện tượng thương mại sôi động ở các nước Đông Nam Átrong đó có Hội An của Đàng Trong
Về phía Trung Quốc, sau hơn hai thế kỷ thực hiện chính sách “ hải cấm” để độc quyềnngoại thương thông qua con đường “thương mại - triều cống” nhằm nâng cao vị thế chính trịđối với các nước trong khu vực không những đã không mang lại nguồn lợi kinh tế đáng kể
mà nhà nước không kiểm soát được thị trường vì nạn buôn lậu quốc tế và nạn cướp biểnhoành hành khắp nơi Do vậy, nên đến năm 1567, nhà Minh buộc phải tháo gỡ bằng cáchcấp giấy phép cho các thương thuyền đến các vùng biển Đông Nam Á để buôn bán Đếnnăm 1592 có 110 thuyền được cấp Wenyin, mở ra một triển vọng trong việc buôn bán vớiĐàng Trong
Từ sau năm 1644, khi nhà Mãn Thanh đã thắng nhà Minh thực hiện một chính sáchthống trị và kỳ thị người Hán trên lãnh thổ Trung Quốc nên rất nhiều di thần nhà Minh vàdoanh nhân Trung Quốc đã xin nhập cư ở các nước Đông Nam Á trong đó Đàng Trong
Thế kỷ XV - XVII, các nước phương Tây bước vào thời kỳ tích lũy nguyên thủy
tư bản, những cuộc phát kiến địa lý đã mở ra một cuộc “cách mạng thương mại” thực
Trang 16sự ở châu Âu và đưa đến việc thiết lập mạng lưới giao thông mậu dịch hàng hải xuyên đại dương nối liền châu Âu với phương Đông.
Mạng lưới giao thông mậu dịch hàng hải xuyên đại dương được hình thành đã thúcđẩy mạnh mẽ các hoạt động kiếm lời của thương nhân nhiều quốc gia Tây Âu có nền kinh tếcông thương nghiệp phát triển như Bồ Đào Nha, Hà Lan, Anh, Pháp tìm đến nhiều vùngđất ở phương Đông để thăm dò và khai thác tài nguyên thiên nhiên Sự tham gia đồng thờicủa nhiều nước phương Tây vào thị trường khu vực đã làm cho hoạt động thương mại củacác nước trong khu vực đổi sắc
Ở Đông Nam Á, nhiều nước đã tiến hành mở cửa giao thương với các nước phươngTây như Siam, Indonesia và bán đảo Malacca là cơ hội để cho Đàng Trong tham gia vàohoạt động thương mại quốc tế Trong thời gian đầu, khi Đàng Ngoài thực thi chính sáchđóng cửa trong quan hệ với các nước phương Tây thì Đàng Trong lại thực thi chính sáchngoại thương cởi mở Trong lĩnh vực đối nội, các chúa Nguyễn ở Đàng Trong tạo điều kiệncho thương nghiệp phát triển và có chính sách bảo hộ đối với một số mặt hàng do chínhngười Đàng Trong sản xuất Trong lĩnh vực đối ngoại, các chúa Nguyễn không nhữngkhuyến khích thương nhân nước ngoài đến buôn bán mà còn ban hành nhiều chính sách ưuđãi đối với các thương nhân phương Tây Chính nhờ chính sách ngoại thương thông thoángcủa các chúa Nguyễn mà việc buôn bán Đàng Trong ngày càng phát triển và hình thành nênnhững thương cảng nổi tiếng, trong đó tiêu biểu là thương cảng Hội An
Các đối tác phương Đông
Trang 17Tiên, Gia Định Ngoài ra, họ còn đóng vai trò làm môi giới, phiên dịch giữa người Việt vàngười phương Tây.
Cùng với thương nhân Nhật Bản, thương nhân Trung Quốc cũng có mặt khá sớm ở đất ĐàngTrong Từ rất lâu, Trung Quốc đã là một bạn hàng gần gũi của Đại Việt Tuy nhiên, so với các triềuđại trước đó, việc người Hoa đến buôn bán trên đất Đại Việt vào thế kỷ XVII – XVIII phát triển caohơn nhiều với số lượng tàu thuyền và khối lượng hàng hóa lớn mà hàng năm họ mang tới Phố Hiến
ở Đàng Ngoài cũng như Hội An ở Đàng Trong Sự xuất hiện phố người Hoa bên cạnh phố ngườiNhật tại Hội An nói lên sự phát triển quan hệ giao thương giữa hai nước Khác với người Nhật,người Hoa từ Trung Quốc được phép đến buôn bán với Đàng Trong không chỉ trong buổi đầu nềnthống trị của chúa Nguyễn mà còn kéo dài suốt thời kỳ sau đó Hoạt động ngoại thương giữa ĐàngTrong với Trung Quốc có ý nghĩa lớn trong việc thúc đẩy sự phát triển nền thương mại ở vùng đấtmới mẻ này, nhất là nửa sau thế kỷ XVII và cả thế kỷ XVIII, khi chính phủ Nhật đã thực hiện lệnhtỏa quốc (1636) làm cho hoạt động của Châu ấn thuyền giảm dần vai trò của nó tại Hội An
Li Tana cho biết, từ năm 1647 đến năm 1720, số ghe thuyền Trung Hoa từ các nước Đông Nam á tới Nhật Bản như sau: Đàng Ngoài: 63 chiếc, Đàng Trong: 203 chiếc, Campuchia:
109 chiếc, Xiêm: 138 chiếc, Patani: 49 chiếc, Malacca: 8 chiếc, Jakacta: 90 chiếc, Bantam: 3chiếc (Dẫn theo Xứ Đàng Trong – Lịch sử kinh tế – xã hội Việt Nam thế kỷ 17 và 18 (Nguyễn Nghị dịch) Nxb Trẻ, tr101.
2 Nhật Bản
Các thương nhân Nhật không vào được thị trường Trung Quốc vì chính sách cấmthông thương của nhà Minh đã chuyển từ thị trường Trung Quốc sang thị trường Đại Việt.Một thời gian sau, ngay cả khi Nhật Hoàng có lệnh cấm thuyền Nhật ra buôn bán ở nướcngoài, vẫn có tàu Nhật đến giao dịch ở Hội An
Hàng hóa người Nhật mang đến là đồng, lưu huỳnh, vũ khí, vải bông, giấy, yên ngựa;
họ mua về tơ, vải thô, lụa, long não, lô hội, trầm hương, da cá mập, hồ tiêu, song, mây.Trong lịch sử th ương mại Đại Việt, chưa bao giờ quan hệ buôn bán với Nhật Bản phát triểnthịnh đạt như bốn thập kỷ đầu của thế kỷ XVII Mặc dù thời đại Châu ấn thuyền ở Đàng Trongkhông kéo dài, song việc buôn bán của người Nhật tại vùng đất này để lại nhiều dấu ấn đậm nét Sốlượng Châu ấn thuyền hàng năm đến Đàng Trong luôn đứng đầu danh sách các nước có quan hệmua bán với Nhật Bản Phố Nhật ở Hội An ra đời là do nhu cầu của thương mại, nhưng đồng thời
Trang 18nó cũng là kết quả phát triển của quan hệ thương mại hai nước Chưa có nơi nào trên đất châu á màthương điếm của người Nhật có qui mô và năng lực hoạt động có hiệu quả như thương điếm của họđặt tại Hội An Buôn bán với người Nhật đóng vai trò quan trọng trong nền thương mại ĐàngTrong.
Thành Thế Vỹ, Ngoại thương Việt Nam hồi thế kỷ XVII, XVIII và đầu thế kỷ XIX, Nxb Sử học,
1961, tr 9 đã dẫn theo Peri trong cuốn Sơ thảo về sự giao thiệp giữa Nhật Bản và Đông Dương vào những thế kỷ XVI và XVII, cho biết, trong 13 năm (từ 1604 đến 1616), có 186 thuyền buôn Nhật đã được cấp châu ấn đến buôn bán với các nước châu á Trong đó, đến Đàng Ngoài là 11 chiếc, Đàng Trong là 42 chiếc, Champa là 5 chiếc, Campuchia là 25 chiếc, Xiêm là 37 chiếc, Philippin là 34 chiếc, Nam Trung Quốc là 18 chiếc,các nước khác là 18 chiếc Chen Ching Ho (Trần Kinh Hòa) cũng cho biết, từ năm 1604 đến 1634, có 162 Châu
ấn thuyền đến Đại Việt và Cao Miên Trong đó, có 35 chiếc đến Đàng Ngoài, 86 chiếc đến Đàng Trong,
Các đối tác phương Tây
1 Bồ Đào Nha
Trong số các nước phương Tây, Bồ Đào Nha là nước đầu tiên có mặt ở Đàng Trong.Theo Booc-Vút (Birdwood), người Bồ Đào Nha tiến hành các hoạt động giao lưu buôn bánvới Đàng Trong vào khoảng năm 1540, thương nhân Bồ Đào Nha từ Macao hoặc NamDương (Indonesia) đến Hội An vào tháng chạp hoặc tháng giêng bán, mua hàng như tơ, lụa,
hồ tiêu, gỗ quý, thông qua các đại lý người Hoa hay người Nhật ở Hội An rồi quay thuyền
về các căn cứ trên (Macao, Nam Dương) Điều cần nhận thấy ở đây là để thiết lập quan hệbuôn bán với các nước châu Á, Bồ Đào Nha đã xây dựng nên hệ thống thương điếm trêntoàn cõi châu Á nhằm tạo ra một mạng lưới thương mại hùng mạnh vào thế kỷ XVI Tuynhiên đối với Việt Nam, Bồ Đào Nha không thiết lập hệ thống thương điếm cho nên mọiquan hệ giao lưu buôn bán đều thông qua môi giới trung gian để gom hàng hoá hoặc giaodịch Điều đáng lưu ý là các thương nhân Bồ Đào Nha không để lại người thường trực ở Hội
An nhưng lại muốn độc quyền buôn bán với Đàng Trong Để làm việc đó, các thương nhân
Bồ Đào Nha tìm mọi cách để lấy lòng chúa Nguyễn, gửi tặng các đồ vật, và thường xuyêncạnh tranh với Hà Lan, thậm chí họ còn đề nghị chúa Nguyễn không nên buôn bán vớingười Hà Lan, tuy nhiên chúa Nguyễn không đồng ý mà vẫn thiết lập buôn bán với người
Trang 19Hà Lan Trước tình hình như vậy, Bồ Đào Nha càng hướng sự quan tâm đến các hoạt độnggiao lưu buôn bán với Đàng Trong Từ năm 1640 trở đi, quan hệ buôn bán giữa Bồ Đào Nhavới Nhật Bản ngày càng giảm, trong khi đó quan hệ buôn bán với Đàng Trong lại được tăngcường Những sản vật mà các thương nhân mua của Đàng Trong là tơ vàng, một số trầmhương, kỳ nam và một ít benzoin Đổi lại, các thương nhân Bồ Đào Nha mang súng ống,diêm tiêu, kẽm, đồng có thợ kỹ thuật đi cùng để bán lại cho Đàng Trong Người Bồ ĐàoNha đã dạy cho chúa Nguyễn kỹ thuật đúc súng nên được các chúa Nguyễn sủng ái và nểtrọng Sở dĩ như vậy là vì, thời kỳ này xảy ra cuộc chiến tranh giữa Đàng Trong và ĐàngNgoài nên chúa Nguyễn rất cần mua súng đạn từ xưởng đúc súng của Bồ Đào Nha ở Macao.Điều cần nhận thấy là trong số các thương cảng của Đàng Trong thì Hội An được coi là mộttrong những thương cảng sầm uất nhất Hội An là trung tâm tập trung và phân phối hànghoá, là nơi xuất khẩu một số sản phẩm địa phương như kỳ nam và vàng, trong đó kỳ nam làmột thứ dầu quý được các thương nhân Bồ Đào Nha ưa chuộng “Kỳ nam hương màu đen,
có dầu và giá 50 cruzadosmột catty nơi người Bồ Đào Nha, trong khi tại chính nơi sản xuất,
nó trị giá ngang với bạc, bao nhiêu kỳ nam hương là bấy nhiêu bạc”
Có thể khẳng định rằng Đàng Trong đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho các thương nhân BồĐào Nha đến giao lưu buôn bán trong đó có cả việc cho phép các thương nhân Bồ Đào Nhaxây dựng những cơ sở kinh doanh ở Hội An, cho phép lập phố, xây kho như các thươngnhân Nhật Bản và Trung Quốc Song do phương thức buôn bán của Bồ Đào Nha chủ yếuthông qua môi giới trung gian hoặc giao dịch nên Bồ Đào Nha không có cơ sở vững chắc tạiĐàng Trong Với tư cách là những người phương Tây đầu tiên đến Việt Nam, “người BồĐào Nha đã cậy có một nền hàng hải khỏe vào bậc nhất và hung hăng đến chiếm đất đai đểbuôn bán” Mặc dù các thương nhân Bồ Đào Nha mua đuợc nhiều hàng hoá rẻ của ĐàngTrong nhưng họ đến Đàng Trong không đại diện cho bất kỳ công ty nào và không cư ngụ tại
đó nên vị thế của Bồ Đào Nha ở Đàng Trong về sau bị suy giảm
2 Hà lan
So với Bồ Đào Nha, thì các thương nhân Hà Lan đến Đàng Trong vào thời điểm muộnhơn rất nhiều Năm 1601, người Hà Lan đã đến Đàng Trong, đặt chân đến Hội An để buônbán Nguyên nhân để các thương nhân Hà Lan đặt chân đến Đàng Trong là do phải duy trìnền thương mại nội Á, trong đó việc thu mua bạc Nhật là yếu tố quyết định để các thương
Trang 20điếm phương Đông duy trì hoạt động Dù có nhiều cố gắng nhưng Công ty Đông Ấn HàLan có trụ sở chính đóng tại Batavia ở Indonesia vẫn không cung cấp đủ vốn cho thươngmại châu Á nên đến đầu thế kỷ XVII, hoạt động trao đổi bạc lấy tơ lụa là trọng tâm tronghoạt động thương mại của các Công ty Đông Ấn châu Âu ở khu vực Viễn Đông Trước khingười Hà Lan thâm nhập, buôn bán với Đàng Trong thì người Bồ Đào Nha đã triển khai lấylụa Trung Quốc đổi bạc Nhật Vì vậy, để có được bạc Nhật cho mạng lưới buôn bán nội Á,Công ty Đông Ấn Hà Lan cần tơ lụa Trung Quốc Do không thâm nhập được vào thị trườngTrung Quốc, Công ty Đông Ấn Hà Lan buộc phải mua tơ lụa Trung Quốc tại các cảng thịtrung chuyển như Hội An.
Bảng 1 Loại tiền đúc VOC đem đến Đàng Trong (1633-1637)
Những mặt hàng mà người Hà Lan thường mang đến buôn bán là những mặt hàngĐàng Trong cần như đại bác, diêm tiêu, lưu huỳnh; dạ châu Âu loại mịn, màu đỏ và màusẫm; đồng bạc rénaux như tiền đồng, bạc nén và bạc đúc; hạt tiêu để xuất khẩu sang TrungQuốc; vải bông Ấn Độ, gỗ đàn hương… Đổi lại, người Hà Lan mua tơ lụa và các mặt hàngthổ sản như kỳ nam hương, gỗ quý, tơ lụa, xạ hương, vàng mang về châu Âu Trong thời
Trang 21gian đầu các thương nhân Hà Lan cũng được các chúa Nguyễn đón tiếp nồng hậu, thậm chícòn được triều đình ban tặng một số đặc quyền để buôn bán Năm 1633, theo thư mời củachúa Sãi, Công ty Đông Ấn Hà Lan đã có ý định đến buôn bán ở Quảng Nam và đến năm
1636, thương điếm của Hà Lan đã được thiết lập ở Hội An phố Tuy nhiên, quá trình buônbán giữa Đàng Trong với Hà Lan chỉ diễn ra trong 4 thập niên đầu của thế kỷ XVII, về sau
do mâu thuẫn với dân bản địa các thương nhân Hà Lan buộc phải rời khỏi Hội An Saunhiều cố gắng của Batavia, nhưng Công ty Đông Ấn Hà Lan vẫn không duy trì được mốiquan hệ thương mại với Đàng Trong
Những chuyển biến chính trị và thương mại khu vực Đông Nam Á đầu thập niên 30 của thế
kỷ XVII buộc Chính phủ Batavia chuyển hướng trọng tâm quan hệ thương mại từ ĐàngTrong ra Đàng Ngoài
Rõ ràng là, trong hơn một thế kỷ thiết lập quan hệ buôn bán với Bồ Đào Nha và HàLan, các chúa Nguyễn ở Đàng Trong đã thực thi chính sách ngoại thương rộng mở và tạomọi điều kiện thuận lợi cho các thương nhân Bồ Đào Nha và Hà Lan đến giao lưu buôn bán.Trong quá trình diễn ra các hoạt động giao lưu buôn bán giữa Bồ Đào Nha và Hà Lanthường xảy ra cạnh tranh, thậm chí dẫn đến xung đột, nhưng các chúa Nguyễn ở ĐàngTrong vẫn thực hiện chính sách cân bằng lực lượng, không dành bất cứ sự ưu tiên nào hoặccho Bồ Đào Nha hoặc cho Hà Lan Nhờ vậy, quan hệ giữa Đàng Trong với Bồ Đào Nha và
Hà Lan vẫn giữ được sự hòa hiếu dẫu rằng có những thời điểm xảy ra bất đồng Ngoài ra,trong quan hệ với các nước phương Tây, chính quyền Đàng Trong đã biết sử dụng lợi thếcủa từng nước để phục vụ cho sự phát triển đất nước Trong thời kỳ đầu, khi Bồ Đào Nhađang có ưu thế, chính quyền Đàng Trong đã dựa vào Bồ Đào Nha để buôn bán, đến giaiđoạn sau khi Bồ Đào Nha suy yếu thì Đàng Trong lại hướng sự chú ý của mình về Hà Lan.Điều cần nhận thấy là trong hoạt động thương mại giữa Bồ Đào Nha với Đàng Trong,người Bồ Đào Nha không thiết lập các thương điếm như ở Ấn Độ, Macao và một số nướckhác trong khu vực mà chỉ sử dụng thương cảng Hội An như một trạm trung chuyển, thumua hàng hóa để buôn bán với Nhật Bản và duy trì thương mại châu Á Các thương nhân
Bồ Đào Nha đến Hội An mua, bán hàng hóa theo từng thời điểm và không định cư lâu dài,dẫu rằng chính quyền Đàng Trong cho phép họ được lập phố, xây nhà Ngoài ra, hoạt độngbuôn bán thương mại của Bồ Đào Nha đối với Đàng Trong không theo mô hình quản lý của
Trang 22các công ty mà chỉ dựa vào sự dũng mãnh và tính chất mạnh mẽ của những người đi biển.Trong khi đó, các thương nhân của Hà Lan lại chú trọng xây dựng các thương điếm, pháttriển mạng lưới, hệ thống pháp luật và làm việc dưới sự điều hành và quản lý của Công ty ởchính quốc Với phương cách đó, mọi hoạt động buôn bán của các thương nhân Hà Lankhông chỉ chịu sự giám sát trực tiếp của giám đốc thương điếm mà còn chịu sự quản lý củaToàn quyền công ty ở Batavia Trong vấn đề này hoạt động thương mại của Hà Lan tỏ rõtính ưu việt, quy cũ và tổ chức chặt chẽ hơn so với hoạt động thương mại của các thươngnhân Bồ Đào Nha Tuy nhiên, hoạt động thương mại của các thương nhân Bồ Đào Nha và
Hà Lan vẫn có điểm chung trong việc coi thương cảng Hội An là trạm trung chuyển phục vụcho mục đích kiếm lời nên mặc dù được chính quyền Đàng Trong cho phép và tạo mọi điềukiện thuận lợi cho các thương nhân Bồ Đào Nha và Hà Lan đến giao lưu buôn bán, nhưng
do nhiều hoàn cảnh khác nhau nên đến nửa sau những năm 50 của thế kỷ XVII, hoạt độngthương mại của Đàng Trong với Bồ Đào Nha và Hà Lan chính thức chấm dứt
3 Anh
Họat động thương mại của người Anh tại Đàng Trong rất ít kết quả Năm 1613, tàucủa người Anh từ Nhật Bản đến Đàng Trong dâng quốc thư và chào hàng Nguyễn PhúcNguyên mua một số vải, nhưng trên đường về các thương nhân Anh bị quân chúa Nguyễntàn sát
Sau một thời gian khá dài nỗ lực không thành công khi kinh doanh ở Đàng Ngoài,người Anh bèn chuyển sang thị trường Đàng Trong Năm 1695, tàu Anh đến xin gặp chúaNguyễn nhưng sau 7 tuần chúa Nguyễn mới tiếp Chúa Nguyễn chưa dứt khoát việc chongười Anh mở thương điếm, do đó họ chán nản bỏ đi
Năm 1702, người Anh chiếm đảo Côn Lôn có vị trí chiến lược trên biển làm chỗ kinhdoanh Chúa Nguyễn phối hợp với những người Malay trên đảo đánh đuổi người Anh đi
Tóm lại, hoạt động thương mại giữa Bồ Đào Nha và Hà Lan với Đàng Trong thế kỷ
XVI – XVII được coi là đỉnh cao trong quan hệ giữa Đàng Trong với các nướcphương Tây Nhờ thiết lập được trạm trung chuyển Hội An mà Bồ Đào Nha và HàLan duy trì được mạng lưới buôn bán thương mại nội Á trong suốt hơn một thế kỷ từgiữa thế kỷ XVI đến giữa thế kỷ XVII Đây là một trong những đóng góp hết sứcquan trọng của chính quyền Đàng Trong trong quan hệ với các nước phương Tây
Trang 23thời Trung đại Trên một phương diện khác, hoạt động thương mại của Bồ Đào Nha
và Hà Lan đã góp phần phá vỡ nền kinh tế tự cung tự cấp của Đàng Trong, thúc đẩynền kinh tế hàng hóa của Đàng Trong phát triển mạnh mẽ cũng như tạo điều kiện đểĐàng Trong tham gia vào quá trình hội nhập thương mại quốc tế
C.I.4 Đô thị Đàng Trong dưới thời các chúa Nguyễn
Trên đất Đàng Trong đã hình thành các trung tâm thương mại để cho ra đời các đô thị
cổ từ thời vương quốc Phù Nam nay còn để lại dấu tích kiến trúc của nền văn hóa Óc Eo,xuất hiện từ thế kỷ thứ III ở tỉnh An Giang, mở rộng là cả vùng đất miền Tây Nam Bộ.Vùng đất Thuận Quảng đã xuất hiện một Lâm Ấp phố từ thế kỷ thứ V- X của vương quốcChămpa nằm ở hạ lưu sông Thu Bồn, nay còn để lại nhiều dấu tích qua hệ thống các giếng
cổ và nền móng công trình đô thị ở Trung Phường, xã Duy Nghĩa, huyện Duy Xuyên, tỉnhQuảng Nam Cũng có một cảng Thi Nại hoạt động từ thế kỷ X-XV còn để lại dấu vết côngtrình kiến trúc mà chúng tôi đã phát hiện vào năm 1986, nay ở xã Phước Hòa, huyện TuyPhước, tỉnh Bình Định
Vào thời Đại Việt, người phương Tây được xem là đầu tiên thăm dò thị trường nước ta
đã đến vùng đất Quảng vào năm 1523 là Duarte Coelho (Bồ Đào Nha) Trước khi rời xứ,ông đã tạc trên núi đá Cù Lao Chàm một hình thánh giá lớn, có ghi niên hiệu và chính danhcủa minh Hơn 10 năm sau, một người Bồ Đào Nha khác là Antonio De Faria đến vùngbiển Quảng Nam, ông đã quan sát phố xá và sự nhộn nhịp ghe thuyền ở vùng cảng này Ôngthấy: Một thành phố có tường bao quanh gần 10.000 nóc nhà Đó là nơi neo đậu 40 chiếcthuyền buồm lớn (Jonques) đến hai hay ba cầu tàu và xung quanh có khoảng 2.000 thuyềnbuồm với nhiều kích thước khác nhau Như vậy, khả năng có một thế hệ đô thị thứ hai sauLâm Ấp phố của Chămpa và trước phố Hội An thời chúa Nguyễn ở vùng biển Đà Nẵng-Hội An mà hiện nay chúng ta chỉ nhận biết qua một số tư liệu hiếm hoi do người nước ngoàighi chép
Vào nửa sau thế kỷ thứ XVI, tàu thuyền nước ngoài đến buôn bán tập trung ở vùngcảng Thuận Hóa, nơi chúa Nguyễn Hoàng chọn làm dinh phủ (nay thuộc tỉnh Quảng Trị);chỉ riêng năm 1577, có 13 thuyền buôn người Phúc Kiến (Trung Quốc) đến cập bến ở đây
để buôn bán
Trang 24Thuyền buôn Nhật Bản vào nửa sau thế kỷ XVI cũng theo cửa Việt lên buôn bán ở khuvực gần dinh của chúa mà đội thuyền 5 chiếc của Bạch Tần Hiển Quý trong sự kiện thâmnhập vào vùng biển Thuận Hóa bị chúa Nguyễn ngộ nhận cho quân đánh tan vào năm 1585
là một trường hợp buôn bán không chính thức giữa thương nhân Nhật Bản với chúa Nguyễntrước thời Mạc phủ mở cửa (1592)
Năm 1613, thương gia người Bồ Đào Nha là Ferdinand Costa đến Dinh Cát để yết kiếnchúa Nguyễn Phúc Nguyên (chúa Sãi) Cơ hội này, Chúa Sãi nhờ Ferdinand Costa vận độngthương nhân người Bồ đến buôn bán ở dinh của chúa
Bản đồ của Alexandre De Rhodes vẽ giữa thế kỷ XVII có tên Cua Say (tức Cửa Sãi)được xác định tọa độ 16040 là cảng chính hồi bấy giờ của xứ Thuận Hóa Đây là nơi được
sử sách triều Nguyễn xác nhận: “Thuyền buôn các nước đến nhiều, trấn trở nên một đô thịlớn “
Vào cuối thế kỷ XVI, trên vùng đất Thuận Quảng của chúa Nguyễn đã manh nha rađời các đô thị đáp ứng cho nhu cầu lưu trú và buôn bán của thương nhân nhưng đến nay rấtkhó xác minh trên thực địa vì đã qua hơn 5 thế kỷ thay đổi dâu bể nên chúng tôi xem đó làtiền đề để khảo cứu và giới thiệu các phố cảng Hội An, Thanh Hà, Nước Mặn, Hà Tiên củađất Đàng Trong
1 Hội An
Vào năm 1980, khi bắt đầu khảo sát Hội An chúng tôi đã chú ý đến các địa danh “sôngĐò”, “bàu Dầu”; với các di vật như mảnh thuyền, cột buồm, neo tàu, tre, gỗ để cừ bờ sông Chúng tôi xác định bờ sông cũ Hội An từ Cồn Tàu ở xã Cẩm Châu cắt dọc thành phố Hội
An theo đường chính diện qua đường Trần Phú hiện nay đến hai phường Cẩm Phô, Thanh
Hà cách bờ sông hiện thời chừng 100-200 mét Với chiều dài hơn 4 km đó, ngày xưa là nơi
đỗ của các thuyền buôn mà cảng chính là ở Dương thương Hội quán, nay là Trung Hoa Hộiquán ở trên con đường Trần Phú
Từ nửa sau thế kỷ XVI, khi nền thương mại phương Tây đang ồ ạt dồn về phương Đông đểtìm kiếm thị trường, lệnh “hải cấm” của nhà Minh cũng bị bãi bỏ (1567), chính sách mở cửacủa Mạc phủ Nhật Bản được ban hành (1592) Cũng trong thời gian này, chúa NguyễnHoàng và trấn thủ dinh Quảng Nam là Nguyễn Phúc Nguyên đã viết nhiều thư kêu gọithương nhân nước ngoài đến buôn bán Hội An, một địa chỉ có thương hiệu hấp dẫn “ Faifo”
Trang 25trở thành một trung tâm thương mại hàng đầu của nước ta thu hút thương khách nhiều nướcđến buôn bán và lưu trú, đặc biệt là thương nhân Nhật Bản.
Sự thu nhận người Nhật nhập cư ở Hội An của chúa Nguyễn trước hết nhằm giải quyếtnhu cầu bức thiết cho một số thương nhân Nhật theo Thiên chúa giáo bị Nhật hoàng trụcxuất và sau đó đóng cửa không cho họ quay lại chính quốc Sau khi có chính sách mở cửa(1592), thương nhân Nhật Bản đến Hội An ngày càng đông Đồng thời, thương nhân TrungQuốc thời nhà Minh bỏ lệnh “hải cấm” cũng đến Hội An và có yêu cầu ở lại lâu dài để buônbán với thương nhân Nhật Bản
Một lý do khách quan khác để Hội An trở thành đô thị quốc tế với sự lưu trú lâu dàicủa giới thương nhân Nhật Bản và Trung Quốc là các thương vụ tấp nập diễn ra trên đất Hội
An chỉ 6 tháng đầu mỗi năm vào mùa khô Đến cuối mùa hè các thuyền căng buồm để giómùa tây-nam đưa về đất bắc; Hội An trở nên hoang vắng Trước tình hình đó, phủ chúa phải
có giải pháp nhằm thỏa mãn yêu cầu cho thương nhân Nhật Bản và Trung Quốc cũng chínhlợi ích của chính quyền sở tại là cho phép họ chọn một nơi gần thương cảng Hội An để lậpphố buôn bán và cư trú lâu dài Từ đó ở Hội An đã hình thành hai khu phố tự trị của ngườiNhật và người Hoa
Cơ ngơi của đô thị Hội An vào năm 1618 được Cristoforo Borri mô tả như sau: “ Vìcho tiện việc hội chợ, chúa Nguyễn cho phép người Trung Quốc và Nhật Bản làm nhà cửatheo tỷ lệ người của họ để dựng nên một đô thị Đô thị này gọi là Faifo và nó khá lớn.Chúng tôi có thể nói có hai thành phố, một của người Trung Quốc và một của người Nhật
Họ sống riêng biệt, đặt quan cai trị riêng và theo phong tục, tập quán của mỗi nước “
Vào thời điểm nói trên ở vùng đất Quảng Nam, Borri cũng cho biết chúa Nguyễn cũngtiếp nhận nhiều thuyền buôn Bồ Đào Nha và Hà Lan đến buôn bán và dự định cấp chongười Bồ ở vùng cận cảng Đà Nẵng 3-4 dặm đất để lập phố với những tiện nghi và ưu đãinhư chúa Nguyễn đã dành cho người Nhật và người Hoa
Trong hội thảo quốc tế về Hội An năm 1990, Ogura Sadao đã cung cấp bản đồ có ghi vị tríchùa Hà Nam (của người Nhật) vào thế kỷ XVII tại Hội An, được xác định vị trí như sau:
- Phía đông là phố Nhật, nằm ở hạ lưu sông
- Phía tây là Đường Nhân phố (phố người Hoa), nằm ở thượng lưu sông
- Phía nam là sông lớn (sông Thu Bồn lúc đó)
Trang 26- Phía bắc là An Nam phố (tức phố người Việt).
Đó là diện mạo của đô thị Hội An vào đầu thế kỷ XVII
- Phố Nhật: Phố Nhật ở vị trí làng Hoài Phô, một làng cổ lâu đời nên con sông Thu Bồnđoạn chảy qua phố Hội An còn gọi là sông Hoài Địa danh Faifo cũng bắt nguồn từ tên làng,tên sông đó
Làng Hoài Phô được ghi tên trong sách Ô châu cận lục (1555) Vào thế kỷ XVIII,làng đổi tên là Hoa Phô ; về sau đổi thành làng Sơn Phô Sơn Phô hiện thuộc xã Cẩm Châu,thành phố Hội An
Người Nhật đến mua 20 mẫu đất của làng Hoài Phô và An Mỹ để xây dựng phố xá,sinh sống; lập một ngôi chùa lấy tên là Tùng Bổn Trong tấm bia Phổ Đà Sơn Linh TrungPhật ở Ngũ Hành Sơn (Đà Nẵng) được khắc ghi vào năm 1640 mà chúng tôi đã khảo sát vàcông bố năm 1985 cho thấy có 9 lần nhắc đến địa danh dinh Nhật Bổn và một lần nhắc đếnđịa chỉ dinh Tùng Bổn, nơi người Nhật sinh sống tại Hội An và cúng rất nhiều tiền cho ngôichùa này Đây là thời kỳ cực thịnh của phố Nhật tại Hội An nên người phương Tây gọi Hội
An là đô thị Nhật Bản Vị thị trưởng đầu tiên được công nhận vào năm 1618 là FuramotoYashiro; có nhiều thị trưởng có quyền hành rất lớn ở Đàng Trong như Simonosera Có vị thịtrưởng đã can thiệp với chúa Nguyễn ban đặc ân cho Alexandre de Rhodes trong thời kỳ bịcấm đạo Thiên chúa
Theo một bức tranh tô màu còn giữ tại nhà dòng họ Chaya ở Nhật cho thấy phố Nhậtdài khoảng 320 mét, gồm hai dãy phố và gần một cái chợ bán đủ các mặt hàng họp thành
“đô thị Nhật Bản” chạy dọc theo trục một con đường nằm bên một hải cảng có nhiều tàuthuyền đang cập bến
Vào năm 1695, khi Thomas Bowyear, thương gia người Anh đến tại Hội An chỉ cònthấy 5 gia đình người Nhật sinh sống Cùng thời điểm đó, nhà sư Thích Đại Sán đến Hội Ankhông thấy ghi chép về phố Nhật, người Nhật trong tập bút ký Hải ngoại kỷ sự Năm 1981,chúng tôi cũng tìm thấy 4 ngôi mộ cổ của người Nhật tại Hội An cũng ghi năm qua đời vàothập niên cuối cùng của thế kỷ XVII
Phố Nhật ở Hội An ra đời và thịnh vượng trong nửa đầu thế kỷ XVII và tồn tại đến cuối thếđó
Trang 27- Phố Khách: Năm 1618, lúc Cristoforo Borri mô tả về phố Nhật và phố Khách tại Hội Anthì Hoa thương bắt đầu quy tụ về Hội An Ngoài bức hoành phi có niên hiệu Thiên Khải -Tân Dậu niên (tức 1621) của một gia đình người Hoa ở trên đường Trần Phú còn giữ, đượcxem là di vật cổ xưa nhất của phố Khách Tư liệu còn cho biết ở vào thời thịnh hành của phốKhách, người Hoa đã xây dựng một tổ đình lấy tên là Cẩm Hà cung vào năm 1626, ở ranhgiới làng Cẩm Phô và Thanh Hà, nằm về phía tây của thành phố Hội An hiện nay Điều đóđúng với vị trí phố Đường Nhân mà Ogura Sadao cung cấp thông tin từ ngôi chùa Hà Nam
và cũng đúng với ký ức tồn cổ ở Hội An mà tiêu biểu là Châu Phi Cơ, cho rằng: Người Nhật
ở đầu đường phía mặt trời mọc của thành phố còn người Trung Hoa lập phố vào phía cuốiđường mặt trời lặn
Từ phố Nhật lên phố Khách phải qua một con khe, người Nhật đã xây dựng nên một chiếccầu gọi là cầu Nhật Bản (Lai Viễn kiều), người Hoa làm chùa trên đó để thờ Bắc Đế nên gọi
là chùa Cầu
Kết quả khai quật khảo cổ học của các chuyên gia Nhật Bản vào mùa hè năm năm
1998 và 2006 ở phường Cẩm Phô (trường PTCS Nguyễn Duy Hiệu), xung quanh chùa Cầu,tìm thấy nhiều đồ gốm Cảnh Đức (Trung Quốc), gốm Hizen (Nhật Bản) lẫn với đồ gốm, đồsành Việt Nam có niên đại thế kỷ XVII Kết quả này cho chúng ta khẳng định về thị trườnggốm thương mại quốc tế tại Hội An và dấu tích cư trú sớm của người Nhật và người Hoachứ chưa đủ cứ liệu để xác định phố Nhật và phố Khách tại Hội An qua tư liệu khảo cổ học
- Phố Hội An:
Tấm bản đồ Thiên Nam tứ chí lộ đồ thư do Đỗ Bá vẽ (1630-1655) đã xuất hiện các tênHội An phố, Hội An kiều đã giúp cho chúng ta khẳng định phố Hội An, cầu Hội An (cầuNhật Bản) ra đời từ nửa đầu thế kỷ XVII
An Nam phố tức phố Hội An trong sơ đồ chùa Hà Nam qua các tư liệu cho chúng taxác định vị trí của làng cổ Hội An mà trung tâm là đình làng Hội An - đền Ông Voi - đường
Lê Lợi hiện nay
Đó là khu đô thị của người Việt ra đời trong nửa đầu thế kỷ XVII cùng tồn tại với phốNhật và phố Khách
Trang 28Sau khi nhà Mãn Thanh đánh bại nhà Minh (1644), lượng Hoa thương di trú ở Hội Anrất đông, phố Khách ở Thanh Hà dần bị giải thể Họ tiến dần về phía đông mua 13,5 mẫuđất của làng Cẩm Phô, Hội An, Cổ Trai để lập phố buôn bán Lúc đầu họ lập phố từ phía tâycầu Nhật Bản, nay là đường Nguyễn Thị Minh Khai đến chùa Ông (Quan Công miếu- cóghi niên đại Khánh Đức - Quý Tỵ, tức năm 1653), nay ở trên đường Trần Phú Các văn khếmua bán nhà đất ở đường Trần Phú có niên đại vào nửa sau thế kỷ XVII đều ghi Lâm sa thổphố Và có sự xen cư giữa người Việt và người Hoa trên đất làng Hội An; đó là trường hợpNgô Vãng Nương mua 3 sào đất ở xứ Hổ Bì của Trịnh Hồng Quang vào năm 1692 giá 60lạng bạc Đường Trần Phú hồi đó đã trở thành khu phố đông đúc của người Hoa với hai dãyphố xuất hiện như Bowyear đã mô tả (1695): “Hải cảng này chỉ có một con đường phố lớntrên bờ sông, hai bên có hai dẫy nhà 100 nóc, toàn là người Trung Hoa ở “ Cũng vào năm
1695, Thích Đại Sán đến Hội An đã ghi lại: ” Thẳng bờ sông một con đường dài 3-4 dặm,gọi là Đại Đường Nhai Hai bên phố ở liền khít rịt Chủ phố thảy là người Phúc Kiến vẫncòn ăn mặc theo lối tiền triều”
Vào thế kỷ XVIII, dãy nhà phố hai bên đường Trần Phú hiện nay mới được xây dựngkiên cố như một số văn khế nhà đất thời Cảnh Hưng, Thái Đức, Quang Trung, Cảnh Thịnh
mà chúng tôi đã tìm được đều có ghi tường gạch, lợp ngói, bắc giáp đại lộ, nam cận đạigiang
Phố người Hoa ở Hội An ngày dược mở rộng cùng với sự tăng trưởng doanh thươngcủa họ theo thời gian Vào năm Gia Long 13 (1814), toàn thể đất của làng Minh Hương là
17 mẫu 7 sào 10 thước
2 Thanh Hà
Với vị trí trên bến, dưới thuyền tiện lợi, cư dân ở đây có truyền thống buôn bán nên ởThanh Hà từ trước thế kỷ XVI đã xuất hiện một chợ làng, nơi hội tụ hàng hoá của các vùnglân cận Sự lớn lên của trung tâm thương mại Thanh Hà đồng thời với sự phát triển kinh tếhàng hoá trong nước và tác động của luồng mậu dịch quốc tế, cùng chế độ cát cứ và côngcuộc mở đất Đàng Trong thời các chúa Nguyễn Đón được luồng thương mại thế giới nhất
là Hoa thương, Thanh Hà trở thành một thương cảng lớn nhất, cửa ngõ giao thương hàngđầu của thời Kim Long- Phú Xuân thịnh trị vào thế kỷ XVII-XVIII Thanh Hà là địa chỉ hấp
Trang 29dẫn thương khách nhiều nước Trung Quốc, Nhật Bản của châu Á, của các nước phương Tâynhư Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Hà Lan, Anh, Pháp
Năm 1636, ngay lúc mới chuyển dinh từ Phước Yên vào Kim Long chúa Nguyễn PhúcLan đã cho phép thành lập phố Thanh Hà Trong một văn bản còn lưu tại địa phương chobiết :" Chúa Thượng vương sau khi dời phủ về Kim Long bèn cho phép tiền hiền chúng takiến thiết khu chợ nơi giáp giới hai xã Thanh Hà và Địa Linh"
Lúc mới thành lập, phố Thanh Hà chủ yếu là người Việt cư trú để buôn bán với nước ngoàiphần lớn là Hoa thương Đến giữa thế kỷ XVII, người Hoa di dân được chúa Nguyễn cholập phố ở Thanh Hà mà thế hệ đầu tiên có Trần Dưỡng Thuần (1610-1688), quê quán phủChương Châu, tỉnh Phúc Kiến
Từ đó đến cuối thế kỷ thứ XVII, nhiều Hoa thương tiếp tục đến Thanh Hà cư trú, nhất
là sau năm 1685, nhà Thanh cho phép các thuyền buôn Trung Quốc xuất bến đến các nướcláng giềng buôn bán
Trong hồ sơ lưu trữ của làng Minh Hương cho biết vào năm Thịnh Đức thứ 6 (1658),chúa Nguyễn Phúc Tần " thi ân cho lập phố tại đất đồn thổ thuộc làng Thanh Hà và ĐịaLinh là 1 mẫu 2 sào 5 thước 4 tấc" Đó chính là khu phố thương mại của Thanh Hà bướcvào thời thịnh vượng
Vào khoảng giữa thế kỷ XVII, Giáo sĩ Alexandre de Rhodes có lưu trú ở Thanh Hà.Theo ông, đó là một thành phố, tuy không lớn bằng dinh phủ Kim Long mà ông cho làthành phố lớn; ông viết: " Tôi không dám ở thành phố lớn Tôi thuê nhà tại thành phố nhỏgần đó sau cơn hoả tai xảy ra lớn nhất ở đây”
Trong thời kỳ thịnh đạt, phố Thanh Hà phần lớn nằm trong tay Hoa thương nên gọi là"Đại Minh khách phố"
Năm 1685, Hoa thương xây dựng Thiên Hậu cung (còn gọi là chùa Bà) ngay trên điểm
cư trú và buôn bán đầu tiên của mình để làm nơi tế tự chung cho Hoa kiều, cũng là mốc giớiphía bắc của phố Thanh Hà Phố Thanh Hà mở rộng dần về phía nam, thương khách muađất của làng Địa Linh để lập phố và xây dựng đền thờ Quan Thánh (còn gọi là chùa Ông) ở
vị trí tận cùng phía nam của phố để làm đền thờ chung và cũng là mốc giới giữa phố Thanh
Hà và làng Địa Linh Đây là dấu vết lâu đời của phố Thanh Hà trong thời kỳ phát triển vàcũng là mốc giới có ý nghĩa lịch sử để chúng ta xác định trên thực địa của phố Thanh Hà
Trang 30xưa Chiều dài của phố Thanh Hà gần 1 km (từ chùa Bà ở làng Thanh Hà đến chùa Ông ởlàng Địa Linh), chu vi của phố khoảng 2km, bao gồm cả chợ và khu dân cư, nằm ở vị trí
160 18’ vĩ độ bắc, cách phủ Kim Long ở phía tây- nam 5 km và cách cửa Thuận An 10 km ởphía đông
Phố Thanh Hà phát triển trên cơ sở phồn thịnh của cảng và chợ Thanh Hà cùng tầnglớp cư dân mà chủ yếu là Hoa thương chuyên nghề buôn bán
Thanh Hà trong thế kỷ XVII, chỉ hai dẫy phố lợp tranh nằm về phía tây con đườnglàng Minh Thanh hiện nay, hướng chính quay mặt ra bờ sông Sau khi chiếm được bãi đấtbồi, Hoa thương dựng lên một dẫy nhà đối diện quay lưng ra bờ sông, lấy con đường củalàng Thanh Hà làm đường phố chính Năm 1700, Hoa thương mới được phép xây phố bằnggạch và lợp ngói để tránh hoả hoạn Phố bao gồm những cửa hàng, cửa hiệu, các đại lý xuấtnhập khẩu và những nhà cho thuê dành cho thương khách ở xa, chủ yếu là thương nhânTrung Quốc mới đến, hoặc thương nhân giữa hai mùa mậu dịch trong thời áp đông (từ tháng
10 cuối năm đến tháng 3 năm sau)
Vào giữa thế kỷ XVIII, Pierre Poivre đến Huế và khảo sát tình hình buôn bán ở Thanh
Hà, có nhận xét : " Vào mùa mưa, các đường phố chật hẹp, lầy lội, chỉ có phố hay khuTrung Hoa có một lối đi rộng và lát gạch Dọc hai bên đường người ta dựng lên những nhàgạch lợp ngói khá sung túc"
Phố Thanh Hà xây dựng theo lối đơn tuyến trên một trục giao thông có sẳn làm đườngphố chính Hai dãy phố đối diện dần dần được hình thành, phía sau là đồng ruộng, trước mặt
là bến cảng của sông Hương; một điều kiện chủ yếu cho phố cảng ra đời
Hồi ức về phố Thanh Hà vào đầu thế kỷ XIX, thời kỳ thoái trào của khu thương mạinày nhưng nhà phố vẫn giữ được dáng vẽ của thời thịnh vượng, Michel Đức Chaigneau đã
mô tả khá chi tiết: ” Nhà cửa vừa là cửa hàng, vừa là nhà kho, phòng ngủ cũng chính là đểtiếp khách Rộng hẹp có khác nhau, nhưng cấu trúc nhà phố Thanh Hà thường theo một mẫuthống nhất là hẹp về bề ngang và mở sâu ra đàng sau Nhà cửa phần lớn lợp ngói, có cái làmột tòa nhà, xung quanh có hành lang Có cái chỉ một gian phòng, đàng sau có sân vườn vànhà bếp Cách xây cất phòng ốc và trang hoàng bên trong theo một lối giống nhau Phòngchính khoảng nửa chiều dài và mở một cửa ra vào Đàng tước chia làm hai gian hàng, đàngsau chia làm hai chái để làm phòng ngủ và kho chứa”
Trang 313 Nước Mặn
Ở Đàng Trong, sau hai đô thị cảng Hội An và Thanh Hà là Nước Mặn ra đời rất sớmđược ghi trong Hồng Đức bản đồ với tên gọi “ Nước Mặn hải môn”, là trung tâm buôn bánxuất nhập khẩu không những cho phủ Quy Nhơn mà cả các dinh, phủ ở phía nam
Nước Mặn được Alexandre de Rhodes vẽ trên bản đồ vào giữa thế kỷ XVII với tênphiên âm là Nehorman Tên gọi này xuất phát từ chữ của Cristoforo Borri ghi lại trong tập
ký sự của mình vào năm 1618 Borri chỉ đích danh đó là một thành phố (ville) Ông viết:
“Vị tổng trấn liền ra lệnh xây dựng cho chúng tôi một cái nhà rất tiện nghi ở thành phố(ville) Nehorman”
Tên gọi Nước Mặn không được ghi trong các bộ chính sử Việt Nam thời phong kiếnnhưng được ghi trong gia phả nhiều người Hoa sinh sống ở đây
Đầu thế kỷ XVII, chúng ta thấy có luồng buôn bán giữa Hội An và Nước Mặn với một sốtrung tâm thương mại quốc tế được thể hiện trên bản đồ số 24 vẽ vào năm 1608 có ghi haiđịa danh được thương nhân nước ngoài thường đến buôn bán là Hải Phố (tức Hội An) vàThi Nại (tức Nước Mặn hồi bấy giờ) nằm trên đường hàng hải đến với Vuconva
P.B.Lafont cũng cho biết, trong các cảng ở Đàng Trong thì Binai (tức Thi nại) thuyềnbuôn các nước Phương Tây, Malasia và một số nước khác thường đến buôn bán
Tháng 7 năm 1618, C Borri đến Nước Mặn, dưới con mắt của vị Giáo sĩ này NướcMặn đã là một thành phố Ông viết: “ Chúng tôi lại leo lên lưng voi và lên đường với mộtđoàn tùy tùng đông đảo để đi đến thành phố Nước Mặn” Ông cũng cho biết đây là thànhphố khá rộng:” Thành phố trải dài 5 dặm và rộng 0,5 dăm ” Đó là thời kỳ thịnh vượng củaphố cảng Nước Mặn
Vào giữa thế kỷ XVIII, Pierre Poivre đến Đàng Trong còn đánh giá rất cao về phốcảng Nước Mặn, ông viết: “Tại tỉnh Quy Nhơn có một thương cảng khác gọi là Nước Mặn
là một cảng tốt, an toàn được thương nhân lui tới nhiều nhưng kém hơn Faifo, lại khôngthuận tiện vì quá xa kinh thành mà các thuyền trưởng thì nhất thiết phải đi đến kinh thànhnhiều lần và phải đi ròng rả 6 ngày đường”
Nhưng rất tiếc vào thế kỷ sau không thấy sử sách nào còn ghi về phố cảng Nước Mặn.Sách Đại Nam nhất thống chí bản soạn thời Tự Đức không ghi chép về phố Nước Mặn,cũng không có tên trong danh mục 63 chợ lớn nhỏ trong tỉnh Bình Định
Trang 32Cho đến tháng 4 năm 1986, trong đợt khảo sát về đô thị cổ ở các tỉnh miền Trung, chúng tôimới phát hiện dấu tích của phố cảng Nước Mặn và thông báo kết quả tại Ủy ban Nhân dântỉnh Nghĩa Bình (Quy Nhơn-1986) và trong hội nghị thông báo khảo cổ học năm 1991 tại
Hà Nội
Từ tấm bia bằng gỗ chúng tôi phát hiện ở đền Quan Thánh lập năm 1837 (đường BạchĐằng, thành phố Quy Nhơn) có ghi tên một người họ Nguyễn ở phố Nước Mặn cúng tiền đểxây dựng ngôi đền này, chúng tôi phải rất khó khăn mới lần tìm đến xã Phước Quang,huyện Tuy Phước vì không một tấm bản đồ nào ghi tên Nước Mặn; đến đây mới biết cònlưu truyền chiếc cầu ngói và ngôi chợ mang tên Nước Mặn Cạnh chợ, một bãi hoang nhưngchúng tôi phát hiện ra dấu tích của phố cổ tại ngôi nhà ông Huỳnh Xưng Chiến còn một bứctường dài 5,2 mét, cao 0,9 mét và dày 0,3 mét làm bằng vôi, gạch, đá ong, mật mía, mạchbằng vôi Tìm thấy dấu tích đền Quan Thánh (chùa Ông) chỉ còn lại bức bình phong, trướccửa còn ba trụ đá tán, một chiếc đỉnh lư bị hỏng nhưng còn 3 chữ Quan Thánh đế
Thiên Hậu cung (chùa Bà) được xây dựng ở về phía đông của phố Tuy bị hỏng hơn80% do chiến tranh nhưng đây là di tích quan trọng nhất của phố Nước Mặn còn lại Chúngtôi tìm thấy một chiếc đỉnh lư bằng hợp kim có 3 chân cao 47 cm, đường kính 46 cm, đượcđúc từ lò Vạn Minh (Trung Quốc) vào năm Đinh Tỵ niên hiệu Gia Khánh (1797) Mới biếtđến cuối thế kỷ XVIII, phố Nước Mặn vẫn còn hoạt động và có quan hệ giao lưu thươngmại với Trung Quốc
Về phía đông- bắc của chợ là khu mộ cổ
Khuôn viên của phố Nước Mặn từ bờ Cầu Ngói đến bến Cây Da Bến cảng từ CầuNgói đến chùa Bà của con sông Âm phủ Khu phố được khoanh vùng trên thực địa chiều dàihơm 1 km, chiều ngang khoảng 500 m; ngày xưa thuộc làng Lạc Hòa và Vĩnh An (trước đógọi là Minh Hương) sau nhập chung gọi là An Hòa
Từ thế kỷ XVIII trở về trước khi cửa Kẻ Thử còn tấp nập thuyền ghe ra vào buôn bán.Tàu thuyền qua đầm Thị Nại vào sông Côn đi qua các nhánh sông Âm Phủ, Cây Da rồi lêntận Cầu Ngói để trao đổi hàng hóa với thương nhân ở phố Nước Mặn Các Giáo sĩ Bozomi,Pina, Augustin đến đây truyền giáo (7-1618) cũng kể lại về xây dựng ngôi nhà thờ ở phốNước Mặn như sau:” Quan trấn thủ cho các thừa sai một ngôi nhà bằng gỗ rộng rãi ở phốNước Mặn Ông dùng voi đưa các linh mục đến nhà mới, từ đó các linh mục có cơ sở hoạt