TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN VIỆN KẾ TOÁN – KIỂM TOÁN ĐỀ ÁN KẾ TOÁN Đề tài BÀN VỀ KẾ TOÁN TIỀN LƯƠNG VÀ CÁC KHOẢN TRÍCH THEO LƯƠNG TRONG CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM HIỆN NAY Họ và tên sinh viên Trươn.
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN VIỆN KẾ TOÁN – KIỂM TOÁN
HÀ NỘI, 04/2022
Trang 2MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ KẾ TOÁN TIỀN LƯƠNG VÀ CÁC KHOẢN TRÍCH THEO LƯƠNG 2
1.1 Các khái niệm về tiền lương và các khoản trích theo lương 2
1.1.1 Khái niệm Tiền lương 2
1.1.2 Khái niệm về các khoản trích theo lương 3
1.2 Chức năng của tiền lương 5
1.3.Các hình thức trả lương 6
1.3.1 Lương theo thời gian 6
1.3.2 Lương theo sản phẩm 7
1.3.3 Lương khoán 7
1.4 Hạch toán lao động và thời gian lao động 8
1.4.1 Hạch toán số lượng lao động 8
1.4.2 Hạch toán thời gian lao động 8
1.4.3 Hạch toán kết quả lao động 9
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CHẾ ĐỘ KẾ TOÁN TIỀN LƯƠNG VÀ CÁC KHOẢN TRÍCH THEO LƯƠNG TẠI VIỆT NAM 10
2.1.Kế toán tổng hợp tiền lương và các khoản trích theo lương 10
2.1.1.Chứng từ kế toán 10
2.1.2.Tài khoản sử dụng 10
2.1.3.Trình tự ghi sổ một số nghiệp vụ kế toán chủ yếu 12
2.2 Phân tích Chính sách tiền lương và các khoản trích theo lương tại Việt Nam qua các giai đoạn cải cách 15
2.3 Phân tích những điểm mới trong chính sách tiền lương và các khoản trích theo lương trong giai đoạn hiện nay 21
2.3.1 Những thay đổi chính sách tiền lương và các khoản trích theo lương trong giai đoạn hiện nay 21
2.3.2 Quá trình áp dụng chính sách tiền lương và các khoản trích theo lương vào các nghiệp vụ Kế toán trong giai đoạn hiện nay 22
Trang 32.3.3 Áp dụng Chuẩn mực Báo cáo Tài chính Quốc tế IFRS tại Việt Nam trong
Tiền lương và phúc lợi cho người lao động 24
CHƯƠNG 3: NHẬN XÉT TỔNG QUÁT VÀ MỘT SỐ Ý KIẾN NHẰM HOÀN THIỆN CÔNG TÁC KẾ TOÁN TIỀN LƯƠNG VÀ CÁC KHOẢN TRÍCH THEO LƯƠNG 28
3.1 Nhận xét tổng quát về công tác Kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương 28
3.1.1 Về Ưu điểm 28
3.1.2 Về Nhược điểm 31
3.2 Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện công tác kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương ở Việt Nam 33
3.2.1 Đối với Nhà nước 33
3.2.2 Đối với các Doanh nghiệp 35
3.2.3 Đối với Người lao động 36
KẾT LUẬN 37
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 37
Trang 4TIẾNG ANH
3 IFRS International Financial Reporting Standards
Trang 5DANH MỤC HÌNH/ SƠ ĐỒ
Sơ đồ 2.1: Kết cấu của tài khoản 334 “Phải trả người lao động”……… 10
Sơ đồ 2.2: Kết cấu của tài khoản 338 “Phải trả, phải nộp khác”……… 11
Sơ đồ 2.3: Trình tự ghi sổ một số nghiệp vụ kế toán liên quan đến tiền lương và các khoản trích theo lương……… 15
Trang 6LỜI MỞ ĐẦU
Trong bối cảnh Việt Nam ngày càng hội nhập sâu rộng hơn vào kinh tế khu vực và toàn cầu, các chính sách và thực tiễn điều chỉnh tiền lương cần được cải thiện để tạo sự cân bằng giữa thúc đẩy sự phát triển của doanh nghiệp và giúp người lao động cũng được hưởng thành quả công bằng từ tăng trưởng năng suất của doanh nghiệp Xác lập tiền lương cần dựa trên cơ sở khoa học vững chắc, phản ánh nhu cầu của người lao động và gia đình họ, cũng như nhu cầu của doanh nghiệp và thị trường lao động nói chung Trong các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay, công cụ tiền lương nếu được nhà quản lý sử dụng đúng đắn sẽ là đòn bẩy kích thích người lao động phát huy hết được khả năng và bầu nhiệt huyết của mình trong công việc Theo đó sẽ nâng cao được hiệu quả và năng suất lao động - đây là điều mà tất cả các doanh nghiệp đều đang hướng tới
Để làm được điều đó, doanh nghiệp cần xây dựng cho mình một chính sách tiền lương phù hợp – đây là một yếu tố quan trọng góp phần quyết định đến sự phát triển của lực lượng sản xuất mà trong đó người lao động là yếu tố trung tâm Chính sách tiền lương phù hợp không những giúp cho người lao động tái sản xuất sức lao động mà còn giúp cho người lao động cải tạo điều kiện sống, phát huy được năng lực lao động của mình
Nhận thức được tầm quan trọng của chế độ tiền lương cho người lao động cũng như
sự ảnh hưởng của chính sách tiền lương và các khoản trích theo lương đến các nghiệp vụ kế
toán nên em đã chọn đề tài “Bàn về kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương trong các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay” làm đề án cho môn học của mình
Ngoài hai phần Lời mở đầu và Kết luận, đề án bao gồm các nội dung sau:
Chương 1: Những lý luận cơ bản về kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương Chương 2: Thực trạng chế độ kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương tại việt nam
Chương 3: Nhận xét tổng quát và một số ý kiến nhằm hoàn thiện công tác kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương
Mặc dù đã có nhiều cố gắng trong việc tìm hiểu về cách hạch toán tiền lương và các khoản trích theo lương trong các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay thông qua nhiều tài liệu sách báo trang mạng nhưng do thời gian hạn chế nên đề án môn học của em không thể tránh khỏi những thiếu sót Em rất mong nhận được nhiều ý kiến đóng góp và nhận xét của thầy giáo để tài còn em được hoàn thiện hơn Em xin chân thành cảm ơn!
Trang 7CHƯƠNG 1: NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ KẾ TOÁN TIỀN LƯƠNG VÀ CÁC KHOẢN TRÍCH THEO LƯƠNG
1.1 Các khái niệm về tiền lương và các khoản trích theo lương
1.1.1 Khái niệm Tiền lương
Quá trình sản xuất là quá trình kết hợp đồng thời là quá trình tiêu hao các yếu tố cơ bản (Lao động, đối tượng lao động và tư liệu lao động) Trong đó, lao động với tư cách là hoạt động chân tay và trí óc của con người sử dụng các tư liệu lao động nhằm tác động, biến đổi các đối tượng lao động thành các vật phẩm có ích cho nhu cầu sinh hoạt của mình Để đảm bảo tiến hành liên tục quá trình tái sản xuất, trước hết cần phải bảo đảm tái sản xuất sức lao động, nghĩa là sức lao động mà con người bỏ ra phải được bồi hoàn dưới dạng thù lao lao động
Nghiên cứu về tiền lương cho thấy cũng có nhiều học thuyết, quan điểm về tiền lương với nội dung khác nhau ở nhiều quốc gia khác nhau Chẳng hạn, ở Pháp:
“Sự trả công được hiểu là tiền lương hoặc lương bổng cơ bản, bình thường hay tối thiểu và mọi thứ lợi ích, trả trực tiếp hay gián tiếp bằng tiền hay hiện vật mà người sử dụng lao động trả cho người lao động theo việc làm của họ"
Hay ở Nhật Bản thì xác định:
“Tiền lương là thù lao bằng tiền mặt và hiện vật trả cho người làm công một cách đều đặn, cho thời gian làm việc hoặc cho lao động thực tế, cùng với thù lao cho khoảng thời gian không làm việc như là nghỉ mát hàng năm, nghỉ có hưởng lương hoặc nghỉ lễ”
Tiền lương ở Nhật Bản không tính đến những đóng góp của người sử dụng lao động cho quỹ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm hưu trí hay những phúc lợi mà người lao động được hưởng
Hiện nay, tại Việt Nam, theo quy định của điều 90, Bộ luật Lao động năm 2019: “Tiền lương là số tiền mà người sử dụng lao động trả cho người lao động theo thoả thuận để thực hiện công việc, bao gồm mức lương theo công việc hoặc chức danh, phụ cấp lương và các khoản bổ sung khác"
Do vậy, Tiền lương là biểu hiện bằng tiền của hao phí lao động sống cần thiết mà doanh nghiệp trả cho người lao động theo thời gian, khối lượng công việc mà người lao động
đã thực hiện trong kỳ
Chi phí tiền lương bao gồm:
Trang 8- Tiền lương
- Các khoản phụ cấp có tính chất lương
1.1.2 Khái niệm về các khoản trích theo lương
Theo quy định hiện hành, doanh nghiệp phải trích các khoản bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp và kinh phí công đoàn theo lương để lập các quỹ hỗ trợ cho người lao động
Quỹ Bảo hiểm xã hội (BHXH): Là quỹ dùng để trợ cấp cho người lao động có tham gia đóng góp quỹ trong các trường hợp họ bị mất khả năng lao động như ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, hưu trí…
Quỹ BHXH được trích theo tỷ lệ 25.5% trên tổng quỹ lương cơ bản của doanh nghiệp Trong đó, doanh nghiệp nộp 17.5% và tính vào chi phí sản xuất kinh doanh, người lao động nộp 8% (trừ trực tiếp vào thu nhập của người lao động)
Quỹ Bảo hiểm y tế (BHYT): Là quỹ được dùng để trợ cấp cho người lao động có tham gia đóng góp quỹ trong các hoạt động khám chữa bệnh Quỹ BHYT được trích theo tỷ
lệ 4,5% trên tổng quỹ lương trong đó doanh nghiệp trích 3% trên lương cơ bản (tính vào chi phí sản xuất kinh doanh), người lao động trực tiếp nộp 1,5% (trừ trực tiếp vào thu nhập của người lao động)
Quỹ Bảo hiểm thất nghiệp (BHTN): Là quỹ dùng để trợ cấp cho người lao động có tham gia đóng BHTN được 12 tháng trở lên và đã đăng ký với tổ chức BHXH trong trường hợp mất việc làm hoặc bị chấm dứt hợp đồng lao động theo quyết định của Pháp luật lao động mà chưa tìm được việc làm Quỹ BHTN được trích theo tỷ lệ 2% trên tổng quỹ lương trong đó người lao động nộp 1%, doanh nghiệp nộp bằng 1% quỹ tiền lương, tiền công tháng đóng BHTN của người lao động tham gia bảo hiểm
Kinh phí công đoàn (KPCĐ): Là nguồn tài trợ cho hoạt động công đoàn ở các cấp KPCĐ được trích theo tỷ lệ 2% trên tổng số tiền lương phải trả cho người lao động và doanh nghiệp phải chịu toàn bộ (tính vào chi phí sản xuất kinh doanh)
Tổng cộng các khoản trích theo lương là 34% trên tổng quỹ lương của doanh nghiệp, trong đó 23,5% tính vào chi phí của doanh nghiệp và 10,5% trừ trực tiếp lương của người lao động
Trang 9So sánh tỷ lệ trích bảo hiểm theo lương theo chế độ kế toán Việt Nam và Mỹ:
Có thể dễ dàng nhận ra sự chênh lệch giữa mức đóng của Việt Nam và Mỹ khi mức đóng của Việt Nam gấp đôi ở Mỹ Hơn nữa, trừ Bảo hiểm thất nghiệp thì phân chia tỷ lệ đóng giữa người lao động và doanh nghiệp ở Mỹ là 50/50
Về vấn đề tuổi về hưu, tuổi về hưu sớm nhất của người Mỹ là 65 tuổi và muộn nhất
là 67 tuổi, lâu hơn rất nhiều so với Việt Nam chúng ta khi nam được về hưu năm 60 tuổi, còn nữ thì 55 tuổi Có lẽ đây là động lực khiến cho những nhà lập pháp của chúng ta đang chuẩn bị kỹ lưỡng để ban hành luật tăng tuổi nghỉ hưu
Nếu so sánh với đất nước mặt trời mọc -cường quốc thứ ba thế giới, năm 2018, tuổi nghỉ hưu trung bình 62 tuổi và trong tương lai gần họ sẽ tăng tuổi nghỉ hưu lên 68 tuổi Ai
đã từng đặt chân đến Nhật Bản thì đều biết, cơ cấu dân số Nhật đang già hoá, người già vẫn lao động để sinh sống và ưu tiên theo ngành nghề Ví dụ: người trên 60 tuổi được ưu tiên làm các công việc nhẹ, người trẻ làm công việc nặng và tinh xảo Tuổi thọ trung bình ở Nhật Bản thuộc hàng cao nhất thế giới với 83,7 tuổi (nam 80,5, nữ 86,8) Nhật Bản thuộc nhóm nước không chỉ đứng đầu dân số có tuổi thọ cao nhất thế giới mà còn là quốc gia người dân chăm chỉ lao động nhất, rất dễ gặp những hình ảnh ông già, bà lão vẫn hăng say lao động tại Nhật
Còn tại Pháp năm 2018 tuổi nghỉ hưu cả hai giới tăng từ 60-62, lộ trình đến năm 2023 tuổi nghỉ hưu tăng từ 65-67 Tuổi thọ trung bình ở đất nước này là 82,4 tuổi (nam 79,4, nữ 85,4)
Ở các nước phát triển, khi người dân càng giàu, họ càng lao động chăm chỉ và lao động cho đến khi không còn khả năng thì nghỉ Trong điều kiện mức sống ngày càng cải thiện, điều kiện chăm sóc y tế ngày càng tốt hơn, sức khỏe, tuổi thọ và chất lượng dân số
Trang 10ngày càng tăng Mặt khác, thế hệ lao động vàng Việt Nam đang dịch chuyển theo xu hướng già hoá Do vậy, tăng tuổi nghỉ hưu là hợp lý
Về vấn đề tính lương hưu, cũng giống như cách tính của chúng ta, nếu trước tuổi nghỉ hưu tiêu chuẩn mà người lao động vẫn quyết định về hưu thì lương hưu của họ sẽ bị trừ theo
tỷ lệ phần trăm so với mức tiêu chuẩn Cụ thể ở đây, mỗi một tháng nghỉ hưu trước tuổi bạn
sẽ bị trừ 0.5%, tức nếu nghỉ hưu trước 1 năm sẽ mất 6% lương hưu Còn ở Việt Nam, cứ mỗi một năm nghỉ hưu trước tuổi bạn sẽ mất khoảng 2% so với mức lương hưu tối đa Về cơ bản,
có thể thấy quy định về mức lương hưu ở Việt Nam dễ thở hơn nhiều so với Mỹ
1.2 Chức năng của tiền lương
Chức năng thước đo giá trị sức lao động: Tiền lương biểu thị giá cả sức lao động có nghĩa là nó là thước đo để xác định mức tiền công các loại lao động , là căn cứ để thuê mướn lao động , là cơ sở để xác định đơn giá sản phẩm
Chức năng tái sản xuất sức lao động: Thu nhập của người lao động dưới hình thức tiền lương được sử dụng một phần đáng kể vào việc tái sản xuất giản đơn sức lao động mà
họ đã bỏ ra trong quá trình lao động nhằm mục đích duy trì năng lực làm việc lâu dài và có hiệu quả cho quá trình sau Tiền lương của người lao động là nguồn sống chủ yếu không chỉ của người lao động mà còn phải đảm bảo cuộc sống của các thành viên trong gia đình họ Như vậy tiền lương cần phải bảo đảm cho nhu cầu tái sản xuất mở rộng cả về chiều sâu lẫn chiều rộng sức lao động
Chức năng tích lũy: Tiền lương trả cho người lao động phải đảm bảo duy trì được cuộc sống hàng ngày trong thời gian làm việc và còn dự phòng cho cuộc sống lâu dài khi họ hết khả năng lao động hay gặp rủi ro
Chức năng kích thích: Muốn vậy tiền lương phải đủ lớn và phụ thuộc vào hiệu quả
tổ chức trả lương cho người lao động tiền lương bao giờ cũng có hai mặt nếu không thực hiện được chức năng kích thích thì nó sẽ biểu hiện mặt đối lập kìm hãm sản xuất, rối loạn xã hội nhất là đối với hình thức thưởng; đó là khoản tiền bổ xung cho tiền lương, mang tính nhất thời không ổn định nhưng lại có tác dụng mạnh mẽ tới năng suất, chất lượng và hiệu quả lao động
Trang 111.3.Các hình thức trả lương
Chính phủ vừa ban hành Nghị định 145/2020/NĐ-CP (có hiệu lực từ 1-2-2021), trong
đó hướng dẫn quy định mới về hình thức tiền lương của người lao động theo quy định tại Bộ luật lao động 2019 (có hiệu lực từ 1-1-2021)
- Người lao động và người sử dụng lao động (sau đây gọi là doanh nghiệp) sẽ thỏa thuận về hình thức trả lương (Hiện hành doanh nghiệp có quyền quyết định hình thức trả lương)
- Trường hợp trả lương qua tài khoản cá nhân của người lao động thì doanh nghiệp phải trả các loại phí liên quan đến việc mở tài khoản và chuyển tiền lương (Hiện hành hai bên thỏa thuận về việc đối tượng nào sẽ trả các loại phí)
Với hai điểm mới này, Nghị định 145 hướng dẫn cụ thể về hình thức trả lương như sau:
1.3.1 Lương theo thời gian
Lương theo thời gian tính theo tháng, ngày hoặc giờ Hình thức lương theo thời gian phổ biến nhất là lương tháng Lương tháng thường được áp dụng để trả lương cho nhân viên làm công tác quản lý và nhân viên thuộc các ngành không có tính chất sản xuất
Cụ thể theo điều 54 Hình thức trả lương, Nghị định 145/2020/NĐ-CP quy định như sau:
“a) Tiền lương theo thời gian được trả cho người lao động hưởng lương theo thời gian, căn cứ vào thời gian làm việc theo tháng, tuần, ngày, giờ theo thỏa thuận trong hợp đồng lao động, cụ thể:
a1) Tiền lương tháng được trả cho một tháng làm việc;
a2) Tiền lương tuần được trả cho một tuần làm việc Trường hợp hợp đồng lao động thỏa thuận tiền lương theo tháng thì tiền lương tuần được xác định bằng tiền lương tháng nhân với 12 tháng và chia cho 52 tuần;
a3) Tiền lương ngày được trả cho một ngày làm việc Trường hợp hợp đồng lao động thỏa thuận tiền lương theo tháng thì tiền lương ngày được xác định bằng tiền lương tháng chia cho số ngày làm việc bình thường trong tháng theo quy định của pháp luật mà doanh nghiệp lựa chọn Trường hợp hợp đồng lao động thỏa thuận tiền lương theo tuần thì tiền lương ngày được xác định bằng tiền lương tuần chia cho số ngày làm việc trong tuần theo thỏa thuận trong hợp đồng lao động;
Trang 12a4) Tiền lương giờ được trả cho một giờ làm việc Trường hợp hợp đồng lao động thỏa thuận tiền lương theo tháng hoặc theo tuần hoặc theo ngày thì tiền lương giờ được xác định bằng tiền lương ngày chia cho số giờ làm việc bình thường trong ngày theo quy định tại Điều 105 của Bộ luật Lao động.”
Lương tháng được xác định như sau:
Mức lương tháng = Mức lương cơ bản x Hệ số lương + Hệ số phụ cấp
Mức lương tháng Lương được lĩnh trong tháng = Số ngày làm việc trong tháng theo quy định x Số ngày làm việc thực tế trong tháng
và đơn giá sản phẩm được giao.”
Lương được lĩnh trong tháng = Số lượng sản phẩm hoàn thành x Đơn giá lương khoán trên một sản phẩm hoàn thành
Trang 131.4 Hạch toán lao động và thời gian lao động
1.4.1 Hạch toán số lượng lao động
Chỉ tiêu số lượng lao động của doanh nghiệp được phản ánh trên "Sổ danh sách lao động” của doanh nghiệp do phòng (bộ phận) lao động - tiền lương lập dựa trên số lao động hiện có của doanh nghiệp, bao gồm cả số lao động dài hạn, lao động tạm thời, lao động trực tiếp, gián tiếp và lao động thuộc các lĩnh vực khác ngoài sản xuất "Sổ danh sách lao động" không chỉ lập chung cho toàn doanh nghiệp mà còn được lập riêng cho từng bộ phận sản xuất trong doanh nghiệp nhằm thường xuyên nắm chắc số lượng lao động hiện có của từng
bộ phận và toàn doanh nghiệp
Cơ sở để ghi "Sổ danh sách lao động" là chứng từ ban đầu về tuyển dụng, thuyên chuyển công tác, nâng bậc, thôi việc Các chứng từ trên đại bộ phận do phòng quản lý nghiệp vụ lao động - tiền lương lập mỗi khi tuyển dụng nâng bậc, cho thôi việc
Mọi sự biến động về số lượng lao động đều phải được ghi chép kịp thời vào "Sổ danh sách lao động" để trên cơ sở đó làm căn cứ cho việc tính lương phải trả và các chế độ khác cho người lao động được kịp thời
1.4.2 Hạch toán thời gian lao động
Hạch toán sử dụng thời gian lao động phải bảo đảm ghi chép, phản ánh kịp thời, chính xác số ngày công, giờ công làm việc thực tế hoặc ngừng việc, nghỉ việc của từng người lao động, từng đơn vị sản xuất, từng phòng ban trong doanh nghiệp
Hạch toán sử dụng thời gian lao động có ý nghĩa rất lớn trong việc quản lý lao động, kiểm tra việc chấp hành kỷ luật lao động, làm căn cứ tỉnh lương, tỉnh thưởng chính xác cho từng người lao động
Chứng từ ban đầu quan trọng nhất để hạch toán thời gian lao động trong các doanh nghiệp là "Bảng chấm công" (mẫu số 01a - LĐTL chế độ chứng từ kế toán) "Bảng chấm công" sử dụng để ghi chép thời gian thực tế làm việc, nghỉ việc, vắng mặt của người lao động theo từng ngày "Bảng chấm công" phải lập riêng cho từng bộ phận (tổ sản xuất, phòng, ban ) và dùng trong một tháng (tương ứng với kỳ tính lương) Tổ trưởng tổ sản xuất hoặc trưởng các phòng, ban là người trực tiếp ghi "Bảng chấm công" căn cứ vào số lao động có mặt, vắng mặt đầu ngày làm việc ở đơn vị mình "Bảng chấm công" phải để tại một địa điểm công khai để người lao động giám sát thời gian lao động của mỗi người "Bảng chấm công"
Trang 14là căn cứ để tính lương, tỉnh thưởng cho từng người lao động và để tổng hợp thời gian lao động trong doanh nghiệp Đối với các trường hợp ngừng việc xảy ra trong ngày do bất cứ nguyên nhân gì, đều phải lập "Biên bản ngừng việc", trong đó ghi rõ thời gian ngừng việc thực tế của mỗi người có mặt, nguyên nhân xảy ra ngừng việc và người chịu trách nhiệm
"Biên bản ngừng việc" là cơ sở để tính lương và xử lý thiệt hại xảy ra
Đối với các trường hợp nghỉ việc do ốm đau, tai nạn lao động thai sản đều phải có chứng từ nghỉ việc do các cơ quan có thẩm quyền cấp (như cơ quan y tế, hội đồng y khoa )
và được ghi vào "Bảng chấm công" theo những ký hiệu quy định
1.4.3 Hạch toán kết quả lao động
Đi đôi với việc hạch toán số lượng và thời gian lao động, việc hạch toán kết quả lao động là một nội dung quan trọng trong toàn bộ công tác quản lý và hạch toán lao động - tiền lương ở các doanh nghiệp
Hạch toán kết quả lao động phải bảo đảm phản ánh chính xác số lượng và chất lượng sản phẩm hoặc khối lượng công việc hoàn thành của từng người, từng bộ phận để làm căn
cứ tính lương, tính thưởng và kiểm tra sự phù hợp của tiền lương phải trả với kết quả lao động thực tế, tính toán, xác định năng suất lao động, kiểm tra tình hình thực hiện định mức lao động của từng người, từng bộ phận và cả doanh nghiệp
Để hạch toán kết quả lao động trong các doanh nghiệp, kế toán sử dụng các chứng từ ban đầu khác nhau tuỳ thuộc vào loại hình và đặc điểm sản xuất của từng doanh nghiệp Chứng từ ban đầu được sử dụng phổ biến để hạch toán kết quả lao động là “Phiếu xác nhận sản phẩm hoặc công việc hoàn thành” (mẫu số 05 - LĐTL chế độ chứng từ kế toán) “Hợp đồng giao khoán” (mẫu số 08 - LĐTL chế độ chứng từ kế toán) "Phiếu xác nhận sản phẩm hoặc công việc hoàn thành" là chứng từ xác nhận số sản phẩm hoặc công việc hoàn thành của từng đơn vị hoặc cá nhân người lao động Phiếu này do người giao việc lập và phải có đầy đủ chữ ký của người giao việc người nhận việc, người kiểm tra chất lượng sản phẩm và người duyệt Phiếu được chuyển cho phòng kế toán để tính lương, tính thưởng (hình thức trả lương theo sản phẩm)
Trong trường hợp giao khoán công việc thì chứng từ ban đầu là "Hợp đồng giao khoán" Hợp đồng này là bàn ký kết giữa người giao khoán và người nhận khoản về khối lượng công việc, thời gian làm việc, trách nhiệm và quyền lợi mỗi bên khi thực hiện công việc đó Chứng từ này là cơ sở để thanh toán tiền công lao động cho người nhận khoản
Trang 15Trường hợp khi kiểm tra, nghiệm thu phát hiện sản phẩm hỏng thì cần bộ kiểm tra chất lượng phải cùng với người phụ trách bộ phận lập "Phiếu báo hỏng" để làm căn cứ lập biên bản xử lý
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CHẾ ĐỘ KẾ TOÁN TIỀN LƯƠNG VÀ CÁC KHOẢN TRÍCH THEO LƯƠNG TẠI VIỆT NAM
2.1.Kế toán tổng hợp tiền lương và các khoản trích theo lương
Chứng từ kế toán hạch toán kết quả lao động là “Phiếu xác nhận sản phẩm hoặc công việc hoàn thành” (mẫu số 05 - LĐTL chế độ chứng từ kế toán) Căn cứ vào Bảng chấm công
và Phiếu xác nhận sản phẩm hoặc công việc hoàn thành, kế toán lập “Bảng thanh toán tiền lương” (mẫu số 02 - LĐTL), “Bảng thanh toán tiền thưởng” (mẫu số 03 - LĐTL)
Căn cứ vào các bảng thanh toán tiền lương, tiền thưởng, kế toán lập “Bảng phân bổ tiền lương và bảo hiểm xã hội” (mẫu số 11 – LĐTL) nhằm phân loại lương, thưởng theo đối tượng sử dụng lao động, phân bổ tiền lương, tiền thưởng vào chi phí kinh doanh.Trước khi trả lương, kế toán khấu trừ các khoản nhân viên mắc nợ công ty phải trả trong tháng như tạm ứng, phải bồi thường, lương trả đợt 1, thuế thu nhập, BHXH, BHYT… theo chế độ
2.1.2.Tài khoản sử dụng
Để tổng hợp tiền lương, tiền thưởng và tình hình thanh toán với người lao động kế
toán sử dụng Tài khoản 334 “Phải trả người lao động”
Tài khoản này có 2 tài khoản cấp 2:
- Tài khoản 3341 “Phải trả công nhân viên”: Sử dụng cho người lao động của doanh nghiệp
- Tài khoản 3348 “Phải trả người lao động khác”: Sử dụng cho người lao động bên ngoài doanh nghiệp
Trang 16Tài khoản 334
-Các khoản khấu trừ vào tiền công, tiền
lương của người lao động
-Tiền lương, tiền công và các khoản
khác đã trả cho người lao động
SDĐK
-Tiền lương, tiền công và các khoản khác phải trả cho người lao độn thực tế phát sinh trong kỳ
Sơ đồ 2.1: Kết cấu của tài khoản 334 “Phải trả người lao động”
Trường hợp cả biệt, TK 334 có thể có số dư bên Nợ phản ánh số tiền đã trả quá số tiền phải trả cho người lao động
Phản ánh tình hình thanh toán các khoản trích theo lương và các khoản phải trả, phải nộp khác kế toán sử dụng Tài khoản 338 “Phải trả, phải nộp khác”
Liên quan đến các khoản trích theo lương, có 3 tài khoản cấp 2:
- Tài khoản 3382 “Kinh phí công đoàn”
- Tài khoản 3383 “Bảo hiểm xã hội”
- Tài khoản 3384 “Bảo hiểm y tế”
- Tài khoản 3388 “Phải trả, phải nộp khác”
Tài khoản 338
-BHXH phải trả trực tiếp cho người lao
động
-Nộp KPCĐ, BHXH, BHXH, BHTN
cho cơ quan quản lý
-Chi tiêu kinh phí công đoàn tại doanh
nghiệp
SDĐK
-Trích BHXH, BHYT, BHTN, KPCĐ theo
tỷ lệ với tiền lương
-Hạch toán vào chi phí liên quan
Dư Nợ:
Phản ảnh số đã trả, đã nộp lớn hơn số
phải trả, phải nộp, số chi bảo hiểm xã
hội, kinh phí công đoàn chi hộ, chi vượt
Trang 172.1.3.Trình tự ghi sổ một số nghiệp vụ kế toán chủ yếu
2.1.3.1 Kế toán tiền lương
Theo quy đi ̣nh của pháp luâ ̣t, nghiệp vụ hạch toán bảng lương được thực hiê ̣n vào cuối tháng Thông tư số 200/2014/TT-BTC quy đi ̣nh các ha ̣ch toán kế toán liên quan đến phải trả cho người lao đô ̣ng, trong đó, đối với kế toán tiền lương có thể có một số nghiệp vụ như sau:
(1) Căn cứ vào Bảng thanh toán tiền lương, Bảng thanh toán tiền thưởng, kế toán phân
bổ tiền lương vào chi phí sản xuất kinh doanh:
Nợ TK 622: Phải trả cho lao động trực tiếp
Nợ TK 627: Phải trả nhân viên phân xưởng
Nợ TK 641: Phải trả cho nhân viên bán hàng
Nợ TK 642: Phải trả cho nhân viên quản lý doanh nghiệp…
Có TK 334: Tiền lương, tiền thưởng, các khoản phụ cấp có tính chất lương mà doanh nghiệp phải trả cho người lao động
(2) Phản ánh khoản phụ cấp, trợ cấp tiền thưởng trả cho người lao động, có nguồn bù đắp riêng:
Nợ TK 4311: Tiền thưởng thi đua trích từ quỹ khen thưởng
Nợ TK 4312: Tiền trợ cấp từ quỹ phúc lợi
Nợ TK 338 (3383): Tiền trợ cấp từ quỹ BHXH
Có TK 334: Phải trả người lao động
(3) Phản ánh các khoản trừ vào thu nhập người lao động:
Nợ TK 334: Phải trả người lao động
Có TK 141: Tiền tạm ứng thừa
Có TK 138: Tiền phạt, tiền bồi thường phải thu
Có TK 338: Thu hộ các quỹ BHXH, BHYT, BHTN (phần người lao động đóng)
Có TK 333: Thu hộ thuế TNCN cho NN
(4) Khi thanh toán cho người lao động:
Nợ TK 334: Phải trả cho người lao động
Có TK 111: Trả bằng tiền mặt
Có TK 112: Trả bằng chuyển khoản
Trang 18(5) Kế toán trích trước tiền lương phép của công nhân:
CHÚ Ý: Trường hợp những doanh nghiệp sản xuất không có điều kiện để bố trí cho lao động trực tiếp nghỉ phép đều đặn giữa các kỳ hạch toán thì kế toán phải dự toán tiền lương nghỉ phép của họ để tiến hành trích trước tính vào chi phí của các kỳ hạch toán theo
Có TK 334: Phải trả người lao động
Cách tính khoản tiền lương nghỉ phép của LĐTT để trích trước vào CPSX
Mức trích trước tiền lương của LĐTT theo kế hoạch = Tiền lương chính phải trả cho LĐTT trong kỳ x Tỷ lệ trích trước
LĐTT Tỷ lệ trích trước = (Tổng tiền lương nghỉ phép KH năm của LĐTT/ Tổng tiền lương chính KH năm của LĐTT) x 100
2.1.3.2 Kế toán các khoản trích theo lương
Nợ TK 338 (3383): Bảo hiểm xã hội
Có TK 334: Phải trả người lao động
(3) Phản ánh chi tiêu KPCĐ tại đơn vị:
Nợ TK 338 (3382): Kinh phí công đoàn
Trang 19thu nhập của NLĐ (tạm ứng, bồi thường vật chất, thuế thu nhập,…)
Phải trả cho CNSX trong kỳ theo kế hoạch của công nhân
Trang 20(5) Số BHXH, KPCĐ chi vượt
trực tiếp cho nhân viên
(4) Nộp KPCĐ, BHXH (1) Trừ vào thu nhập của người lao động
cho cơ quan quản lý
tế
Các đợt cải cách chính sách tiền lương ở Việt Nam
Cải cách tiền lương giai đoạn 1960-1984
Sau hòa bình lập lại, những yêu cầu đặt ra trong việc sửa đổi chế độ tiền lương đối với người lao động tại miền Bắc Việt Nam lần đầu tiên được đưa ra vào năm 1957 và chính thức được triển khai vào năm 1960, sau khi hoàn thành cải tạo kinh tế xã hội chủ nghĩa Trong đợt cải cách này, mức tiền lương cụ thể cho từng loại công việc, thời gian trả, hình thức trả lương, nâng bậc lương và các vấn đề khác liên quan đều do Nhà nước định sẵn thông qua hệ thống các bậc lương và phụ thuộc vào ngân sách nhà nước Vấn đề tiền lương tối thiểu được Chính phủ giới hạn trực tiếp bằng việc quy định cụ thể các mức lương trong các
Trang 21ngành Trong mỗi ngành đều có mức lương thấp nhất (mức lương bậc một - mức lương khởi điểm) được trả cho người lao động ứng với công việc hỏi trình độ và cường độ lao động thấp nhất
Một trong những điểm nhấn của chính sách cải cách tiền lương ở Việt Nam trong giai đoạn 1960-1984 là hướng tới mục tiêu chiếu cố toàn diện, cân nhắc kỹ lưỡng giữa yêu cầu và khả năng, kết hợp nguyên tắc với thực tế để vận dụng đúng đắn nguyên tắc phân phối theo lao động vào tình hình thực tế đất nước ( ), chống chủ nghĩa bình quân, phải chống xu hướng đòi công bằng hợp lý một cách tuyệt đối, không phù hợp với hoàn cảnh thực tế của đất nước
Cải cách tiền lương giai đoạn 1985-1992
Giai đoạn này được đánh dấu bằng việc ban hành Nghị quyết của Hội nghị Trung ương 8 khóa V (tháng 6-1985) và Nghị định số 235/HĐBT ngày 18/9/1985 của Hội đồng
Bộ trưởng Về cải tiến chế độ tiền lương của công nhân, viên chức và các lực lượng vũ trang
đã dẫn đến một cuộc cải cách lớn về giá - lương - tiền, mở đầu cho thời kỳ đổi mới đất nước Nghị định số 235 quy định thang, bảng lương đối với công nhân, nhân viên, cán bộ quản lý
xí nghiệp, công ty và bảng lương chức vụ đối với cán bộ, viên chức trong các tổ chức sự nghiệp và cơ quan quản lý nhà nước Nguyên tắc hưởng lương là làm công việc gì, chức vụ
gì thì hưởng lương theo công việc, chức vụ đó.Mức lương tối thiểu là cơ sở để định các mức lương cấp bậc hoặc lương chức vụ Bảng lương chức vụ được thiết kế theo quan hệ tiền lương tối thiểu - trung bình - tối đa là 1 - 1,32 - 3,5
Tính đến tháng 9-1985, tiền lương của người lao động tăng 64% Tuy nhiên, với nền kinh tế còn gặp nhiều khó khăn, tổng thu nhập quốc dân tính trên đầu người thấp, tình trạng lạm phát đã làm giá trị của đồng lương sụt giảm nhanh chóng và mức trả lương không đánh giá đúng giá trị thực tế sức lao động của người lao động Mặt khác, năm 1986, công cuộc đổi mới đất nước bắt đầu, đòi hỏi tiền lương tối thiểu phải có sự thay đổi để phù hợp với yêu cầu thực tiễn Do đó, ngày 28/12/1988, Hội đồng Bộ trưởng ra Quyết định số 202-HĐBT về tiền lương công nhân, viên chức sản xuất kinh doanh khu vực quốc doanh và công tư hợp doanh
và Quyết định số 203-HĐBT về tiền lương công nhân, viên chức hành chính sự nghiệp, lực