1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quyết định hình phạt đối với các tội xâm hại tình dục trẻ em trong luật hình sự việt nam (trên cơ sở thực tiễn tại thành phố hà nội)

109 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 109
Dung lượng 28,3 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Do vậy, việc nghiên cứu một cách toàn diện cà về lý luận và thực tiễn nhằm hoàn thiện các quy định của pháp luật hình sự liên quan đến việc • QĐHP đối với các tội • xâm hại • •tình dục t

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xỉn cam đoan luận vãn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các sổ liệu, ví dụ trích dẫn trong luận văn bảo đảm tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học

và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật đại học Quốc gia Hà Nội.

Vậy tôỉ vỉêt Lời cam đoan này đê nghị Khoa luật xem xét đê tôi có

thê bảo vệ luận văn.

Tôi xỉn chân thành cảm ơn!

Người cam đoan

Nguyễn Đức Toàn

Trang 3

MỤC LỤC

Trang

Trang phụ bia

Lời cam đoan

Mục lục

Danh mục các từ viết tắt

Danh mục các bảng

MỞ’ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẮN ĐÈ CHUNG VÈ QUYÉT ĐỊNH HÌNH PHẠT ĐỐI VỚI CÁC TỘI XÂM HẠI TÌNH DỤC TRẺ EM 7

1.1 Một số vấn đề chung về quyết định hình phạt và các tội xâm hại tình dục trẻ em 7

1.1.1 Khái niệm, đặc điểm của quyết định hình phạt 9

1.1.2 Khái niêm, đặc điểm các tội xâm hại tình dục trẻ em 13

1.1.3 Khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa quyết định hình phạt đối với các tội xâm hại tình dục trẻ em 16

1.2 Các nguyên tắc quyết định hình phạt đối với các tội xâm hại tình dục trẻ em 21

1.2.1 Nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa 22

1.2.2 Nguyên tắc nhân đạo xã hội chủ nghĩa 24

1.2.3 Nguyên tắc công bằng 26

1.2.4 Nguyên tắc cá thể hóa hình phạt 28

1.3 Các căn cứ quyết định hình phạt đối vó’i các tội xâm hại tình dục trẻ em 31

1.3.1 Các quy định của Bộ luật hình sự 31

1.3.2 Tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội 32

1.3.3 Nhân thân người phạm tội 34

1.3.4 Các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hỉnh sự 36

Kết luận chuông 1 40

Trang 4

CHƯƠNG 2: THựC TIỄN QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT ĐỐI VỚI CÁC

TÔI XÂM HẠI TÌNH DỤC TRẺ EM TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH

PHỐ HÀ NỘI 42

2.1 Tình hình các tội xâm hại tình dục trẻ em trên địa bàn thành phố ♦ • • • > Hà Nội 42

2.2 Kết quả quyết định hình phạt đối với các tội xâm hại tình dục trẻ em trên địa bàn thành phố Hà Nội 45

2.3 Những sai lầm, hạn chế trong việc quyết định hình phạt của Toà án nhân dân trên địa bàn thành phố Hà Nội 51

2.3.1 Sai lầm trong việc áp dụng các quy định cùa Bộ luật hình sự 51

2.3.2 Sai lầm trong việc đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội và nhân thân người phạm tội 53

2.3.3 Quyết định hình phạt quá mức nghiêm khắc đối với người phạm tội 53

2.3.4 Quyết định hình phạt quá nhẹ đối với người phạm tội 54

2.3.5 Áp dụng chưa đúng, chưa đầy đù quy định của Bộ luật hình sự 55

2.3.6 Chưa xem xét đầy đủ tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội 57

2.3.7 Chưa xem xét, đánh giá đầy đủ nhân thân người phạm tội 59

2.3.8 Chưa cân nhắc các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hỉnh sự 61

2.3.9 Quyết định hỉnh phạt nhẹ hon quy định của Bộ luật hình sự không có đầy đủ căn cứ 62

2.3.10 Việc áp dụng quyết định hình phạt giữa các Tòa án cấp sơ thẩm của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội không thống nhất 64

2.4 Nguyên nhân những sai lầm, hạn chế trong việc quyết định hình phạt của Toà án nhân dân 68

2.4.1 Nguyên nhân khách quan 68

2.4.2 Nguyên nhân chủ quan 69

Kết luận chưong 2 72

CHƯƠNG 3: CÁC YÊU CẦU HOÀN THIỆN VÀ GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT ĐÚNG ĐÓI VỚI CÁC TỘI XÂM HẠI TÌNH DỤC TRẺ EM TRÊN ĐỊA BÃN THÀNH PHỐ HÀ NỘI 74

Trang 5

3.1 Các yêu câu, nội dung hoàn thiện việc quyêt định hình phạt đúng

đối với các tội xâm hại tình dục trẻ em • • • 74

3.1.1 Hoàn thiện quy định cùa Bộ luật hình sự năm 2015 về các tội xâm hại tình dục trẻ em 74

3.1.2 về phẩm chất đạo đức trong việc quyết định hình phạt đối với các tội xâm hại tình dục trẻ em 79

3.2 Các giải pháp khác bảo đảm quyết định hình phạt đúng đối với các tội xâm hại tình dục trẻ em • • • 83

3.2.1 Giải pháp tiếp tục ban hành văn bản hướng dẫn áp dụng pháp luật 83

3.2.2 Nâng cao trình độ, năng lực của Thẩm phán và hội thẩm nhân dân trong việc quyêt định hỉnh phạt đôi với các tội xâm hại tỉnh dục trẻ em 84

3.2.3 Tăng cường công tác kiểm tra và tống kết công tác xét xử đối với các vụ án xâm hại tình dục trẻ em và ban hành án lệ 85

3.2.4 Nâng cao trách nhiệm của Kiểm sát viên trong công tác thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử đối với các tội xâm hại tình dục trẻ em 88

3.2.5 Tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về các tội xâm phạm tình dục trẻ em 91

3.2.6 Các giải pháp bảo vệ trẻ em trước các tội xâm hại tình dục trẻ em 94

Kết luận chương 3 96

KẾT LUẬN 97

TÀI LIỆU THAM KHẢO 99

Trang 7

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1 Thống kê vụ án, bị can phạm tội xâm hại tình dục trẻ em

đã bị khởi tố, truy tố, xét xử (giai đoạn từ năm 2015 đến

Bảng 2.2 Thống kê tổng số vụ án, bị cáo xét xử sơ thẩm, phúc thẩm

tại TAND thành phố Hà Nội (giai đoạn từ năm 2015 đến

Bảng 2.3 Thống kê số vụ án, bị cáo đã thụ lý, xét xử sơ thẩm về tội

xâm hại tình dục trẻ em của TAND hai cấp Thành phố Hà Nội (giai đoạn từ năm 2015 đến 2020) 48

Bảng 2.4 Tổng hợp xét xử các hình phạt đối với các tội xâm hại tình

dục trẻ em được áp dụng của TAND thành phố Hà Nội từ

Trang 8

MỞ ĐÀU

I Tính cap thiêt cua đê tai nghiên cứu rp/ 1 _ A J 1 • 4 V — -> Al J y • 1 • A r

Trẻ em chính là chủ nhân tương lai của đất nước, vì vậy các em cần được lớn lên và trưởng thành trong môi trường xã hội an toàn và được pháp luật bảo vệ Pháp luật Việt Nam nghiêm cấm tất cả các hình thức bạo hành đối với trẻ em bao gồm xâm hại thể chất, tinh thần và tình dục, sao nhãng và bóc lột vì mục đích thương mại Trẻ em bị xâm hại là vấn đề đáng báo động ở nhiều quốc gia trên thế giới ỚViệt Nam tình trạng xâm hại tình dục trẻ em trong thời gian gần đây có nhiều diễn biến phức tạp Đối tượng xâm hại tình dục trẻ em có đối tượng là những người gầngũi nạn nhân như bố dượng, bố đẻ, anh, chị em trong nhà gây ra xâm phạmnghiêm trọng tới quyền con người, làm tổn thương nặng nề về thể chất, tinh thần đối với trẻ em, gây bất an cho gia đình các nạn nhân và làm bức xúc trong xã hội, ảnh hưởng xấu đến thuần phong, mỹ tục, nếp sống văn hóa, đạo đức lối sống, gây mất trật tự an toàn xã hội Với trẻ, nếu bị xâm hại sẽ bị tồn thương cơ quan sinh dụchoặc mắc các bệnh lây nhiễm qua đường sinh dục, có thể bị sang chấn về tâm lý, trẻ

lo lắng, sợ hãi, hoảng loạn, xấu hổ, trầm cảm, trở nên sống khép kín, mất tự tin tất

cả biểu hiện này có thể kéo dài nhiều năm, có khi trong cả cuộc đời

Việt Nam đã tham gia nhiều công ước quốc tế về bảo đảm quyền con ngườinói chung, bảo đảm quyền của phụ nữ, trẻ em bị xâm hại nói riêng với những camkết bảo đảm mọi hành vi xâm hại trẻ em phải được xử lỷ nghiêm minh, mọi tổnthương về thể chất, tinh thần, tâm lý của phụ nữ, trẻ em cần “xoa dịu”, đặc biệt làngay trong giai đoạn tố tụng hỉnh sự Điều 37 Hiến pháp năm 2013 khắng định “ Trẻ

em được Nhà nước, gia đình và xã hội bảo vệ chăm sóc và giáo dục được tham gia vào các vấn đề về trẻ em Nghiêm cấm xâm hại, hành hạ, ngược đãi, bớ mặc, lạm dụng, bóc lột sức lao động và những hành vi khác vỉ phạm quyền trẻ em ” , Trongnhững năm qua các cơ quan, tố chức xã hội đặc biệt quan tâm đến công tác đấutranh phòng, chống những hành vi xâm hại tình dục trẻ em Trong đó các cơ quantiến hành tố tụng đã phát hiện và đưa ra xử lý kịp thời nhiều vụ án, người phạm tội

bị trừng trị với mức án nghiêm khắc Tuy nhiên tình trạng xâm hại tình dục đối với

Trang 9

trẻ em vẫn chưa giảm “Theo báo cáo của Chính phủ, từ ngày 01/01/2015 đến ngày30/6/2019, cả nước đã phát hiện, xử lý về hình sự và xử lý hành chính: 8.442 vụ xâm hại trẻ em với 8.709 trẻ em bị xâm hại Trong đó: Xâm hại tình dục: 6.432 trẻ

em, chiếm 73,85% tổng số trẻ em bị xâm hại; Bạo lực trẻ em: 857 trẻ em (giết trẻem: 191 trẻ, cố ý gây thương tích: 666 trẻ), chiếm 9,84% tống số trẻ em bị xâm hại; Mua bán, bắt cóc, chiếm đoạt trẻ em: 106 trẻ em, chiếm 1,22% tổng số trẻ em bịxâm hại ” [41] Tuy nhiên, thực tiễn số vụ án xâm hại tình dục trẻ em có thể còn cao hơn bời nhiều vụ án xảy ra nơi kín đáo, nhiều trường hợp do ảnh hưởng đến uy tín của bản thân hoặc do gia đinh nạn nhân được nhận tiền bồi thường nên không tố giác tội phạm, nhiều đối tượng xâm hại lợi dụng mạng xã hội lấy tên, địa chỉ giả để lừa gạt người phạm tội nên việc xử lý các đối tượng còn khó khăn Mặt khác, nhiều

vụ, việc chưa được xử lý nghiêm minh, kịp thời gây bức xúc trong dư luận xã hội

Vì vậy, công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm xâm hại tình dục trẻ em cần đượcquan tâm hơn và tăng cường các biện pháp nhằm phát hiện nhanh chóng, chính xác

và điều tra xử lý các loại tội phạm xâm hại tình dục tré em nhất là khi QĐHP đốivới các tội xâm hại tình dục đối với trẻ em Do vậy việc nghiên cứu một cách cơ bản về ỌĐHP đối với các tội xâm hại tĩnh dục trẻ em irons, cJ luật hình sự Việt • • Nam trên cơ sở thực tiễn tại thành phố Hà Nội là hết sức cần thiết nhằm nâng cao nhậnthức và khắc phục những vướng mắc, thiếu sót thực tiễn trong việc QĐHP đối với các tội xâm hại tình dục trẻ em

2 Tình hình nghiên cứu

QĐHP đối với các tội xâm hại tình dục trẻ em trong Luật hình sự Việt Nam

là một đề tài mới, từ năm 2015 đến nay chưa có công trình nào nghiên cứu cụ thể về

đề tài này Qua các giáo trình của trường Đại học Luật Hà Nội, Khoa Luật thuộc Đại học Quốc gia và một số sách của các nhà khoa học như: Quyết định hình phạttheo luật Hình sự Việt Nam trong sách “ Hình phạt trong luật hình sự Việt Nam" của tác giả Nguyễn Ngọc Hòa, nhà xuất bản chính trị quốc gia năm 1995 Định tội danh

và quyết định hình phạt, sách chuyên khảo, nhà xuất bản tư pháp, năm 2021 củaPGS.TS Dương Tuyết Miên Dưới góc độ đề tài nghiên cứu khoa học, có một số

2

Trang 10

công trinh đã nghiên cứu, đê cập liên quan đên các tội xâm hại tình dục trẻ em, như:

Các tội xâm phạm tình dục trẻ em trên địa hàn miền đông Nam hộ (Luận án tiến sỹ luật học, năm 2018) của tác giả Trần Văn Thưởng 7ợz' giao cấu với trẻ em theo quy định của Bộ luật hình sự hiện hành (Luận văn thạc sỹ, năm 2011) của tác giả Trần Thùy Chi Các tội xâm phạm tình dục trẻ em trong luật hình sự Việt Nam (Luận văn thạc sỹ,năm 2015) cùa tác giả Nguyễn Tuấn Thiện Các nguyên tắc xử lý của BLHS năm 2015” cùa tác giả Đinh Văn Quế, nguyên Chánh tòa hình sự, Tòa án nhân dân tối cao, Tạp chí Kiểm sát số 02/2018 TSKH GS Lê Cảm và ThS Trịnh Tiến Việt: Nhân thân người phạm tội: Một sổ vấn đề lý luận cơ bản - Tạp chí TAND số 01/2002; v.v

Các nghiên cứu này đã phân tích được các căn cứ, nguyên tắc quyết định hình phạt nói chung và một số đề tài khoa học đà làm sáng tỏ phần nào một số vấn

đề lý luận về các tội xâm hại tình dục trẻ em; Quy định về các tội xâm hại tình dụctrẻ em qua các thời kỳ; Phân tích được một cách khái quát quy định của một sốnước về tội xâm hại tình dục trẻ em; Đồng thời đưa ra những kiến nghị hoàn thiện

về các tội xâm hại tình dục đối với trẻ em Tuy nhiên, các công trình khoa học nàycũng chưa đưa ra được căn cứ, nguyên tắc quyết định hình phạt và các giải pháp hoàn thiện quy định về quyết định hình phạt đối với các tội xâm hại tình dục trẻ em từ khi

có BLHS năm 2015 cho đến nay Do vậy, việc nghiên cứu một cách toàn diện cà về

lý luận và thực tiễn nhằm hoàn thiện các quy định của pháp luật hình sự liên quan đến việc • QĐHP đối với các tội • xâm hại • •tình dục trẻ em trong0^ luật hình• •sự Việt • Nam là hếtsức cần thiết nhằm nâng cao hiệu quả trong công tác đấu tranh, phòng ngừa đối với loại tội phạm này, nâng cao chất lượng trong việc quyết định hình phạt của hội đồngxét xử và làm tài liệu tham khảo cho cán bộ nghiên cún khoa học, cán bộ giảng dạy,nghiên cún sinh, học viên cao học và sinh viên chuyên ngành Tư pháp hình sự

3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu cùa luận văn là một số vấn đề lý luận, quy định của BLHS năm 2015 về quyết định hình phạt đối với các tội xâm hại tình dục trẻ em và thực tiễn xét xử trên địa bàn thành phố Hà Nội gian đoạn 2015 - 2020

3

Trang 11

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Dưới cách tiếp cận của luật hình sự, trên cơ sở nghiên cửu QĐHP đối với cáctội xâm hại tình dục trẻ em trong luật hình sự Việt Nam, luận văn có phạm vi nghiên cứu sau:

Luận văn xác định phạm vi nghiên cứu là những vấn đề về hình phạt cũngnhư các vấn đề liên quan đến việc QĐHP đối với các tội xâm phạm trực tiếp đến tìnhdục trẻ em được quy định tại Chương XIV BLHS năm 2015 gồm: Điều 142- Tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi, Điều 144 - Tội cưỡng dâm người từ đủ 13 tuồi đến dưới 16 tuổi, Điều 145 - Tội giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người

từ đủ 13 đến dưới 16 tuồi, Điều 146 - Tội dâm ó với người dưới 16 tuôỉ, Điều 147 7ợz' sử dụng người dưới 16 tuổi vào mục đích khiêu dâm.

-Luận văn không nghiên cứu tất cả các tội phạm liên quan đến tình dục, các nội dung về xã hội học, tội phạm học liên quan đến đề tài không phải là phạm vi nghiên cứu của luận văn, nhưng tác già vẫn sử dụng khi giải quyết các vấn đề của luật hình sự có liên quan

Xây dựng khái niệm QĐHP và chỉ ra các đặc điểm ý nghĩa khi QĐHP đốivới các tội xâm hại tình dục trẻ em

Phân tích các căn cứ và những nguyên tắc khi QĐHP đối với các tội xâm hạitình dục trẻ em

Đánh giá thực tiễn QĐHP đối với các tội xâm hại tình dục trẻ em trên cơ sở thực tiễn tại thành phố Hà Nội trong giai đoạn 6 năm (2015 - 2020) Qua đó đưa ranhững tồn tại, hạn chế, nguyên nhân cơ bản khi QĐHP đối với các tội xâm hại tìnhdục trẻ em, làm cơ sở cho nhừng kiến nghị tiếp tục hoàn thiện pháp luật hình sự và giải pháp nâng cao hiệu quả khi QĐHP nói chung và QĐHP đối với các tội xâm hạitình dục trẻ em nói riêng

4 Cơ sở lý luận và các phương pháp nghiên cứu của luận văn

Luận văn được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận chủ nghĩa duy vật lịch

sử và duy vật biện chứng Mác - Lê Nin, tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật, quan điểm cùa Đảng và Nhà nước về xây dựng nhà nước pháp quyền, vềchính sách hình sự, về vấn đề cải cách tư pháp được thể hiện trong Nghị quyết của

4

Trang 12

Đảng và Nghị quyêt sô 49 - NQ/TW ngày 26/5/2005 vê “Chiên lược cải cách tư pháp đến năm 2020“ của Bộ Chính trị, cũng như Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII cùa Đảng Cộng sản Việt Nam Nghị quyết số 06/2019/NQ-HĐTP ngày 01/10/2019 của Hội đồng thẩm phán TAND Tối cao Hướng dẫn áp dụng một

số quy định tại điều 141, 142, 143, 144, 145, 146, 147 của BLHS và về việc xét xử

vụ án xâm hại tình dục người dưới 18 tuồi

Quá trình nghiên cứu tác giả đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu của khoa học luật hình sự như: Phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh, đối chiếu, thống kế, phân tích giá trị tri thức khoa học luật hình sự và luận chứng các vấn đề khoa học cần được nghiên cứu trong luận văn này

5 Ý nghĩa lý luận, thực tiễn và điểm mói về khoa học của luận văn

5.1 Ỷ nghĩa lý luận, thực tiễn

Ý nghĩa lý luận, thực tiễn quan trọng của luận văn là tác giả đã đưa ra và làm

rõ khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa và các căn cứ, nguyên tắc QĐHP đối với các tộixâm hại tình dục trẻ em, phân tích, đánh giá nội dung quy định của pháp luật hình

sự Việt Nam về QĐHP đối với các tội xâm hại tình dục trẻ em, đồng thời đưa ra các giải pháp, kiến nghị các quy định về tội xâm hại tình dục trẻ em ở góc độ lập pháp

và những giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng từ thực tiễn, đây là đề tài nghiên cứu

đề cập đến QĐHP đối với các tội xâm hại tinh dục trẻ em trong giai đoạn hiện nay Điều này càng có ý nghĩa quan trọng hơn vi đây là một loại tội phạm xâm hại danh

dự, nhân phẩm, sức khoẻ của trẻ em, đòi hỏi phải có nhận thức thống nhất đế phục vụcho thực tiền xét xử, tránh vi phạm trong việc xét xử Ngoài ra, nó còn có ý nghĩa làm tài liệu tham khảo cần thiết cho cán bộ nghiên cứu khoa học, cán bộ giảng dạy, nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên chuyên ngành Tư pháp hình sự

5.2 Điểm mới về khoa học • •của luận văn

Căn cứ QĐHP nói chung và ỌĐHP đối với các tội xâm hại tình dục trẻ emnói riêng dựa trên nghiên cứu lý luận về QĐHP, tìm hiểu quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về QĐHP và kết quả đánh giá thực tiễn áp dụng các căn cứQĐHP đối với các tội xâm hại tình dục trẻ em trong hoạt động thực tiễn xét xử sơ

5

Trang 13

thẩm vụ án hình sự của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội và một số địa phương trong cả nước, có thể thấy điếm mới của luận văn là:

+ Góp phần bảo đảm sự nhận thức thống nhất các nguyên tắc trong QĐHP đối với các tội xâm hại tình dục trẻ em; yêu cầu của cải cách tư pháp; yêu cầu bảo

vệ quyền con người trong thực tiễn hiện nay; Yêu cầu phòng và chống tội phạm

+ Chỉ ra những sai sót trong thực tiễn vận dụng và nguyên nhân của việc áp dụng chưa đúng các căn cứ QĐHP đối với các tội xâm hại tình dục trẻ em, cơ sởpháp lý của hoạt động QĐHP

+ Đê ra các giải pháp bảo đảm áp dụng đúng các căn cứ QĐHP đôi với các tội xâm hại tình dục trẻ em gồm: Tiếp tục hoàn thiện quy định của pháp luật hình sự

về các căn cứ QĐHP, Nâng cao ý thức pháp luật Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân và

kiêm sát viên trong việc QĐHP đôi với tội xâm hại tình dục trẻ em

6 Cơ câu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận

Trang 14

Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT

ĐÓI VỚI CÁC TỘI XÂM HẠI TÌNH DỤC TRẺ EM

1.1 Một số vấn đề chung về quyết định hình phạt và các tội xâm hại tình

dục trẻ em

Tình dục ra đời gắn liền với sự tồn tại của nhân loại, nó là phương thức sinh học giúp cho loài người nhân giống và tiến hoá Qua đó cho thấy, tình dục là nhữngnhu cầu cơ bản, cần thiết, không thể thiếu của con người, có khả năng thống trị con người khi nó chưa được thoả mãn và ảnh hưởng trục tiếp đến khả năng tồn tại của con người và con người luôn phải đấu tranh để thoả màn bằng được những nhu cầu

cơ bản của tình dục

Xuất phát từ quan niệm, tình dục là nhu cầu, bản năng tự nhiên của conngười nhưng lại có vai trò quan trọng trong việc duy trì nòi giống và mang lại hạnh phúc cho nên tình dục trở thành vấn đề mà cả xã hội quan tâm Các nhà khoa họcpháp lý cho rằng tình dục là một trong các quyền cơ bản nhất của con người cần được ghi nhận và bào vệ Quyền tình dục là một trong những quyền cơ bản đượcpháp luật quốc tế và các quốc gia thừa nhận, hành vi xâm phạm đến quyền bất khả xâm phạm và tự do tình dục của con người là hành vi xâm hại tình dục

Trên thực tế có rất nhiều trẻ em bị lợi dụng hoặc bị lạm dụng tình dục, nhiều trường hợp những đối tượng xâm hại tình dục trẻ em là những người có quan hệ gần gũi hoặc là người thân thích đối với nạn nhân nhiều trường họp hành vi xâm hạitình dục diễn ra trong thời gian dài, bởi sự che giấu của đối tượng thực hiện và nạn nhân Tác động của hành vi xâm hại tình dục trẻ em rất nặng nề, trẻ em bị tốnthương bởi xâm hại tình dục luôn mặc cảm, xấu hổ và tỏ ra bất lực trước hoàn cảnh, luôn có cảm giác bị cô lập, lạc long giữa bạn bè, mất niềm tin vào người lớn Một

số trường hợp gặp rắc rối trong học tập, số khác lại bị suy sụp về thể chất, trườnghợp trẻ em tự dồn lén căm hận vào bên trong và có ý9/ định tự tự hoặc tự oán tráchbản thân để đối tượng lôi kéo Các hành vi xâm hại tình dục trẻ em còn có hậu quà

7

Trang 15

ảnh hưởng lâu dài đên việc tự đánh giá, nhận định giá trị bản thân trong suôt thờigian sau này Xâm hại tình dục cũng có thề xảy ra đối với trẻ em nam, chủ yếu là tiếp xúc đồng giới Do vậy, việc quy định các tội xâm hại tình dục trẻ em trongBLHS là hết sức cần thiết bởi:

Việc quy định các tội xâm hại tình dục trẻ em góp phần bảo đảm pháp chế,

xử lý nghiêm minh, kịp thời và đúng pháp luật các hành vi phạm tội này Hành vixâm hại tình dục trẻ em là hành vi “dà man, đầy thú tính”, nó không những gây đau đớn về thể xác, tổn thương nghiêm trọng về tinh thần cho nạn nhân mà còn gây ảnhhưởng nghiêm trọng đến đạo đức, thuần phong mỹ tục, mất trật tự trị an ở địa phương, tạo tâm lý hoang mang, lo sợ trong quần chúng nhân dân Do đó, chúngđược đánh giá là những hành vi nguy hiểm cho xã hội, cần được PLHS nói chung, BLHS nói riêng quy định là tội phạm và phải bị trừng trị nghiêm khắc thông qua việc

áp dụng TNHS, hình phạt tương xứng với từng tội phạm cụ thể trong nhóm tội này

BLHS quy định các tội xâm hại tình dục trẻ em giúp xác định rõ giữa tội xâmhại tình dục trẻ em với các hành vi không phải là tội phạm Đe quy định các tội xâm hại tình dục trẻ em phù hợp và vận dụng có hiệu quả, các nhà làm luật đã phải nghiên cứu, kế thừa, tiếp thu có chọn lọc các quy định của PLHS Việt Nam về nhóm tội này trong thời gian trước Đồng thời, quy định về các tội xâm hại tình dụctrẻ em là căn cứ cho các nhà nghiên cứu khoa học, đặc biệt là các nhà nghiên cứu lập pháp có điều kiện tìm hiểu, nghiên cứu và so sánh các quy định về các tội xâm hại tình dục trẻ em giữa BLHS Việt Nam với quy định của các nước trên thế giới

Hiện nay, các tội phạm xâm hại tình dục trẻ em không còn là hiện tượng mang tính chất điểm nóng tại một số địa phương, đô thị có nhịp độ phát triển kinh tếcao mà đã phố biến trên nhiều tỉnh, thành trong cả nước Đặc biệt, điều đáng lo ngại

là trong những năm gần đây, nhóm tội phạm này ngày càng tinh vi, xảo quyệt tronghành vi, gia tăng về số lượng, diễn biến phức tạp trên nhiều phương diện Việc quy định về các tội xâm hại tình dục trẻ em trong BLHS giúp người dân và các cơ quan tiến hành tố tụng có cơ sở pháp lý để hiểu, áp dụng thống nhất, đúng quy định của pháp luật, hạn chế tối đa những trường hợp phạm tội do thiếu hiểu biết hoặc hiểu

8

Trang 16

sai, vận dụng sai quy định của pháp luật Bên cạnh đó, quy định vê các tội xâm hạitình dục trẻ em còn có tác dụng giáo dục, tuyên truyền, phổ biến sâu rộng đến quần chúng nhân dân, nâng cao ý thức bảo vệ bản thân truớc các hành vi xâm hại tìnhdục trẻ em Đồng thời, nâng cao ý thức, nhận thức của người dân về nhóm tội phạm này, góp phần hiệu quả trong công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm nói chung

và tội phạm xâm hại tình dục trẻ em nói riêng

Xác định và quy định các tội xâm hại tình dục trẻ em là rất cần thiết, do mức

độ ảnh hưởng và sự tác động của nhóm tội này đối với tình hình an ninh chính trị của địa phương cũng như cuộc sống của người dân; đồng thời, đáp ứng yêu cầu của công tác đấu tranh phòng, chống và xử lý nhóm tội này Việc nắm bắt được đặc điểm, bản chất của nhóm tội này sẽ giúp các nhà làm luật đặt ra những quy định chuẩn xác và hiệu quả trên thực tế Tuy nhiên, việc tiến hành cần dựa vào một sốnhững yếu tố cụ thề sau: Yêu cầu bảo vệ quyền con người, bảo vệ đạo đức và vănhoá xã hội; yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm và bảo đảm trật tự an toàn xã hội, yêu cầu về năng lực điều tra, truy tố, xét xử các tội xâm hại tình dục trẻ em củacác cơ quan tiến hành tố tụng; yêu cầu hội nhập quốc tế Theo quy định của BLHSnăm 2015, QĐHP đối với các tội xâm hại tình dục trẻ em được đặt ra đối với trườnghợp cá nhân phải chịu trách nhiệm hình sự và bị áp dụng hình phạt

1.1.1 Khái niệm, đặc điếm của quyết định hình phạt

ỉ ỉ ỉ ỉ Khái niệm của quyết định hình phạt

QĐHP là một công việc quan trọng trong hoạt động xét xử vụ án hình sự của Toà án, khi tim hiểu khái niệm QĐHP, vậy khái niệm QĐHP là gì? Khái niệm QĐHP là một chế định quan trọng trong luật hình sư, là một trong những công việctrong hoạt động xét xử vụ án hình sự của Tòa án Tuy nhiên trong BLHS, Bộ luật

Tố tụng hình sự đều không đề cập đến khái niệm QĐHP Khái niệm QĐHP chỉ tồntại trong lý luận và trong một số công trinh nghiên cứu khoa học, các khái niệm QĐHP chưa được thống nhất cao trong khoa học pháp lý nhưng về cơ bản đều thể hiện• •sự • • đồng nhất của khái niệm ỌĐHP là việc Tòa án lựa •chọn • loại và mức hìnhphạt áp dụng đối với người phạm tội thề hiện trong các giáo trình Luật hình sự của các Trường Đại học và trong một số tài liệu của chuyên gia pháp lý

9

Trang 17

Giáo trình Luật• hình sự• Việt• Nam nãm 2017 của Trường đại học4^2 • • Luật Hà •Nội cho ràng: “ QĐHP là sự lựa chọn loại hình phạt và xác định mức hình phạt (đối với loại hình phạt cỏ các mức khác nhau) trong phạm vỉ luật định để áp dụng đối với chủ thể chịu trách nhiệm hình sự ” [12, tr.291].

Giáo trình Luật hình sự Việt Nam Phần chung của Khoa Luật, Đại học quốcgia Hà Nội cho rằng “ QĐHP là việc Tỏa án nhân danh Nhà nước lựa chọn hiện phảp TNHS cụ thê trong phạm vi luật hình sự quy định đê áp dụng đối với người hoặc PNTMphạm tội” [9, tr.405J

Tác giả Đinh Văn Quế có định nghĩa “ QĐHP là việc Tòa án lựa chọn hình phạt buộc người kết án phải chấp hành Tòa án lựa chọn hình phạt nào, mức phạt bao nhiêu, phải tuân thù theo những quy định của Bộ luật hình sự ” [20, tr 89]

Tác giả Lê Văn Đệ đưa ra khái niệm “QĐHP là sự lựa chọn loại hình phạt

và xác định mức hình phạt cụ thế trong phạm vi luật định đê áp dụng đối với người phạm tội cụ thề' [10, tr.161]

Các khái niệm hình phạt trên đây đều khẳng định QĐHP là việc Tòa án lựachọn loại và mức hỉnh phạt trong phạm vi luật định để áp dụng đối với người hoặc pháp nhân thương mại phạm tội Việc lựa chọn hình phạt được hiểu là chỉ lựa chọn hình phạt chính hoặc cả hình phạt bồ sung trong hệ thống hình phạt mà BLHS quy định phù họp với tính chất, mức độ nguy hiểm do hành vi phạm tội gây ra và đạtđược mục đích hình phạt, đây là nội hàm khái niệm QĐHP được nhiều người ủng hộ Trong khoa học luật hình sự “ khái niệm QĐHP được hiểu theo hai nghĩa: nghĩa rộng

và nghĩa hẹp” [26, tr 201 - 202] Tuy nhiên giáo trình của Trường Đại học luật Hà Nội cho rằng QĐHP hiếu theo nghĩa rộng bao gồm các hoạt động: Xác định người phạm tội có được miễn TNHS hay miễn hình phạt hay không, xác định khung hình phạt, xác định loại và mức hình phạt cụ thể trong phạm vi khung hình phạt hoặc dưới khung đó [11, tr 65 - 66]

Nhìn từ góc độ khoa học luật hình sự tác giả Bùi Thị Chinh Phương cho rằng

“QĐHP là hoạt động của Tòa án lựa chọn loại hình phạt và mức hình phạt cụ thể bao gồm hình phạt chính và hình phạt bổ sung, trong phạm vỉ luật định để áp dụng đối với người phạm tội” [19, tr.ll]

10

Trang 18

Có thê thây răng, ỌĐHP được đặt ra với người hoặc pháp nhân thương mại phạm tội phải chịu TNHS và bị áp dựng hình phạt Khi áp dụng hình phạt, Tòa án sẽlựa chọn hình phạt chính và hình phạt bổ sung theo các quy định cụ thể Giai đoạnđịnh khung hình phạt thuộc về hoạt động QĐHP Sau khi đà xác định được tội danh, thì HĐXX xác định khung hình phạt nếu điều luật quy định nhiều khung hình phạt.Khi xác định khung hình phạt ngoài các quy định cấu thành tăng nặng, một số trường hợp còn phải dựa vào nhân thân người phạm tội để định khung hình phạt Do vậy, nếu định khung hình phạt là một hoạt động thuộc về QĐHP là không hợp lý Trong khi đó, việc xác định khung hình phạt là hoạt động đầu tiên xác định giới hạn tối thiểu và tối đa của hình phạt mà Hội đồng xét xử được phép áp dụng, nếu định khung hình phạt sai sẽ dẫn đến hậu quả là QĐHP sai (có thể là QĐHP quá nhẹ nặng hoặc quánặng), khi định khung hình phạt sai không làm thay đối tội danh của người phạm tội.Như vậy, định khung hình phạt ảnh hưởng trực tiếp đến việc QĐHP Do đó, tác giảđồng tình với quan điểm cho ràng, việc xác định khung hình phạt thuộc về hoạt động QĐHP KTii bàn về khái niệm QĐHP, tác giả cho rằng nên coi miễn hình phạt và miễnTNHS thuộc về giai đoạn QĐHP, bởi lè miễn hình phạt, miễn trách nhiệm hình sựđược thực hiện sau khi Tòa án QĐHP và tuyên người phạm tội không phải chịu hìnhphạt hoặc miễn trách nhiệm hình sự về tội đã phạm [40, tr.264, 377], [41, tr.299, 331]

Do vậy, miễn TNHS thuộc về giai đoạn đầu của việc xác định chế tài hình sự đối với người phạm tội Chính vì vậy, nên coi miễn TNHS thuộc về hoạt động QĐHP

Từ sự phân tích trên, tham khảo các quan điểm của các nhà khoa học, tác giảcho rằng khái niệm QĐHP nên hiểu theo nghĩa rộng: QĐHP là hoạt động thực tiễn của Tòa ản (Hội đồng xét xử) được thực hiện sau khi đã xác định được tội danh đế đưa ra biện pháp xử lỷ phù hợp với tính chất, mức độ nguy hiêm cho xã hội của hành vi phạm tội mà bị cảo đã thực hiện Nội dung của QĐHP có thể là miễn trách nhiệm hình sự hoặc có thể là miền hình phạt (trường hợp này, hoạt động QĐHP chấm dửt ở đây) hoặc nếu Tòa án quyết định áp dụng hình phạt thì QĐHP bao gồm việc xác định khung hình phạt và mức hình phạt cụ thê trong phạm vi luật định.

11

Trang 19

1.1.1.2 Đặc điêm của quyêt định hình phạt

QĐHP là một trong những giai đoạn của quá trình áp dụng pháp luật hình sự sau khi Tòa án đã xác định xong tội danh và khung hình phạt Khi ỌĐHP, Tòa ánnhân danh Nhà nước xác định về mặt pháp lý một người có tội và tuyên hình phạt cho người có hành vi phạm tội QĐHP là một hoạt động mang tính chất chính trị,pháp lý đạo đức, bởi Tòa án tuyên hình phạt cho người phạm tội là thế hiện sự lên

án của Nhà nước và xã hội đối với tội phạm

QĐHP do Tòa án thực hiện trên cơ sờ quy định của BLHS, có thể là miễn TNHS, miễn hình phạt hoặc nếu quyết định áp dụng hình phạt thì Tòa án lựa chọnhình phạt cụ thể trong phạm vi luật định để áp dụng cho bị cáo

QĐHP được áp dụng đối với các cá nhân hoặc đối với pháp nhân thương mại

có hành vi phạm tội Theo quy định của BLHS năm 2015 quyết định hình phạt đượcđặt ra với cá nhân hoặc pháp nhân thương mại phạm tội phải chịu trách nhiệm hình

sự và bị áp dụng một hình phạt Đối với các hình phạt chính, đa số hình phạt quyđịnh cho các tội phạm là chế tài lựa chọn nếu trong khung hình phạt có nhiều hìnhphạt khác nhau thì khi quyết định hình phạt HĐXX lựa chọn một hình phạt cụ thểtrong các hình phạt đó và xác định mức hình phạt cụ thể cho cá nhân, pháp nhân thương mại phạm tội

QĐHP là việc Tòa án áp dụng loại hình phạt cụ thể, với mức độ cụ thể, trongphạm vi luật định để áp dụng đối với cá nhân hoặc pháp nhân thương mại phạm tội.Trường hợp mở rộng, có thể coi miễn hình phạt cũng thuộc về QĐHP Khi quyết định hình phạt HĐXX áp một hình phạt cụ thể trong khung hình phạt của điều luật

để áp dụng cho cá nhân, pháp nhân thương mại phạm tội Trong khung hình phạt chỉ có một loại hình phạt là hình phạt tù thì quyết định hình phạt là việc xác địnhmức hình phạt cụ thể trong phạm vi của khung hình phạt để áp dụng cho người phạm tội Tuy nhiên, trong trường hợp Toà án (HĐXX) đã tuyên hình phạt cho bị cáo là cảnh cáo, trục xuất, tù chung thân hoặc tử hình thì quyết định hình phạt chỉ làviệc lựa chọn hình phạt không có bước xác định mức hình phạt áp dụng cho người phạm tội Đối với việc áp dụng hình phạt bổ sung, việc quyết định hình phạt sung là

12

Trang 20

việc lựa chọn hình phạt bô sung có thê một hoặc nhiêu loại hình phạt bô sung vàxác định mức hình phạt trong phạm vi cho phép để áp dụng kèm theo hình phạtchính nhằm hồ trợ cho hình phạt chính.

1.1,2 Khái niêm, '9 đặc điếm các tôi • xăm hại • tình dục trẻ em •

1.1.2.1 Khái niệm• •các tội xâm hại tình dụctrẻ em

Trong khoa học pháp lý cũng như trong các văn bản hướng dẫn thi hànhBLHS, chưa có một định nghĩa về khái niệm các tội xâm hại tình dục trẻ en Tuy nhiên dưới góc độ nghiên cứu tác giả Joel Samaha cho rằng “Các tội xâm hại tình dục là những tội phạm nghiêm trọng kê cả trong trường hợp không xảy ra tôn thương về vật chất vì những tội phạm này xâm phạm sự riêng tư theo cách mà các tội phạm gây thương tích không thê gây ra ” [42, pp 332] Theo quan điểm này, các tội xâm hại tình dục là những tội phạm nghiêm trọng kể cả trong trường hợp tộiphạm không gây ra sự tổn thương về vật chất Bởi cách xâm hại của tội phạm tìnhdục khác với tội phạm cố ý gây thương tích, bởi hành vi xâm hại của tội phạm tinh dục gây ra cho trẻ em sự lo lắng, sợ hãi, hoảng loạn, xấu hổ, trầm cảm, mất tự tin

mà tội phạm gây thương tích không thể gây ra Tuy nhiên, quan niệm này chưaphản 1 ánh được• hết các dấu hiệu• • • • cần thiết để nhận biết các tội xâm hại tình dục.•

Tác giả Dương Tuyết Miên quan niệm: “Cdc tội phạm về tình dục là những hành vỉ mang tỉnh nguy hiếm rất cao xâm phạm đến quyền được tôn trọng và bảo vệ

về danh dự nhân phâm của con người (trong đỏ chủ yếu là phụ nữ)" [16, tr.44] Cũng giống như tác giả Joel Samaha, tác giả Dương Tuyết Miên cũng khắng địnhtính nguy hiểm rất cao của các tội xâm hại tình dục

Qua nghiên cứu khoa học pháp lý hình sự Việt Nam cơ bản thống nhất “7ợí

phạm là hành vi nguy hiêm cho xã hội, có lỗi, trái PLHS và phải chịu hình phạt”

[32, tr.42J Quan hệ xã hội bị các tội phạm này xâm hại hay còn gọi là khách thể, chính là quyền bất khả xâm phạm về tình dục, quyền tự do tình dục của con người đó

là một trong những quyền cơ bản của con người được pháp luật ghi nhận và bảo vệ

Có rất nhiều quan điểm khác nhau về tình dục, theo từ điển Tiếng Việt “tình dục là nhu cầu phát triển tự nhiên của con người có tính giao [36, tr.996] ”còn

13

Trang 21

“xâm hại là xâm phạm đên khiên cho bị tôn hại” [34, tr.41J Nói cách khác, tìnhdục xuất phát từ nhu cầu mang tính bản năng của con người thông qua việc quan hệtính giao (gồm hành vi giao cấu và hành vi quan hệ tình dục khác nhưng không phải

là giao cấu) Như vậy, nếu hiểu theo từ vựng xâm hại tình dục là hành vi động chạm đến quyền tự do, quyền phát triển tự nhiên của trẻ em về quan hệ có tính giao thông qua các hành vi hiếp dâm, cưỡng dâm, giao cấu, dâm ô đối với trẻ em, xâm phạm đến thân thể, sức khoe, nhân phẩm, danh dự của trẻ em

Tại điều 4 Luật trẻ em năm 2016 sửa đổi, bổ sung năm 2018 quy định:

Xâm hại tình dục trẻ em là việc dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực, épbuộc, lôi kéo, dụ dỗ trẻ em tham gia vào các hành vi liên quan đếntình dục bao gồm hiếp dâm, cường dâm, giao cấu, dâm ô với trẻ em

và sử dụng trẻ em vào mục đích mại dâm, khiêu dâm dưới mọi hình thức [23, tr.10]

Tại khoản 1, Điều 2 Nghị quyết 06/2019/NQ - HĐTP ngày 01/10/2019 của Hộng đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao cho rằng:

Xâm hại tình dục người dưới 16 tuổi là việc dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực, ép buộc, lôi kéo dụ dỗ người dưới 16 tuổi tham gai vào các hành vi liên quan đến tỉnh dục, bao gồm hiếp dâm, cưỡng dâm, giao cấu, dâm ôđối với người dưới 16 tuổi và sử dụng người dưới 16 tuổi vào mại dâm,khiêu dâm dưới mọi hình thức [14, tr 1]

Thực tiễn xét xử cho thấy, các tội xâm hại tình dục đều thực hiện với lỗi cố ý nhằm thỏa mãn nhu cầu ham muốn, dục vọng của người phạm tội Những hành vi phạm tội được biểu hiện dưới hình thức hành động như việc dùng vũ lực, đe dọadùng vũ lực hoặc lợi dụng tình trạng không thể tự về của nạn nhân hoặc thủ đoạn khác làm nạn nhân bị tê liệt khả năng tự vệ, phản kháng dẫn đến không tự chủ đượchành vi của mình hoặc mất khả năng tự vệ hoặc lợi dụng sự non nớt, hạn chế về nhận thức của nạn nhân, người bị lệ thuộc đế giao cấu hoặc thực hiện hành viquan hệ tình dục khác như dùng ngón tay, ngón chân, lưỡi, dụng cụ tình dục xâm nhập vào bộ phận sinh dục nữ, miệng, hậu môn nhằm thỏa mãn dục vọng của

14

Trang 22

người phạm tội Tội phạm tình dục là một trong những loại tội phạm nguy hiêm Bởi, hậu quả của các vụ xâm hại tình dục trẻ em không chỉ gây tồn thương về sứckhỏe, tinh thần của nạn nhân mà còn làm ảnh hưởng, tác động tiêu cực, thậm chí rấtnghiêm trọng tới đời sống bình thường của nạn nhân và gia đình trẻ bị xâm hại, tác động xấu đến toàn xà hội.

Chủ thể thực hiện tội phạm ngày càng đa dạng, phong phú về độ tuổi Tuynhiên, ngoài các điều kiện riêng của các tội cụ thể thì độ tuồi, chủ thể tội phạm của các tội xâm hại tinh dục là đủ 14 tuổi trở lên hoặc đủ 18 tuổi trờ lên

Với những phân tích như trên, học viên cho rằng: Các tội xâm hại tình dục là những hành vi nguy hiểm cho xã hội, xâm hại đến quyền bất khả xâm phạm và tự do tình dục của trẻ em (người dưới 16 tuổi), do người có năng lực TNHS thực hiện một cách cổ ỷ, trải PLHS và phải chịu hình phạt.

7.7.2.2 Đặc điêm của các tội xâm phạm tình dục trẻ em Thứ nhất, các tội xâm hại tình dục trẻ em là các hành vi xâm phạm đến quyền bất khả xâm phạm và tự do tình dục của con người được quy định trong BLHS: Quyền tình dục là một trong những quyền cơ bản của con người được pháp luật thừa nhận Hành vi xâm phạm quyền bất khả xâm phạm và tự do tình dục củacon người là hành vi xâm hại tình dục, cần bị pháp luật trừng trị

Thử hai,z • • các tội xâm hại tinh dục• luôn được • thực• hiện• dưới hình thức lỗi

cố ý trực tiếp: Khi thực hiện hành vi xâm phạm đến quyền bất khả xâm phạm và

tự do tình dục của con người, người thực hiện các hành vi này đều nhận thức được hành vi của mình là hành vi nguy hiểm cho xà hội, gây thiệt hại hoặc đedọa gây thiệt hại đáng kể cho nạn nhân về danh dự nhân phẩm, quyền tự do tinhdục, nhưng họ mong muốn điều đó xảy ra nên đã sử dụng mọi thủ đoạn để thựchiện • hành vi xâm hại• tình dục.•

Thứ ba, trách nhiệm hình sự, hình phạt đổi với các tội xâm hại tình dụcnghiêm khắc nhưng lại mang tính đặc thù: về cơ bản chế tài áp dụng đối với các tộixâm hại tỉnh dục tương đối nghiêm khắc thể hiện rõ ràng quan điểm của Nhà nước

về việc trừng trị nghiêm minh các hành vi xâm phạm tình dục Đối với các tội xâm

15

Trang 23

hại tình dục nhiêu trường hợp, người phạm tội có quan hệ yêu đương với nạn nhân hoặc người phạm tội nhận thức xã hội và nhận thức pháp luật còn yếu, thiếu; hành

vi phạm tội xuất phát từ nhu cầu tình dục bộc phát khi bị kích thích không thể kiềm chế bản thân để có những hành vi ứng xử phù họp, sẽ tim cách để thỏa mãnnhu cầu tình dục Đây chính là điếm khác biệt so với các loại tội phạm khác khingười phạm tội có thời gian lí trí để cân nhắc hậu quả do hành vi gây ra Do vậy, trường hợp này hình phạt nghiêm khắc không phải là biện pháp tối ưu để phòng ngừa các hành vi xâm hại này Tuy nhiên, để ngăn chặn, phòng ngừa hiệu quả sựxâm hại trong trường hợp này cần áp dụng các hình phạt bổ sung hoặc các biệnpháp tư pháp như: hình phạt lao động công ích, hình phạt quản chế, biện pháp cấmtiếp xúc người khác giới

Thứ tư, Chủ thể thực hiện các tội xâm hại tinh dục trẻ em rất đa dạng, phứctạp về giới tính độ tuồi Hành vi xâm hại tình dục trẻ em ngày càng đa dạng phức tạp không chỉ có nam giới mà còn có cả nừ giới và những người đồng tính luyến ái.Trên thực tiễn, người thực hiện hành vi xâm hại tình dục trẻ em không chỉ xuất hiện người từ đủ 14 tuổi đến trung niên hoặc là người già và còn có cả nhừng người thân thiết của người bị xâm hại tình dục

1.1.3 Khái niệm, đặc điếm, ý nghĩa quyết định hình phạt đối với các tội xãm hại• • tình dục trẻ em

1.1.3.1 Khái niệm quyết định ỉ •/ • hình < phạt đối với các tội xâm hại tình dục trẻ em

QĐHP là một giai đoạn quan trọng trong hoạt động xét xử của Tòa án, việc ỌĐHP thể hiện bản chất giai cấp và chính sách pháp luật hình sự của quốc gia QĐHP chính xác, có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật mớiđạt• được • mục• đích của hình phạt.A • Khoa học• luật • hình sự • đã có nhiều nghiênS-X cứu vềkhái niệm QĐHP Tuy nhiên chưa có một khái niệm chính thống về QĐHP

Khoa học luật hỉnh sự nghiên cứu QĐHP dưới hai góc độ, đó là luật hình sự

và luật tố tụng hình sự Đối với luật hình sự nghiên cứu Quyết định hình phạt là gì?hình phạt cụ thể được quyết định như thế nào? mức hình phạt ra sao Trong Luật tố tụng hình sự vấn đề QĐHP là một hoạt động tố tụng của Tòa án trong giai đoạn xét

xử vụ án hình sự, trình tự, thủ tục để thực hiện QĐHP

16

Trang 24

Đê Quyêt định hỉnh phạt đôi với các tội xâm hại tinh dục trẻ em cân phải căn

cứ vào các quy định của BLHS; tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội; nhân thân người phạm tội; các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự Việc QĐHP đối với các tội xâm hại tình dục trẻ em ngoài quy định tại phần chung của BLHS còn JL phải dựa• trên các CTTP của các tội • xâm hại• tình dục trẻ • em

QĐHP đối với các tội xâm hại tình dục trẻ em luôn đi đôi với hình phạt Hình phạt là nội dung được phản ánh trong QĐHP Tòa án là cơ quan duy nhất nhân danh nhà nước tiến hành hoạt động xét xử, áp dụng pháp luật hình sự để lựa chọnloại, mức hình phạt cụ thế tương ứng đối với hành vi phạm tội của tội phạm cụ thểtrong CTTP nói chung, cấu thành tội xâm hại tình dục nói riêng Việc QĐHP đốivới các tội xâm hại tình dục trẻ em ngoài các yếu tố như trên cần xác định mức độ nguy hiểm cho xã hội, hậu quả của hành vi phạm tội đế QĐHP phù hợp

Từ những phân tích trên, tác giả đưa ra khái niệm “QĐHP đối với các tội xâm hại tình dục trẻ em là hoạt động thực tiễn cùa Tòa án (Hội đồng xét xử) được thực hiện sau khi đã xác định được tội danh đê đưa ra biện pháp xử lỷ phù hợp với tỉnh chất, mức độ của hành vi xâm hại tình dục trẻ em mà bị cáo đã thực hiện Nội dung của QĐHP có thế là miễn trách nhiệm hình sự hoặc có thê là miễn hình phạt (trường họp này, hoạt động QĐHP chấm dứt ở đây) hoặc nếu Tòa án quyết định áp dụng hình phạt thì QĐHP bao gồm việc xác định khung hình phạt và loại và mức hình phạt cụ thê trong phạm vi luật định ”

ỉ.ỉ 3.2 Đặc điếm của quyết định hình phạtJ • đối với các tội xâm hại tình dụctrẻ em

Thứ nhất: QĐHP đối với các tội xâm hại tình dục trẻ em là một hoạt độngthực • \tiễn của Tòa án (hoạt động xét xử)/ • được thực hiện sau khi • • đã xác định được• • tội• danh và xác định được người phạm tội thuộc khung, khoản nào thuộc một các điều

142, 144, 145, 146, 147 để xác định được loại và mức hình phạt cụ thể áp dụng chongười phạm tội Trong khung hình phạt chỉ có một loại hình phạt là hình phạt tù thìquyết định hình phạt là việc xác định mức hình phạt cụ thể trong phạm vi của khunghình phạt Đối với các trường hợp Toà án đã tuyên hình phạt cho bị cáo là tù chung

17

Trang 25

thân hoặc tử hinh thi quyêt định hỉnh phạt chỉ là việc lựa chọn hinh phạt không có bước xác định mức hình phạt áp dụng cho người phạm tội Đối với việc áp dụnghình Xphạt bổ sung đối với các tội xâm hại tinh dục có thể một hoặc nhiều loại hìnhphạt bổ sung trong điều luật quy định và xác định mức hình phạt trong phạm vi chophép để áp dụng kèm theo hình phạt chính.

Thứ hai: QĐHP đối với các tội xâm hại tình dục trẻ em chỉ áp dụng đối với cá nhân phạm tội mà không áp dụng đối với pháp nhân thương mại có hành vi phạm tội

Thứ ba: Tòa án chỉ thực hiện việc quyết định hình phạt đối với người phạm tội xâm hại tình dục trẻ em khi xác định không có căn cứ để miền trách nhiệm hình

sự hoặc miễn hình phạt đối với người phạm tội Nếu thuộc trường hợp miễn hình phạt theo Điều 59 BLHS năm 2015 về miễn hình phạt đối với người phạm tội sểkhông có việc quyết định hình phạt Nếu thuộc trường hợp miễn trách nhiệm hình

sự thì Tòa án sẽ đình chỉ vụ án mà không có việc quyết định hình phạt

Thứ tư: quyết định hình phạt đối với người phạm tội xâm hại tình dục trẻ emchỉ do Tòa án thực hiện và gắn với bản án kết tội của Toà án Dựa trên các kết quả kiếm tra, đánh giá chứng cứ tại phiên tòa, ý kiến của Kiếm sát viên, người bào chữa,

bị cáo, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, bị hại, bị hại, người làm chứng , Hội đồng xét xử sẽ quyết định hình phạt đối với người phạm tội.Trường hợp bị cáo không phạm tội xâm hại tinh dục trẻ em thi Hội đồng xét xừ sẽkhông quyết định hình phạt mà ra bản án tuyên bị cáo vô tội Còn Kiểm sát viênhoặc những người tham gia tố tụng khác chỉ cỏ quyền đề nghị Hội đồng xét xử xemxét quyết định hình phạt mà không có thẩm quyền quyết định hình phạt

Thứ năm: Khi quyết định hình phạt đối với các tội xâm hại tình dục trẻ em, Toà án phải căn cứ vào kết quả điều tra của cơ quan có thấm quyền điều tra, truy tố của Viện kiếm sát và kết quả tranh tụng tại phiên toà; đồng thời Toà án cũng cầnxem xét các ý kiến đề nghị quyết định hình phạt của Kiếm sát viên, luật sư bào chữacho bị cáo và những người tham gia tố tụng khác để xem xem toàn diện những nộidung trên mới đảm bảo việc quyết định hình phạt của Toà án chính xác, đúng phápluật, hỉnh phạt phù hợp với tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội cũngnhư các tình tiết khác của vu án

18

Trang 26

1.1.3.3 Y nghía của việc quyêt định hình phạt đôi với các tội xâm hại tình dục trẻ em

QĐHP đối với các tội xâm hại tình dục trẻ em có ý nghĩa quan trọng trongcông tác đấu tranh, phòng chống tội phạm và xử lý đúng đắn vụ án hình sự, thể hiện qua các nội dung:

Thứ nhất, QĐHP đối với các tội xâm hại tình dục trẻ em là cơ sở quan trọng

để nâng cao hiệu quả cùa hình phạt, đạt được mục đích của hình phạt khi áp dụngđối với người bị kết án Hiệu quả của hình phạt càng cao khi kết quả đạt được trongthực tế càng gần với mục đích của hình phạt Hiệu quả của hình phạt phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố như: Xây dựng pháp luật hình sự, QĐHP, chấp hành hình phạt,tuyên truyền giáo dục ý thức pháp luật cho công dân Trong các yếu tố bảo đảm và nâng cao hiệu quả của hình phạt thì QĐHP là yếu tố giữ vai trò quan trọng nhất Bởi việc xây dựng hệ thống pháp luật hình sự hoàn thiện trong công tác đấu tranh phòngchống, tội phạm chỉ có ý nghĩa khi QĐHP đúng Việc chấp hành hình phạt chỉ phát huy được tác dụng khi Tòa án QĐHP đúng nếu ỌĐHP không đúng sẽ tạo ra tâm lýhoài nghi, nếu hình phạt được tuyên không xứng so với tính chất, mức độ nguyhiểm của hành vi phạm tội sẽ dấn đến người bị kết án không thấy được sự đúng đắn của bản án và không tích cực cải tạo thành người công dân có ích cho xã hội, gây ra

dư luận xấu trong quần chúng nhân dân đối với các cơ quan bảo vệ pháp luật, không bảo đảm được mục đích của hình phạt Do vậy, việc chấp hành hình phạt đế cải tạo, giáo dục của người phạm tội sẽ kém hiệu quả, thậm chí không có hiệu quả

Thứ hai, QĐHP đúng đối với các tội xâm hại tình dục trẻ em là cơ sở để đạt được mục đích hình phạt Việc áp dụng hỉnh phạt đối với người phạm tội này có đạt được mục đích, hiệu quả hay không phụ thuộc rất nhiều vào việc QĐHP Khi Tòa

án (Hội đồng xét xử) nhân danh Nhà nước áp dụng hình phạt cho người phạm tộibao giờ cũng nhằm đạt được mục đích của hình phạt Cụ thể tại Điều 31 BLHS năm

2015 quy định:

Hình phạt không chỉ nhàm trừng trị người, pháp nhân thương mại phạmtội mà còn giáo dục họ trở thành công dân có ích cho xã hội, có ý thức

19

Trang 27

tuân theo pháp luật và các quy tăc của cuộc sông xã hội chủ nghĩa, ngănngừa họ phạm tội mới; giáo dục người, pháp nhân thương mại khác tôntrọng pháp luật, phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm.

Như vậy, mục đích của hình phạt luôn có hai mặt: Trừng trị và giáo dục Đối với người phạm tội hình phạt có mục đích trừng trị và giáo dục cải tạo họ trở thành người có ích trong xã hội; đối với những người không vững vàng trong xã hội, hình phạt có mục đích ngăn ngừa họ phạm tội; đối với những thành viên khác trong xã hội có tác dụng giáo dục, nâng cao ý thức pháp luật, động viên họ tích cực tham giavào cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm

Việc QĐHP đối với các tội xâm hại tình dục trê em phải bảo đảm cho hìnhphạt đà tuyên đạt được cả hai mục đích trừng trị và giáo dục, khi QĐHP Tòa án không được coi nhẹ mặt nào Nếu coi nhẹ mục đích giáo dục thì sẽ dẫn đến QĐHP quá nặng, người phạm tội có tâm lý cho rằng hình phạt đã tuyên không thoa đáng từ

đó dẫn đến việc người bị kết án không tích cực cải tạo thành người công dân có íchcho xã hội, mục đích giáo dục không đạt được Nếu coi nhẹ mục đích trừng trị sẽdẫn đến QĐHP quá nhẹ không tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội nên người phạm tội sẽ coi thường pháp luật, quần chúng nhân dân

sẽ thiếu tin tưởng vào pháp luật

Thứ ba, QĐHP đúng đối với các tội xâm hại tình dục trẻ em góp phần củng

cố pháp chế và trật tự pháp luật XHCN Đe QĐHP đúng đòi hỏi Tòa án phải nhậnthức sâu sắc cũng như tuân thủ các quy định về QĐHP và các quy định khác có liên quan Hình phạt áp dụng cho người phạm tội phải tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiềm cho xã hội, nhân thân người phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ, tăngnặng trách nhiệm hình sự Hình phạt không chỉ nhằm cải tạo, giáo dục người phạm tội, mà còn có tác dụng giáo dục, tuyên truyền pháp luật trong quàn chúng nhândân Việc Toà án tuyên hình phạt đúng đối với người xâm hại tình dục trẻ em sè có tác dụng sâu rộng trong quần chúng nhân dân, làm cho quần chúng nhân dân thấy được sự nghiêm minh của pháp luật để tự giác tuân thủ pháp luật, tích cực tham giađấu tranh phòng, chống tội phạm

20

Trang 28

1.2 Các nguyên tắc quyết định hình phạt đối với các tội xâm hại tình

dục trẻ em

Khi nói đến nguyên tắc theo cuốn Từ điển Tiếng Việt xuất bản năm 2000 thì nguyên tắc “điều cơ bản định ra, nhất thiết phải tuân theo trong một loạt việc làm ” [35, tr.694] Do vậy, chúng ta có thể hiểu nguyên tắc của luật hình sự

là những tư tưởng chỉ đạo xuyên suốt toàn bộ quá trình xây dựng và áp dụng pháp luật hình sự Các nguyên tác này phải được tuân thủ chặt chẽ trong quá trình xây dựng cũng như áp dụng pháp luật hình sự Nguyên tắc pháp luật lànhững nguyên tắc chung mang tính chất chính trị - xã hội của pháp luật, làm cơ

sở cho các quy định của các đạo luật

Nguyên tắc QĐHP chỉ là những tư tưởng chỉ đạo được quy định trong phápluật hình sự, có ý nghĩa quan trọng trong việc định hướng hoạt động của Tòa án khi

áp dụng chế tài luật hình sự đối với người phạm tội, pháp nhân thương mại phạmtội Trong luật hình sự Việt Nam, các nguyên tắc QĐHP không được ghi nhận chính thức trong BLHS, trong khoa học luật hình sự vẫn chưa có cách hiếu thống nhất,giữa các nhà khoa học vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau như:

Theo GS.TSKH Đào Trí úc:

Các nguyên tắc quyết định hinh phạt tồn tại ở các mặt này hay các mặt khác của các căn cứ quyết định hình phạt Những căn cứ quyết định hìnhphạt la những biểu hiện, đòi hòi cụ thể của các nguyên tắc quyết địnhhình phạt [33, tr.238]

PGS.TS Kiều Đình Thụ viết:

Các nguyên tắc cơ bản của luật hỉnh sự là các tư tưởng chủ đạo, nền tảngcủa việc xây dựng và thực hiện luật hình sự, phản ánh tính quy luật của cuộc đấu tranh chống và phòng ngừa tội phạm [27, tr 16]

Theo GS.TSKH Lê Cảm cho rằng:

Nguyên tắc của luật hình sự “là tư tưởng chủ đạo và là định hướng cơ bản được thể hiện trong pháp luật hình sự (PLHS) cũng như việc giaithích và trong thực tiễn áp dụng PLHS thông qua một hay nhiều quy phạm hoặc chế định của nó” [5, tr.3]

21

Trang 29

Theo đó, có thê hiêu các nguyên tăc của luật hình sự là những tư tưởng chỉđạo xuyên suốt toàn bộ quá trình xây dựng và áp dụng luật hình sự Các nguyên tắcnày phải được tuân thủ chặt chẽ trong quá trình xây dựng cũng như áp dụng pháp luật hình sự Là một hoạt động trong áp dụng pháp luật hình sự, việc ỌĐHP không chỉ tuân thủ các nguyên tắc của luật hình sự nói chung mà còn tuân thú các nguyêntắc đặc thù cho việc QĐHP - các nguyên tắc QĐHP.

Từ những phân tích trên, tác giả đồng tình với quan điểm của Võ Khánh Vinh và Trần Thị Quang Vinh định nghĩa các nguyên tắc QĐHP: “Các nguyên tắc QĐHP là những tư tưởng xuất phát tư tưởng chỉ đạo được quy định trong pháp luật hình sự và do giải thích mà có, xác định và định hướng hoạt động của Tòa án khi

áp dụng chế tài luật hình sự đổi với người phạm tội” [38, tr.387] Các nguyên tắc QĐHP bao gồm: Nguyên tắc pháp chế; nguyên tắc nhân đạo; nguyên tắc cá thể hóa;nguyên tắc công bằng

Khi QĐHP đối với các tội xâm hại tình dục trẻ em đòi hỏi phải tuân thủ triệt

để các nguyên tắc của BLHS, những nguyên tắc này bảo đảm cho việc QĐHP cócăn cứ, đúng pháp luật, đạt được mục đích của hình phạt Đó là nguyên tắc pháp chế, nguyên tắc nhân đạo, nguyên tắc công bằng và nguyên tắc cá thể hóa hình phạt

1.2.1 Nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa

Nguyên tắc pháp chế XHCN là một nguyên tắc cơ bản, xuyên suốt toàn bộ hoạt động xây dựng pháp luật và áp dụng pháp luật hình sự Nói đến pháp chế là nóiđến sự triệt đế tuân thủ pháp luật của Nhà nước, các tổ chức xã hội và công dân.Pháp chế XHCN còn là một yếu tố quan trọng của quá trình đổi mới pháp luật ờViệt Nam Trong các nguyên tắc QĐHP, nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩađóng vai trò quan trọng hàng đầu, vi phạm nguyên tắc pháp chế cũng có nghĩa là vi phạm các nguyên tắc khác ờ mức độ khác nhau Tư tường cơ bản bao trùm của nguyên tắc pháp chế XHCN được thể hiện ở chỗ, khi áp dụng hình phạt, Tòa án phải tuân thủ nghiêm chỉnh các quy định của luật hình sự [41, tr.374] Trong luậthình sự, nội dung của nguyên tắc pháp chế XHCN trong QĐHP được thể hiện tại các quy định Phần chung cũng như quy định phần các tội phạm Ở phần chung,

22

Trang 30

nguyên tăc này được thê hiện trước hêt tại Điêu 30 BLHS năm 2015: “Hình phạt là hiên pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước, được quy định trong Bộ luật hình sự và do Tòa án quyết định ” Việc quy định về các căn cứ QĐHP cũng thểhiện rõ nguyên tắc này Cụ thể Điều 50 BLHS năm 2015: “Khi QĐHP, Tòa án căn

cứ vào quy định của Bộ luật này, cân nhắc tinh chất và mức độ nguy hiếm cho xã hội của hành vỉ phạm tội, nhân dân người phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự” [22] Các quy định khác có liên quan đến hình phạt và QĐHP cũng thể hiện rõ nguyên tắc pháp chế XHCN trong QĐHP như quy định về

hệ thống hình phạt, phạm vi, điều kiện áp dụng các hình phạt cụ thể Ỏ phần các tội phạm, nguyên tắc pháp chế trong QĐHP được thể hiện ở chỗ nhà làm luật quyđịnh rõ giới hạn, loại hình phạt áp dụng cho từng tội cụ thể để các Tòa án tuân theo.Trong áp dụng luật hình sự, nội dung của nguyên tắc pháp chế XHCN khi Tòa ánỌĐHP được thể hiện như sau:

Khi QĐHP, Tòa án phải tuân theo trinh tự và các điều kiện áp dụng các loại hình phạt cụ thể trong BLHS Hình phạt với tính chất là biện pháp cưỡng chếnghiêm khắc nhất của Nhà nước được áp dụng đối với người phạm tội Khi QĐHP,nếu không căn cứ vào các chế định do BLHS quy định thì không đạt được mục đíchhình phạt mà còn vi phạm nguyên tắc pháp chế XHCN

Khi ỌĐHP phải lựa chọn hình phạt tối ưu nhất, vừa phù hợp với tính chất,mức độ nguy hiếm cho xã hội, vừa phục vụ yêu cầu chính trị trong từng giai đoạn, ở từng địa phương Khi áp dụng đúng pháp luật hình sự không chi áp dụng đúng lờivăn mà còn phải hiểu đúng tinh thần của quy phạm pháp luật Các quy phạm pháp luật hình sự thường trình bày dưới hình thức khái quát cao, nếu không tìm hiểu cácquy phạm theo quan điểm, chính sách hình sự của Đảng và Nhà nước thì không thể nắm được đầy đủ tinh thần của pháp luật hình sự

Cũng như tội phạm khác, hình phạt quy định đối với các tội XHTD trẻ emđược quy định tại các điều 142, 144, 145, 146, 147 của BLHS năm 2015, đó là sự thểhiện rõ nét nguyên tắc pháp chế về hình phạt Do vậy, khi QĐHP đối với các tộiXHTD trẻ em nguyên tắc pháp chế XHCN đòi hởi khi xét xử về tội nào thi phải căn

cứ vào điều luật đó

23

Trang 31

Đôi với các tội XHTD trẻ em việc xác định tính chât, mức độ nguy hiêm khiquyết định hình phạt là hết sức cần thiết, bởi nó không quy định chế tài cụ thể mà quy định chế tài lựa chọn Vì vậy, khi QĐHP cũng phải áp dụng một loại và một mức hình phạt cụ thể Đạo luật hinh sự Việt Nam không có hiệu lực hồi tố Tuy nhiên, khi thayJ đối chính sách phápA A luật thì đạo luật hình sự lại có hiệu lực• • hồi tố nhưtrường hợp liên quan tới đạo luật hình sự mới nhẹ hơn, ít nghiêm khắc hơn so với luật cũ Điều này được quy định tại khoản 3, điều 7 của BLHS 2015 Do đó, khiQĐHP đối với các tội xâm hại tình dục trẻ em cần tuân thủ khi áp dụng để cho phùhợp với nguyên tắc của BLHS.

Nguyên tắc pháp chế còn thề hiện tính chính xác, tính lập luận và bắt buộc có trong bản án được tuyên, tính hợp lý của việc QĐHP Trước hết là hình phạt quyết định đối với bị cáo phải cụ thể về loại và mức hình phạt, hai là Tòa án phải làm sáng tỏ tình tiết trong vụ án để làm căn cứ cho việc QĐHP những tình tiết đó đều phải được thấm vấn, kiểm tra lại trong quá trinh xét xử đồng thời phải chỉ rõ lý do của việc QĐHP Như vậy quá trình xét xử và ỌĐHP đối với các tội xâm hại tìnhdục trẻ em phải tuân thủ nghiêm ngặt các quy định trong BLTTHS, bảo đảo tuân thủnguyên tắc pháp chế XHCN trong tố tụng hình sự “Mọi hoạt động tố tụng phải được tiến hành theo quy định của bộ luật này ” Nguyên tắc pháp chế XHCN khi QĐHP đối với các tội xâm hại tình dục trẻ em thể hiện ở việc hình phạt chỉ có thể áp dụngđối với cá nhân, người có hành vi phạm tội

1.2.2 Nguyên tắc nhăn đạo xã hội chủ nghĩa

Nguyên tắc nhân đạo XHCN không chỉ là một nguyên tắc của luật hình sự

mà còn là nguyên tắc đặc thù cho hoạt động ỌĐHP Nguyên tắc nhân đạo XHCNtrong QĐHP được thể hiện cả phần chung và phần các tội phạm của BLHS

Ở phần chung, nguyên tắc nhân đạo thể hiện trước hết tại Điều 3 BLHS năm

2015 - Nguyên tắc xử lý tội phạm:

Khoan hồng đối với người tự thú, thành khẩn khai báo, tố giác đồngphạm, lập công chuộc tội, tích cực hợp tác với cơ quan có trách nhiệm trong việc phát hiện tội phạm hoặc trong quá trình giải quyết vụ án, ănnăn, hối cải, tự nguyện sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại gây ra

24

Trang 32

Điêu 31 BLHS năm 2015 mục đích hinh phạt đã khăng định:

Hình phạt không chỉ nhằm trừng trị mà còn giáo dục ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống, ngăn ngừa họ phạm tội mới

Ngoài ra, nguyên tắc này còn được thể hiện trong quy định về phạm vi, điều kiện áp dụng một số hình phạt cụ thể, quy định QĐHP đối với người chưa thành niên phạm tội và một số quy định khác Ví dụ: “ không áp dụng hình phạt tùchung thân hoặc tử hình đối với người dưới 18 tuổi phạm tội” (khoản 5, điều 91BLHS),’ không áp hình phạt tử hình đối với người dưới 18 tuổi phạm tội; phụ nữ

có thai hoặc phụ nữ nuôi con dưới 36 tháng tuối hoặc người đủ 75 tuổi trở lên phạm tội hoặc khi xét xử” (Điều 40)

Ớ phần riêng, nguyên tắc nhân đạo được thể hiện trong khung hình phạt giảm nhẹ và một số khung cơ bản Trong áp dụng luật hình sự, nội dung cơ bản của nguyên tắc nhân đạo trong QĐHP phải xuất phát từ tư tưởng nhân đạo để áp dụng

và tuân thủ các quy định của luật hình sự về hình phạt cũng như ỌĐHP

Khi ỌĐHP phải đặt mục đích giáo dục, cải tạo người phạm tội là mục đích quan trọng hàng đầu Điều đó có nghĩa rằng, nếu người phạm tội có nhiều tình tiếtgiảm nhẹ thì hình phạt áp dụng phải nhẹ hơn so với trường hợp không có tình tiếtgiảm nhẹ (trong điều kiện các tình tiết khác tương đương)

Khi QĐHP phải cân nhắc đến đặc điếm nhân thân người phạm tội trongphạm vi luật định như phạm tội lần đầu, bị cáo là thương binh, người có nhiều thành tích xuất sắc trong sản xuất, công tác, chiến đấu đặc điểm thuộc về tâm sinh lý của người phạm tội cũng như hoàn cảnh đặc biệt của người phạm tội như phụ nữ có thai, người già, người bị hạn chế khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi Do vậy các dặc điểm thuộc về nhân thân, tâm sinh lý cần xem xét để giảm nhẹ cho người phạm tội

Nguyên tắc nhân đạo trong việc QĐHP đối với các tội xâm hại tình dục trẻ

em đòi hởi khi QĐHP những người tiến hành tố tụng luôn đặt mục đích giáo dục, cải tạo người phạm tội lên hàng đầu, cân nhắc các đặc điểm về nhân thân của người phạm tội trong phạm vi luật định và những đặc điểm tâm sinh lý cũng như hoàn

25

Trang 33

cảnh cụ thê của người phạm tội đê ỌĐHP ở mức cân thiêt thâp nhât nhăm bảo đảm mục đích ngăn ngừa chung và mục đích giáo dục quần chúng nhân dân tham gia tích cực vào cuộc đấu tranh phòng ngừa tội phạm Tuy nhiên thực hiện nguyên tắc nhân đạo trong QĐHP đối với các tội xâm hại tình dục trẻ em không đồng nghĩa với việc bỏ qua các căn cứ, quy định chung về QĐHP mà ngoài việc tuân thủ các quyđịnh chung về QĐHP Tòa án phải tuân thủ các quy định cụ thể đối với các tội xâmhại• • tình dục trẻ em.

Nguyên tắc nhân đạo trong QĐHP đối với các tội xâm hại tình dục trẻ emđược các nhà làm luật xác định việc xâm hại đối với trẻ em là hành vi nguy hiểmcho xã hội để làm căn cứ xác định mức độ nghiêm trọng cùa hành vi phạm tội, qua

đó quy định các mức hình phạt tương ứng trong các khung, khoản cụ thể của điều luật Do đó, khi QĐHP đòi hỏi Hội đồng xét xử phải căn cứ vào các điều, khoản cụ thể để bảo đảm nguyên tắc nhân đạo xã hội chủ nghĩa

vi phạm tội thì nguyên tắc công bằng càng được thực hiện triệt để Theo từ điển Tiếng Việt thì công bằng được hiểu là “ theo lẽ phải, không thiên vị” [35, tr.207J ởnước ta, tư tưởng công bằng được thế hiện rõ trong đường lối chính sách của Đảng

và các vãn bản pháp luật của Nhà nước Trong luật hình sự, nguyên tắc công bằngtrong QĐHP được thể hiện ở cả Phần chung và Phần các tội phạm

Trong phần chung, nguyên tắc công bằng trong QĐHP được thể hiện tại Điều 3 BLHS năm 2015: “ Mọi người phạm tội đều bình đằng trước phảp luật, không phân biệt giới tính, dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo, thành phần, địa vị xã hội ” Các quy định thể hiện nguyên tắc công bằng như: Quy định phân loại tội

26

Trang 34

phạm, mục đích hình phạt, hệ thông hình phạt, nội dung, điêu kiện áp dụng từngloại hình phạt, căn cứ QĐHP Trong các quy định thì quy định về các căn cứ QĐHP thể hiện rõ nhất nguyên tắc công bằng Chỉ khi nào hình phạt đã tuyên tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiềm cho xã hội, nhân thân người phạm tội cũngnhư các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS khi đó hình phạt này mới chính xác, công bằng đối với người phạm tội.

Ở phần các tội phạm, đối với với các tội phạm cụ thể, BLHS quy định khung hình phạt khác nhau, nếu tội phạm càng nguy hiểm thì hình phạt càng nghiêm khắc.Trong áp dụng luật hinh sự, nguyên tắc công bằng trong QĐHP thể hiện trong từngtrường hợp cụ thể, phù hợp với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành viphạm tội không phân biệt giới tính, dân tộc, tôn giáo, tín ngưỡng, tình trạng tài sản của người phạm tội

Khi QĐHP phải thống nhất trong việc đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểmcho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội cũng như tình tiết giảmnhẹ, tăng nặng TNHS nếu có Do vậy, nguyên tắc công bằng khi ỌĐHP là cácnguyên tắc đặc thù, định hướng cho hoạt động xét xử của Tòa án để QĐHP đúngđối với người phạm tội Nguyên tắc công bằng được thể hiện bằng sự tương xứnggiữa tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội và trách nhiệm hình sự của người phạm tội phải chịu, sự tương xứng được thể hiện: ở mức độ lập pháp hinh sự: Thể hiện chính sách hình sự là vấn đề tội phạm hóa và phi tội phạm hóa:

Tội phạm hóa là việc ghi nhận trong pháp luật hình sự một hành vi nào

đó là tội • Xphạm và quyX J định trách nhiệm hình sự đối với việc •••thực hiệnhành vi đó và ngược lại hoặc phi tội phạm hóa loại trù’ khỏi pháp luật hình sự hiện hành một hành vi nào đó (mà trước đây bị coi là tội phạm)

và hủy bỉ trách nhiệm hình sự đối với việc thực hiện hành vi đó [6, tr.29J.Thể hiện chính sách hình sự là vấn đề hình sự hóa, phi hình sự hóa “Nội hàmcủa phạm trù hình sự hóa các quan hệ pháp luật phi hình sự là việc áp dụng không đúng các quy phạm pháp luật hình sự (về nội dung) và pháp luật TTHS (về hình thức) của cá nhân, cơ quan nhà nước có thẩm quyền (vỉ những nguyên nhân khác

27

Trang 35

nhau) khi giải quyêt sự xung đột các quan hệ xã hội trong giao dịch kinh tê, dân sựhoặc vụ, việc vi phạm pháp luật nào đó mặc dù không có dấu hiệu của cấu thành tộiphạm được quy định trong BLHS, mà lể ra cần phải áp dụng các quy phạm phápluật hinh sự tương ứng như: pháp luật hành chính, pháp luật dân sự để giải quyết mới đúng pháp luật và hợp lý Nội hàm của phạm trù phi hình sự hóa các quan hệ pháp luật hình sự là việc áp dụng không đúng các quy phạm pháp luật hình sự phihoàn toàn không tương ứng như: pháp luật hành chính, pháp luật dân sự của cá nhân, cơ quan nhà nước có thẩm quyền (vì những nguyên nhân khác nhau) khi giải quyết sự xung đột các quan hệ xã hội trong giao dịch kinh tế, dân sự hoặc vụ, việcnào đó mặc dù đã có đầy đủ những dấu hiệu của cấu thành tội phạm tương ứng, cụ thể được quy định trong BLHS, mà lẽ ra cần phải áp dụng các quy phạm pháp luật hình sự (về nội dung) và pháp luật tố tụng hình sự (về hinh thức) để giải quyết mới đúng pháp luật và họp lý” [7, tr.43-44].

Nguyên tắc công bằng trong QĐHP đối với các tội xâm hại tình dục trẻ emđược bảo đảm bằng các chế định, quy định khác nhau như quy định về đường lối xử

lý, về miễn trách nhiệm hình sự, về các hệ thống hình phạt Khi QĐHP đối với các tội xâm hại tình dục trẻ em được áp dụng theo nguyên tắc: Người phạm tội gây hậu quả lớn thì hình phạt áp dụng phải cao hơn so với người gây thiệt hại nhỏ

Nguyên tắc công bằng trong ỌĐHP đối với các tội xâm hại tình dục trẻ emđòi hỏi hình phạt đã tuyên phải phản ánh một cách đúng đắn dư luận xã hội, ý thứcpháp luật và đạo đức xã hội, phải có tính thuyết phục ở tính đúng đắn, tính công bằng trong chính sách xét xử, phù họp với tư tưởng pháp lý tiến bộ của nhân loại về

sự công bằng của pháp luật được quy định trong các văn bản pháp luật quốc tế, đồng thời phải bảo đảm quyền con người, quyền công dân trong xã hội

1.2.4 Nguyên tắc cá thể hóa hình phạt

Nguyên tắc cá thể hóa hình phạt là làm cho hình phạt được tuyên phải tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS Trong luật hình sự,nguyên tắc cá thể hóa hình phạt trong QĐHP được thể hiện trong các quy phạmphần chung và phần các tội phạm

28

Trang 36

Phân chung của BLHS, trước hêt nội dung này được thê hiện ở Điêu 3 của BLHS năm 2015 nguyên tắc xử lý:

Nghiêm trị người chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy, ngoan cố chống đối, côn

đồ, tái phạm nguy hiểm, lợi dụng chức vụ, quyền hạn để phạm tội; Nghiêm trị người phạm tội dùng thủ đoạn xảo quyệt, có tố chức, có tínhchất chuyên nghiệp, cố ý gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng Khoan hồng đối với người tự thú, đầu thú, thành khẩn khai báo, tố giác đồngphạm, lập công chuộc tội, tích cực họp tác với cơ quan có trách nhiệmtrong việc phạt hiện tội phạm hoặc trong quá trình giải quyết vụ án, ănnăn, hối cải, tự nguyện sửa chừa hoặc bồi thường thiệt hại gây ra

Mặt khác, tại✓ • điều 9 của BLHS năm 2015 chia tội phạm ra làm • A • 4 loại ••Xetội (tội

ít nghiêm trọng, tội nghiêm trọng, tội rất nghiêm trọng, tội đặc biệt nghiêm trọng) cũng thể hiện rõ nguyên tắc cá thể hóa hình phạt trong QĐHP và thể hiện rõ quanđiểm của Nhà nước khi xử lý tội phạm có các hành vi, tính chất, mức độ nguy hiềm cho xã hội khác nhau thì mức hình phạt quy định cũng khác nhau Các điều luật quyđịnh về QĐHP trong trường hợp chuấn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt, trường hợpđồng phạm cũng thể hiện nguyên tắc cá thể hóa hình phạt trong QĐHP Nội dungcủa nguyên tắc này được thể hiện trong các điều luật quy định về hệ thống hình phạt

và thể hiện rõ trong quy định về căn cứ QĐHP

Phần các tội phạm, nguyên tắc cá thể hóa hình phạt trong QĐHP được thể hiện ở các chế tài quy định cho các tội phạm cụ thể Các chế tài được quy định đa

phần là chế tài lựa chọn, sự đa dạng về loại hình phạt đã tạo điều kiện thuận lợi cho

29

Trang 37

giảm nhẹ TNHS của từng người đông phạm Ngoài ra, khi ỌĐHP phải chú ý đên giai đoạn phạm tội; tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi đà thựchiện, mức độ thực hiện ý định phạm tội và những tình tiết khác khiến cho tội phạmkhông thực hiện đến cùng

Khi QĐHP, Tòa án cần xem xét những đặc điểm thuộc về nhân thân ngườiphạm tội như trình độ học vấn, lối sống, ý thức chính trị, ý thức pháp luật, nghề nghiệp, hoàn cảnh gia đình và chỉ rõ trong bản án những điểm tốt, điểm xấu trongnhân thân người phạm tội, đồng thời chỉ cân nhắc những tình tiết có ý nghĩa đối với việc QĐHP cho người phạm tội Theo PGS.TS Võ Khánh Vinh:

Việc làm sáng tỏ và cân nhắc các đặc điềm thuộc về nhân thân người phạm tội giúp ta hiếu được quá khứ, hiện tại và khả năng cải tạo, giáodục của người phạm tội, xác định nguyên nhân điều kiện của việc thựchiện tội phạm, xác định được • • 1 • y • • mức độ• lỗi của bị cáo • Tất cả các tình tiết

đó có ý nghĩa rất lớn đối với việc cá thể hoá hình phạt L37, tr.l4J

Nguyên tắc cá thể hóa được thể chế hóa trong hệ thống hinh phạt và các điều kiện áp dụng hình phạt này hay hình phạt khác Hệ thống hình phạt được quy định trong điều 32, 33 của BLHS năm 2015 thể hiện tính đa dạng của hệ thống hình phạt tạo điều kiện tối ưu cho việc cá thể hóa hình phạt Nguyên tắc cá thể hóa được thểhiện rõ nét và tổng hợp nhất các quy định về việc QĐHP tại chương VI và các điềuluật khác trong phần chung của BLHS năm 2015 Ví dụ: QĐHP đối với đồng phạm, người chưa thành niên phạm tội, trường hợp phạm tội chưa đạt

Khi QĐHP đối với các tội XHTD trẻ em ngoài các quy định chung về QĐHP, cần phải tuân thủ các quy định tại các điều 142, 144, 145, 146, 147 của BLHS năm 2015 Tòa án phải xem xét cụ thế hành vi của người phạm tội đã cấu thành tội gì thuộc điềm, khoản nào của điều luật Hành vi đó gây ra hậu quả nặngnhẹ ra sao, tính chất mức độ, nhân thân và hoàn cảnh phạm tội như thế nào, tộiphạm được thực hiện do cá nhân hay có đồng phạm, có người xúi giục không, tínhchất đồng phạm giản đơn hay có tố chức Trên cơ sở xem xét đánh giá các yếu tố và

áp dụng các quy định thuộc phần chung và phần tội phạm cụ thể của BLHS Tòa án

30

Trang 38

sẽ quyêt định chọn mức hình phạt cụ thê đê áp dụng đôi với người phạm tội nhăm đạt được• • • 1 mục đích của hình phạt.•

1.3 Các căn cứ quyết định hình phạt đối với các tội xâm hại tình dục trẻ em

Các căn cứ QĐHP nói chung và ỌĐHP đối với các tội xâm hại tình dục trẻ

em nói riêng trước hết phải căn cứ theo điều 50 của BLHS năm 2015, sửa đối bốsung năm 2017 bao gồm: Các quy định của BLHS; tính chất, mức độ nguy hiểmcho xà hội của hành vi phạm tội; nhân thân người phạm tội; các tình tiết giảm nhẹ

và tăng nặng TNHS

1.3.1 Các quy định của Bộ luật hình sự

Căn cứ các quy định của BLHS bảo đảm cho việc thực hiện nguyên tắc phápchế XHCN trong hoạt động xét xử Khi ỌĐHP thì các quy định của BLHS bao giờ cũng là tiêu chuẩn pháp lý cao nhất để bảo đảm QĐHP đúng, tạo khả năng cao nhấtđạt được mục đích của hình phạt Việc quy định căn cứ “các quy định cùa BLHS”với tính chất là một càn cứ QĐHP trong BLHS là cần thiết bởi nó sẽ tạo cơ sở pháp

lý giúp cho việc QĐHP được chính xác và thống nhất trong phạm vi cả nước Trongmối liên hệ với các căn cứ khác “các quy định của BLHS” là căn cứ cần thiết bởi vì

nó là cơ cở bảo đảm cho việc vận dụng các căn cứ QĐHP còn lại Nếu, Tòa án vận dụng không đúng căn cứ “các quy định của BLHS” thi hình phạt tuyên cho bị cáokhông đạt được mục đích của hình phạt Điều đó có nghĩa là việc vận dụng đúng căn

cứ “các quy định của BLHS” hỗ trợ cho việc vận dụng đúng ba căn cứ còn lại Như vậy, khi QĐHP cần phải căn cứ vào tất cả các quy định cùa BLHS và phải chỉ rõ trong bản án những quy định của BLHS có liên quan trực tiếp đến việc quyết định một hình phạt cụ • X • • thể với bị cáo

Căn cứ vào quy định của BLHS được quy định làm căn cứ đầu tiên và mang tính bắt buộc đối với Tòa án khi QĐHP nên đã tránh được tình trạng tùy tiện, áp dụng hình phạt không tương xứng với tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội Mặt khác sự ghi nhận căn cứ quy định của BLHS còn tạo cơ sớ pháp lýgiúp cho việc QĐHP một cách chính xác và thống nhất

Khi QĐHP căn cứ đầu tiên và quan trọng nhất là 'Tiền đề bảo đảm cho việc

31

Trang 39

QĐHP được đúng” [17, tr.120] nó chính là các quy định của BLHS năm 2015 (gôm

cả phần chung và phần riêng). Phần chung của BLHS mang tính nguyên tắc còn phần các tội phạm sẽ chỉ ra tội danh cụ thể, loại hình phạt và mức hình phạt đối với người thực hiệnLrJ •• hành vi phạm tội1 • • đà xâm hại tới khách• thề được•• luật hình sự • bảo vệ.•

Khi QĐHP đối với các tội xâm hại tình dục trẻ em trước hết phải căn cứ vàocác điều 142, 144, 145, 146, 147 của BLHS năm 2015 bên cạnh đó căn cứ QĐHP được quy định tại phần chung Căn cứ hành vi cụ thể để xác QĐHP và xác định hành vi đó đã vi phạm vào điểm, khoản, điều luật và hình phạt được áp dụng Khi QĐHP phải căn cứ vào quy định của BLHS đó là tiền đề cho HĐXX xem xét các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại các điều 51, 52 BLHS và là yếu tố rất quan trọng khi ỌĐHP

Từ những phân tích trên có thể kết luận “quy định của BLHS” là căn cứ cơ bản đầu tiền và quan trọng nhất khi xem xét QĐHP Nguyên tắc này là sự cụ thểhóa của nguyên tắc pháp chế XHCN

1.3.2 Tính chất, mức độ nguy hiếm cho xã hội của hành vi phạm tội

Khi xem xét tính chất, mức độ nguy hiếm cho xã hội của hành vi phạm tội cần phải đánh giá một cách toàn diện, khách quan để quyết định loại hình phạt và khung hình phạt phù hợp Khi QĐHP gặp không ít khó khăn trong việc đánh giá tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội bởi các quy địnhcủa pháp luật hình sự không quy định cụ thế khái niệm, tính chất và mức độ nguyhiểm cho xã hội cùa của tội phạm đã thực hiện, không chỉ ra các dấu hiệu, cơ sở để xác định, đánh giá chúng Tính chất nguy hiểm cho xã hội cùa tội phạm được thểhiện ở hai khái niệm “tính chất” và “mức độ” nguy hiểm cho xã hội của hành viphạm tội Khi nói đến tính nguy hiếm cho xã hội của hành vi phạm tội là nói đến các ranh giới; mức độ khác nhau trong cùng một khung hình phạt; trong cùng mộttội phạm hoặc một nhóm tội phạm; mức độ khác nhau giữa các nhóm tội phạm với nhau Tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm trước hết được quyếtđịnh bởi ý nghĩa, tầm quan trọng và giá trị cùa các quan hệ xã hội bị tội phạm đó xâm hại - khách thể của tội phạm Bên cạnh đó, tính chất, mức độ nguy hiểm cho

32

Trang 40

xã hội còn phụ thuộc vào các yêu tô khác như: Tính chât của hành vi phạm tội như phương pháp, thủ đoạn, công cụ, phương tiện phạm tội; hậu quả đã gây ra Mức độ lỗi của người phạm tội như: tính chất của động cơ, quyết tâm phạm tội, nguyên nhân và điều kiện phạm tội; nhân thân của người có hành vi nguy hiểm cho xãhội Tính chất và mức độ nguy hiếm cho xã hội của tội phạm được nhà làm luật cân nhắc và thế hiện khi quy định tội phạm, quy định chế tài và khung chế tài đốivới tội phạm đó Do đó, khi QĐHP phải căn cứ vào cả tính chất lẫn mức độ nguyhiểm cho xã hội của tội phạm đã được thực hiện nếu đánh giá mang tính nặng vềhình thức hoặc thiên lệch tức là (coi nặng về mặt chất, coi nhẹ về mặt lượng vàngược lại) thì sẽ rất nguy hiểm bởi khi có sự biến đổi về lượng trong khung hình phạt đến một mức độ nhất định nào đó (tăng lên hoặc giảm xuống ở một mức độ đáng kể) sẽ dẫn đến việc QĐHP không chính xác Đối với các tình tiết chứng minh tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội phải nêu rõ trongbản án, căn cứ vào đó và cùng với các tình tiết khác đề chọn loại và mức hình phạt

cụ thể đổi với bị cáo Chỉ khi bảo đảm được sự cân nhắc tồng thể các tinh tiết đó và với việc dựa vào các căn cứ khác (nhân thân người phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ

và các tình tiết tăng nặng), Tòa án mới có đầy đú căn cứ để quyết định được loại và mức hình phạt công bằng và đúng pháp luật

Nếu chỉ căn cứ vào quy định của BLHS là căn cứ khi QĐHP thì chưa thể xác định được loại và mức hình phạt cụ thể để áp dụng cho người phạm tội cần dựavào quy định tại Điều 50 BLHS năm 2015 là “Tính chất và mức độ nguy hiếm cho

xã hội của hành vỉ phạm tộiTrong thực tiễn xét xử mỗi loại tội phạm có thể gây

ra tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội, nhân thân người phạm tội, các tinh tiếttăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự khác nhau Do vậy, khi QĐHP cần dựavào từng trường hợp cụ thể để xác định tình chất và mức độ nguy hiềm cho xã hộicủa hành vi phạm tội nên việc quy định tính chất, mức độ nguy hiếm cho xã hội của hành vi phạm tội là căn cứ tiếp theo khi QĐHP, có ý nghĩa giúp cho việc QĐHP phù hợp với người phạm tội

Tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội trong các

33

Ngày đăng: 12/08/2022, 09:04

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w