- Một số công trình nghiên cứu về VKS trong giai đoạn khởi tố VAHS như: Đỗ Hoàng Phương 2018, Thực hành quyền công tổ trong giai đoạn khởi tổ vụ án hình sự, Luận văn thạc sỹ luật học, Tr
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận vãn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chua đuợc công hố trong hất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tỉnh chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chỉnh theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia
Hà Nội.
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét đê tôi có thê bảo vê Luân văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
NGUỜI CAM ĐOAN
- w F
Nguyên Hoàng Thăng
1
Trang 2MỤC LỤC
MỤC LỤC ii DANH MỤC KÍ HIỆU, CHỮ CÁI VIẾT TẢT V
MỞ ĐÀU 1 CHƯƠNG 1
MỘT SÔ VÂN ĐÈ LÝ LUẬN VÊ THựC HÀNH QUYÊN CỒNG TÔ
TRONG GIAI ĐOẠN KHỞI TÓ, ĐIỀU TRA vụ ÁN HÌNH sự CÓ ĐỒNG PHẠM ’ 7
1.1 Khái niệm, đặc điếm thực hành quyền công tố trong giai đoạn khởi
CHUÔNG 2
PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH sự HIỆN HÀNH VỀ THựC HÀNH QUYỀN CÔNG TÔ TRONG GIAI ĐOẠN KHỞI TỐ, ĐIỀU TRA CÁC
VỤ ÁN HÌNH Sự 28
2.1 Pháp luật tố tụng hình sự hiện hành về thực hành quyền công tố trong giai đoạn khởi tố các vụ án hình sự 28
trong việc giải quyết nguồn tin về tội phạm 28
trong việc khởi tố vụ án hình sự 35
11
Trang 32.2 Pháp luật tố tụng hình sự hiện hành về thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra các vụ án hình sự 36
2.2.1 Quy định của pháp luật tố tụng hình sự về thực hành quyền công
tố trong việc khởi tố vụ án, khởi to bị can 36
2.2.2 Đe ra yêu cầu điều tra, trực tiếp tiến hành một sổ hoạt động điều tra 37
2.2.3 Ap dụng, hủy bỏ, thay đôi các biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế 39
điều tra 41
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 43 CHƯƠNG 3 44
THỤC TRẠNG HOẠT ĐỘNG THỤC HÀNH QUYÈN CÔNG TỐ TRONG GIAI ĐOẠN KHỞI TÓ, ĐIÈU TRA CÁC vụ ÁN HÌNH sự
CÓ ĐỒNG PHẠM TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH NINH BÌNH VÀ CÁC GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ 44
3.1 Thực trạng hoạt động thực hành quyên công tô của viện kiêm sát• • O • • O • > </ CT •nhân dân trong giai đoạn khởi tô, điêu tra các vụ án hình sự có đông phạm trên địa bàn tỉnh Ninh Bình 44
phạm trên địa bàn tỉnh Ninh Bình trong những năm gần đây 44
3.1.2 Nhũng kêt quả đạt được khi thực hành quyên công tô trong giai đoạn khởi tố, điều tra các vụ án hình sự có đồng phạm trên địa bàn tỉnh Ninh Bình 46
3.1.3 Những hạn chê khi thục hành quyên công tô trong giai đoạn khởi tố, điều tra các vụ án hĩnh sự có đồng phạm trên địa bàn tỉnh Ninh Bình và nguyên nhân 55
3.2 Giải pháp nâng cao chât lượng thực hành quyên công tô trong giai đoạn khởi tổ, điều tra các vụ án hình sự có đồng phạm trên địa bàn tỉnh Ninh Bình 61
3.2.1 Giải pháp về mặt pháp luật 61
Trang 43.2.2 Các giải pháp khác 64
KẾT LUẬN 72
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 74
PHỤ LỤC 76
IV
Trang 5DANH MUC KÍ HIẼU, CHỮCÁI VIẾT TẮT• • J
BLHS Bô luât hình sư• • •
Trang 6MỞ ĐÀU
1 Tính câp thiêt của đê tài nghiên cứu
Cải cách tư pháp là một đòi hỏi mang tính cấp bách của Đảng, nhà nước
ta Viện kiểm sát nhân dân là một cơ quan nhà nước giữ vai trò quan trọng trong tiến trình cải cách tư pháp với chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp được thể chế hóa trong Hiến pháp năm 2013 và Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014
THQCT và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong giai đoạn khởi tố, điều tra VAHS bảo đảm giải quyết vụ án đúng người đúng tội, đúng pháp luật, không để lọt tội phạm và không làm oan người vô tội Vì vậy, Nghị quyết 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ chính trị đã đặt ra yêu cầu: “Viện
kiểm sát các cấp thực hiện tốt chức năng công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tư pháp Hoạt động công tổ phải được thực hiện ngay từ khi khởi tố vụ án vù trong suốt quá trình tố tụng nhằm bảo đảm không
bỏ lọt tội phạm và người phạm tội, không làm oan người vô tội, xử lý kịp thời những trường hợp sai phạm của người tiến hành tố tụng khi làm nhiệm vụ Nâng cao chat lượng công tố của kiêm sát viên tại phiên tòa, bảo đảm tranh tụng dân chủ với luật sư, người bào chữa và người tham gia tố tụng khác" [8]
Bên cạnh đó, Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ chính trị xác định: “Tăng cường trách nhiệm công tố trong hoạt động điều tra" [9] Đây là những nội dung quan trọng được đặt ra đối với VKS trong công cuộc cải cách
tư pháp hiện nay Đặc biệt đối với những VAHS có đồng phạm thì vai trò và nhiệm vụ của VKS càng được đòi hỏi cao hơn vì VAHS có đồng phạm là những vụ án có tính chất phức tạp, mức độ, hậu quả nguy hiểm hơn, sự liên kết giữa các đối tượng đồng phạm tạo ra những khó khăn cho cán bộ giải quyết
1
Trang 7Thực trạng diễn ra trên địa bàn tình Ninh Bình cho thấy, tội phạm có đồng phạm diễn ra phức tạp, ở nhiều các loại tội, có tính chất tinh vi, mức độ, hậu quà nghiêm trọng ngày càng cao Việc THQCT trong giai đoạn khởi tố, điều tra VAHS có đồng phạm đã đạt được kết quả quan trọng, khả quan nhưng vẫn bộc lộ những hạn chế, thiểu sót như: kiểm sát viên chưa thực sự phát huy được tính sáng tạo, chủ động, tinh thần trách nhiệm chưa cao, vẫn còn xảy ra tình trạng phải trả hồ sơ điều tra bổ sung.
Nhằm góp phần xây dựng một nền công tố vững mạnh và làm sáng rõ thêm về mặt lý luận và thực tiễn vấn đề THQCT trong giai đoạn khởi tố, điều tra VAHS có đồng phạm, trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả THQCT trong giai đoạn khởi tố, điều tra VAHS có đồng phạm Học viên
chọn đề tài: “Thực hành quyển công tố trong giai đoạn khởi tố, điểu tra các
vụ án hình sự có đồng phạm (trên cơ sở thực tiễn địa bàn tỉnh Ninh Bình)"
làm đề tài cho luận văn thạc sỹ luật học của mình
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Các công trình nghiên cứu có tính chất nền tảng hoặc liên quan đến đề tài được thể hiện trong nhiều đề tài nghiên cứu khoa học, luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ, một số giáo trình và sách tham khảo Tiêu biểu như một số công trình sau:
- Các công trình nghiên cứu vê lý luận quyên công tô như: Lê Cảm (2001), Những vấn đề lý luận về chế định quyền công tổ; Kỷ yếu đề tài khoa học cấp bộ: Những giải pháp nâng cao chất lượng thực hành quyền công tố
và kiểm sát hoạt động tư pháp, Hà Nội, 2003, Viện kiểm sát nhân dân tối cao,
Đề tài khoa học cấp bộ: Nâng cao chất lượng kiểm sát hoạt động tư pháp và
thực hành quyền công tố vó'i vẩn đề thông khâu vù chuyển khâu trong các công tác kiểm sát hình sự, Hà Nội, 2004 Viện kiểm sát nhân dân tối cao
(2008), Vai trò của Viện kiếm sát trong việc thực hành quyền công tố và kiêm
2
Trang 8sát các hoạt động tư pháp trong giai đoạn điêu tra các vụ án hình sự theo tinh thần Nghị quyết 08/NQ-TW của Bộ chính trị, Hà Nội, 2008 Các nghiên cứu
trên đã nêu khái quát được THQCT và KSHĐTP và đưa ra được một số giải pháp để nâng cao chất lượng THQCT và KSHĐTP
- Một số công trình nghiên cứu về VKS trong giai đoạn khởi tố VAHS như: Đỗ Hoàng Phương (2018), Thực hành quyền công tổ trong giai đoạn
khởi tổ vụ án hình sự, Luận văn thạc sỹ luật học, Trường Đại học luật Hà Nội; Phạm Anh Đức (2016), Nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiêm sát trong giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi to, Luận văn thạc sỹ luật
học, Trường Đại học luật Hà Nội; Trần Thị Lê Ngọc (2017), Kiểm sát việc
khởi tố vụ án hĩnh sự theo pháp luật Tổ tụng hình sự Việt Nam, Luận văn thạc
sỹ luật học, Trường Đại học luật Hà Nội; Đặng Văn Thực (2014), Nhiệm vụ,
quyền hạn và trách nhiệm của Viện kiêm sát trong giai đoạn khởi tố vụ án hĩnh sự, Luận văn thạc sỹ luật học, Trường Đại học luật Hà Nội Các nghiên
cứu trên đã nêu khái quát được hoạt động THQCT của VKS trong giai đoạn khởi tố VAHS và đưa ra được một số giải pháp để nâng cao chất lượng THQCT trong giai đoạn khởi tố VAHS
- Một số công trình nghiên cứu về VKS trong giai đoạn điều tra VAHS như: Bùi Trọng Thắng (2018), Thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều
tra vụ án hình sự, Luận văn thạc sỹ luật học, Trường Đại học luật Hà Nội;
Nguyễn Thị Nguyên (2017), Thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều
tra các vụ án trộm cắp tài sản trên địa bàn tỉnh Nam Định, Luận văn thạc sỹ
luật học, Trường Đại học luật Hà Nội; Nguyễn Công Trường (2016), Thực
hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự, Luận văn thạc sỹ
luật học, Trường Đại học luật Hà Nội; Phạm Thị Tuyết Chinh (2017), Thực
hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra vụ án hĩnh sự trên địa bàn tỉnh Hải Phòng, Luận văn thạc sỹ luật học, Trường Đại học luật Hà Nội Các
3
Trang 9nghiên cứu trên đã nêu khái quát đuợc hoạt động THQCT của VKS trong giai đoạn điều tra VAHS và đua ra đuợc một số giải pháp đế nâng cao chất lượng THQCT trong giai đoạn điều tra VAHS.
- Một số công trình nghiên cứu về chế định đồng phạm như: "'Một số vấn
đề lý luận và thực tiền về những loại người đồng phạm trong luật hình sự Việt Nam", luận văn thạc sì luật học, Trường đại học quốc gia Hà Nội, Mai Lan Ngọc (2012),"Người giúp sức trong đồng phạm theo luật hình sự Việt Nam",
luận văn thạc sĩ luật học, Trường đại học quốc gia Hà Nội, Lê Thị Loan
(2015); "Người tổ chức trong đồng phạm theo Luật hình sự Việt Nam", luận
văn thạc sĩ luật học, Trường đại học quốc gia Hà Nội, Nguyễn Thị Tuyết Mai (2011) Các công trình nghiên cứu nêu trên đã khái quát được khái niệm và một số đặc điểm về chế định đồng phạm
Các công trình nghiên cứu đã nêu trên cho thấy chưa có một công trình khoa học nào nghiên cứu một cách hệ thống, toàn diện và sâu sắc về hoạt động thực hành quyền công tổ trong giai đoạn khởi tố, điều tra vụ án hình sự
có đồng phạm BLTTHS năm 2015 chính thức có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018, các quy định pháp luật về vấn đề này có nhiều thay đổi, chưa ổn định, thống nhất Vì thế việc tìm hiều, nghiên cứu vấn đề này mang tính cấp thiết và có ý nghĩa quan trọng
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Luận vàn nghiên cứu, làm sáng tỏ lý luận, pháp luật tố tụng hình sự hiện hành về thực hành quyền công tố trong giai đoạn khởi tố và điều tra vụ án hình sự có đồng phạm và thực tiễn tại địa bàn tỉnh Ninh Bình, từ đó đề ra một
số phương hướng, giải pháp nâng cao chất lượng thực hành quyền công tố trong giai đoạn khởi tố, điều tra các vụ án hình sự có đồng phạm
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Đe đạt được mục đích nghiên cứu trên, luận văn đề ra một số nhiệm vụ• • • y • • • •
4
Trang 10phải giải quyêt như sau:
- Phân tích, làm rõ một số vấn đề lý luận về thực hành quyền công tố trong giai đoạn khởi tố, điều tra vụ án hình sự có đồng phạm
- Phân tích quy định của pháp luật tố tụng hình sự về thực hành quyền công tố trong giai đoạn khởi tố và giai đoạn điều tra vụ án hình sự có đồng phạm
- Đánh giá thực trạng thực hành quyền công tố trong giai đoạn khởi tố, điều tra vụ án hình sự có đồng phạm trên địa bàn tỉnh Ninh Bình
- Đe xuất những giải pháp nâng cao chất lượng thực hành quyền công tổ trong giai đoạn khởi tổ, điều tra vụ án hình sự có đồng phạm trên địa bàn tỉnh Ninh Bình trong thời gian tới
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của luận văn là những vấn đề lý luận, quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam về thực hành quyền công tố trong giai đoạn khởi tố, điều tra vụ án hình sự có đồng phạm và thực tiễn thi hành tại Viện kiểm sát nhân dân hai cấp tĩnh Ninh Bình
- Phạm vi nghiên cứu của luận văn là hoạt động thực hành quyền công tổ trong giai đoạn khởi tố, điều tra vụ án hình sự có đồng phạm trên địa bàn tỉnh Ninh Bình trong 05 năm, thời gian từ năm 2017 đến Quý I năm 2021
5 Các phương pháp nghiên cứu
Luận văn được nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật, những quan điểm, đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước về đấu tranh phòng chống tội phạm, đặc biệt là tội phạm
có đồng phạm
Ngoài ra luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu như: Phân tích, tổng hợp, so sánh, thống kê, hệ thống, logic, nghiên cứu điển hình, trao đổi
5
Trang 116 Y nghĩa của luận văn
- Ý nghĩa khoa học: Luận văn góp phần làm sáng rõ những vấn đề lý luận, những quy định của pháp luật tố tụng hiện hành về thực hành quyền công tố trong giai đoạn khởi tố, điều tra các vụ án hình sự có đồng phạm Từ
đó khẳng định vai trò của Viện kiểm sát trong đấu tranh phòng chống tội phạm
- Ý nghĩa thực tiễn: Luận văn đề ra những giải pháp, phương hướng hoàn thiện pháp luật và nâng cao chất lượng thực hành quyền công tố trong giai đoạn khởi tố, điều tra các vụ án có đồng phạm trên địa bàn tỉnh Ninh Bình Các nghiên cứu của luận văn có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo, nghiên cứu, giảng dạy, học tập cũng như làm tài liệu nghiên cứu cho các cán
bộ kiếm sát trong việc thực hiện nhiệm vụ của mình.• • • • • •
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương
Chương ỉ: Một số vấn đề lý luận về thực hành quyền công tố trong giai
đoạn khởi tố, điều tra các vụ án hình sự có đồng phạm
Chương 2: Pháp luật tố tụng hình sự hiện hành về thực hành quyền công
tố trong giai đoạn khởi tố, điều tra các vụ án hình sự có đồng phạm trên địa bàn tỉnh Ninh Bình
Chương 3: Thực trạng hoạt động thực hành quyền công tổ trong giai
đoạn khởi tố, điều tra các vụ án hình sự có đồng phạm trên địa bàn tỉnh Ninh Bình và các giải pháp nâng cao hiệu quả
6
Trang 12CHƯƠNG 1
MỘT SÓ VẤN ĐÈ LÝ LUẬN VÈ THỤC HÀNH QUYÈN CÔNG TÓ
TRONG GIAI ĐOẠN KHỞI TỐ, ĐIỀU TRA vụ ÁN HÌNH sự CÓ
ĐÒNG PHẠM 1.1 Khái niệm, đặc điểm thực hành quyền công tố trong giai đoạn khỏi
Theo từ điển Luật học giải thích thì “công tổ” là “quyền của nhà nước truy cứu trách nhiệm hình sự với người phạm tội” [13, tr,188J, còn theo từ điển Tiếng Việt “công tố” là “điều tra, truy tố, buộc tội kẻ phạm pháp và phát biểu ý kiến trước Tòa án” [24, tr.200] Có quan điểm cho rằng: “Công tố là hình thức nhân danh lợi ích công để phát giác, tố cáo những hành vi vi phạm pháp luật liên quan đến lợi ích chung ra trước Tòa án để xét xử, nên công tố được hiểu là sản phẩm của xã hội có Nhà nước” [16, tr.15] Mặc dù có nhiều cách định nghĩa và xem xét dưới các góc độ khác nhau về công tố nhưng có
7
Trang 13thê thây răng quyên công tô là một loại quyên lực nhân danh nhà nước, được nhà nước trao cho các chủ thể thực hiện, gắn liền với quyền công tố là sự buộc tội và truy cứu trách nhiệm hình sự của Nhà nước đối với người phạm tội Trong khoa học pháp lý, có nhiều quan điểm khác nhau về quyền công tố:
Có quan điểm cho rằng: “Quyền công tố là quyền của Nhà nước giao cho Viện kiểm sát truy tố kẻ phạm tội ra Tòa án, thực hiện sự buộc tội tại phiên tòa (thực hiện quyền công tố)” [26, tr.86-88] Quan điểm này đã nhận thức một cách thu hẹp nội dung và phạm vi của quyền công tố Trên thục tế, hoạt động thực hành quyền công tố của VKS diễn ra xuyên xuốt trong quá trình khởi tố vụ án từ giai đoạn khởi tố, điều tra, truy tố và xét xừ Sự buộc tội tại phiên tòa bằng bản cáo trạng và bản luận tội là sự thề hiện rõ ràng nhất quyền công tố của VKS nhưng chỉ là một phần nhiệm vụ quyền hạn
Có quan điểm cho rằng: “Quyền công tố là sự cáo buộc của nhà nước đối với các cá nhân, tố chức đã vi phạm pháp luật, bao gồm vi phạm hành chính,
vi phạm luật dân sự, luật kinh tế và luật hình sự và quyền công tố là quyền của nhà nước thực hiện sự cáo buộc đó” [17, tr.82-88] Quan điểm này cho rằng quyền công tố thuộc về nhà nước và được thế hiện trong nhiều lĩnh vực (hình sự, dân sự, hành chính, kinh tế ) Buộc tội là việc nhà nước THQCT trong tố tụng hình sự, còn trong các lĩnh vực khác thì nhà nước THQCT bằng cách quy định lỗi cho những chủ thể vi phạm
Có quan điểm cho rằng: “Quyền công tố là quyền nhân danh nhà nước thực hiện việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội Quyền này thuộc về nhà nước, được nhà nước giao cho một cơ qưan thực hiện (ở nước ta là cơ quan Viện Kiểm Sát)” [22, tr.40] Theo quan điểm này, quyền công tố gắn liền với việc truy cứu trách nhiệm hình sự và chỉ tồn tại trong lĩnh vực tố tụng hình sự
Ở Việt Nam, quyền công tố được Nhà nước ta giao cho Cơ quan duy
8
Trang 14nhất là Viện kiềm sát để thực hiện việc truy cứu trách nhiệm đối với người phạm tội trong lĩnh vực hình sự Chủ thể thực hiện quyền công tố chỉ là VKS bao gồm: Viện trưởng, Phó Viện trưởng, các Kiểm sát viên và các Kiểm tra viên thực hiện nhiệm vụ giúp việc, trong đó quyền truy tố người phạm tội ra trước Tòa án và quyền buộc tội nhân danh nhà nước đối với người phạm tội tại phiên tòa là những nội dung quan trọng nhất.
Từ những nội dung trên, "Quyền công tố ở Việt Nam là quyền mà Nhà
nước giao cho VKSND thực hiện việc buộc tội đổi với người thực hiện hành vi phạm tội
Như đã phân tích, quyền công tổ là quyền năng được Nhà nước giao cho VKSND Thông qua hình thức thực hiện pháp luật, VKS chuyển hóa quyền năng của mình mà pháp luật quy định để thực hiện những chức năng nhiệm
vụ cụ thể VKSND có chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp được cụ thế hóa trong Hiến pháp năm 2013 và Luật tố chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014 THQCT và KSHĐTP là hai chức năng tách biệt của VKSND nhưng có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Việc nghiên cứu, tìm hiểu xác định rõ khái niệm quyền công tố là cơ sở đế xây khái niệm THQCT Đối tượng của quyền công tố là tội phạm và người phạm tội Phạm
vi quyền công tố bất đầu từ khi tội phạm được thực hiện và kết thúc khi bản
án có hiệu lực pháp luật [22, tr.51 ] Hệ thống cơ quan được nhà nước giao cho các quyền năng pháp lý để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội đó gọi là cơ quan thực hành quyền công tố Ở Việt Nam, Cơ quan được nhà nước giao cho chức năng THQCT là Viện kiểm sát nhân dân THQCT là chức năng Nhà nước giao cho chỉ duy nhất VKS mà không cơ quan nào có được Từ điển Tiếng Việt định nghĩa “thực hành” là “làm để áp dụng lý thuyết vào thực tiễn” [18, tr.973] Theo đó thì THQCT là việc VKSND áp dụng những quy định về quyền năng mà nhà nước trao cho mình vào thực tiễn đấu
9
Trang 15tranh phòng ngừa tội phạm.
Từ những phân tích trên có thế đưa ra khái niệm: “Thực hành quyền
công to là hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân nhân danh nhà nước thực hiện các hành vi tổ tụng cần thiết theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự
đề thực hiện việc buộc tội đối với người phạm tội trong suốt quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử”.
Tố tụng hình sự là trình tự, thủ tục giải quyết vụ án hình sự theo quy định của pháp luật (khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự)
Đe giải quyết vụ án hình sự cần trải qua nhiều giai đoạn, mồi giai đoạn tố tụng hình sự có những vai trò nhiệm vụ khác nhau và tương ứng với mỗi giai đoạn là chức năng cụ thể của từng chù thể tố tụng theo quy định của pháp luật Các giai đoạn trong tố tụng hình sự có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, giai đoạn trước là tiền đề cho giai đoạn sau, giai đoạn sau là sự tiếp nối và kiếm tra tính đủng đắn cho các hoạt động ở giai đoạn trước Quá trình giải quyết VAHS các giai đoạn đó là giai đoạn khởi tố vụ án hình sự, giai đoạn điều tra, giai đoạn truy tố, giai đoạn xét xử và giai đoạn thi hành án [14]
Khởi tổ vụ án hình sự là giai đoạn mở đầu của tổ tụng hình sự, trong đó
cơ quan có thấm quyền xác định sự việc xảy ra có hay không có dấu hiệu tội phạm để ra quyết định khởi tố hoặc ra quyết định không khởi tố vụ án [20, tr.271] Trong giai đoạn khởi tố, các cơ quan có thẩm quyền bao gồm: Cơ quan điều tra, Viện kiềm sát và các Cơ quan được giao một số nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra áp dụng các biện pháp cần thiết mà pháp luật quy định để tiến hành hành kiểm tra, xác minh, làm rõ tính xác thực của nguồn tin về tội phạm đã tiếp nhận Khởi tố VAHS với tư cách là một giai đoạn tố tụng hình sự có thời điểm bắt đầu kể từ khi tiếp nhận nguồn tin về tội phạm và kết thúc khi cơ quan có thẩm quyền ra quyết định khởi tố VAHS hoặc quyết định không khởi tố VAHS Thời hạn giải quyết tố giác, tin báo về
10
Trang 16tội phạm, kiên nghị khởi tô tùy thuộc vào tính chât phức tạp của nguôn tin.
Điều tra vụ án hình sự là giai đoạn thứ hai của tố tụng hình sự, bắt đầu sau khi có quyết định khởi tố vụ án hình sự, trong đó cơ quan có thẩm quyền điều tra áp dụng mọi biện pháp do luật định đế xác định tội phạm, người thực hiện hành vi phạm tội và các tình tiết khác làm cơ sở cho việc giải quyết vụ
án Theo từ điển Luật học giải thích: “Điều tra là công tác trong tố tụng hình
sự được tiến hành nhằm xác định sự thật của vụ án một cách khách quan, toàn• • • • • • • 1 7diện và đầy đủ” [21], Nhiệm vụ thu thập chứng cứ trong giai đoạn điều tra chủ yếu do CQĐT thực hiện Chính vì thế trên thực tế có sự nhầm lẫn giữa chức năng THQCT và KSHĐTP của VK.S Có quan điểm cho rằng trong giai đoạn điều tra, VKS chỉ thực hiện chức năng KSHĐTP vì toàn bộ hoạt động thu thập tài liệu chứng cứ do CQĐT thực hiện Quan điểm này là không chính xác, bởi lẽ hoạt động THQCT của VKS là hoạt động nhằm buộc tội như phê chuẩn quyết định khởi tố bị can, đề ra yêu Cầu điều tra hoặc các hoạt động hạn chế quyền nhân của người bị buộc tội như phê chuẩn một số biện pháp ngăn chặn của CQĐT Hoạt K.SHĐTP hướng đến sự tuân thủ pháp luật của CQĐT, đảm bảo CQĐT thực hiện các hoạt động theo quy định của pháp luật
Điều tra VAHS với tư cách là một giai đoạn tố tụng hình sự có thời điếm bắt đầu kể từ khi có quyết định khởi tố VAHS cho đến khi CQĐT chuyển bản kết luận điều tra và toàn bộ hồ sơ, tài liệu sang VKS đề nghị truy tố Tuy nhiên, trong một số trường hợp vì những lý do luật định mà VAHS được đình chỉ hoặc tạm đinh chỉ điều tra thì cũng coi như chấm dứt giai đoạn điều tra
Từ những phân tích, nghiên cứu về quyền công tố, THQCT và giai đoạn
khởi tố, điều tra VAHS nêu trên có thề đưa ra khái niệm: “Thực hành quyền công tố trong giai đoạn khởi tổ, điều tra vụ án hình sự là hoạt động của Viện kiềm sát nhân dãn nhân danh nhà nước thực hiện các hành vi tố tụng cần thiết theo quy định của pháp luật tổ tụng hình sự đê thực hiện việc buộc tội
11
Trang 17đối với người phạm tội được thực hiện từ khi giải quyết nguồn tin về tội phạm
và kết thúc khi kết thúc điều tra đề nghị VKS truy tố (hoặc cho đến khi CQĐT đình chỉ hoặc tạm đình chỉ VAHS)
Trên thực tế, hoạt động THQCT của VKS gặp phải nhiều trở ngại đối với những tội phạm có tính chất phức tạp, một tội phạm có thề do một người thực hiện nhưng cũng có thề do nhiều người thực hiện Khi tội phạm do nhiều người thực hiện, có thể có đồng phạm, cũng có thể chỉ là trường hợp những người thực hiện tội phạm đã hành động trong sự độc lập hoàn toàn với nhau Hiểu rõ về cơ cấu, tính chất, mức độ của tội phạm mới có thể THQCT một cách có hiệu quả vấn đề đặt ra là khi nào có đồng phạm? Và một vụ án hình
sự được coi là có đồng phạm được hiểu như thế nào?
Trước hết, chúng ta cần tìm hiếu về khái niệm vụ án hình sự Thuật ngữ
"vụ án hình sự" mặc dù đã được sử dụng từ rất lâu và tương đối phổ biến
trong hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng nhưng cho đến nay, để hiểu thế nào là một vụ án hình sự thì vẫn có nhiều quan điểm khác nhau Trong khi
đó, trên cả phương diện lý luận và các quy định pháp lý hiện nay ở nước ta cũng chưa có tài liệu nào khái niệm một cách đầy đủ, khúc chiết thế nào là
"vị/ dn hình sự" Trên thực tế, có người cho rằng, vụ án hình sự là những vụ việc xày ra có tính chất hình sự, trong đó có thể có hoặc chưa phát hiện có dấu hiệu của tội phạm Quan niệm này được sử dụng khá phổ biến ngay từ khi các lực lượng nghiệp vụ của ngành công an hoặc các cơ quan tiến hành tố tụng đang thực hiện các biện pháp cần thiết để tiếp nhận, xử lí tin báo ban đầu về một vụ việc có tính chất hình sự, có những thiệt hại vật chất cụ thể đã xảy ra.• • • • z ^2 • • • • JQuan niệm trên là quá rộng, chỉ KTVAHS khi có một số căn cứ: hành vi nguy hiểm cho xã hội, hành vi có lỗi, hành vi được quy định trong Bộ luật hình sự, hành vi đáng bị xử lí bằng hình phạt Từ những phân tích và lập luận nêu trên,
có thế được khái niệm như sau: “TỊ/ án hình sự là những vụ việc có các hành• • • • 0,7 • •
12
Trang 18vi nguy hiêm cho xã hội đã xảy ra, các cơ quan có thăm quyên theo luật định
đã kiểm tra, xác minh xác định sự việc có dấu hiệu tội phạm và đã quyết định khởi tố vụ án hình sự để tiến hành điều tra, giải quyết vụ việc đó theo trình tự của tổ tụng hình sự
Trên cơ sở khái niệm về "vụ án hình sự" như nêu trên, có thề thấy ràng
"vụ án hình sự cỏ đồng phạm" trước hết phải là vụ án hình sự Yếu tố đồng
phạm trong vụ án hình sự được hiểu là tội phạm được thực hiện trong vụ án hình sự đó là tội phạm được thực hiện bằng hình thức đồng phạm Nội dung khái niệm đồng phạm đòi hỏi phải có những dấu hiệu phản ánh mối liên hệ về mặt khách quan và chủ quan giữa những người cùng tham gia thực hiện tội phạm, cụ thể:
- Những dấu hiệu về mặt khách quan: trước hết đồng phạm đòi hỏi có từ
2 người trở lên và những người này có đủ điều kiện của chủ thể của tội phạm Dấu hiệu khách quan thứ hai của đồng phạm là cùng tham gia thực hiện tội phạm
- Những dấu hiệu về mặt chủ quan là sự cùng cố ý của những người tham gia thực hiện một tội phạm Thiếu dấu hiệu cùng cố ý thì mặc dù hành vi của những người phạm tội thoả mãn dấu hiệu khách quan như trình bày ở trên vẫn không có đồng phạm mà chỉ là hình thức nhiều người cùng phạm một tội
Như vậy, mặc dù trong Bộ luật hình sự cũng như các tài liệu pháp luật trong nước chưa có một tài liệu nào đề cập một cách đầy đủ đến khái niệm
"vụ án hình sự có đồng phạm" song qua phân tích những dấu hiệu của một vụ
án hình sự và những dấu hiệu của đồng phạm có thể thấy rằng, một vụ án hình
sự được coi là vụ án hình sự đồng phạm trước hết phải là một vụ án hình sự
và có từ hai người trở lên cố ý cùng thực hiện một tội phạm Từ những phân tích, lập luận nêu trên, có thể được khái niệm như sau: “VAHS có đồng phạm
13
Trang 19là những vụ việc có từ hai trở lên cô ỷ cùng thực hiện hành vi nguy hiêm cho
xã hội đã xảy ra, có dấu hiệu của tội phạm, được các cơ quan có thâm quyền kiểm tra, xác minh và ra quyết định khởi tố VAHS để tiến hành điều tra, truy
tổ, xét xử theo trĩnh tự tố tụng hình sự.
Từ những phân tích, nghiên cứu về quyền công tố, THQCT, giai đoạn khởi tố, điều tra VAHS và VAHS có đồng phạm nêu trên có thể đưa ra khái niệm: “Thực hành quyền công tố trong giai đoạn khởi tố, điều tra vụ án hĩnh
sự có đồng phạm là hoạt động của Viện kiếm sát nhân dân nhân danh nhà nước thực hiện các hành vi tố tụng cần thiết theo quy định của pháp luật tổ tụng hình sự để thực hiện việc buộc tội đối với người bị buộc tội trong vụ án
có hai người trở lên cố ý cùng thực hiện một tôi phạm được thực hiện từ khi giải quyết nguồn tin về tội phạm và kết thúc khi kết thúc điều tra đề nghị VKS truy tố (hoặc cho đến khi CQĐT đình chỉ hoặc tạm đình chỉ VAHS)
1.1.2 Đặc điểm hoạt động thực hành quyền công tố trong giai đoạn khởi tố, điều tra vụ án hình sự có đồng phạm
1.1.2.1 Đặc điểm của vụ án hình sự có đồng phạm
Việc làm rõ đặc điểm vụ án hình sự có đồng phạm sẽ giúp đưa ra được các lưu ý khi thực hành quyền công tố trong các vụ án đồng phạm khác với các vụ án không có đồng phạm, bảo đảm không bỏ lọt tội phạm đồng thời cũng không làm oan người vô tội
Tội phạm xảy ra có thể chỉ do một người thực hiện hoặc cũng có thể do một số người cùng gây ra Trường hợp có nhiều người cố ý cùng thực hiện tội phạm được coi là đồng phạm Trong luật hình sự, đồng phạm được coi là hình thức phạm tội đặc biệt Điều 17 BLHS quy định: “Đồng phạm là trường họp
có hai người trở lên cố ý cùng thực hiện một tội phạm” BLHS phân loại bốn
loại đồng phạm: người thực hành, người tổ chức, người xúi giục và người giúp sức Đồng phạm có thể diễn ra dưới một số hình thức
14
Trang 20Phân loại theo dâu hiệu chủ quan, đông phạm gôm hai hình thức là đông phạm không có thông mưu trước và đồng phạm có thông mưu trước Đồng phạm không có thông mưu trước là hình thức đồng phạm trong đó không có
sự thoả thuận, bàn bạc trước với nhau về tội phạm mà họ cùng thực hiện Đồng phạm có thông mưu trước là hình thức đồng phạm, trong đó những người đồng phạm đã có sự thoả thuận bàn bạc trước với nhau
Phân loại theo dấu hiệu khách quan, đồng phạm được chia thành hai hình thức là đồng phạm giản đơn và đồng phạm phức tạp Đồng phạm giản đơn là hình thức đồng phạm trong đó những người cùng tham gia vào vụ phạm tội đều giữ vai trò là người thực hành Đồng phạm phức tạp là hình thức đồng phạm trong đó những người đồng phạm giữ các vai trò khác nhau
Phạm tội có tổ chức là hình thức đồng phạm có sự câu kết chặt chẽ giữa những người cùng thực hiện tội phạm Luật hình sự Việt Nam xác định có 2 hình thức đồng phạm là phạm tội có tố chức (đồng phạm có tổ chức) và đồng phạm bình thường (các trường họp đồng phạm khác) Đặc điểm có sự câu kết chặt chẽ của đồng phạm có tố chức vừa thể hiện mức độ liên kết về mặt chủ quan vừa thể hiện mức độ phân chia vai trò, nhiệm vụ cụ thể về mặt khách quan của những người đồng phạm Trong đồng phạm có tổ chức, giữa những người đồng phạm vừa có sự liên kết chặt chẽ với nhau vừa có sự phân chia vai trò, phân công nhiệm vụ tương đối rõ rệt
Với khái niệm tác già đã nêu ở trên, một VAHS có đồng phạm bao gồm những đặc điểm sau:
Thứ nhất, đặc điểm về số người thực hiện hành vì:
Đây là đặc điểm khách quan dễ nhận biết nhất và cũng là đặc điểm đầu tiên để các cơ quan có thẩm quyền xác định đây có phải VAHS có đồng phạm hay không Một VAHS có đồng phạm đòi hỏi phải có ít nhất hai người trở lên cùng tham gia có đủ điều kiện chủ thể của tội phạm (có năng lực TNHS bao
15
Trang 21gôm: năng lực nhận thức, năng lực hành vi và đủ tuôi chịu TNHS) Vì vậy, một VAHS xảy ra mà chỉ có một người thực hiện hành vi phạm tội thì không đặt ra vấn đề đồng phạm trong VAHS đó.
Như vậy, đặc điểm đầu tiên của VAHS có đồng phạm phải có ít nhất hai người trở lên (có đủ năng lực TNHS) cùng tham gia thực hiện hành vi phạm tội
Thứ hai, đặc điểm về cùng tham gia thực hiện tội phạm:
Trong VAHS có đồng phạm, người đồng phạm phải tham gia thực hiện tội phạm với một trong bốn hành vi: người thực hành, người tồ chức, người xúi giục và người giúp sức Một vụ án hình sự có thể có đầy đủ bốn hành vi nêu trên cũng có thể chỉ có một loại hành vi Hành vi của mỗi người được thực hiện không biệt lập nhau mà trong sự liên kết với nhau, hành vi của người này hỗ trợ, bổ sung cho hành vi cùa người khác và người lại, hành vi phạm tội của mồi người đều nằm trong hoạt động phạm tội của cả nhóm, với mục đích chung là đạt được kết quả thực hiện tội phạm Vì vậy, sẽ không được coi là đồng phạm khi một số người đã cùng thực hiện một tội phạm và cùng một thời gian, nhưng giữa những người này không có sự bàn bạc, liên
hệ, ràng buộc, hồ trợ nhau mà hành vi của từng người đều được thực hiện độc lập [15, tr.25-27]
77uí' ba, đặc điểm về lỗi:
về lí trí: Mồi người đồng phạm đều biết hành vi của mình và những người đồng phạm khác gây nguy hiểm cho xã hội Nếu người đồng phạm chỉ biết hành vi của mình mà không biết hành vi của những người gây nguy hiểm cho xã hội thì không đặt ra vấn đề đồng phạm
về ý chí: Những người đồng phạm cùng mong muốn có hoạt động chung
và cùng mong muốn hoặc cùng có ý thức để mặc cho hậu quả thiệt hại xảy ra Những trường hợp không mong muốn có sự liên kết hành vi để cùng gây ra
16
Trang 22hậu quả thiệt hại chỉ là trường hợp phạm tội riêng lẻ thì không đặt ra vân đê đồng phạm.
Như vậy, trong VAHS có đồng phạm, lồi của những người đồng phạm là lỗi cố ý, có thể là cố ý trực tiếp và cố ý gián tiếp Điều này có nghĩa nếu trong một VAHS xác định lỗi vô ý thì không đặt ra vấn đề đồng phạm
Thứ tư, đặc điểm về hậu quả trong VAHS có đồng phạm.
Khác với với các tội phạm thông thường, đồng phạm là hình thức phạm tội đặt biệt So với tội phạm do một người thực hiện, đồng phạm thường có tính chất nguy hiểm hơn bởi lẽ trong VAHS có đồng phạm có sự tập trung sức lực, trí tuệ, sự phối hợp, tương hỗ trợ lẫn nhau giữa những người đồng phạm với nhau và thường gây ra hậu quả, thiệt hại nghiêm trọng hơn
Thứ năm, đặc điểm về TNHS trong VAHS có đồng phạm.
Trong VAHS có đồng phạm, những người đồng phạm phải chịu trách nhiệm chung về toàn bộ tội phạm, theo nguyên tắc này, luật hình sự Việt Nam xác định tất cả những người đồng phạm đều bị truy tố, xét xứ về cùng tội danh, theo cùng điều luật và trong phạm vi chế tài điều luật ấy quy định Tuy nhiên TNHS là trách nhiệm cá nhân nên việc xác định TNHS cho từng người đồng phạm vẫn phải dựa trên cơ sở hành vi cụ thể của mồi người Vì thế luật hình sự Việt Nam xác định nguyên tắc thứ hai: người đồng phạm không phải chịu trách nhiệm về hành vi vượt quá của người đồng phạm khác Hành vi vượt quá của người đồng phạm khác là hạnh vi nằm ngoài ý định chung cùa những người đồng phạm
Như vậy việc xem xét TNHS trong VAHS phải dựa vào các nguyên tắc
để có thể xác định đúng đắn và hành vi, mức độ nguy hiểm của từng người đồng phạm để đưa ra mức hình phạt tương ứng
1.1.2.2 Đặc điếm của hoạt động thực hành quyền công tố trong giai đoạn khởi tố vụ án hình sự có đồng phạm
17
Trang 23THQTC trong giai đoạn khởi tô vụ án có đông phạm có những đặc điêm chung, cơ băn của hoạt động THQCT nói chung và những đặc điểm riêng khác biệt.
Thứ nhất, giai đoạn khởi tố VAHS nói chung và khởi tố VAHS có đồng
phạm nói riêng là giai đoạn đầu tiên của tố tụng hình sự, được thực hiện từ khi tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm và kết thúc khi ra quyết định khởi tố hoặc không khởi tố vụ án hình sự Chính vì thời điểm bắt đầu giai đoạn khởi tố kể từ khi tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm nên trong thực tiễn THQCT các cơ quan tố tụng thường gọi giai đoạn khởi tố với tên gọi khác là giai đoạn tin báo Thời hạn của giai đoạn khởi tố hay nói cách khác thời hạn giai đoạn giải quyết tin báo VAHS có đồng phạm cũng giống như các VAHS thông thường mà không phụ thuộc vào tính chất, mức độ, số lượng các đối tượng tham gia Tuy nhiên, vì tính chất phức tạp và nhiều đối tượng tham gia thực hiện hành vi phạm tội nên thời hạn thực tế đế giải quyết VAHS
có đồng phạm sẽ dài hơn VAHS thông thường
Thứ hai, về chủ thể tiến hành Trong giai đoạn KTVAHS nói chung và
KTVAHS có đồng phạm nói riêng có sự tham gia, xuất hiện của nhiều cơ quan tiến hành tố tụng, có thể kể đến như CQĐT, VKS, một số cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra Những cơ quan này trên
cơ sở kiểm tra, xác minh dấu hiệu về tội phạm sẽ ra quyết định khởi tố hoặc không khởi tố VAHS Tuy nhiên để nói về hoạt động THQCT trong giai đoạn KTVAHS chỉ thuộc về cơ quan duy nhất là VKS, đây là chức năng hiến định Các hoạt động của cơ quan tiến hành tố tụng khác trong giai đoạn KTVAHS
là những hoạt động phát động quyền công tố và bổ trợ cho hoạt động THQCT của VKS
Thứ ba, nhiệm vụ quan trọng cua giai đoạn KTVAHS có đồng phạm là
xác định có hay không có dấu hiệu của tội phạm, với mục đích này, trong hoạt
18
Trang 24động THQCT ở giai đoạn KTVA, VKS thực hiện một sô nhiệm vụ quyên hạn pháp luật quy định như phê chuẩn, không phê chuẩn, hủy bỏ một số quyết định
Thử tư, về mối quan hệ giữa VKS và CQĐT trong hoạt động THQCT
giai đoạn KTVAHS có đồng phạm bao gồm mối quan hệ phối hợp và chế ước Khi tiến hành tố tụng hình sự, Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát vừa tiến hành các hoạt động tố tụng độc lập, vừa có mối quan hệ trong từng chế định tố tụng Trong giai đoạn KTVAHS, Cơ quan điều tra có chức năng, nhiệm vụ phát hiện tội phạm, khởi tố, điều tra vụ án hình sự, còn Viện kiểm sát có chức năng, nhiệm vụ thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động điều tra vụ án hình sự, bảo đám hoạt động điều tra vụ án hình sự đúng người, đúng tội và đúng pháp luật Do vậy, Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát không chỉ có mối quan hệ trong từng chế định tố tụng hình sự cụ thế mà sự phối hợp xuyên suốt toàn bộ quá trình tố tụng từ khi phát hiện tội phạm đến khi kết thúc điều tra vụ án hình sự
Trong VAHS có đồng phạm thì mối quan hệ giữa VKS và CQĐT trong hoạt động THQCT giai đoạn KTVAHS càng phải thực hiện một cách có hiệu quả để làm tiền đề cho việc giải quyết vụ án sau này
1.1.2.3 Đặc điểm của hoạt động thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự có đồng phạm
Những đặc điểm chung, cơ bản của hoạt động THQCT trong giai đoạn điều tra VAHS có đồng phạm như sau:
77/ý' nhất, giai đoạn điều tra VAHS nói chung và điều tra VAHS có đồng
phạm nói riêng là giai đoạn thứ hai của tố tụng hình sự, được thực hiện từ khi
có quyết định khởi tố vụ án và kết thúc khi kết thúc điều tra đề nghị VKS truy
tố (hoặc cho đến khi CQĐT đình chỉ hoặc tạm đình chỉ điều tra)
Hoạt động THQCT đối với VAHS có đồng phạm trong cả hai giai đoạn
19
Trang 25khởi tô, điêu tra luôn găn với quan điêm, đường lôi chì đạo cũa Đảng vê phòng chống tội phạm trong tình hình mới, nhất là tội phạm có tổ chức, mafia, tội phạm xuyên quốc gia và tội phạm hoạt động băng nhóm theo kiểu
“xã hội đen
Thứ hai, về chủ thể tiến hành, cũng như các giai đoạn khác, hoạt động
THQCT ở giai đoạn điều tra chỉ do VKS tiến hành Từ sau khi CQĐT, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra KTVAHS là lúc nhà nước chính thực công khai trước toàn xã hội có tội phạm xảy ra và bắt đầu triển khai các hoạt động truy cửu TNHS đối với người đã thực hiện tội phạm đó Chỉ có VKS mới là cơ quan có quyền chấp nhận hoặc không chấp nhận quyết định KTVAHS cúa cơ quan có thấm quyền, có quyền yêu cầu CQĐT tiến hành điều tra thu thập tài liệu, chứng cứ để làm rõ tội phạm xảy ra [23, tr 13-14]
Thực tiễn cho thấy, các vụ án hình sự có đồng phạm xảy ra ờ hầu hết các loại tội phạm cố ý và các lĩnh vực khác nhau trong đời sống xã hội; đối tượng tham gia phạm tội đông người, hành vi phạm tội của mồi bị can cũng có tính chất, mức độ khác nhau Do đó, vai trò của kiểm sát viên càng được thể hiện
rõ ràng kiểm sát viên có kiến thức vững về pháp luật, nấm chắc đường lối, chính sách hình sự cùa Đảng, Nhà nuớc; có kiến thức, hiểu biết rộng ở các lình vực khác, có khả năng tổng hợp, phân tích logic mới đánh giá khái quát
và xác định vai trò, trách nhiệm của từng bị can trong vụ án Trên cơ sở đó, vận dụng linh hoạt, sáng tạo các biện pháp nghiệp vụ trong thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra đối với loại án này
Thứ ba, nếu như giai đoạn K.TVAHS là giai đoạn tiền đề, định hướng lập
ra kế hoạch điều tra thì giai đoạn điều tra VAHS là giai đoạn mang ý nghĩa vô cùng quan trọng nhằm thu thập các tài liệu chứng cứ và làm sáng tỏ sự thật khách quan của vụ án Tội phạm được thực hiện dưới hình thức đồng phạm là
20
Trang 26những tội phạm có nhiêu người tham gia (từ hai người trở lên) và là những tội phạm được thực hiện bằng lồi cố ý Do vậy, luôn có sự bàn bạc, tính toán chặt chẽ từ việc chuẩn bị cho đến các bước thực hiện hành vi phạm tội, khả năng che dấu tội phạm thường tinh vi hơn những trường hợp phạm tội riêng lẻ Do
đó, phát hiện sớm dấu hiệu của yếu tố đồng phạm trong vụ án là hết sức quan trọng, nó giúp cho cơ quan tiến hành tố tụng sớm định hướng và có kế hoạch điều tra sát, đúng với yêu cầu của vụ án Trong giai đoạn điều tra VAHS có đồng phạm, VKS thực hiện một số nhiệm vụ quyền hạn pháp luật quy định để đảm bảo việc giải quyết vụ án một cách có hiệu quả
Thứ tư, mối quan hệ phối hợp và chế ước giữa VKS và CQĐT Cũng
giống như trong giai đoạn K.TVAHS VKS và CQĐT có mối quan hệ với nhau trong thực hiện từng hoạt động nhiệm vụ của mình
1.2 Nội dung Thục hành quyền công tố trong giai đoạn khỏi tố, điều tra các vụ án hình sự có đồng phạm
Như đã phân tích ở trên, THQCT là một chức năng hiến định của VKS Nội dung THQCT trong VAHS nói chung và VAHS có đồng phạm nói riêng được thực hiện thông việc thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn của VKS khi THQCT Đó là việc sử dụng tất cả những quyền năng tố tụng nhằm bảo đảm phát hiện kịp thời, xử lý nghiêm minh mọi hành vi phạm tội đồng thời phải đáp ứng yêu cầu không bỏ lọt tội phạm và người phạm tội, không làm oan người vô tội Trên thực tế, nội dung hoạt động THQCT của VKS dễ bị nhầm lẫn với các hoạt động kiểm sát hoạt động tư pháp Việc xác định rõ ràng, cụ thể nội dung của hoạt động THQCT là cơ sờ để thực hiện có hiệu quả chức năng này Với những lý luận về quyền công tố và nội dung THQCT đã phân tích, VKS sẽ thực hiện các hoạt động hướng tới hai mục đích chủ yếu thuộc nội dung của quyền công tố là: Nhóm các hoạt động THQCT nhằm buộc tội chủ thể thực hiện hành vi phạm tội và nhóm hoạt động THQCT nhằm không
21
Trang 27làm oan người vô tội.
Hoạt động THQCT nhằm thực hiện việc buộc tội của VKS diễn ra xuyên suốt từ giai đoạn khới tố, điều tra, truy tố, xét xử Hoạt động buộc tội của VKS được thể hiện rõ ràng và mạnh mẽ nhất là việc VKS ra bản cáo trạng đề nghị truy tố người phạm tội và bản luận tội tại phiên tòa xét xử Trong phạm
vi giai đoạn khởi tố, điều tra VKS thực hiện các hoạt động buộc tội gồm: Phê chuẩn quyết KTBC, quyết định thay đổi, bồ sung quyết định KTBC, phê chuấn việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn, phê chuấn các quyết định của CQĐT, Cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, gia hạn quyết định tạm giữ VKS cũng có thể trực tiếp ra quyết định KTVA, KTBC, quyết định thay đổi, bồ sung, trực tiếp ra quyết định áp dụng biện pháp ngăn chặn đối với người bị buộc tội
Trong VAHS có đồng phạm, hoạt động THQCT nhằm buộc tội người thực hiện hành vi phạm tội của VKS phức tạp và chiếm nhiều thời gian hơn
so với các vụ án không có đồng phạm Trong vụ án đồng phạm, các chú thể thực hiện hành vi phạm tội thực hiện các hành vi trên thực tế có tính chất• • 1 • • • • • nguy hiềm cho xã hội khác nhau, thậm chí có những chủ thể thực hiện hành vi khác chưa được thoả thuận, thống nhất với người khác cùng thực hiện tội phạm, có chủ thể tự ý nửa chừng không thực hiện hành vi phạm tội cùng các chủ thể khác Vì vậy, khi THQCT tại giai đoạn khởi tố, đặc biệt trong giai đoạn điều tra cần có bảo đảm có sự kiểm tra, đánh giá, phân hoá hành vi cùa từng cá nhân trong vụ án để ban hành quyết định tố tụng nói trên có căn cứ
Ngoài hoạt động phê chuẩn các quyết định, VKS đề ra yêu cầu kiểm tra xác minh, yêu cầu điều tra yêu cầu các cơ quan có thẩm quyền thực hiện là Thông qua hoạt động đề ra yêu cầu kiểm tra, yêu cầu điều tra VKS truyền đạt ý chí chủ quan đối với việc buộc tội và yêu cầu các cơ quan thực hiện VKS cũng có thể yêu cầu CQĐT thực hiện một số hoạt động KTVA, KTBC và các hoạt động
22
Trang 28khác khi cân thiêt Hoạt đông đê ra yêu câu của VKS trong VAHS có đông phạm giữ vai ưò quan trọng, định hướng cho việc điều tra, thu thập chứng cứ về hành vi phạm tội, tính chất mức độ tham gia cua từng người đồng phạm, giúp cho việc điều tra nhanh chóng kịp thời đáp ứng thời hạn tố tụng.
Các hoạt động THQCT nhằm không làm oan người vô tội bảo đảm hướng tới xác định sự thật khách quan của vụ án Không làm oan người vô tội không chỉ là mục đích mà riêng VKS hướng tới, đây còn là mục đích của các ngành tố tụng và cả hệ thống pháp luật thế hiện tính nhân đạo Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ quyền hạn, VKS thực hiện một sổ hoạt động: không phê chuẩn quyết định KTBC, quyết định thay đổi, bổ sung quyết định KTBC, không phê chuẩn các quyết định áp dụng biện pháp ngăn chặn, không phê chuẩn một số quyết định khác của CQĐT, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra Bên cạnh việc không phê chuẩn, VKS có thể hủy bỏ quyết định KTVA, quyết định KTBC, các quyết định không có căn cứ Việc không phê chuẩn và hủy bỏ các quyết định thể hiện ý kiến không nhất trí của VKS đối với các quyết định tố tụng của cơ quan có thẩm quyền Thông qua hoạt động không phê chuẩn, hủy bỏ của mình VKS bảo vệ cho quyền lợi hợp pháp cho những người phạm tội không đế họ bị oan, sai
Trong VAHS có đồng phạm những hoạt động không làm oan người vô tội càng được thực hiện nhiều vì có nhiều người tham gia Nhiều trường hợp tính chất mức độ hành vi của những người cùng tham không đáng kể chưa đến mức phải áp dụng những biện pháp ngăn chặn nghiêm khắc đối với họ Nghiêm trọng hơn nữa có những trường hợp hành vi của những người tham gia thực hiện hành vi chưa cấu thành tội phạm nhưng CQĐT vẫn ra quyết định KTBC và áp dụng các biện pháp điều tra đối với họ VKS cần xem xét kĩ lưỡng, đánh giá mức độ vai trò của từng người đồng phạm, qua đó thực hiện những hoạt động của mình chính xác, đúng pháp luật
23
Trang 29Bên cạnh các hoạt động không phê chuân, hủy bỏ quyêt định không có căn cứ, VKS trực tiếp giải quyết tin báo, tố giác, kiến nghị khởi tố, trực tiếp thực hiện một số hoạt động điều tra khi xét thấy quá trình điều tra của cơ quan
có thấm quyền vi phạm pháp luật hoặc có dấu hiệu oan sai, bỏ lọt tội phạm Việc VKS trực tiếp thực hiện các hoạt động là cần thiết nhất là đối với VAHS
có đồng phạm mang tính chất nghiêm trọng, phức tạp
Các hoạt động THQCT trong giai đoạn khởi tố, điều tra của VKS nêu trên dù hướng tới mục tiêu cụ thế nào cũng có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Hoạt đồng nhằm mục đích buộc tội là căn cứ, cơ sở đảm bảo cho việc pháp luật được thực hiện minh bạch, chính xác không làm oan người vô tội và ngược lại để không làm oan người vô tội thì hoạt động buộc tội phải có căn
tố, điều tra VAHS khi thực hiện những hành vi và ra một số quyết định Mối quan hệ này được thể hiện:
Thứ nhất, Viện kiểm sát phải kiểm tra chặt chẽ tính có căn cử và tính
hợp pháp của các biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế được áp dụng áp dụng, hoạt động này chính là thực hiện chức năng kiểm sát các hoạt động tư
24
Trang 30pháp VKS chỉ quyêt định phê chuân đê thi hành khi xét thây quyêt định áp dụng các biện pháp ngăn chặn và biện pháp cưỡng chế có cơ sở, ngược lại nếu xét thấy quyết định áp dụng các biện pháp ngăn chặn và biện pháp cưỡng chế của CQĐT không có căn cứ và không hợp pháp, VKS sẽ quyết định không phê chuẩn hoặc quyết định huỷ bở quyết định tố tụng trái pháp luật của CQĐT, đồng thời yêu cầu CQĐT chấm dứt ngay các hoạt động tố tụng Trong VAHS có đồng phạm thì mối quan hệ giữa 02 chức nay của VKS càng trở nên
rõ nét Việc sừ dụng 02 chức năng của mình đế quyết định việc áp dụng các biện pháp cưỡng chế tố tụng giúp việc giải quyết vụ án hiệu quả hơn Áp dụng biện pháp ngăn chặn phù hợp với từng người đồng phạm trong vụ án hình sự báo đảm nguyên tắc tôn trọng quyền con người, quyền và lợi hợp pháp của cá nhân trong tố tụng hình sự
Thứ hai, Việc thực hiện công tác kiểm sát các hoạt động tư pháp làm cơ
sở, tiền đề cho hoạt động THQCT có hiệu quả, chính xác, nếu có sai sót, vi phạm trong việc thực hiện kiểm sát các hoạt động tư pháp trong giai đoạn khới tố, điều tra sẽ kéo theo sự vi phạm pháp luật của hoạt động THQCT Tuy nhiên, trong giai đoạn khởi tố, điều tra khi hoạt động THQCT của VKS được thực hiện cũng sẽ làm tiền đề phát sinh hoạt động kiểm sát
r/iỉí- ba, THQCT và kiểm sát hoạt động tư pháp là hai chức năng của VKSND được hiến pháp và pháp luật quy định, THQCT và kiểm sát hoạt động tư pháp đều do duy nhất một chủ thể thực hiện là VKSND mà người trực tiếp tiến hành là Viện trưởng, Phó Viện trưởng, Kiếm sát viên, Kiểm tra viên các cấp của VKS Hoạt động THQCT và Kiểm sát hoạt động tư pháp đều được thực hiện theo nguyên tắc thủ trưởng chế - tập trung thống nhất lãnh đạo trong ngành kiểm sát mà người đứng đầu là viện trưởng Trong VAHS có đồng phạm thì vai trò của người thủ trưởng càng trở nên rõ nét Các VAHS có đồng mang tính chất phức tạp đòi hởi người thủ trưởng, cụ thể ở đây là Viện
25
Trang 31trưởng VKS cân sáng suôt đưa ra những đường lôi, định hướng cụ thê cho KSV trực tiếp giải quyết vụ án.
26
Trang 32KẼT LUẬN CHUÔNG 1
Nghiên cứu dưới góc độ lý luận chuyên ngành, luận văn đã khái quát được những vấn đề lý luận cơ bản để xây dựng khái niệm quyền công tố, thực hành quyền công tố, vụ án hình sự có đồng phạm và khái niệm thực hành quyền công tố trong giai đoạn khởi tố, điều tra vụ án hình sự có đồng phạm, đồng thời làm rõ mối quan hệ giữa thực hành quyền công tố và kiểm sát việc khởi tố, kiểm sát điều tra vụ án hình sự có đồng phạm Đây là những vấn đề lý luận rất cơ bản mà trong khoa học pháp lý Việt Nam vẫn còn nhiều ý kiến tranh luận khác nhau
Đặc biệt, luận văn đã đề cập và làm rõ một số đặc điểm của vụ án hình
sự có đồng phạm, giai đoạn khởi tố, điều tra vụ án hình sự có đồng phạm, hoạt động động thực hành quyền công tố trong giai đoạn khởi tố, điều tra vụ
án hình sự có đồng phạm Trên cơ sở đó, xây dựng các giải pháp nâng cao chất lượng thực hành quyền công tố trong giai đoạn khởi tố, điều tra các vụ án hình sự có đồng phạm trong giai đoạn khởi tố, điều tra ở địa bàn toàn tỉnh Và đây cũng là tiền đề quan trọng để đảm bảo hiệu quả cho việc THQCT trong các giai đoạn tiếp theo truy tố, xét xử
27
Trang 33trong việc giải quyết nguồn tin về tội phạm
Thực tiễn đấu tranh, phòng chống tội phạm nói chung và tội phạm có đồng phạm nói riêng cho thấy, hành vi phạm tội có thể xảy ra bất kỳ thời gian nào và bất cứ ở đâu Chính vì vậy, CQĐT và Viện kiểm sát không thể trực tiếp nắm bắt được tất cả các vụ việc có tính chất hình sự xảy ra mà phải thông qua các nguồn tin về tội phạm Viện kiểm sát còn có trách nhiệm tiếp nhận đầy đủ mọi tố giác, tin báo về tội phạm do cá nhân, cơ quan, tổ chức và kiến nghị khởi tố do cơ quan Nhà nước chuyến đến Do vậy, vai trò của Viện kiếm sát là rất quan trọng, là cơ quan đảm bảo việc tố giác của công dân, cơ quan,
tố chức được thực hiện đúng tuân theo quy định của pháp luật
Hoạt động thực hành quyền công tố trong việc giải quyết nguồn tin về tội phạm trong vụ án có đồng phạm về cơ bản cũng giống với vụ án thông thường không có đồng phạm, tuy nhiên vì số lượng và tính chất phức tạp hơn những vụ án thông thường nên khi THQCT việc giải quyết nguồn tin về tội phạm trong vụ án có đồng phạm có một số điểm riêng biệt Khi thực hành quyền công tố trong việc giải quyết nguồn tin về tội phạm Viện kiểm sát tiến hành các hoạt động theo quy định tại Điều 159 BLTTHS năm 2015 và bao gồm các hoạt động sau để thực hiện các nhiệm vụ quyền hạn luật định:
Co' quan được giao nhiệm vụ tiến hành một so hoạt động điều tra.
28
Trang 34- Phê chuân, không phê chuân lệnh hăt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp.
Việc bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp ảnh hưởng trực tiếp đến quyền con người và quyền công dân của người bị bắt Vì thế pháp luật tố tụng hình sự quy định những căn cứ nhất định để thực hiện biện pháp bắt người bị giữ Đối với vụ án hình sự có đồng phạm xảy ra, căn cứ "người cùng thực
hiện tội phạm hoặc bị hại hoặc người cỏ mặt tại nơi xảy ra tội phạm chính •• 1 • • • • • • JL • mắt nhìn thấy và xác nhận đúng là người đã thực hiện tội phạm xét thấy cần ngăn chặn ngay việc người đó trốn” thường được áp dụng phồ biến để giữ
người Đặc thù vụ án hình sự có đồng phạm có nhiều cùng người cùng tham gia, vì thế sự chứng kiến của đồng phạm này sẽ trở thành căn cứ giữ người đối với đồng phạm kia và ngược lại
Trường hợp qua nghiên cứu hồ sơ, chưa đủ căn cứ để giữ người trong trường hợp khẩn cấp hoặc có dấu hiệu lạm dụng việc giữ người, Kiểm sát viên phải trực tiếp hởi người bị giữ trước khi báo cáo, đề xuất lãnh đạo đơn
vị, lãnh đạo Viện xem xét, quyết định việc phê chuẩn Trong vụ án hình sự có đồng phạm, việc Kiểm sát viên trực tiếp hỏi người bị giữ là rất cần thiết, vừa
để đảm bảo các căn cứ giữ người đồng thời nắm chắc nội dung vụ việc, vai loại vai trò, mức độ tham gia của từng người đồng phạm trong vụ án, làm tiền
đề cho các hoạt động THQCT tiếp theo Trường hợp VKS quyết định không phê chuẩn lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp thì người đã ra lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp, CQĐT đã nhận người bị giừ trong trường hợp khẩn cấp phải trà tự do ngay cho người bị giữ
- Phê chuẩn, không phê chuẩn quyết định gia hạn tạm giữ.
Điều 117 BLTTHS quy định về việc tạm giữ Theo đó, tạm giữ có thể áp dụng trong một số trường hợp như: đối với người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người phạm tội tự thú, đầu thú hoặc đối với người bị bắt theo quyết
29
Trang 35định truy nã hoặc người bị băt quả tang Theo quy định tại Điêu 118 BLTTHS, thời hạn tạm giữ không quá 03 ngày Sau 03 ngày nếu cần thiết phải tiếp tục tạm giữ thì CQĐT gia hạn quyết định tạm giữ và phải được VKS phê chuẩn VKS chỉ gia hạn tạm giữ khi thấy có căn cứ và cần thiết, nếu thấy không cần thiết thì VKS không phê chuẩn, trường hợp này CQĐT phải trả tự
do ngay cho người bị tạm giữ Trường hợp VK.S đã phê chuẩn quyết định gia hạn tạm giữ lần thứ nhất nhưng không phê chuẩn quyết định gia hạn tạm giữ lần thứ 2 thì VKS ra quyết định trả tự do và áp dụng biện pháp ngăn chặn khác phù hợp với tính chất, mức độ của hành vi
Trong các vụ án hình sự có đồng phạm, vì tính chất phức tạp và nhiều đối tượng tham gia hơn so với những vụ án hình sự thông thường, thời hạn tạm giữ chỉ trong 3 ngày vì thế việc gia hạn tạm giữ tương đối phổ biến để có thêm thời gian xác minh, điều tra Viện kiểm sát cần nghiên cứu, theo dõi chặt chẽ hồ sơ vụ án đế thực hiện đúng các quy định của pháp luật và không làm ảnh hưởng đến các quyền lợi của người bị tạm giữ
- Phê chuẩn, không phê chuẩn một số hoạt động khác.
Một số hoạt động VKS phê chuẩn, không phê chuẩn có thể kể tới một số biện pháp như khám xét người, khám xét chỗ ở, nơi làm việc, địa điểm, phương tiện, thu giữ phương tiện điện tử, dữ liệu điện tử, thu giữ thư tín, điện tín, bưu kiện, bưu phẩm tại cơ quan, tồ chức Riêng đối với trường hợp khám xét khẩn cấp thì CỌĐT vẫn tiến hành và trong thời hạn 24 giờ kể từ khi khám xét xong, CQĐT phải thông báo bằng văn bản cho VKS có thẩm quyền THQCT và kiểm sát điều tra Các biện pháp ngăn chặn kể trên đều tác động trực tiếp đến quyền con người, quyền công dân của đối tượng bị áp dụng Vì thế cần có sự phê chuẩn của VKS trước khi thi hành Khi nghiên cửu hồ sơ, các kiểm sát viên, kiểm tra viên cần kiểm tra đầy đủ tính đúng đắn về thẩm quyền, căn cứ của các biện pháp ngăn chặn từ đó đề xuất tới lãnh đạo Viện
30
Trang 36nhăm mục địch không làm oan, bỏ lọt người phạm tội.
2.1.1.2 Hủy bỏ các quyết định không có căn cứ hoặc trái pháp luật của Co’ quan điều tra, Cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một so hoạt động điều tra.
- Hủy bỏ quyết định tạm giữ
Việc hủy bỏ quyết định tạm giữ được quy định tại khoản 4 Điều 117 BLTTHS và Điều 16 Quy chế THQCT và KSĐT Theo đó, trong thời hạn 12 giờ kể từ khi ra quyết định tạm giữ, người ra quyết định tạm giữ phải gửi quyết định tạm giữ kèm theo các tài liệu làm căn cứ tạm giữ cho VKS VKS hủy bỏ quyết định tạm giữ của CQĐT khi xét thấy không cần thiết và không
có căn cứ, trường hợp này người ra quyết định tạm giữ phải trâ tự do ngay cho người bị tạm giữ Trong vụ án có đồng phạm, có thể tạm giữ đồng thời nhiều người đồng phạm Tùy thuộc vào tính chất mức độ phạm tội, vai trò tham gia của từng người đồng phạm mà áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ đối với từng đối tượng khác nhau
- Hủy bỏ quyết định khởi tố VAHS.
Theo quy định tại Điều 161 BLTTHS, Khi THQCT trong việc khởi tố VAHS, Viện kiểm sát có quyền hủy bỏ quyết định khởi tố VAHS VKS kiểm sát tính có căn cứ và hợp pháp của quyết định khởi tố VAHS, khi thấy quyết định khởi tổ VAHS không có căn cứ thì trao đổi với CQĐT hủy bỏ quyết định
đó trước tự mình ra quyết định hủy bở quyết định khởi tố VAHS trong trường hợp không thống nhất được và CQĐT không nhất trí
- Hủy bở quyết định không khởi tố VAHS.
Tương tự như việc hủy bở quyết định khởi tố VAHS, đối với quyết định không khởi tố VAHS, khi xét thấy không có căn cứ ra quyết định, VKS trao đối đề nghị với CQĐT trước khi tự mình ra quyết định hủy bở
- Hủy bô quyết định tạm đình chi giải quyết nguồn tin về tội phạm và các
31
Trang 37quyêt định tô tụng khác trái pháp luật của CQĐT, Cơ quan được giao nhiệm
vụ tiến hành một số hoạt động điều tra.
Chế định tạm đình chỉ việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố được quy định tại Điều 148 BLTTHS là điểm mới so với BLTTHS 2003 Theo đó căn cứ tạm đình chỉ việc giải quyết nguồn tin bao gồm: khi cơ quan có thẩm quyền đã trưng cầu giám định, yêu cầu định giá tài sản, tương trợ từ pháp nhưng đang trong thời gian chờ chưa có kết quả và trường hợp chờ cơ quan, tố chức cá nhân cung cấp đồ vật tài liệu chưa có kết quả VKS húy bở quyết định tạm đình chỉ và ra quyết định khởi tố VAHS hoặc không khởi tố VAHS khi quyết định tạm đình chỉ không có căn cứ
Việc hủy bỏ các quyết định tố tụng trái pháp luật của CQĐT, Cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra cũng tương tự việc hủy bỏ các quyết định nêu trên Việc hủy bỏ các quyết định tố tụng trái pháp luật thể hiện vai trò của Viện kiểm sát trong công tác THQCT và kiểm sát việc ra các quyết định tố tụng, đảm bảo tính hợp pháp, có căn cứ của các quyết định tố tụng do cơ quan có thẩm quyền ban hành
2.1.1.3 Khi cần thiết, Viện kiểm sát đề ra yêu cầu kiểm tra, xác minh và yêu cầu cơ quan có thẩm quyền giải quyết về nguồn tin về tội phạm thực hiện.
Trong vụ án có đồng phạm mang tính chất phức tạp, tinh vi xảo quyệt so với những vụ án thông thường Việc VKS đề ra yêu cầu kiểm tra, xác minh nguồn tin về tội phạm là rất cần thiết để định hướng cho việc điều tra, xác minh Bản yêu cầu, kiểm tra xác minh thể hiện ý chí, quan điểm của Kiểm sát viên trong quá trình kiểm sát việc giải quyết nguồn tin về tội phạm, thể hiện năng lực, trình độ, bản lĩnh, nẳm chắc hồ sơ vụ việc và bám sát tiến độ kiểm tra, xác minh của Kiếm sát viên trong việc yêu cầu thu thập chứng cứ, được lưu vào hồ sơ nguồn tin về tội phạm và hồ sơ kiểm sát Bản yêu cầu kiểm tra,
32
Trang 38xác minh chât lượng sẽ góp phân cho kêt quả giải quyêt nguôn tin vê tội phạm đảm bảo tính có căn cứ và tính hợp pháp, không để xảy ra oan, sai cho các giai đoạn tố tụng sau, góp phần tích cực cho Điều tra viên kiểm tra, xác minh đúng trọng tâm, đẩy nhanh được tiến độ giải quyết vụ việc Yêu cầu kiểm tra, xác minh nguồn tin về tội phạm trong giai đoạn tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm được quy định tại khoản 2 Điều 159 BLTTHS và tại Điều 41 quy chế THQCT và KSĐT về nguyên tắc, yêu cầu kiểm tra xác minh phải được thực hiện bằng hình thức văn bản Tuy nhiên trong mối quan hệ phối hợp giữa Kiểm sát viên và điều tra viên một số yêu cầu kiểm tra xác minh có thể thực hiện bằng miệng thông qua việc trao đổi.
2.1.1.4 Trực tiếp giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi
tố trong các trường hợp Bộ luật tố tụng hình sự quy định.
VKS giải trực tiếp giải quyết nguồn tin về tội phạm trong trường hợp có dấu hiệu bò lọt tội phạm, VKS đã trao đổi với CQĐT bằng văn bản nhưng không khắc phục hoặc trường hợp VKS phát hiện Cơ quan có thẩm quyền (CQĐT, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra) vi phạm nghiêm trọng, thực hiện không đúng trình tự thủ tục kiếm tra, xác minh pháp luật quy định làm ảnh hưởng đến quyền lợi hợp pháp của các chủ thể tham gia tố tụng
Việc quy định Viện kiểm sát trực tiếp giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố là một quy định mới, thế hiện chức năng, vai trò của Viện kiểm sát đối với giai đoạn tiếp nhận tin báo, tố giác, kiến nghị khởi tố Khi trực tiếp giải quyết nguồn tin về tội phạm KSV cần chủ động, sáng tạo, thực hiện đúng các quy định pháp luật, quy chế của ngành, nghiên cứu tổng hợp đánh giá chứng cứ báo cáo lãnh đạo để có đường lối giải quyết vụ án đúng đắn
33
Trang 392.1.1.5 Quyêt đinh gia hạn thời hạn giải quyêt tô giác, tin báo vê tội phạm, kiến nghị khởi tố
Trong vụ án có đồng phạm, thời hạn, thú tục giãi quyết tố giác, tin báo
về tội phạm, kiến nghị khởi tố cũng giống như thủ tục trong vụ án thông thường, được quy định tại Điều 147 BLTTHS Theo đó, thời hạn giải quyết tin báo, tố giác là 20 ngày, những trường hợp phức tạp thì thời hạn giải quyết tin báo không quá 2 tháng, thời hạn giải quyết tin báo, tố giác có thể gia hạn một lần không quá 2 tháng Như vậy thời hạn tối đa giải quyết tin báo là 04 tháng Thực tiễn THQCT trên địa bàn tỉnh Ninh Bình thấy ràng các VAHS có đồng phạm mang tính chất phức tạp, nhiều đồng phạm tham gia cư trú tại nhiều địa điểm khác nhau cần nhiều thời gian điều tra xác minh Vì thế đa phần các tin báo, tố giác trong vụ án có đồng phạm đều cần thêm thời gian gia hạn để giải quyết
2.1.1.6 Yêu cầu Cơ quan điều tra, Cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một so hoạt động điều tra khởi tố vụ án hình sự hoặc trực tiếp quyết định• • • o • ••• JL •khỏi tố vụ án hình sự• •
Trong quá trình giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố trong trường hợp phát hiện CQĐT, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra có dấu hiệu bỏ lọt tội phạm thì Viện kiểm sát yêu e • • • JL • • Jcầu CQĐT, Cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành hoạt động điều tra ra quyết định KTVA
Đối với kiến nghị khởi tố VAHS của các cơ quan tổ chức, sau khi nhận được kiến nghị khởi tố, Kiểm sát viên phải nghiên cứu, đánh giá các tài liệu chứng cứ có hay không có hành vi phạm tội để báo cáo lãnh đạo Viện Nếu thấy có căn cứ thì báo cáo đề xuất lãnh đạo Viện ra quyết định chuyển hồ sơ cho CQĐT và yêu cầu khởi tố VAHS Nếu chưa có căn cứ thì báo cáo lãnh đạo viện làm thủ tục chuyển hồ sơ, tài liệu cho CQĐT tiếp tục kiểm tra, xác
34
Trang 40minh thêm.
Ngoài việc yêu cầu CQĐT, Cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành hoạt động điều tra ra quyết định khởi tố VAHS, Viện kiểm sát còn có thẩm quyền trực tiếp khởi tố VAHS khi thuộc một trong những trường hợp pháp luật quy định
2.1.2 Pháp luật tố tụng hĩnh sự hiện hành về thực hành quyền công to trong việc khởi tố vụ án hình sự
về nguyên tắc, hoạt động THQCT trong việc khởi tố vụ án hình sự có đồng phạm cũng giống hoạt động THQCT trong việc khởi tố vụ án hình sự thông thường Khi THQCT trong việc KTVAHS, Viện kiểm sát tiến hành các hoạt động để thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn quy định tại khoản 1 Điều
- Hủy bỏ quyết định khởi tố, quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố VAHS, quyết định không khởi tố VAHS không có căn cứ và trái pháp luật Cũng tương tự như việc yêu cầu thay đổi bổ sung, VKS cũng trao đổi với cơ quan đã ra quyết định để hùy bỏ, nếu không thống nhất được thì VKS tự mình hủy bỏ các quyết định không có căn cứ, trái pháp luật
- Kháng nghị lên Tòa án cấp trên một cấp đối với Quyết định khởi tố VAHS của Hội đồng xét xử cấp dưới không có căn cứ
Trong quá trình xét xử tại phiên tòa, khi phát hiện có dấu hiệu bỏ lọt tội phạm, hội đồng xét xử có thẩm quyền khởi tố hoặc yêu cầu Viện kiểm sát
35