Triết học đóng vai trò định hướng sự hình thành, phát triển thế giới quan của mỗi cá nhân, mỗi cộng đồng trong lịch sử một cách năng động, tự giác, sáng tạo.. NỘI DUNG CỦA NGUYÊN TẮC KHÁ
Trang 1KHOA MARKETING
-o0o -NGUYỄN NHẬT TRƯỜNG MSSV: 2021003144
BÀI TIỂU LUẬN KẾT THÚC HỌC PHẦN
HỌC KỲ CUỐI 2021
MÔN: TRIẾT HỌC MÁC - LÊNIN
Mã lớp học phần: 2111101113404
Trang 3BÀI THU HOẠCH KẾT THÚC HỌC PHẦN
HỌC PHẦN TRIẾT HỌC MÁC - LÊNIN
Ngày nộp: 24/12/2021
Họ tên sinh viên: Nguyễn Nhật Trường
Mã số sinh viên: 2121013144
Mã lớp học phần: 2111101113404
Bài làm gồm: 16 trang
Điểm
CB chấm thi
BÀI LÀM
Câu 1: Anh/Chị hãy cho biết dựa vào cơ sở lý luận nào mà triết học Mác -Lênin rút ra nguyên tắc phương pháp luận là tôn trọng tính khách quan kết hợp với
phát huy tính năng động chủ quan? Anh/Chị hãy phân tích khái quát cơ sở lý luận
đó (2.5 điểm) Hãy vận dụng ý nghĩa phương pháp luận này vào việc lập kế hoạch
học tập một khóa học/một học phần chuyên ngành của bản thân (2.5 điểm)
I CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG
Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin nói chung và triết học Mác
- Lênin nói riêng là môn khoa học cơ bản trang bị cho chúng em những kiến thức cơ
bản trong nhận thức và hành động Triết học là định hướng, là dẫn dắt, là hạt
Trang 4nhân lý luận của Thế Giới, giúp con người xây dựng thế giới khoa học nhân văn, chính nghĩa Triết học đóng vai trò định hướng sự hình thành, phát triển thế giới quan của mỗi cá nhân, mỗi cộng đồng trong lịch sử một cách năng động, tự giác, sáng tạo Triết học vạch ra cho con người hệ thống những cách thức, những nguyên tắc để định hướng, chỉ đạo hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn của con người Qua quá trình nghiên cứu học tập, hiểu được vai trò của môn học đối với việc nhận thức thế giới và hành động của bản thân Chính vì thế em xin tìm hiểu nội dung “Cơ sở lý luận nào mà triết học Mác -Lênin rút ra nguyên tắc phương pháp luận là tôn trọng tính khách quan kết hợp với phát huy tính năng động chủ quan” Trước hết là cơ sở lí luận nền tảng
1.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN
a. Khái niệm về vật chất và ý thức
Vật chất là phạm trù triết học phức tạp và có nhiều quan niệm khác nhau về nó Nhưng theo Lênin định nghĩa: “Vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh và tồn tại vào không lệ thuộc vào cảm giác”
Ý thức là sự phản ánh năng động sáng tạo thế giới khách quan vào trong
bộ não của con người, là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan
b. Mối quan hệ giữa vật chất và ý thức ➢ Vật chất quyết định ý
thức:
Thứ nhất, vật chất quyết định nguồn gốc của ý thức: Không có vật chất sẽ
không có ý thức (“phú quý sinh lễ nghĩa”)
Thứ hai, vật chất quyết định nội dung của ý thức: Nội dung của ý thức mang tính khách quan, do thế giới khách quan quy định
Thứ ba, vật chất quyết định bản chất của ý thức: Bản chất sáng tạo và bản chất xã hội của ý thức cũng phải dựa trên những tiền đề vật chất nhất định
Trang 5Thứ tư, vật chất quyết định phương thức tồn tại và kết cấu của ý thức: Tri thức và các yếu tố của ý thức đều dựa trên dựa trên sự phản ánh vật chất
Ví dụ: Ở Việt Nam, nhận thức của học sinh tiểu học, cấp hai, cấp ba về công nghệ thông tin còn rất yếu Nguyên nhân là do thiếu máy móc cũng như thiếu đội ngũ giảng viên Nhưng nếu đáp ứng được vấn đề hạ tầng thì trình độ tin học của học sinh tiểu học, cấp hai, cấp ba của sẽ tốt hơn rất nhiều Điều này đã khẳng định điều kiện vật chất như vậy thì ý thức cũng như vậy
➢ Ý thức tác động trở lại vật chất:
Ý thức có thể thúc đẩy hoặc kìm hãm với một mức độ nhất định sự phát triển của quá trình vật chất
Sự tác động của ý thức đối với vật chất phải thông qua hoạt động của con người Con người dựa trên các tri thức về những quy luật khách quan mà đề ra mục tiêu, phương hướng thực hiện; xác định các phương pháp và bằng ý chí thực hiện mục tiêu ấy
Sự tác động của ý thức đối với vật chất dù có đến mức độ nào đi chăng nữa thì nó vẫn phải dựa trên sự phản ánh thế giới vật chất
Ý thức quyết định thành công hay thất bại của con người trong thực tiễn
Ví dụ: Từ nhận thức đúng đắn về thực tế kinh tế đất nước Từ sau Đại hội VI, đảng ta chuyển nền kinh tế từ tự cung, quan liêu sang nền kinh tế thị trường, để sau gần 30 năm bộ mặt nước ta đã thay đổi hẳn
c. Sự thống nhất giữa vật chất và ý thức
Sự đối lập, phân biệt rạch ròi giữa vật chất và ý thức chỉ có ý nghĩa trong phạm
vi hẹp, khi giải quyết vấn đề cơ bản của triết học Ở phạm vi này nếu có sự nhầm lẫn giữa vật chất và ý thức sẽ thay đổi lập trường triết học
Ngoài phạm vi hẹp trên, nhận thức và hoạt động thực tiễn đòi hỏi sự phù hợp giữa vật chất và ý thức
Trang 6Trong hoạt động nhận thức, phải có sự phù hợp mới đạt được chân lý Trong hoạt động thực tiễn phải có sự phù hợp đó thì kết quả mới phù hợp với mục đích hoạt động
Thứ nhất, cần phải tôn trọng nguyên tắc tính khách quan; trong hoạt
động thực tiễn cần phải xuất phát từ thực tế khách quan, tôn trọng và hành động theo các quy luật khách quan
Thứ hai, cần phải phát huy tính năng động chủ quan, nghĩa là phát huy tính tích cực, năng động, sáng tạo của ý thức
Thứ ba, cần phải chống lại bệnh chủ quan, duy ý chí là đã tuyệt đối hóa, thổi phồng tính cực, sáng tạo của ý thức
Thứ tư, cần phải chống lại bệnh bảo thủ, trì trệ là đã hạ thấp tính tích cực, sáng tạo của ý thức
Thứ năm, khi xem xét các hiện tượng xã hội cần phải tính đến cả điều kiện vật chất nhân tố tinh thần, cả điều kiện khách quan lẫn nhân tố chủ quan
1.2 NỘI DUNG CỦA NGUYÊN TẮC KHÁCH QUAN
Từ mối quan hệ giữa vật chất và ý thức, triết học Mác – Lênin đã rút ra nguyên tắc phương pháp luận là phải xuất phát từ thực tế khách quan
Nguyên tắc khách quan trước nhất thừa nhận vai trò quyết định của vật chất đối với ý thức, ta trong nhận thức và hành động phải xuất phát từ chính bản thân sự vật với những thuộc tính, những mối liên hệ vốn có của nó, những quy luật khách quan, phải có thái độ tôn trọng sự thật, không được lấy ý muốn chủ quan của mình làm chính sách, không được lấy tình cảm làm điểm xuất phát cho chiến lược, sách lược cách mạng, đồng thời không được cắt xén, không được gán ghép cho sự vật, hiện tượng những gì mà chúng vốn có Tuy nhiên, việc thực hiện nguyên tắc khách quan không có nghĩa là quan điểm khách quan xem nhẹ, tính
Trang 7năng động, sáng tạo của ý thức mà nó còn đòi hỏi phát phát huy tính năng động sáng tạo của ý thức, của nhân tố chủ quan
Khách quan là một trong các nguyên tắc quan trọng của quá trình nhận thức, đòi hỏi việc nhận thức phải dựa vào những cơ sở thực tế, xuất phát từ chính bản thân đối tượng, từ những thuộc tính, quy luật vận động và mối liên
hệ vốn có của nó, không thể dựa vào ý muốn chủ quan hoặc lấy ý chí chủ quan áp đặt cho thực tế, đồng thời không được cắt xén, không được gán ghép cho sự vật, hiện tượng những gì mà chúng vốn có Vật chất là nguồn gốc khách quan sinh sản ra ý thức còn ý thức chỉ là sản phẩm phản ánh thế giới khách quan, vì vậy, trong nhận thức và hoạt động thực tiễn phải luôn xuất phát từ thực tế khách quan, tôn trọng và hành động theo quy luật khách quan
1.3 NỘI DUNG TÍNH NĂNG ĐỘNG CHỦ QUAN
Phát huy tính năng động chủ quan là phát huy tích cực sáng tạo của ý thức trong quá trình phản ánh sự vật, hiện tượng để tìm ra bản chất quy luật luật của nó và đề ra đường lối, biện pháp cải biến nó phục vụ lợi ích của con người Bên cạnh đó không thụ động mà phải biết tạo ra những điều kiện thích hợp, làm cho điều kiện này tác động vào điều kiện khác để nảy sinh ra điều kiện cần thiết cho hoạt động của con người
II. VẬN DỤNG Ý NGHĨA PHƯƠNG PHÁP LUẬN NÀY VÀO VIỆC LẬP KẾ HOẠCH HỌC TẬP MỘT KHÓA HỌC/MỘT HỌC PHẦN/ CHUYÊN NGÀNH CỦA BẢN THÂN
Từ nội dung và ý nghĩa phương pháp luận, bản thân em đã rút ra những bài học và vận dụng vào việc lập kế hoạch học tập môn học phần như sau:
Trước hết cần nhận thức rằng: xã hội đang từng bước phát triển, lượng kiến thức ngày càng đa dạng và phong phú đòi hỏi tầng lớp học sinh, sinh viên phải nỗ lực hơn nữa trên hành trình học tập và rèn luyện Bản thân em cũng không ngoại lệ, đứng trước cương vị là một tân sinh viên, một cử nhân tương lai em phải nỗ
Trang 8lực hết mình trong học tập để vận dụng những kiến thức ấy vào cuộc sống,
từ đó tác động tích cực đến xã hội, góp phần làm cho đời sống xã hội phát triển hơn, tốt đẹp hơn
Xây dựng kế hoạch học tập môn học phần Triết học Mác - Lênin:
1. Trước khi tham gia học tập bất cứ một môn học nào, ta cần phải nhìn nhận những điều kiện khách quan của cá nhân
Ví dụ:
Tài chính có đủ khả năng chi trả cho học phí không? Năng lực có đủ khả năng tiếp thu những tầng kiến thức đó không? Sức khỏe có đảm bảo cho quá trình học tập không?
2 Tuân thủ những quy định/ quy luật khách quan
Là một sinh viên trường Đại học Tài Chính - Marketing, em cần phải tuân thủ những quy định của nhà trường, thực hiện nghiêm chỉnh những điều lệ được đặt ra, chấp hành dưới mọi hình thức mà không xem đó là những quy định rườm rà, làm mất thời gian, bởi vốn dĩ những quy định ấy là nhằm mục đích xây dựng tổ chức có hệ thống, đó là những điều lệ mang tính khách quan mà bất cứ sinh viên nào cũng đều cần phải tôn trọng và chấp hành
3 Xác định những yêu cầu đầu ra của môn học phần Triết học Mác – Lênin
Sinh viên biết vận dụng cơ sở cho việc nhận thức những nguyên lí cơ bản của triết học Mác - Lênin; biết đấu tranh chống lại những luận điểm sai trái, phủ nhận
sự hình thành, phát triển Triết học Mác - Lênin Giúp sinh viên củng cố niềm tin vào bản chất khoa học và cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lênin nói chung và triết học Mác - Lênin nói riêng
4. Phương pháp học tập hiệu quả cho bản thân
- Triết học là môn học mang tính học thuật và vận dụng rất cao, để tìm ra một phương pháp học tập hiệu quả đòi hỏi sinh viên phải chủ động tìm tòi, lĩnh hội tri thức, biến tri thức từ trong sách vở thành vốn tri thức của mình
Trang 9- Triết học là một bộ môn khoa học, được xây dựng từ những kiến thức khách quan, do vậy sinh viên cần lĩnh hội nguồn tri thức ấy một cách khách quan đồng thời sử dụng tư duy chủ quan để đặt ra những vấn đề phản biện Phát huy tính tư duy chủ động
- Tuy nhiên tránh rập khuôn phương pháp học tập của bạn bè cho bản thân mình, điều đó sẽ không đem lại kết quả như mong muốn
- Đồng thời phải xem xét phương pháp học tập đó có phù hợp với thể trạng sức khỏe, tinh thần, tâm lí, và đặc điểm cá nhân hay không rồi mới có thể tìm ra cho mình một phương pháp học tập thật hiệu quả, đúng đắn, phù hợp với năng lực của bản thân, từ
đó đem lại kết quả tốt cho môn học
5. Mục tiêu phấn đấu
- Bản thân mỗi sinh viên phải đánh giá đúng năng lực, phẩm chất, khả năng của bản thân cũng như những điều kiện khác liên quan đến môn học để đưa
ra mục tiêu phù hợp cho bản thân
- Tránh đặt ra một mục tiêu quá cao so với năng lực của bản thân sẽ dễ gây tâm lí chán nản nếu bản thân không thực hiện được
- Đồng thời cũng không đặt ra một mục tiêu quá thấp so với năng lực của bản thân mình, điều này sẽ không gây được sự kích thích trong việc tìm hiểu và lĩnh hội tri thức, không kích thích được sự cố gắng của bản thân
6 Linh hoạt, tự tin ứng biến với những khó khăn, thách thức:
Linh hoạt sửa đổi, khắc phục những hạn chế trong đường lối kế hoạch, phương pháp học tập nhằm tạo ra hiệu quả mới tốt hơn Đồng thời có thể vận dụng tính sáng tạo chủ quan trong quá trình học tập của bản thân
Tự tin làm chủ trong mọi tình huống, mọi hoàn cảnh, đưa ra cách ứng biến phù hợp trong các tình huống cấp bách
Trang 10Câu 2: C Mác viết: “Trong sự sản xuất xã hội ra đời sống của mình, con
người có những quan hệ nhất định, tất yếu, không tùy thuộc vào ý muốn của
họ - tức những quan hệ sản xuất, những quan hệ này phù hợp với một trình độ phát triển nhất định của các lực lượng sản xuất vật chất của họ”(C Mác và Ph Ăngghen: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002, t.13, tr.14-15):
a) Anh/Chị hãy phân tích nhận định trên (1.5 điểm)
b) Anh/Chị hãy cho biết hiện nay Đảng ta đã và đang vận dụng lý luận trên vào chủ trường nào trong thực tiễn cách mạng Việt Nam như thế nào? Anh/Chị có thể làm
gì để góp phần vào việc thực hiện thắng lợi chủ trương đó? (3.5 điểm)
I PHÂN TÍCH NHẬN ĐỊNH
Chủ nghĩa duy vật lịch sử là một hệ thống triết học duy vật biện chứng về xã hội,
là bộ phận hợp thành triết học Mác, làm cho triết học Mác trở nên sâu sắc và triệt để Chủ nghĩa duy vật lịch sử nghiên cứu xã hội với tính cách của một chỉnh thể, xã hội là một bộ phận đặc biệt của tự nhiên với nền tảng là mối quan hệ của con người và sự tác động giữa con người với nhau Đồng thời vạch ra các quy luật, động lực chung của sự vận động và phát triển của xã hội Hệ thống các quy luật xã hội tồn tại ở các cấp độ khác nhau chi phối toàn bộ đời sống xã hội gồm các quy luật chi phối toàn bộ đời sống xã hội, các quy luật chi phối xã hội có giai cấp và các quy luật chi phối hình thái kinh tế - xã hội Trong đó C Mác có viết:
“Trong sự sản xuất xã hội ra đời sống của mình, con người có những quan hệ nhất định, tất yếu, không tùy thuộc vào ý muốn của họ - tức những quan hệ sản xuất, những quan hệ này phù hợp với một trình độ phát triển nhất định của các lực lượng sản xuất vật chất của họ” Đó chính là quy luật “Quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất”
Ở mỗi giai đoạn lịch sử, con người tiến hành sản xuất theo một cách thức nhất định, tức là có một cách sinh sống, cách sản xuất riêng, đó là phương thức sản xuất Muốn sản xuất được, người ta phải có những mối liên hệ và quan hệ nhất
Trang 11định với nhau Do vậy, phương thức sản xuất là cách thức con người thực hiện đồng thời sự tác động giữa con người với tự nhiên và sự tác động giữa người với người để sáng tạo ra của cải, vật chất phục vụ nhu cầu và xã hội
ở những giai đoạn lịch sử nhất định Hay nói khác đi đó chính là hai mặt của nội dung và hình thức của lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất
Quan hệ sản xuất là tổng hợp các quan hệ kinh tế vật chất giữa người với
người trong quá trình sản xuất vật chất Đây chính là một quan hệ vật chất quan trọng nhất - quan hệ kinh tế, trong các mối quan hệ vật chất giữa người với người Quá trình sản xuất vật chất chính là tổng thể các yếu tố trong một quá trình thống nhất, gồm sản xuất, phân phối, trao đổi và tiêu dùng của cải vật chất Quan hệ sản xuất bao gồm quan hệ về sở hữu đối với tư liệu sản xuất, quan hệ trong tổ chức quản lý và trao đổi hoạt động với nhau, quan hệ về phân phối sản phẩm lao động Thế nhưng, bất kỳ một quá trình sản xuất vật chất nào cũng cần phải có các nhân tố thuộc về người lao động (như năng lực, kỹ năng, tri thức,… của người lao động) cùng các tư liệu sản xuất nhất định (như đối tượng, công cụ, các tư liệu phụ trợ của quá trình sản xuất,…) Toàn bộ các nhân
tố đó tạo thành lực lượng sản xuất của quá trình sản xuất
Như vậy, lực lượng sản xuất chính là toàn bộ các nhân tố vật chất, kỹ
thuật của quá trình sản xuất, chúng tồn tại trong mối quan hệ biện chứng với nhau tạo ra sức sản xuất làm cải biến các đối tượng trong quá trình sản xuất, tức là tạo ra năng lực thực tiễn làm biến đổi các đối tượng vật chất của giới tự nhiên theo nhu cầu nhất định của con người và xã hội
Trong các nhân tố tạo thành lực lượng sản xuất, nhân tố người lao động là nhân
tố giữ vai trò quyết định bởi vì suy đến cùng thì các tư liệu sản xuất chỉ là sản phẩm lao động của con người, đồng thời giá trị và hiệu quả thực tế của các tư liệu sản xuất phụ thuộc vào trình độ thực tế sử dụng và sáng tạo của người lao động Mặt khác, trong tư liệu sản xuất thì nhân tố công cụ lao động là nhân tố phản ánh