Chính vì vậy ĐKKD được nhìn nhận dưới nhiều phương diện chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, pháp lý,...Ở góc độ pháp lý ĐKKD được hiểu là một hoạt động pháp lý, theo đó nhà đầu tư doanh
Trang 1ĐẠI HỌC QUỎC GIA HÀ NỘI
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận vãn là công trình nghiên cứu của riêng tôi
nào khác Các sổ liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tỉnh chỉnh
xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại
đồng Khoa học nhà trường, Khoa Đào tạo sau đại học và Ban Giảm hiệu Đại học Quốc gia Hà Nội.
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
NGƯỜI CAM ĐOAN
Lê Tiến Dũng
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình học tập, thực hiện công trình nghiên cứu này, tôi đã nhận đuợc sự quan tâm, hướng dẫn nhiệt tình của các thầy giáo, cô giáo Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội, sự giúp đỡ và tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất từ lãnh đạo, đồng nghiệp
Với lòng kính trọng tôi xin được bày tỏ lời cảm ơn chân thành tới các thầy giáo, cô giáo của Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội, lãnh đạo, đồngnghiệp cơ quan: Thanh tra tỉnh, Hội Luật gia tỉnh, Trung tâm Phục vụ hành chính công tỉnh, Sở Kế hoạch và Đầu tư, UBND tỉnh Lai Châu Tôi xin gửilời cảm ơn chân thành sâu sắc nhất tới Tiến sỳ Phan Thị Thanh Thủy - Người hướng dẫn khoa học trực tiếp truyền đạt những kiến thức và tận tinh hướng dẫn tôi trong quá trình nghiên cứu khoa học để hoàn thành Luận văn tốtnghiệp cùa mình
Với tình cảm thân thương tôi xin cảm ơn gia đình, những người thân luôn bên cạnh động viên, chia sẻ, dành thời gian cho tôi để hoàn thành khóahọc và công trinh nghiên cứu này với kết quả cao nhất
Mặc dù có nhiều cố gắng song khả năng nghiên cứu của bản thân cònhạn chế vì đây là đề tài mới, nguồn tài liệu không nhiều, chưa có người nghiên cứu công trình trên địa bàn tỉnh Lai Châu, nhất là trong thời điểm giao thời giữa Luật Doanh nghiệp năm 2014 và Luật Doanh nghiệp năm 2020 mới ban hành (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2020) dần đến luật cũ hết hiệu lực, nên chắc chắn Luận văn không thể tránh khỏi những tồn tại, hạn chế,thiếu sót nhất định, bản thân rất mong nhận được những ý kiến đóng góp chânthành từ các thầy giáo, cô giáo, lãnh đạo, đồng nghiệp để tôi tiếp tục hoànthiện công trình nghiên cứu này
Qua công trình nghiên cứu, tôi đã hiểu thêm, trau dồi được phương pháp, kỹ năng nghiên cứu khoa học, điều đó giúp tôi làm chủ kiến thứcchuyên môn, bồi đắp thêm lòng tâm huyết yêu nghề và mong muốn có nhữngđóng góp thiết thực ít nhiều vào thực tiễn công tác trên địa bàn tỉnh Lai Châu
Trang 4MỤC LỤC• •
Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Lời cảm on
Mục lục
Danh mục các từ viết tắt
Danh mục các bảng
MỞ ĐÀU 1
CHƯƠNG 1: NHŨNG VẤN ĐÈ LÝ LUẬN PHÁP LUẬT VÈ ĐÀNG KÝ KINH DOANH 8
1.1 Khái quát chung về đăng ký kinh doanh 8
1.1.1 Khái niệm đăng ký kinh doanh 8
1.1.2 Đặc điểm cúa đăng ký kinh doanh 11
1.1.3 Nguyên tắc của đăng ký kinh doanh 19
1.1.4 Ý nghĩa của đăng ký kinh doanh 21
1.2 Điều kiện để thực hiện đăng ký kinh doanh 24
1.2.1 Điều kiện về chủ thể kinh doanh 24
1.2.2 Điều kiện về vốn (tài sản) 30
1.2.3 Điều kiện về ngành nghề kinh doanh 33
1.2.4 Điều kiện về tên doanh nghiệp, địa điểm kinh doanh 41
1.2.5 Điều kiện về trụ sở chính 45
1.2.6 Điều kiện về con dấu của doanh nghiệp 46
1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến đăng ký kinh doanh 48
1.3.1 Quyền tự do kinh doanh 48
1.3.2 Môi trường kinh doanh 49
1.4 Nội dung pháp luật về đăng ký kinh doanh 49
1.4.1 Chủ thể đăng lý kinh doanh 50
1.4.2 Trình tự, thủ tục, hồ sơ đăng ký kinh doanh 52
Trang 51.4.3 Điều kiện đăng ký kinh doanh 55
1.4.4 Cơ quan đăng ký kinh doanh 57
1.4.5 Xử lý vi phạm trong đăng ký kinh doanh 62
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 66
CHƯƠNG 2: THựC TRẠNG PHÁP LUẬT VÈ ĐÁNG KÝ KINH DOANH VÀ THỤC TIỄN ÁP DỤNG TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH• • • LAI CHÂU 67
2.1 Thực trạng các quỵ định của pháp luật về đăng ký kinh doanh ở Việt Nam 67
2.1.1 Cơ quan đăng ký kinh doanh 69
2.1.2 Chủ thể đăng ký kinh doanh 69
2.1.3 Điều kiện về đăng ký kinh doanh 70
2.1.4 Trình tự, thủ tục về đăng ký kinh doanh 72
2.1.5 Nội dung về đăng ký kinh doanh 75
2.2 Thực tiễn áp dụng đăng ký kinh doanh trên địa bàn tỉnh Lai Châu 76
2.2.1 Kết quả đạt được 81
2.2.2 Tồn tại, hạn chế 88
2.2.3 Nguyên nhân của tồn tại, hạn chế 89
KÉT LUẬN CHƯƠNG 2 90
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN• • THIỆN CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT ĐĂNG KÝ KINH DOANH VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ THựC THI TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH LAI CHÂU 91
3.1 Một số giải pháp 91
3.1.1 Nhóm giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật về đăng ký kinh doanh 91
3.1.2 Nhóm giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về đăng ký kinh doanh trên địa bàn tỉnh Lai Châu 92
Trang 63.2 Một số kiến nghị 98
3.2.1 Đối với Trung ương 98
3.2.2 Đối với tỉnh Lai Châu 99
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 102
KẾT LUẬN 103
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 104• •
Trang 7DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
3 Công ty TNHH Công ty Trách nhiệm hữu hạn
8 Giấy CNĐKDN Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp
9 Giấy CNĐKKD Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh
10 Luật Doanh nghiệp 2014 Luật Doanh nghiệp số 68/2014/QH13 ngày
26/11/2014
Trang 9MỞ ĐÀU
1 Tính câp thiêt của đê tài
Kinh doanh là hoạt động buôn bản, môi giới, thương mại, nhàm mục đích sinh lợi nhuận nên đòi hỏi nhà đầu tư phải đáp ứng được các yêu cầu theo quy định của pháp luật Các nhà đầu tư có thế tiến hành hoạt động kinh doanh dưới nhiều hình thức khác nhau: Dưới danh nghĩa cá nhân (hộ kinh doanh cá thể) hoặc ĐKKD thành lập doanh nghiệp Chính vì vậy ĐKKD được nhìn nhận dưới nhiều phương diện chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, pháp lý, Ở góc độ pháp lý ĐKKD được hiểu là một hoạt động pháp lý, theo đó nhà đầu tư (doanh nghiệp) thực hiện việc đăng ký với cơ quan Nhà nước có thấmquyền (cơ quan ĐKKD) nhằm ghi nhận sự ra đời của doanh nghiệp và xácđịnh địa vị pháp lý của doanh nghiệp trên thị trường Nói cách khác, ĐKKD
là hành vi pháp lý để gia nhập thị trường của các thương nhân Kinh doanh dù lớn, nhò hay hoạt động dưới hình thức nào thì doanh nghiệp cũng cần phải ĐKKD, đây là quy định của pháp luật mang tính bắt buộc của Nhà nước đổivới doanh nghiệp Quy định này nhằm giúp cho thị trường nhanh chóng nhậndiện được chủ sở hữu chính thức của doanh nghiệp đe có biện pháp tiếp cận
xử lý các quan hệ trong kinh doanh ĐKKD còn giúp cho Nhà nước quản lýhoạt động doanh nghiệp được dễ dàng hơn, tạo điều kiện cho các chủ sở hữu được quyền tự do kinh doanh, thúc đẩy các Chủ thể kinh doanh tham gia vào
mình Khi doanh nghiệp ĐKKD, nghĩa là doanh nghiệp đó đang thực hiện đúng quy định của pháp luật Ngược lại nếu doanh nghiệp hoạt động mà không ĐKKD thì đồng nghĩa với việc vi phạm pháp luật, còn bị xử phạt vi phạm hànhchính theo quy định của pháp luật, đồng thời sẽ không được hưởng bất kì chínhsách, bảo hộ, ưu đãi của Nhà nước dành cho doanh nghiệp đó
Trang 10Điêu kiện thành lập và ĐKKD được quy định không hoàn toàn giông nhau cho từng loại hình doanh nghiệp, ngoài những điều kiện chung, mồi loại hình doanh nghiệp lại đặt ra những điều kiện riêng, tuy vậy tất cả đều cần phải ĐK.K.D, có thể coi Giấy phép ĐKKD là “ giấy phép thông hành ” của cácnhà đầu tư Trong quá trình thực thi trình tự, thủ tục ĐKKD, cả cơ quanĐKKD và doanh nghiệp đều chịu sự tác động, điều chỉnh của pháp luật vềĐKKD Do đó pháp luật về ĐK.KD có nội dung, đặc điểm riêng được thựchiện theo những nguyên tắc cơ bản trên cơ sở các QPPL điều chỉnh mối quan
hệ xã hội giữa Chủ thể ĐKKD với cơ quan ĐK.KD trong việc ĐKKD, trình
tự, thủ tục ĐK.KD, các chế tài để đảm bảo việc ĐKKD được thực hiện đúngquy định pháp luật hiện hành
Là công chức hiện đang công tác tại địa phương, tôi nhận thấy mặc dù
đã có rất nhiều CCHC trong công tác ĐKKD theo Luật Doanh nghiệp số68/2014/QH13 ngày 26/11/2014 Kỳ họp thứ 8, Quốc hội khóa XIII, nhưnghiện tại các quy định hiện hành của pháp luật về ĐKKD vẫn còn nhiều bất cấp, chồng chéo, mâu thuần, chưa có sự thống nhất, thường xuyên có sự thay đổi, bổ sung, bãi bỏ, gây khó khăn cho các chủ đầu tư, cơ quan đăng ký kinh doanh, nhất là thực tiễn áp dụng trên địa bàn tỉnh Lai Châu còn lúng túng, không dễ thực hiện đúng, đầy đú theo quy định của pháp luật hiện hành,
do đó cần phải nắm vững nội dung cơ bản của pháp luật về ĐKKD và vận dụng đủng các quy định của pháp luật để áp dụng vào thực tiễn Bên cạnh đó tập chung hướng đến bố sung, hoàn thiện các giải pháp và kiến nghị nhằmhoàn thiện các quy định pháp luật về ĐKKD và nâng cao hiệu quả thực thitrên địa bàn tỉnh Lai Châu, điều này rất cần có sự nghiên cứu tâm huyết mangtính khoa học cả về lý luận và thực tiễn
Xuất phát từ yêu cầu trên, nhất là yêu cầu của pháp luật về ĐKKD nóichung và thực tiễn áp dụng ĐKKD trên địa bàn tĩnh Lai Châu nói riêng, tôi
2
Trang 11mạnh• dạn• lựa• chọn • Đê tài “Đăng kỷ kinh doanh trên địa bàn tỉnh Lai Châu” o •
làm công trình nghiên cứu Luận văn Thạc sĩ luật học chuyên ngành Luật Kinh
tế (định hướng ứng dụng) là rất cần thiết, có cơ sở về lý luận và thực tiễn
văn Thạc sỳ luật học “Thực thi pháp luật về đăng ký kinh doanh trên địa bàn
Hà Nội” ', Nguyễn Thị Nga (2016), Luận văn Thạc sỹ luật học “Thủ tục đăng
ký thành lập doanh nghiệp ở Việt Nam hiện nay ” ; Nguyễn Thị Thu Hà (2013), Luận văn Thạc sỹ luật học “Pháp luật Việt Nam về góp vốn thành lập
doanh nghiệp”; Nguyễn Thị Phương Thảo (2010), Luận văn Thạc sỳ luật học
(2005), Luận vãn Thạc sỳ luật học “ Pháp luật về đãng ký kinh doanh ở Việt
Nam thực trạng và phương hướng hoàn thiện ” ; Học viện Tư pháp (2012), Kỹ năng tư vấn pháp luật - Nhà xuất bản Công an nhân dân; Ts Trần Thị Hồng Minh - Cục trưởng Cục Quản lý đăng ký kinh doanh (2019), Cải cách đăng ký kinh doanh: “Những kết quả sau gần 4 năm thực hiện Luật Doanh nghiệp và
Ngọc Khanh (2019), Luật sửa đôi vì đã lỗi thời, trên Web: Thời báo Ngânhàng của cơ quan Ngân hàng Nhà nước Việt Nam; Nguồn: www.mpi.gov.vn
3
Trang 12(2019) “ Tiêp tục hoàn thiện hơn nữa một sô quy định của Luật Đâu tư và
Hòa Lạc; Nguyễn Thanh Hòa (2018), “Cục Quản lý đăng ký kinh doanh tăng
cường tuyên truyền, phô biến quy định về các nội dung liên quan đến đăng ký
doanh nghiệp” trên cổng Thông tin quốc gia đăng ký doanh nghiệp; Ngoài ra còn có các báo cáo của UBND tỉnh, Sở Ke hoạch và Đầu tư và các
cơ quan, tổ chức có liên quan cũng phản ánh về vấn đề này, nhìn chung cácLuận văn, công trình, tài liệu trên tập trung nghiên cứu mang tính vĩ mô, tổngthể, khái quát Có thể thấy các công trình nghiên cứu cụ thể trên đã đề cậpmột cách toàn diện pháp luật về ĐKKD cả về mặt lý luận và thực tiễn Đây là các tài liệu tham khảo hết sức quý giá chủ yếu tập trung về ĐKKD, tuy nhiên, mới chỉ dừng lại ở những mức độ đóng góp khác nhau, xét về mặt lý luận pháp luật về ĐKKD cơ bản là giống nhau nhưng xét về thực tiễn áp dụng pháp luật ĐKKD ở các tỉnh Biên giới Miền núi phía Bắc, trong đó có tỉnh Lai Châu (một trong những tỉnh khó khăn nhất trong cả nước) thì vẫn còn phải có
sự nghiên cứu sâu hơn Đây là đề tài mới, được nghiên cứu lần đầu tiên tạitỉnh Lai Châu cơ bản mang tính toàn diện nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợppháp, chính đáng của Chủ thể ĐKKD, đặc biệt là thực tiễn áp dụng pháp luật
về ĐKKD tại tỉnh Lai Châu còn có những tồn tại, hạn chế nhất định càn phải
có những giải pháp thiết thực nhằm hoàn thiện các quy định của pháp luật vềĐKKD và nâng cao hiệu quả thực thi trên địa bàn tinh Lai Châu
Qua nghiên cứu có thể khẳng định đến nay chưa có công trình nghiêncứu nào ở cấp độ Thạc sĩ về ĐKKD tại địa phương, nên việc nghiên cứu Đề
tài “Đăng ký kinh doanh trên địa bàn tỉnh Lai Châu” là không trùng lặp với
văn Thạc sỹ luật học Đây là đê tài đâu tiên nghiên cứu một cách toàn diện cả
về lý luận và thực tiễn về vấn đền này trên địa bàn tỉnh Lai Châu
4
Trang 133 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu• • • “
3.1 Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu tổng quát của luận văn là hệ thống hóa những vấn
đề lý luận, đánh giá thực trạng các quy định của pháp luật về ĐKKD ở Việt Nam và thực tiễn áp dụng trên địa bàn tỉnh Lai Châu, qua đó đưa ra các giải pháp, kiến nghị nhằm hoàn thiện các quy định pháp luật về ĐKKD và nângcao hiệu quả thực thi ĐKKD trên địa bàn tỉnh Lai Châu
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Thứ nhất: Nghiên cứu làm sáng tỏ những vấn đề lý luận pháp luật vềĐKKD như: khái niệm, đặc điểm, nguyên tắc, ý nghĩa của ĐKKD; cácđiều kiện, yếu tố ảnh hưởng đến chủ thể ĐK.K.D; nội dung của pháp luật
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đoi tượng nghiên cứu
Nhà đầu tư (doanh nghiệp) Chủ thể thực hiện việc ĐKKD trên địa bàntỉnh Lai Châu
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Giới hạn nội dung: Đăng ký kinh doanh theo Luật Doanh nghiệp 2020
- Giới hạn về thời gian: 05 năm, giai đoạn 2015 - 2019
5
Trang 14- Giới hạn không gian: Đê tài nghiên cứu trên địa bàn tỉnh Lai Châu.
5 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài lấy phép biện chứng duy vật của chủ nghĩa Mác Lênin, tư tưởng
Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật làm nền tảng, các quan điếm chủ đạocủa Đảng, Nhà nước trong lĩnh vực ĐKKD làm phương pháp luận cho việc nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu: Ket hợp sử dụng linh hoạt và họp lý nhiềuphương pháp nghiên cứu giữa lý luận với thực tiễn cụ thể khác nhau phù họp với từng phần của đề tài như: Hệ thống hóa, phân tích, tổng hợp, thống kê, sosánh, đối chiếu, tọa đàm, trao đổi;
- Phương pháp thu thập tài liệu: Có hai nguồn tài liệu cần thu thập là tàiliệu đã công bố (tài liệu thứ cấp), tài liệu mới (tài liệu sơ cấp)
- Phương pháp phân tích: Có ba phương pháp phân tích là phương phápthống kê, phương pháp phân tích logic, phương pháp phân tích suy diễn
6 Những đóng góp về khoa học và thực tiễn của đề tài
Đây là đề tài đã được một số nhà nghiên cứu đề cập dưới nhiều góc độ khác nhau chuyên sâu về pháp luật trong hoạt động ĐKKD Tuy nhiên, xét vềmặt lý luận pháp luật về ĐKK.D cơ bản là giống nhau nhưng xét về thực tiễn
áp dụng ở các tỉnh Biên giới Miền núi phía Bắc, trong đó có tĩnh Lai Châu (một trong những tỉnh khó khăn nhất trong cả nước) thì đây là đề tài mới,được nghiên cứu lần đầu tiên tại tỉnh Lai Châu cơ bản mang tính toàn diện nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của Chủ thể ĐKK.D, đặc biệt là thực tiễn áp dụng pháp luật về ĐK.KD tại tỉnh Lai Châu còn có nhữngtồn tại, hạn chế nhất định cần phải có những giải pháp thiết thực nhằm nângcao hơn nữa hiệu • 1 quà việc• thực • •thi ĐKKD trên địa bàn tỉnh Lai Châu
7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
Luận văn giải quyết các yêu cầu của đề tài và có một số đóng góp nhất định về lý luận, thực tiễn thề hiện ở những nội dung cụ thể sau:
6
Trang 15- Tiêp tục nghiên cứu hệ thông pháp luật vê ĐKKD.
- Làm rõ thực trạng và phân tích thực tiễn ĐK.KD trên địa bàn tỉnh Lai Châu, đặc biệt là việc áp dụng các quy định pháp luật về ĐKKD nhằm bảo vệquyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của Chủ thể ĐKKD trên địa bàn tỉnh Lai Châu
- Đưa ra một số giải pháp và kiến nghị nham hoàn thiện các quy địnhpháp luật về ĐKKD, đặc biệt là nâng cao hiệu quả thực thi ĐKK.D trên địa bàn tỉnh Lai Châu
- Làm nguôn tài liệu tham khảo cho các cơ quan, tô chức, doanh nghiệp
và cá nhân liên quan đến việc tham gia xây dựng chính sách, pháp luật vềĐK.KD, nhất là việc ĐKKD trên địa bàn tỉnh Lai Châu
8 Kêt câu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục,luận văn được kêt câu làm 3 chương như sau:
địa bàn tỉnh Lai Châu
luật và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về ĐKKD trên địa bàn tỉnh Lai Châu
7
Trang 16CHUÔNG 1 NHƯNG VAN ĐE LY LUẠN PHAP LUẠT VE
ĐĂNG KÝ KINH DOANH
1.1 Khái quát chung vê đăng ký kinh doanh
1.1.1 Khái niệm đãng ký kinh doanh
Trong quan hệ quốc tế (đa phương, song phương) về kinh tế nói chung
và lĩnh vực thương mại nói riêng đóng vai trò rất quan trọng Đe có thể gia nhập thi trường (trong nước, quốc tế) và hoạt động sản xuất kinh doanh đòihởi phải tuân thủ các quy định của pháp luật về ĐKKD, theo đó quy định phải đáp ứng được các điều kiện như: Hồ sơ, trình tự, thủ tục, thời hạn, một trong những điều kiện đầu tiên, quan trọng là Chù thể kinh doanh phải ĐKKD với cơ quan quản lý Nhà nước, qua đó xác nhận sự ra đời của Chủ thể kinhdoanh trên thị trường đó
Trước đây kinh doanh và tự do kinh doanh không được thừa nhận trong lý luận và thực tiễn pháp luật của nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung
Từ khi thực hiện công cuộc đổi mới sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII năm 1986, quyền tự do kinh doanh của công dân cũng đã được ghi nhận trong Hiến pháp 1992, khái niệm “Đăng ký kinh doanh” đã được ghi nhậntrong Luật Công ty năm 1990 và tiếp tục được khẳng định trong Luật Doanhnghiệp 1999 và Luật Doanh nghiệp 2005 Tuy vậy mới chỉ quy định ĐKK.D như một che định về quyền, nghĩa vụ cùa chủ thể kinh doanh, chưa quy định
cụ thể về thuật ngữ ĐK.K.D Do đó thuật ngữ “ Đãng ký kinh doanh” chỉ đơnthuần được ghép lại từ hai cụm từ “ Đãng ký” và “ Kinh doanh ”. Tuy nhiên, chỉ đến khi Chính phủ ban hành Nghị định số 43/2010/NĐ-CP ngày 15/4/2010 vềĐKDN, qua đó thống nhất quy trình ĐKKD với đăng ký thuế, theo đó mồidoanh nghiệp sẽ được cấp một mã số duy nhất gọi là mã số doanh nghiệp (mã
8
Trang 17sô này cũng chính là mã sô thuê của doanh nghiệp) chính vì vậy thuật ngữ
“ Đăng kỷ kinh doanh ” được thay thế bằng thuật ngữ “Đăng ký doanh nghiệp
Theo Từ điển Tiếng Việt của Nhà xuất bán Khoa học xã hội và Trungtâm từ điển (năm 1994) giải thích từ ngữ thì “Đăng kỷ được hiểu là việc ghi
vào sô của cơ quan quản lỷ đê chính thức công nhận cho hưỏng quyền lợi,
tại hoặc chấm rứt một sự kiện hay một hiện tượng pháp luật ” [30]
Theo Từ điển Tiếng Việt (năm 1998) do tác giả Hoàng Phê chủ biên, giải thích từ ngữ thì “Kinh doanh ” được hiểu theo hai nghĩa: “ ỉ Kinh doanh
Theo Từ điển Luật học của Viện Khoa học pháp lý thuộc Bộ Tư pháp
do Nhà xuất bản Tư pháp phối họp với Nhà xuất từ điền Bách khoa xuất bản(năm 2006) giải thích từ ngữ thì “Kinh doanh được hiếu là các hoạt động đầu
một các độc lập, thường xuyên trên thị trường nhằm mục đích lợi nhuận ” [60]
Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam (năm 2011) giải thích từ ngữ thi
những thông tin cần thiết của sự kiện làm cơ sở phát sinh hoặc chấm dứt
những quan hệ pháp lỷ nhất định; bằng chứng công nhận sự bắt đầu tồn tại
Theo quy định tại Luật Doanh nghiệp 2014 giải thích từ ngữ thì “ Kinh
doanh là việc thực hiện liên • • • tục • một, • z một số • hoặc • tất cả các công đoạn c J • của quá trình, đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sán phẩm hoặc cung ứng dịch vụ
Hiện nay theo Luật Doanh nghiệp 2020 giải thích từ ngữ thì ‘ ‘ Kinh
doanh là việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tẩt cả các công đoạn của
9
Trang 18quá trình đâu tư, sản xuãt đên tiêu thụ sản phâm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích tìm kiếm lợi nhuận ” [48, Điều 4, Khoản 21].
Chính vì vậy kinh doanh còn được coi là một hoạt động sáng tạo của loài người như sáng tạo ra sản phẩm mới và dịch vụ mới cho con người, cho
xã hội, tạo ra việc làm cho xã hội, tạo ra các khoản thuế nộp ngân sách để xâydựng đất nước và cuối cùng là tạo động lực thức đẩy xã hội phát triển, chính nhờ tính chất này mà kinh doanh trở nên phổ biến, thu hút sự tham gia củahầu hết người dân trong xã hội
Như vậy ĐKKD là một trong những hoạt động của doanh nghiệp tuykhông trực tiếp tạo ra của cải vật chất, dịch vụ nhằm thu lợi nhuận, nhưng đây
là hoạt động tạo tiền đề, cơ sở cần thiết để doanh nghiệp có thể được tiến hành hoạt động Do đó thủ tục ĐKKD được xem như bắt buộc đối với doanhnghiệp khi mới thành lập Theo đó, các loại hình doanh nghiệp đều phải đến
Sở Kế hoạch và Đầu tư cấp tỉnh hoặc thành phố trực thuộc Trung ương (hiện nay là Trung tâm Phục vụ hành chính công tỉnh) đế làm thủ tục cấp Giấy phépkinh doanh nếu có đủ điều kiện đế hoạt động kinh doanh Riêng loại hình kinhdoanh hộ gia đình chỉ có Giấy CNĐKKD do cấp huyện nơi đặt trụ sở chínhcấp Vì vậy việc ĐKKD để biết được doanh nghiệp đăng ký đúng với ngànhnghề được pháp luật cho phép không và các ngành nghề đăng ký sẽ không được nắm trong danh sách cấm kinh doanh của pháp luật Ngoài ra ĐKKD nhằm quản lý các công việc kinh doanh của doanh nghiệp và thương nhân, Nhà nước bắt buộc phải hoàn thành một trong những TTHC đó là đăng ký Giấy phép kinh doanh Việc có trong tay Giấy phép kinh doanh cũng là cách
để doanh nghiệp có thể chứng mình được việc làm ăn kinh doanh của doanhnghiệp mình là hoàn toàn hợp pháp Tóm lại ĐKKD là một trong những thủtục quan trọng, bước đệm để được cấp Giấy phép kinh doanh và là hoạt động
để thông hành, một chứng từ chứng nhận cho chủ thể được quyền kinh doanh
10
Trang 19các mặt hàng theo đúng quy định của pháp luật (Nghĩa là một trong nhữnggiấy tờ pháp lý rất quan trọng, nhờ có các giấy tờ này mà các cá nhân, tổchức, các hộ kinh doanh có thể kinh doanh các mặt hàng đã đăng ký - thể hiện
sự quản lý cùa Nhà nước liên quan đến ngành nghề kinh doanh, đồng thời biết được những mặt hàng nào bị cấm như kinh doanh) Thông qua hoạt động này,Nhà nước đã ban hành một hệ thống pháp luật chặt chẽ để các chủ thể thựchiện theo trình tự, thủ tục nhất định
1.1.2 Đặc điểm của đãng ký kinh doanh
* ĐKKD một trong những phương thức thực hiện quyền tự do kinh
doanh của các chủ thể kinh doanh
Theo các quy định tại: Hiến pháp năm 2013 “ Mọi người có quyền tự do
Luật Doanh nghiệp năm 2014 “Tự do kinh doanh trong những ngành, nghề
nhiều lao động ’ ’ [39, Điều 4, Khoản 3] Như vậy quyền tự do kinh doanhđược ghi nhận là một trong những quyền cơ bản của công dân; quyền tự do kinh doanh được tổ chức, cá nhân thực hiện trong khuôn khổ những ngành, nghề không bị cấm, kinh doanh đơn ngành hoặc đa ngành (Riêng đối vớinhững ngành nghề kinh doanh có điều kiện thì việc kinh doanh được thực hiện sau khi đáp ứng đủ các điều kiện của ngành nghề đó); quyền được tự do lựa chọn mô hình kinh doanh cho mình từ việc quyết định về vốn đầu tư, chỉ cần mức vốn đó đáp ứng quy định về vốn pháp định tối thiểu nếu là kinh doanh một số ngành nghề đặc thù theo quy định Bên cạnh đó, có thể quyết định điều chỉnh quy mô kinh doanh của mình thông qua việc huy động vốn; được quyền tự lựa chọn loại hình tổ chức kinh tế để thực hiện hoạt động đầu
11
Trang 20tư kinh doanh, chỉ cân đảm bảo các quy định vê loại hình đó như: Hộ kinh doanh, DNTN, Công ty HD, Công ty TNHH, Công ty CP Quyền tự do lựachọn loại hình tổ chức kinh tế khi thực hiện hoạt động kinh doanh, các chủ thể được toàn quyền thực hiện những vấn đề liên quan như: Lựa chọn khách hàng, thỏa thuận, ký kết hợp đồng, nội dung thực hiện, khi thực hiện hoạt động kinh doanh, các chủ thể được tự do cạnh tranh một cách lành mạnh Khiphát sinh tranh chấp, các chủ thể có thể lựa chọn hình thức giải quyết tranh chấp được pháp luật quy định như: Thương lượng, hòa giải, trọng tài thươngmại hay tòa án, việc tự do kinh doanh này còn được thể hiện qua việc họ có toàn quyền tự chủ trong việc kinh doanh, toàn quyền lực chọn về hình thức,ngành, nghề liên quan và vấn đề khác có liên quan như: Địa bàn, quy mô, số lượng người đầu tư, vốn đầu tư, phương thức, cách thức huy động vốn, Nhưvậy kinh doanh là hoạt động sản xuất, dịch vụ và trao đổi hàng hóa nhằm mục đích tìm kiếm lợi nhuận.
Đặc điểm cơ bản của quyền tự do kinh doanh đó là:
Quyền tự do kinh doanh dưới góc độ pháp lý là quyền của các chủthể kinh doanh trong việc lựa chọn các lĩnh vực ngành nghề để đầu tư vốn,sức lao động, máy móc thiết bị, cách thức quản lý, nhằm tiến hành hoạtđộng kinh doanh
Quyền tự do kinh doanh có cơ sở pháp lý là toàn bộ các quy định củaNhà nước ban hành nhằm tạo• • điều kiện cho các Chủ thế kinh doanh thực• • hiệnhoạt động kinh doanh một cách hợp lý Quyền tự do kinh doanh của các chủ thể kinh doanh có nội dung rất rộng bao gồm nhiều nội dung khác nhau:Quyền chủ động mở rộng quy mô ngành nghề kinh doanh; quyền chủ động tìm kiếm thị trường, khách hàng và ký kết hợp đồng; quyền tuyển, thuê sừ dụng lao động theo yêu cầu kinh doanh; quyền từ chối, tố cáo mọi yêu cầu cung cấp các nguồn lực không được pháp luật quy định của bất kỳ các cơ
12
Trang 21quan, tô chức hay cá nhân nào ở môi loại hình chủ thê kinh doanh, phápluật có những quy định cụ thể, chi tiết về quyền của chúng trong các VBQPPL tương ứng.
Việc thực hiện quyền tự do kinh doanh chỉ được thực hiện trong phạm
vi khuôn khổ những ngành, nghề được pháp luật cho phép, nghiêm cấm mọi hành vi kinh doanh đối với các ngành, nghề kinh doanh cấm đầu tư kinhdoanh Điều này có thể hiểu khi thực hiện hoạt động kinh doanh, chủ thể kinhdoanh càn loại trừ những ngành nghề mà pháp luật cấm Những ngành, nghề
mà pháp luật cấm kinh doanh được quy định cụ thể tại Điều 6 Luật Đầu tư 2014; một số ngành, nghề kinh doanh đặc thù, cá nhân, tổ chức có quyền tự
do kinh doanh nhưng chi khi đảm bảo đáp ứng đủ các điều kiện do pháp luật đặt ra nhằm đảm bào an ninh, quốc phòng, trật tự an toàn xã hội, sức khỏe, đạo đức (Những ngành, nghề đầu tư kinh doanh đặc thù cần có điều kiện đượcquy định rõ trong danh mục ban hành kèm theo Luật Đầu tư năm 2014 Điềukiện để được kinh doanh đối với một số ngành nghề đặc thù được quy định rõtrong các VBQPPL do Việt Nam ban hành và điều ước quốc tế mà Việt Nam
Hiện nay về mặt pháp lý khái niệm “ Chủ thể kinh doanh ” không được
13
Trang 22định nghĩa và quy định tại bât kỳ VBPL nào Tuy nhiên, căn cứ vào nghĩa của
từ, nghĩa rộng là tất cả các tổ chức, cá nhân thực hiện hành vi kinh doanh theo quy định của pháp luật, nghĩa hẹp là bất kỳ những đối tượng nào (tổ chức, cá nhân, hợp tác xã, hộ gia đình ) đã làm các thủ tục theo quy định và được co quan Nhà nước có thẩm quyền cấp Giấy CNĐKKD hay Giấy CNĐKĐT vàthực hiện hoạt động đầu tư, kinh doanh, thu lợi nhuận từ hoạt động sản xuất kinh doanh trong những ngành, nghề, lĩnh vực theo quy định cùa pháp luật
Với tư cách là một chủ thể pháp lý độc lập, các chủ thể kinh doanhkhông chỉ tham gia vào các quan hệ xã hội khác do các ngành luật khác nhauđiều chỉnh Do vậy, quyền cua chủ thể kinh doanh trong các quan hệ pháp luật khác nhau là khác nhau, có thể được hiểu theo hai nghĩa:
Theo nghĩa rộng: Quyền của chủ thể kinh doanh là các quyền về tự do kinh doanh, quyền được Nhà nước bảo hộ về sở hữu tài sản, quyền bình đẳngtrước pháp luật giữa các loại hình kinh doanh
Theo nghĩa hẹp: Quyền của chủ thế kinh doanh là các quyền mà cácbên có được ghi nhận trong các cam kết, thoả thuận do các bên ký kết trong quá trình hoạt động kinh doanh, đó là các hợp đồng có mục đích kinh doanh
về sản xuất, mua bán, trao đổi, ký gửi sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ hoặccác bản điều lệ về góp vốn thành lập công ty, về phân chia lợi nhuận hoặcnhững văn bản thoả thuận về việc mua bán cổ phiếu, trái phiếu,
Theo đó các quyền cùa chủ thể kinh doanh luôn được Nhà nước bảođảm thực hiện trong môi trường ổn định, lành mạnh như: Công nhận sự tồntại và phát triền; công nhận và bảo hộ quyền sở hữu tài sản, vốn đầu tư, thunhập, Bên cạnh đó còn thực hiện nhiều chính sách phát triển kinh tế đa dạng như: Thuế, hồ trợ, ưu đãi, qua đó đảm bảo cho chủ thể kinh doanhthực hiện quyền hiệu quả nhất
Thông thường pháp luật quy định về quyền là cơ sở để Nhà nước xác
14
Trang 23định phương pháp, cách thức, công cụ bảo vệ quyên, lợi ích hợp pháp của cácchủ thể kinh doanh một cách phù hợp khi chúng bị xâm hại, thì cũng đi kèm theo đó là nghĩa vụ bắt buộc hoặc nhất định đối với chủ thể kinh doanh hướng các quan hệ kinh doanh phát triến tích cực, đặt chúng trong mối quan hệ hài hoà với lợi ích chung cùa nền KTXH, đó là nghĩa vụ về thống kê, tài chính kếtoán, kinh doanh đúng ngành nghề đã đăng ký, cũng như tuân thủ các quy định về an ninh, quốc phòng, bào vệ tài nguyên môi trường, di tích lịch sử văn hoá, danh lam, thắng cảnh.
Như vậy pháp luật quy định quyền, nghĩa vụ của chủ thể khi ĐKKD thểhiện giới hạn có được khi được công nhận là tồ chức kinh tế, Nhà nước có trách nhiệm đảm bảo cho chủ thể yên tâm kinh doanh trong môi trường tự chủ, lành mạnh và tự chịu trách nhiệm
Theo Từ điển Tiếng Việt (năm 1998) do tác giả Hoàng Phê chủ biên giải thích từ ngữ thì “ Gia ” nghĩa là cho thêm, tăng thêm, gia tăng “Nhập ”
về mặt pháp lý: Gia nhập thị trường là một quá trình mà chủ thể kinhdoanh phải thực hiện đầy đủ các thủ tục cần thiết để có thể kinh doanh được Khung pháp lý chung gồm các TTHC sau: ĐKKD; đăng ký mã số thuế (hiện nay đã gộp ĐKKD với đăng ký mã số thuế vào thành một); đăng ký giấy phépkhắc dấu (hiện nay việc thông báo mẫu con dấu đã được bãi bỏ)
Một trong những yếu tố có tác động không nhỏ đến việc gia nhập thị trường của các chủ thể kinh doanh là chi phi gia nhập thị trường, mộttrong những chỉ số được đo, tính bằng thời gian qua chi phí chính thức,chi phí không chính thức để chủ thể kinh doanh có thể hoàn tất thủ tục đểgia nhập thị trường
15
Trang 24Như vậy việc quy định thủ tục đê gia nhập thị trường của các chủ thê kinh doanh là nhằm thừa nhận, bảo vệ địa vị pháp lý của doanh nghiệp trong hoạt động ĐKKD.
CNĐKDN (Công tỵ’ TTHH; Công ty CP; Công ty ’ HD; DNTN)
cấp cho doanh nghiệp ghi lại những thông tin về ĐKDN” [43, Điều 4, Khoản 12]
“ Giấy CNĐKDN là văn bản bằng bản giấy hoặc bản điện tử ghi lại
[48, Điều 4, Khoản 15],
Giấy CNĐKDN về bản chất là loại văn bản mang tính chất pháp lý do
cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp, cho phép, công nhận, đồng ý cho chủ thể kinh doanh cá nhân, tổ chức thực hiện một hay nhiều hoạt động kinh doanh Thông qua việc cấp Giấy CNĐKDN giúp Nhà nước quản lý, nắm bắt, tổng hợp tất cả các chủ thể kinh doanh đang hoạt động trên thị trường để thựchiện chức năng cơ bản là thu thuế, bước khởi đầu của công tác quản lý, qua
đó tạo điều kiện cho chủ thể gia nhập thị trường, đảm bảo sự bình đằng giữa chủ thể mới và chủ thể cũ Đây là cơ sở pháp lý để các doanh nghiệp cùnghoạt động, tham gia theo quy định chung, tạo môi trường cạnh tranh bìnhđẳng, lạnh mạnh Bên cạnh đó Nhà nước còn điều chỉnh việc quản lý hoạt động kinh doanh cho đúng định hướng, phù hợp với từng thời kỳ, phù hợp vớiyêu cầu biến đổi của nền kinh tế thị trường, từ đó chủ thể kinh doanh đóng vai trò quan trọng, tạo đòn bẩy quyết định tốc độ phát triển, tăng trưởng nền kinh
tế của đất nước, là thước đo quản lý kinh tế vĩ mô của Nhà nước
Theo quy định tại Luật Doanh nghiệp 2014 thì doanh nghiệp bắt buộcphải có hai loại giấy phép đó là “Giấy phép thành lập” và “ Giấy phép hoạt
động” , cụ thể:
16
Trang 25“ Giây phép thành lập ” (hay còn gọi là Giây CNĐKDN, đông thời là Giấy đăng ký thuế của doanh nghiệp) là Giấy phép được cấp cho doanhnghiệp thành lập, hoạt động, theo đó chứng nhận việc doanh nghiệp thực hiện việc đăng ký Giấy được ghi trên cơ sở thông tin trong hồ sơ đăng ký doanhnghiệp Tuy nhiên không được công nhận là Giấy phép ĐKKD [54].
doanh nghiệp khi đi vào hoạt động phải thỏa mãn những điều kiện cụ thế, trên
cơ sở pháp luật quy định đối với những ngành nghề, lình vực doanh nghiệphoạt động kinh doanh [54],
Hiện nay theo quy định tại Luật Doanh nghiệp 2020 thì chỉ bắt buộc doanh nghiệp phải có Giấy CNĐKDN bản giấy hoặc bản điện tử [48] Do đó chủ thể kinh doanh muốn hoạt động được phải thực hiện quy trình ĐKK.D thìmới được cấp Giấy phép ĐK.KD để tránh tình trạng vì mục đích kiếm lợinhuận mà kinh doanh các lĩnh vực ảnh hưởng đến an ninh quốc gia, trật tự antoàn xã hội, vi phạm truyền thống, thuần phong, mỳ tục, văn hóa, đạo đức, ảnh hưởng đến giá trị cảnh quan, ô nhiễm môi trường, Qua đó giúp Nhànước nâng cao quyền trong việc bảo vệ lợi ích cộng đồng, chủ động điều chỉnh, hạn chế những lĩnh vực, ngành nghề kinh doanh, sản xuất không có lợi, đồng thời giúp Nhà nước giám sát, kiểm tra chặt chẽ trên cơ sở các điều kiện được đặt ra cụ thề, rõ ràng, minh bạch, yêu cầu doanh nghiệp phải đáp ứngmới chính thức được công nhận có tư cách pháp nhân đề đi vào hoạt độngtrên thương trường
Như vậy Nhà nước (cơ quan ĐKKD cấp tỉnh nơi doanh nghiệp dự định đặt trụ sở chính) không chỉ cấp Giấy CNĐK.DN cho các chủ thể kinh doanh
đề thực hiện các hoạt động kinh doanh, mà còn thực hiện việc giám sát, kiểmtra thường xuyên, định kỳ, đột xuất mọi hoạt động của chủ thể kinh doanhtheo nội dung đã đăng ký để kịp thời xử lý, góp phần đảm bảo sự bình đẳng giữa các chủ thể kinh doanh, lợi ích cộng đồng, lợi ích của Nhà nước
17
Trang 26* ĐKKD một trong những dịch vụ hành chỉnh công do cơ quan Nhà
nước trực tiếp thực hiện
Theo United Nations Development Programme - UNDP “Tái thiết nềnhành chính công cho thế kỷ 21” (năm 2009):
Dịch vụ là những hoạt động mang tính phục vụ chuyên nghiệpnhằm đáp ứng nhu cầu nào đó của con người, của xã hội Dịch vụ công là những hoạt động phục vụ lợi ích chung, thiết yếu, cácquyền và nghĩa vụ cơ bản của tổ chức và công dân do Nhà nước trực tiếp thực hiện hoặc chuyển giao cho các cơ sở ngoài Nhà nước thực hiện nhằm mục tiêu hiệu quả và công bằng [58]
Theo tác giã Lê Như Thanh “Những thách thức đối với nền hành chính công Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế” (năm 2014):
Dịch vụ hành chính công là một loại hình dịch vụ do các cơ quanhành chính Nhà nước thực hiện để các quyền, nghĩa vụ cơ bản của
tổ chức, công dân hoặc có thể hiểu đây là những hoạt động phục vụ các quyền, nghĩa vụ cơ băn của các tổ chức, công dân do các cơquan hành chính Nhà nước thực hiện theo đúng thấm quyền được Nhà nước giao [51, tr 18-22]
Đặc điểm riêng biệt để nhận biết ĐKKD một trong những dịch vụ hành chính công, đồng thời phân biệt với loại hình dịch vụ công khác đó là việc cung ứng dịch vụ hành chính công luôn gắn với thẩm quyền mang tính quyềnlực pháp lý, gắn với các hoạt động của cơ quan hành chính Nhà nước trongviệc cấp các loại giấy phép như Giấy phép ĐK.KD, nên loại hình dịch vụ này chỉ có thể do các cơ quan hành chính Nhà nước thực hiện Tuy nhiên dịch vụ hành chính công cấp Giấy phép ĐKKD không có chức năng quản lý Nhànước, mà chỉ được xem là hoạt động phục vụ, Nhà nước bắt buộc và khuyến khích người dân phải làm, nhu cầu được cấp các loại giấy tờ trên không xuất phát từ nhu cầu tự thân của họ mà xuất phát từ những quy định có tính chất
18
Trang 27bắt buộc của Nhà nước Đây là một trong những loại hình trong hoạt động cấp Giấy phép ĐKKD cho chủ thể kinh doanh khi chủ thể này thành lập doanhnghiệp, một trong những giấy tờ chứng minh chù thể này có đủ khả năng, điều kiện hoạt động theo quy định của pháp luật.
Như vậy việc cung ứng dịch vụ hành chính công nói chung, trong đó có dịch vụ cấp Giấy phép ĐKKD nói riêng là trách nhiệm của Nhà nước trước xãhội, thể hiện trực tiếp vai trò của Nhà nước trước tổ chức, công dân Do đó cảicách dịch vụ hành chính công đã và đang trở thành nội dung quan trọng trongcãi cách bộ máy Nhà nước, nhằm nâng cao hiệu quả, hiệu lực hoạt động củaNhà nước, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu của công dân
1.1.3 Nguyên tắc của đãng kỷ kinh doanh
Quyền tự do kinh doanh là quyền cơ bản cùa con người, là nền tảng cho
sự phát triển của xã hội được Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Namghi nhận tại Hiến pháp năm 2013 “ Mọi người có quyền tự do kinh doanh
đó Luật Doanh nghiệp năm 1999 và Luật Doanh nghiệp năm 2005 đã cụ thểhóa quyền tự do kinh doanh, theo đó các thành phàn kinh tế có quyền tự chỉ,
tự chịu trách nhiệm trong phạm vi đã ĐKK.D, được lựa chọn, bổ sung, thay đổi hình thức tổ chức, đầu tư, hoạt động cho phù họp với điều kiện cùa mình, trước những biến đổi của thị trường và được Nhà nước tôn trọng, bảo vệquyền tự chủ kinh doanh hợp pháp của doanh nghiệp, phổ biến áp dụng rộng rãi hình thức đăng ký thay cho cấp phép, xóa bỏ cơ chế “xin - cho ”, gây phiền
hà, nhũng nhiễu đối với doanh nghiệp
Hiện nay theo Luật Doanh nghiệp 2020 quy định “ Tự do kinh doanh ngành, nghề mà luật không cấm ” [48, Điều 7, Khoản 1] “ Tự chủ kinh doanh
19
Trang 28địa bàn, hình thức kinh doanh; chủ động điêu chỉnh quy mô và ngành, nghê
nghiệp khi tham gia thị truờng, do đó ĐKKD sẽ đám bảo quyền tụ do kinhdoanh trong khuôn khổ pháp luật của các chủ thể tham gia, Nhà nước không kìm hãm, siết chặt quyền tự do ĐKKD, chỉ xây dựng cơ sở pháp lý, tạo hành lang thông thoáng, thuận lợi cho các chủ the kinh doanh, đồng thời kiềm soátquá trình hình thành, hoạt động và phát triển của doanh nghiệp theo hướng tích cực, loại bở những ảnh hưởng tiêu cực của cơ chế thị trường Đây là điều kiện bắt buộc đối với chủ thể kinh doanh tham gia vào quan hệ thành lập, quản lý và vận hành doanh nghiệp
Quyền bình đẳng giữa các chủ thể kinh doanh vừa là nguyên tắc, vừa là giá trị phổ biến của kinh tế thị trường, theo đó mọi chủ thể kinh doanh hoạt động trong cùng một môi trường pháp lý đều có vị thế ngang nhau trước phápluật, chịu sự điều chỉnh trong cùng một chế định pháp luật về ĐKKD, sẽ cócác quyền, nghĩa vụ như nhau, không có sự phân biệt về quy mô, loại hình,ngành nghề, lĩnh vực đầu tư, chỉ trong điều kiện cạnh tranh bình đắng doanh nghiệp mới có cơ hội kinh doanh bằng chính thực lực của mình Từ đây những doanh nghiệp có năng lực được thừa nhận, còn những doanhnghiệp yếu kém sẽ bị đào thải, góp phần lành mạnh hóa, đảm bảo môi trườngkinh doanh cạnh tranh bình đẳng, thúc đẩy nền kinh tế phát triển
Công khai, minh bạch trong kinh doanh là nguyên tắc nhất quán thểhiện bản chất dân chủ của xã hội, giúp chủ thế kinh doanh dễ dàng tiếp cậncác quy định của pháp luật về kinh doanh, nắm bắt kịp thời các quy trình,trình tự, thù tục, điều kiện về ĐKKD, góp phần đẩy lùi các hành vi cửa quyền,
20
Trang 29hách dịch, quan liêu, tham nhũng, làm trong sạch bộ máy Nhà nuớc, từ đó củng cố lòng tin của tô chức, người dân đối với Đảng và Nhà nước.
Như vậy pháp luật về ĐKKD phải dựa trên các nguyên tắc cơ bản, vừa
có tính chất ổn định tương đối, đồng thời có sự thay đổi theo sự phát triển KTXH trong từng thời kỳ, giai đoạn khác nhau Đây được xem là một chếđịnh quan trọng của pháp luật đối với doanh nghiệp
1.1.4 Ỷ nghĩa của đăng ký kinh doanh
ĐKKD có vai trò vô cùng quan trọng không chỉ với việc bảo đảm quyền lợi cho bản doanh nghiệp, mà còn có ý nghĩa khi đánh giá tính cạnhtranh của môi trường kinh doanh ở địa phương, khu vực, quốc gia đó Hiệnnay việc xây dựng, ban hành và tổ chức triển khai các quy định về quản lýĐKKD hiệu quả có ý nghĩa quan trọng khi Việt Nam đã và đang hội nhập sâurộng trên tất cả bình diện khu vực, quốc tế trong các lĩnh vực về chính trị, kinh
tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, đó là việc gia nhập nhiều diễn đàn, tổchức quốc tế có phạm vi hợp tác về kinh tế như: ASEAN, APEC, WTO, TPP.Khi gia nhập vào nhũng sân chơi chung, chúng ta cần phải tuân thủ nhữngquy tắc chung và gánh chịu hậu quả pháp lý nếu vi phạm luật chơi Việc có được hệ thống ĐKKD hiệu quả giúp cho chúng ta được đánh giá cao trongkhu vực, quốc tế và được đối xử công bằng khi tham gia kinh tế quốc tế Chính vì lẽ đó, việc ĐKKD là hoạt động có ý nghĩa quan trọng không chỉ đốivới công tác quản lý Nhà nước, đối với chủ thể kinh doanh mà còn đối với xãhội, đồng thời đây là một nhu cầu tất yếu, đòi hỏi mang tính nghĩa vụ đối vớiNhà nước, đối với chủ thể kinh doanh khi gia nhập thị trường
* Đối với Nhà nước
ĐKKD là sự công nhận về mặt pháp lý của Nhà nước đầu tiên đối với
sự ra đời và hoạt động cùa doanh nghiệp, do đó có thể nhận thấy có nhiều cách thức để công nhận pháp lý về mặt Nhà nước đối với doanh nghiệp như:
21
Trang 30Khi doanh nghiệp làm thủ tục hải quan, làm thủ tục thuê, tại các cơ quanNhà nước có thẩm quyền, đây được xác định rất rõ lần đầu tiên được gọi tên, được công nhận mẫu dấu, được mở tài khoản riêng và nhất là có người đại diện theo pháp luật.
ĐKKD một trong những công cụ quan trọng giúp cơ quan Nhà nướcnắm bắt được các yếu tố mới trong kinh doanh để từ đó có những chủ trương, biện pháp khuyến khích hoặc hạn chế phù hợp; giúp cơ quan Nhà nước quản
lý nền kinh tế, thông qua hoạt động này, tất cả các thông tin về doanh nghiệp
sẽ được lưu giữa tại Cơ sở dữ liệu quốc gia về ĐKKD, từ đỏ thuận tiện cho việc quản lý, nắm bắt được quy mô, số lượng, hình thức ngành nghề kinhdoanh, địa bàn của doanh nghiệp, đồng thời thống nhất quản lý doanh nghiệptrên phạm vi cả nước, thực hiện chức năng quản lý cơ cấu kinh tế xã hội, cũngnhư kiểm soát được hoạt động kinh tế theo định hướng, chiến lược, kế hoạch đã
đề ra Qua số liệu chính xác về tình hình doanh nghiệp là cơ sở quan trọng để các
cơ quan Nhà nước hoạt định, xây dựng chính sách phát triển kinh tế xã hội phù hợp với quy luật phát triền của thị trường, đáp ứng hon nữa nhu cầu hội nhậpkinh tế quốc tế
Như vậy đây chính là công cụ quản lý kinh tế vi mô để Nhà nướckiểm soát sự hình thành, hoạt động và phát triển của doanh nghiệp theo hướng tích cực, loại bỏ các ảnh hưởng tiêu cực cúa cơ chế thị trường Cònđối với các chủ thể kinh doanh sẽ là phương tiện để họ thực hiện quyền tự
do kinh doanh của mình, qua đó phát huy hiệu quả trong hoạt động kinhdoanh nhằm khai thác hợp lý tiềm năng kinh tế xã hội của đất nước Điềunày không những tạo ra môi trường và vị thể cạnh tranh mới cho các chủ thề kinh doanh trong và ngoài nước mà còn đánh dấu một bước tiến mới tronghoạt động ĐKKD cho các chủ thể kinh doanh trên toàn lãnh thổ Việt Nam, giúp Nhà nước can thiệp kịp thời và có mức độ vào nền kinh tế, đâm bảo có
22
Trang 31được một nên kinh tê hiện đại nhưng không xa rời chủ trương, đường lôi, chính sách của Đảng và Nhà nước.
* Đối với chủ thể đãng ký kình doanh
Sau khi doanh nghiệp được cấp Giấy CNĐKKD, tức là doanh nghiệpđược pháp luật thừa nhận và được Nhà nước bảo hộ, do đó tư cách chủ thể của doanh nghiệp được xác lập, có mã sổ doanh nghiệp riêng, Đây chính
là cơ sở pháp lý để chủ thể kinh doanh tiến hành các hoạt động kinh doanhmột cách họp pháp, độc lập, bình đẳng với các chủ thể kinh doanh khác trênthị trường Việc thành lập doanh nghiệp là cơ sờ để doanh nghiệp yêu cầu các
cơ quan Nhà nước bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp và được hướng dần đầy đủ
để thực hiện các nghĩa vụ theo quy định
ĐKKD cũng giúp cho chủ thể kinh doanh dễ dàng tiếp cận hơn với các chính sách hồ trợ cùa Nhà nước, nhất là nguồn vốn vay Do đó có ý nghĩa then chốt thúc đẩy sự gia nhập thị trường của doanh nghiệp, xác định đượcmức độ tăng trưởng, góp phần tích cực vào sự phát triển của nền kinh tế
r
ĐKKD là thủ tục khai sinh ra doanh nghiệp, ứng với mỗi ngành nghềlĩnh vực khác nhau, doanh nghiệp sẽ cung cấp các sản phẩm, dịch vụ, hậu mãi tương ứng cho các tổ chức, cá nhân trong xã hội, từ đó thúc đẩy nền KTXHcủa đất nước phát triển Việc ĐKDN không những giải quyết vấn đề thiếtthực về việc làm (giâm thiểu tỷ lệ lao động thất nghiệp, giảm bớt các tệ nạntrong xã hội), nâng cao thu nhập mà còn góp phần ổn định đời sống cho người lao động Cùng với đó chủ thể kinh doanh cũng sẽ có vai trò đóng góp quan trọng trong việc thực hiện an sinh xã hội, hồ trợ cộng đồng,
ĐKK.D nhằm công khai các hoạt động cùa doanh nghiệp trước côngchúng, nhờ đó công chúng có được các thông tin chính xác về tư cách pháp lý của doanh nghiệp, qua đó niềm tin của các đối tác, khách hàng, người tiêu
23
Trang 32dùng được nâng lên, thúc đấy các bên có liên quan kiểm soát lẫn nhau khithiết lập, thực hiện các giao dịch.
Thông qua ĐKKD, toàn bộ thông tin cơ bản của doanh nghiệp đã đăng
ký với cơ quan ĐKKD được lưu trữ tại Cơ sở dữ liệu quốc gia về ĐKDN vàđược đăng tải trên cổng thông tin quốc gia về ĐKDN Từ những thông tin được công khai, các đối tác, khách hàng, người tiêu dùng có thể có được những thông tin cơ bàn, đầy đủ, chính xác về doanh nghiệp mình cần, qua đó tạo dựng lòng tin trong hợp tác, kinh doanh, đây chính là điều kiện quan trọnggiúp doanh nghiệp tồn tại và phát triển
1.2 Điều kiện để thực hiện đăng ký kinh doanh
1.2.1 Điều kiện về chủ thể kinh doanh
Kinh doanh không chỉ được Nhà nước ghi nhận là quyền cùa tổ chức,
cá nhân mà còn được khuyến khích phát triển, bởi hoạt động sản xuất kinh doanh của các chủ thể kinh doanh giữ vai trò quan trọng, có ý nghĩa quyết định đối với sự tăng trưởng của nền kinh tế, đảm bảo sự tồn tại của xã hội Do
đó chủ thể kinh doanh bao gồm tổ chức, cá nhân kinh doanh thực hiện hoạt động kinh doanh nhằm mục đích tìm kiếm lợi nhuận Lợi nhuận từ hoạt độngkinh doanh có thể lâu dài và thường xuyên bằng cách xử dụng hợp lý cácnguồn lực trong kinh doanh và vận dụng các điều kiện lợi nhuận của môi trường kinh doanh, do đó chủ thế kinh doanh khi khởi nghiệp kinh doanh cơbản đều hướng đến lợi nhuận, việc tìm kiếm lợi nhuận là mục đích để đảm bảo quyền, lợi ích cho các chủ thể kinh doanh
Điều kiện về chủ thể ĐKKD được quy định cụ thể tại Luật Doanh nghiệp 2014, đó là các tổ chức, cá nhân có quyền thành lập, góp vốn, mua cổ phần, mua phần vốn góp và quản lý doanh nghiệp tại Việt Nam trừ các trườnghợp sau đây:
24
Trang 33+ Cơ quan Nhà nước, đơn vị vũ trang nhân dân sử dụng tài sản Nhànước để thành lập doanh nghiệp kinh doanh thu lợi riêng cho cơquan, đơn vị mình [43, Điều 18, Khoản 2, điểm a].
Với quy định trên cỏ thể hiểu đây là cơ quan thực hiện chức năng chuyên môn của Nhà nước, cơ quan có tính chất, nhiệm vụ đặc biệt được giao nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền, an ninh, quốc gia và giữ gìn trật tự an toàn xãhội, do đó các cơ quan này không có quyền thành lập và quản lý doanh nghiệpbởi nếu cho các cơ quan này tham gia kinh doanh sẽ dẫn đến hiện tượng quyền lực chính trị thao túng nền kinh tế, dẫn đến không có sự bình đẳng trong kinh doanh
+ Cán bộ, công chức, viên chức theo quy định của pháp luật về cán
bộ, công chức, viên chức [43, Điều 18, Khoản 2, điểm b]
Với quy định trên Luật Cán bộ, công chức 2008 (sửa đổi, bổ sung một
sổ điều năm 2019); Luật Viên chức 2010 (sửa đổi, bổ sung một số điều năm 2019) Đặc biệt Luật Phòng, chống tham nhũng 2018 cấm cán bộ, công chức, viên chức không được thành lập doanh nghiệp “ Thành lập, tham gia
nghiệp “ Tư vấn cho doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân khác ở trong nước và nước
ngoài về công việc có liên quan đến bí mật Nhà nước, bí mật công tác, công việc
Thành lập, giữ chức danh, chức vụ quản lý, điều hành các loại hình doanhnghiệp, công ty, hợp tác xã “ Thành lập, giữ chức danh, chức vụ quản lý, điều hành DNTN, công ty TTHH, cồng ty CP, công ty HD, HTX thuộc lĩnh vực mù
trước đây mình có trách nhiệm quản lý trong thời hạn nhất định theo quy định
25
Trang 34+ Sĩ quan, hạ sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân, viên chức quốc phòng trong các cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhândân Việt Nam; sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp trong các cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân Việt Nam, trừ những người được cửlàm đại diện theo ủy quyền để quản lý phần vốn góp của Nhà nướctại các doanh nghiệp [43, Điều 18, Khoản 2, điểm c].
Với quy định trên trên có thể hiếu đây là các chủ thề thực hiện chức năngnghiệp vụ liên quan đến quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội,
do đó lợi ích quốc gia luôn được đề cao, tuyệt đối tôn trọng Việc cấm chủ thể trên tham gia là tránh tình sự lấn át cùa quyền lực chính trị đối với quyền năngkinh tế, tránh phân tán trong việc thực hiện công vụ
+ Cán bộ lãnh đạo, quản lý nghiệp vụ trong DNNN, trừ nhữngngười được cử đại diện theo ủy quyền để quản lý phần vốn góp của Nhà nước tại doanh nghiệp khác [43, Điều 18, Khoản 2, điểm d]
Với quy định trên Luật Phòng, chống tham nhũng 2018 cấm các thành viên trong DNNN giữ các chức danh, chức vụ quản lý trong DNNN:
Thành viên Hội đồng quản trị, thành viên Hội đồng thành viên, Chủtịch công ty, Tổng giám đốc, Phó Tổng giám đốc, Giám đốc, PhóGiám đốc, Ke toán trưởng và người giữ chức danh, chức vụ quản lýkhác trong DNNN không được ký kết hợp đồng với doanh nghiệpthuộc sở hữu của vợ hoặc chồng, bố, mẹ, con, anh, chị, em ruột; cho phép doanh nghiệp thuộc sở hữu của vợ hoặc chồng, bố, mẹ, con,anh, chị, em ruột tham dự các gói thầu của doanh nghiệp mình; bố trí vợ hoặc chồng, bố, mẹ, con, anh, chị, em ruột giữ chức vụ quản
lý về tổ chức nhân sự, kế toán, làm thủ quỳ, thủ kho trong doanhnghiệp hoặc giao dịch, mua bán hàng hóa, dịch vụ, ký kết hợp đồng cho doanh nghiệp [46, Điều 20, Khoản 5],
26
Trang 35Việc quy định như vậy đê tránh lạm quyên, đảm bảo sự bình đăng chocác doanh nghiệp và không phương hại đến lợi ích chung cùa xã hội.
+ Người chưa thành niên; người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc bị mất năng lực hành vi dân sự; tổ chức không có tư cách pháp nhân [43, Điều 18, Khoản 2, điểm đ]
Với quy định trên có thế hiểu đây là những người chưa đạt độ tuổi pháp luật quy định, không thể tham gia thành lập, quản lý doanh nghiệp bởitính trách nhiệm chưa được đặt ra có thể bắt buộc phải thực hiện Trường hợp
bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc bị mất năng lực hành vi dân sự không thể làm chủ được hành vi của mình thì cũng không thể thành lập, quản lýđược doanh nghiệp Còn đối với tổ chức không có tư cách pháp nhân có thể hiểu tố chức này không có tài sản độc lập với cá nhân, tồ chức khác và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản đó, do đó không đủ điều kiện để thành lập, quản lý doanh nghiệp, nhằm tránh rủi ro kinh doanh cho đối tác, bạn hàng và chochính họ, tránh gây ảnh hưởng xấu đến nền kinh tế
+ Người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự, chấp hành hìnhphạt tù, quyết định xử lý hành chính tại cơ sờ cai nghiện bắt buộc,
cơ sở giáo dục bắt buộc hoặc đang bị cấm hành nghề kinh doanh, đảm nhiệm chức vụ hoặc làm công việc nhất định, liên quan đếnkinh doanh theo quyết định của Tòa án; các trường hợp khác theo quy định của pháp luật về phá sản, phòng, chống tham nhũng.Trường họp cơ quan ĐKKD có quyền yêu cầu, người đăng ký thành lập doanh nghiệp phải nộp Phiếu lý lịch tư pháp cho cơ quan ĐKKD [43, Điều 18, Khoản 2, điểm e]
Với quy định trên có thể hiểu quyền tự do của đối tượng này đã bị hoặc
có thể bị hạn chế, nếu kinh doanh sẽ ảnh hưởng xấu đến môi trường đầu tư, phá vỡ trật tự trong kinh doanh, phương hại đến đối tác, bạn hàng và chính
họ, tránh gây ảnh hưởng xấu đến nền kinh tế
27
Trang 36Ngoài ra còn có một sô trường hợp không được phép thành lập doanhnghiệp theo quy định tại Luật Phá sản 2014 thì:
Người giữ chức vụ quản lý của doanh nghiệp, hợp tác xã bị tuyên
bố phá sản mà cố ý vi phạm quy định tại khoản 1 Điều 18, Khoản
5 Điều 28, Khoản 1 Điều 48 của Luật này thì Thẩm phán xem xét, quyết định về việc không được quyền thành lập doanh nghiệp, hợptác xã, làm người quản lý doanh nghiệp, hợp tác xã trong thời hạn
03 năm kể từ ngày Tòa án nhân dân có quyết định tuyên bố phásân [44, Điều 130, Khoản 3],
Việc quy định một số đối tượng không có quyền thành lập doanhnghiệp là hết sức cần thiết, có ý nghĩa quan trọng đảm bảo sự bình đẳng củacác doanh nghiệp và lợi ích xã hội
Theo quy định tại Luật Doanh nghiệp 2014 thì những đối tượng bị cấm thành lập, quản lý doanh nghiệp vẫn có quyền góp vốn, mua cổ phần, mua phần vốn góp vào Công ty CP, Công ty TTHH, Công ty HD nếu không thuộccác trường hợp sau đây:
+ Cơ quan nhà nước, đơn vị vũ trang nhân dân sử dụng tài sản Nhànước góp vốn vào doanh nghiệp để thu lợi riêng cho cơ quan, đơn vị mình [43, Điều 18, Khoản 3, điểm a]
+ Các đối tượng không được góp vốn vào doanh nghiệp theo quy địnhcủa pháp luật về cán bộ, công chức” [43, Điều 18, Khoản 3, điểm b]
Theo quy định tại Luật Phòng, chống tham nhũng 2018:
Người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu cơ quan Nhà nướckhông được góp vốn vào doanh nghiệp hoạt động trong phạm vi ngành, nghề mà người đó trực tiếp thực hiện việc quân lý nhànước hoặc để vợ hoặc chồng, bố, mẹ, con kinh doanh trong phạm
vi ngành, nghề do người đó trực tiếp thực hiện việc quản lý Nhànước [46, Điều 20, Khoản 4],
28
Trang 37Thành viên Hội đông quản trị, thành viên Hội đông thành viên, Chủtịch công ty, Tổng giám đốc, Phó Tổng giám đốc, Giám đốc, PhóGiám đốc, Kế toán trưởng và người giữ chức danh, chức vụ quản lýkhác trong doanh nghiệp nhà nước không được ký kết hợp đồng vớidoanh nghiệp thuộc sở hữu của vợ hoặc chồng, bố, mẹ, con, anh,chị, em ruột; cho phép doanh nghiệp thuộc sở hữu của vợ hoặcchồng, bố, mẹ, con, anh, chị, em ruột tham dự các gói thầu của doanh nghiệp mình; bố trí vợ hoặc chồng, bố, mẹ, con, anh, chị, emruột giữ chức vụ quản lý về tố chức nhân sự, kế toán, làm thủ quỳ,thủ kho trong doanh nghiệp hoặc giao dịch, mua bán hàng hóa, dịch
vụ, ký kết hợp đồng cho doanh nghiệp [46, Điều 20, Khoản 5]
Hiện nay Luật Doanh nghiệp 2020 đã bổ sung thêm đối tượng không được phép thành lập, quản lý doanh nghiệp, gồm:
+ Công nhân công an trong các cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân Việt Nam (trừ những người được cử làm đại diện theo ủy quyền để quản lý phần vốn góp của Nhà nước tại doanh nghiệp) [48, Điều 17, Khoản 2, điểm c]
+ Người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi [48, Điều
17, Khoản 2, điểm đ]
+ Tổ chức là pháp nhân thương mại bị cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định theo quy định của Bộ luật Hình sự [48, Điều 17, Khoản 2, điểm g]
Như vậy điều kiện về chủ thể kinh doanh đối với tổ chức, cá nhân khithực hiện việc kinh doanh phải thỏa mãn các điều kiện pháp luật quy định Việc quy định rõ chủ thể ĐKKD phải dựa trên đặc điểm, tính chất pháp lý,kinh tế của từng đối tượng để thực hiện theo đúng trình tự, thủ tục, từ đó mới có thể đảm bảo hiệu quả về thời gian, kinh tế của Chủ thể kinh doanh
29
Trang 381.2.2 Điêu kiện vê vôn (tài sản)
Để có thể tiến hành hoạt động kinh doanh, thì bất kỳ chủ thể kinh doanh nào cũng phải có vốn (nguồn tài chính quan trọng nhất) là công cụ,điều kiện bắt buộc để chủ thể kinh doanh triển khai các hoạt động kinh doanhtrên thực tế vốn của doanh nghiệp sẽ luôn gắn liền với quyền lợi, tráchnhiệm của chủ thể kinh doanh và vốn sẽ được chuyến thành toàn bộ tài sảncủa doanh nghiệp Do đó nêu không có vôn thì chủ thê kinh doanh sẽ không thể hoạt động được, việc quy định như vậy để tránh tinh trạng chủ thể kinhdoanh thành lập chỉ có tên gọi, con dấu dẫn đến có những hành vi lừa đàotrong kinh doanh
Theo Luật Doanh nghiệp 2014 giải thích từ ngừ thì “Góp vốn là việc góp tài sản để tạo thành von điều lệ của công ty Góp von bao gồm góp von
đê thành lập doanh nghiệp hoặc góp thêm vốn điều lệ của doanh nghiệp đã
sản xuất kinh doanh dưới các hình thức như góp vốn bằng tiền mặt, ngoại tệ,vàng, giá trị quyền sử dụng đất, giá trị sờ hữu trí tuệ, và các tài sản (động sản, bất động sản) có giá trị khác theo quy định của pháp luật
Việc quy định bắt buộc chủ thể kinh doanh phải có số vốn nhất định có thể do chù thể bở ra hoàn toàn hay huy động sự đóng góp của nhiều người hoặc có thể được Nhà nước hỗ trợ trong quá trình kinh doanh do có thay đổichính sách, hỗ trợ, với mục đích đảm bảo sự an toàn cho chủ nợ, nhà đầu
tư kinh doanh trong những ngành nghề đòi hỏi phải có nguồn vốn lớn, kinh doanh trong một số lĩnh vực đặc thù, đồng thời còn đảm bảo về cơ sở vật chất nhất định để chủ thể kinh doanh dễ dàng trong việc vận hành doanh nghiệp,chúng minh khả năng thanh toán các khoản nợ cho đối tác, khách hàng
Ngay từ khi chủ thể kinh doanh muốn hoạt động sản xuất kinh doanhthì phải chuẩn bị một khoản vốn tương xứng với quy mô, lĩnh vực, ngànhnghề kinh doanh, mô hình kinh doanh thích hợp, đồng thời phải dự báo số
30
Trang 39lượng vôn đủ hoặc lớn hơn đê giúp chủ thê kinh doanh dự tính được kê hoạch hoạt động sản xuất kinh doanh trong các năm trở về sau cho phù họp vớilượng vốn mà chủ thể kinh doanh có, tránh trong quá trong trình hoạt động, sản xuất kinh doanh tăng nhưng số vốn đầu tư ban đàu của chủ thể kinh doanhvẫn không thay đổi, tránh thừa, thiếu, lãng phí, làm ảnh hưởng đến quy trìnhsản xuất kinh doanh [54],
Theo Luật Doanh nghiệp 2020 giải thích từ ngữ thì "Góp vốn là
lập ” [48, Điều 4, Khoản 18], Như vậy có thể thấy, việc góp vốn được thực hiện trong hai thời điểm là: khi thành lập doanh nghiệp và sau khi thành lập doanh nghiệp Việc góp vốn sẽ làm tăng vốn điều lệ của doanh nghiệp vàtăng bao nhiêu sẽ phụ thuộc vào giá trị tài sản mà tổ chức, cá nhân dùng đểgóp vốn So với quy định hiện hành, việc xử lý phần vốn góp trong một số trường hợp đặc biệt được sửa đổi, bổ sung như sau:
- Trường hợp thành viên bị hạn chế hoặc mất năng lực hành vi dân
thành viên đó trong công ty được thực hiện thông qua người đại diện (người giám hộ) [48, Điều 53, Khoản 3]
- Trường hợp thành viên tặng cho một phần hoặc toàn bộ phần vốn gópcủa mình tại công ty cho người khác thì người được tặng cho trở thành thành viên công ty theo quy định sau đây:
+ Người được tặng cho thuộc đổi tượng thừa kế theo pháp luật theo
(vợ, chồng, cha, mẹ, con, người có quan hệ họ hàng đến hàng thừa kế thứba ) [48, Điều 53, Khoản 6, điểm a]
+ Người được tặng cho không thuộc đối tượng quy định tại điểm a
31
Trang 40Khoản 6 Điêu 53 “ Người được tặng cho thuộc đôi tượng thừa kê theo pháp
đồng thành viên chấp thuận [48, Điều 53, Khoản 6, điểm b]
- Trường hợp thành viên công ty là cá nhân bị tạm giam, đang chấphành hình phạt tù, đang chấp hành biện pháp xử lý hành chính tại cơ sở cainghiện bắt buộc, cơ sờ giáo dục bắt buộc thì thành viên đó ủy quyền cho người khác thực hiện một số hoặc tất cả quyền và nghĩa vụ của mình tại công
ty [48, Điều 53, Khoản 8]
- Trường họp thành viên công ty là cá nhân bị Tòa án cấm hành nghề,làm công việc nhất định hoặc thành viên công ty là pháp nhân thương mại bị Tòa án cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định thuộcphạm vi ngành, nghề kinh doanh cùa công ty thì thành viên đó không đượchành nghề, làm công việc đã bị cấm tại công ty đó hoặc công ty tạm ngừng, chấm dứt kinh doanh ngành, nghề có liên quan theo quyết định của Tòa án.[48, Điều 53, Khoản 9]
Hiện nay Luật Doanh nghiệp 2020 đã sửa đổi, bổ sung quy định về tàisản góp vốn, theo đó: Thay đổi thuật ngữ “giá trị quyền sử dụng đất, giá trị quyền sở hữu trí tuệ” thành “quyền sử dụng đất, quyền sở hữu trí tuệ” Vậynên thuật ngữ “giá trị quyền sử dụng đất, giá trị quyền sở hữu trí tuệ” trong Luật Doanh nghiệp 2014 là được sử dụng không đúng và không thuộc bất cứđối tượng nào được coi là tài sản Mà trong khi đó thuật ngữ “quyền sử dụng đất, quyền sở hữu trí tuệ” trong Luật Doanh nghiệp 2020 là một loại quyền tàisản và là một trong những đối tượng được coi là tài sản theo quy định tại BộLuật Dân sự năm 2015 Thay đổi từ chỉ có tổ chức cá nhân là “chù sở hữu họp pháp” sang các tồ chức, cá nhân là “chủ sở hữu hợp pháp hoặc có quyền sử dụng hợp pháp” Vậy nên chủ sở hữu hợp pháp ở đây được hiểu là những tổ
32