Nhưng đối với các quốc gia đang phát triển thì có một vấn đề lớn mà hầu hết các nước đang phát triển đang mắc phải đó chính là “Bẫy thu nhập trung bình”.. Khái niệm của “bẫy thu nhập tru
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
****
TIỂU LUẬN Môn: Kinh tế Chính trị Mác – Lênin
ĐỀ TÀI: PHÂN TÍCH LÝ LUẬN VỀ BẪY THU NHẬP TRUNG BÌNH ÁP DỤNG PHÂN TÍCH Ở VIỆT NAM
Hà Nội, ngày…tháng…năm 2022
Trang 2MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 2
NỘI DUNG 3
I PHÂN TÍCH LÝ LUẬN VỀ BẪY THU NHẬP TRUNG BÌNH 3
1 Khái niệm của “bẫy thu nhập trung bình: 3
2 Nguyên nhân vướng vào “bẫy thu nhập trung bình”: 3
3 Các biện pháp để tránh khỏi “bẫy thu nhập trung bình”: 4
II ÁP DỤNG PHÂN TÍCH BẪY THU NHẬP TRUNG BÌNH Ở VIỆT NAM ……… 5
1 Thực trạng bẫy thu nhập trung bình ở Việt Nam 5
1.1 Thu nhập bình quân đầu người và tình hình kinh tế Việt Nam 5
1.2 Chính sách 8
1.3 Hiệu quả sử dụng vốn 10
1.4 Lao động 12
1.5 Khoa học công nghệ 13
2 Giải pháp thoát khỏi bẫy thu nhập trung bình ở Việt Nam 14
2.1 Các giải pháp để thoát khỏi tình trạng “Bẫy thu nhập trung bình” dưới góc nhìn của các chuyên gia 14
2.2 Chính sách công nông tiên phong 15
2.3 Cải thiện thu nhập trung bình và tình hình kinh tế Việt Nam 16
KẾT LUẬN 18
TÀI LIỆU THAM KHẢO 19
1
Trang 3MỞ ĐẦU
Thế giới đang trong tình hình phát trển mạnh về nhiều mặt như khoa học kỹ thuật, chính trị và quan trọng hơn hết là về mặt kinh tế Kinh tế là một lĩnh vực rất quan trọng, nó quyết định nên nhiều đường lối chủ trương và sự phát triển của một đất nước Bên cạnh đó kinh tế phải được đi đôi với lĩnh vực chính trị để chúng
có thể bổ sung và tác động lẫn nhau để quyết định được phương hướng phát triển cua một đất nước Đối với các quốc gia là các nước đang phát triển như: Lào, Campuchia, Việt Nam… thì các vấn đề về mặt chính trị – kinh tế là lĩnh vực được quan tâm nhiều nhất Vì chỉ khi có một nền kinh tế và chính trị vững mạnh thì đất nước đó mới có thể trở thành một quốc gia phát triển được Nhưng đối với các quốc gia đang phát triển thì có một vấn đề lớn mà hầu hết các nước đang phát triển đang mắc phải đó chính là “Bẫy thu nhập trung bình” đây là tình trạng các nước không thể thoát ra khỏi nhóm thu nhập trung bình để trở thành nước có thu nhập cao Trên thế giới đã có rất nhiều nước đã đặt kỳ vọng rât cao là trở thành một nước phát triển nhưng lại không thể vượt qua được “bẫy thu nhập trung bình” ví
dụ như gần chúng ta thì có Thái Lan hoặc Indonesia Xa hơn ở Mỹ Latinh thì có Argentina – đất nước từng được kỳ vọng sẽ trở thành Canada thứ hai Đây là một vấn đề không chỉ có các nước trên mắc phải mà đối với Việt Nma chúng ta nó là nột vấn đề rất cấp thiết Vì vậy để tìm hiểu và tìm kiếm ra những phương pháp để
có thể có thể đưa Việt Nam ra khỏi bẫy thu nhập trung bình Em đã tìm hiểu phân tích lý luận về bẫy thu nhập trung bình và áp dụng để phân tích bẫy thu nhập trung
bình Vì những lý do trên em đã chọn đề tài “Phân tích lý luận về bẫy thu nhập
trung bình Áp dụng phân tích ở Việt Nam” để làm đề tài cho bài tiểu luận.
2
Trang 4NỘI DUNG
I PHÂN TÍCH LÝ LUẬN VỀ BẪY THU NHẬP TRUNG BÌNH
1 Khái niệm của “bẫy thu nhập trung bình:
Bẫy thu nhập trung bình là một tình trạng trong phát triển kinh tế khi mà một quốc gia đạt đến một mức thu nhập bình quân nhất định (do những lợi thế sẵn có)
và giậm chân tại mức thu nhập ấy mà không thể vượt qua ngưỡng đó để trở nên giàu có hơn
Bẫy thu nhập trung bình hiểu một cách đơn giản nhất đó là khi một quốc gia thoát khỏi mức thu nhập thấp bước vào nhóm các nước có mức thu nhập trung, nhưng trong một thời gian dài có thể lag 30 năm, 50 năm hoặc có thể mãi mãi nước
đó vẫn không thể vươn lên hàng các quốc gia có mức thư nhập cao, nghĩa là nướv
đó đã mắc vào bẫy thu nhập trung bình
2 Nguyên nhân vướng vào “bẫy thu nhập trung bình”:
Nguyên nhân cơ bản của tình trạng vướng vào bẫy thu nhập trung bình được mô
tả có thể bao gồm các vấn đề:
- Sự suy giảm hiệu quả vốn đầu tư sau quá trình tăng trưởng kinh tế;
- Tiếp tục tình trạng của một nền kinh tế gia công (nền kinh tế trong nước không đủ sức tạo ra giá trị gia tăng mới để tham gia vào chuỗi
- Sự phân hóa thu nhập
- Phụ thuộc nhiều vào nguồn nhân công giá rẻ
- Thất bại trong việc phân bổ vốn
- Các vấn đề trong việc duy trì ổn định kinh tế vĩ mô
Quá trình phát triển từ thu nhập thấp đến thu nhập trung bình cũng ngầm chứa nhiều tố là nguyên nhân để một nước rơi vào bẫy trung bình Do đó sẽ mất nhiều thời gian và nguồn lực để khắc phục sự thay đổi của môi trường xã hội dễ tạo ra những xung đột, tâm lí đòi thưởng công trạng biểu hiện ở nhu cầu hưởng thụ sớm Hậu quả của bẫy thu nhập trung bình các nước bị rơi vào bẫy thu nhập trung bình :
3
Trang 5- Tỉ lệ đầu tư thấp
- Ngành chế tạo phát triển chậm
- Các ngành công nghiệp ít đa dạng
- Đất nước chậm phát triển kéo theo nền kinh tế không tăng cao, người dân thu nhập thấp tạo nên cuộc sống khó khăn cho người dân,
- Thị trường lao động kém sôi động
3 Các biện pháp để tránh khỏi “bẫy thu nhập trung bình”:
GS Kenichi Ohno cũng chia sẻ: tăng trưởng không thể dựa mãi vào FDI, ODA, tài nguyên thiên nhiên, các dự án lớn, đầu tư vào chứng khoán, bất động sản… Nguồn lực thực sự cho tăng trưởng phải là giá trị do người dân và doanh nghiệp trong nước tạo ra
Thứ nhất, cần có những chính sách tích cực, tạo điều kiện thuận lợi để khu vực
tư nhân đầu tư cho sản xuất - kinh doanh, huy động mọi nguồn lực trong xã hội vào đầu tư phát triển Một khi hệ thống doanh nghiệp phát triển, chúng ta sẽ duy trì được tốc độ tăng trưởng tiềm năng
Thứ 2, cần chuyển sang mô hình tăng trưởng mới dựa vào hiệu quả huy động các nguồn lực nhằm tăng khả năng cạnh tranh công nghiệp; nâng cao trình độ công nghệ và tăng năng suất lao động; chuyển sang mô hình công nghiệp hóa phát huy lợi thế so sánh động và dựa vào các lợi thế so sánh bậc cao bao gồm: lao động chất lượng cao, nguyên liệu tinh chế, vốn lớn, công nghệ hiện đại
Bên cạnh các giải pháp ngắn hạn, phải thực hiện các giải pháp dài hạn, phải quyết liệt tái cơ cấu kinh tế, đặc biệt là tái cơ cấu các ngành sản xuất để tăng năng lực cạnh tranh cho từng ngành và cho toàn nền kinh tế; song song với ổn định vĩ
mô là phải ổn định cả sản xuất và tăng trưởng Đó chính là những kế sách lâu dài
để có thể tăng trưởng nhanh, bền vững và vượt qua "bẫy" thu nhập trung bình
4
Trang 6II ÁP DỤNG PHÂN TÍCH BẪY THU NHẬP TRUNG BÌNH Ở VIỆT
NAM
1 Thực trạng bẫy thu nhập trung bình ở Việt Nam
1.1 Thu nhập bình quân đầu người và tình hình kinh tế Việt Nam
Nhìn chung thu nhập bình quân đầu người ở việt nam tăng không liên tục, sự tăng trưởng kinh tế có sự thay đổi qua các năm (tăng giảm không liên tục)
Từ năm 1985 đến năm 1987, thu nhập bình quân đầu người có xu hướng tăng
từ 231 usd/người đến 575 usd/người (tăng 344 usd/người).Từ năm 1987 đến năm
1989 thì giảm từ 575 usd/người đến 95 usd/người (giảm 480 usd/người).Từ năm
1990 đến năm 2020 thì thu nhập bình quân có xu hướng tăng liên tục từ 95 usd/người đến 2786 usd/người (tăng 2691 usd/người):
Từ năm 1987 đến năm 1990, cuộc khủng khoảng kinh tế- xã hội vẫn diễn biến đến mức nghiêm trọng, “cả nước làm không đủ ăn”, lạm phát nên mỗi năm phải nhập khẩu khoảng hai triệu tấn lương thực, xăng dầu, nhiều nhất là sắt thép, phân bón và nguyên liệu Từ năm 1991 đến năm 2016, nước ta phải đổi mặt với hai cuộc khủng hoảng khu vực và thế giới, và những vấn đề khác nhưng kinh tế đã tăng trưởng với tốc độ cao và thu được những thành tựu quan trọng Điều này được thể hiện qua số liệu Đó chính là GDP bình quân đầu người năm 1991 là 188 USD thuộc nhóm thấp nhất, năm 2011 là 1.260 USD, gia nhập nhóm nước có thu nhập trung bình thấp của thế giới, năm 2016 là 2.050 USD, bằng 10,9 lần năm 1991 Tốc độ tăng trưởng kinh tế giai đoạn 1991- 2016 trung bình gần 7%/năm, có 3 năm trên 7%, 7 năm trên 8% và 2 năm trên 9%; có hai giai đoạn 6 năm liên tiếp 1992- 1997 và 2002- 2007 đạt được tốc độ tăng trưởng trên 7%
Mất 10 năm sau khi đất nước thống nhất mới cắt đứt được cơ chế kinh tế dẫn đến tình trạng “cả nước làm không đủ ăn” Khi đã lựa chọn phát triển kinh tế thị trường năm 1986 thì 14 năm sau đó mới chuyển được từ tư duy người dân và doanh nghiệp được hành nghề “khi nhà nước cho phép” sang “ khi luật pháp không cấm” thể hiện tại Luật Doanh nghiệp năm 2000, từ đó đã có thể khai thác tối đa tiềm năng đó
5
Trang 7Năm 2018, GDP tính theo sức mua tương đương bình quân đầu người của Việt Nam chỉ bằng 40% so với trung bình của thế giới (khoảng 6.600 USD so với 16.000 USD) và mới thoát khỏi nhóm các nước nghèo Năm 2017, tăng trưởng kinh tế đạt 6,81%, vượt chỉ tiêu 6,7% do Quốc hội đề ra
Năm 2020: Dịch Covid-19 diễn biến phức tạp, làm gián đoạn hoạt động kinh tế
xã hội của các quốc gia trên thế giới; xung đột thương mại Mỹ – Trung vẫn tiếp diễn Trong nước, thiên tai, dịch bệnh tác động không nhỏ tới các hoạt động của nền kinh tế và cuộc sống của người dân; tỷ lệ thất nghiệp, thiếu việc làm ở mức cao Tuy nhiên, với những giải pháp quyết liệt và hiệu quả trong việc thực hiện mục tiêu kép “vừa phòng chống dịch bệnh, vừa phát triển kinh tế – xã hội”, kinh tế Việt Nam vẫn đạt kết quả tích cực với việc duy trì tăng trưởng Mặc dù tăng trưởng GDP năm 2020 đạt thấp nhất trong giai đoạn 2011-2020 nhưng trước những tác động tiêu cực của dịch Covid-19 thì đó là một thành công của nước ta với tốc độ tăng thuộc nhóm nước cao nhất thế giới Cùng với Trung Quốc và Mi-an-ma, Việt Nam là một trong ba quốc gia ở châu Á có mức tăng trưởng tích cực trong năm ; đồng thời quy mô nền kinh tế nước ta đạt hơn 343 tỷ USD, vượt Xin-ga-po (337,5
tỷ USD) và Ma-lai-xi-a (336,3 tỷ USD), đưa Việt Nam trở thành quốc gia có nền kinh tế lớn thứ 4 trong khu vực Đông Nam Á (sau In-đô-nê-xi-a 1.088,8 tỷ USD; Thái Lan 509,2 tỷ USD và Phi-li-pin 367,4 tỷ USD)
Năm 2021: Theo Tổng cục Thống kê, do dịch Covid-19 ảnh hưởng nghiêm trọng tới mọi lĩnh vực của nền kinh tế, đặc biệt là trong quý III năm 2021, nhiều địa phương kinh tế trọng điểm phải thực hiện giãn cách xã hội kéo dài để phòng, chống dịch bệnh, đây là một thành công lớn của nước ta trong việc phòng chống dịch bệnh, duy trì sản xuất kinh doanh GDP quý IV năm 2021 ước tính tăng 5,22% so với cùng kỳ năm trước Tuy cao hơn tốc độ tăng 4,61% của năm 2020 nhưng thấp hơn tốc độ tăng của quý IV các năm 2011-2019 Đây là mức tăng thấp nhất trong thập kỷ gần đây và thấp hơn tăng trưởng năm 2020 (2,91%) Trên 600 nghìn doanh nghiệp tư nhân ra đời
6
Trang 8Biểu đồ kết hợp cột với đường thể hiện GDP bình quân đầu người Việt
Nam năm 1985-2020.
Nguồn: Số liệu Kinh tế
Bảng số liệu GDP bình quân đầu người Việt Nam năm 1986-2020 tính theo
đô la Mỹ hiện nay.
* Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân đầu người ( %x100 )
Từ biểu đồ kết hợp (cột với đường) và bảng số liệu thể hiện GDP bình quân đầu người Việt Nam từ năm 1986 đến năm 2020 cho ta thấy rằng năm 2020 thì
7
Trang 9GDP bình quân đầu người đạt cao nhất (2.786 USD/người) ; năm 1989 và năm
1990 thì GDP bình quân đầu người đạt thấp nhất (95 USD/người) trong giai đoạn; tốc độ tăng trưởng GDP bình quân không đều qua các năm đạt cao nhất vào năm
1995 (7,7%) và thấp nhất vào năm 1986 (0,48%) Có 21 năm tốc độ tăng trưởng GDP/người trên 5% , có 10 năm thì trên 6% và 2 năm trên 7% ( 1995-1996)
Nhìn chung từ năm 1986 đến 2020 thì tăng 2.363 USD/người và tăng 1,5%
Tốc độ tăng trưởng GDP giai đoạn 2011-2020
Nguồn : Tổng cục thống kê.
Nhìn vào biểu đồ đường thể hiện tốc độ tăng GDP giai đoạn 2010-2020 có tốc độ không đều qua các năm và đặc biệt giảm mạnh vào năm 2020 từ 7,02% xuống còn 2,91% ( giảm 4,11%) là do tình hình dịch bệnh COVID diễn biến phức tạp, làm gián đoạn hoạt động kinh tế – xã hội trong nước Nhưng nhờ chính sách phù hợp mà năm 2021 tăng 2,58% Nhưng nhìn chung thì vẫn thấp so với các năm khác
1.2 Chính sách.
Nhìn trên quy mô quốc tế, các nền kinh tế Đông Á có thể chia ra hai nhóm Nhóm một là Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Singapore,Trung Quốc đã thoát khỏi bẫy thu nhập trung bình và giàu có
Nhóm thứ hai là Malaysia, VN, Thái Lan, Philippines, chính sách các quốc gia này có sự khác nhau và không đạt hiểu quả tốt hoặc có những điều hạn chế Ví
8
Trang 10dụ như ở VN thì tồn tại thấy hai vấn đề đó chính là chính sách và năng lực doanh nghiệp
Quyền tư hữu là nút thắt của nền kinh tế hiện nay, nó tạo ra sự bất bình đẳng giữa doanh nghiệp nhà nước (DNNN) với tư nhân, giữa tư nhân với tư nhân và môi trường pháp lý hiện tại đang chèn ép các doanh nghiệp vừa và nhỏ (SME) vốn là động lực cho sự tăng trưởng
“Các cơ quan xây dựng và thực thi luật không dám chạm đến DNNN, chạm vào các doanh nghiệp FDI khó vì các doanh nghiệp này có đội ngũ tư vấn luật rất giỏi, vì thế đối tượng của họ là các SME”, ông Hảo nói
Trình bày về mối quan hệ giữa nhà nước với doanh nghiệp và tác động của mối quan hệ này tới sản xuất công nghiệp trong ba thập kỷ qua, TS Vũ Thành Tự Anh, Giám đốc nghiên cứu Chương trình giảng dạy kinh tế Fulbright, đánh giá cao bộ Luật Doanh nghiệp 1990 và đặc biệt là bộ Luật Doanh nghiệp 1999 đã giúp kinh tế tăng trưởng, thay đổi tích cực mối quan hệ giữa nhà nước với doanh nghiệp, cho phép doanh nghiệp tham gia chính sách
Nhưng ông Vũ Thành Tự Anh đánh giá thấp hai bộ luật gần đây ra năm 2005
và 2014 Luật Doanh nghiệp 2005 không mang lại sự cải cách, tạo ra các mối quan
hệ trung ương – địa phương, nhà nước – doanh nghiệp phức tạp, doanh nghiệp thậm chí còn dẫn dắt nhà nước trong việc xây dựng chính sách, đẩy nền kinh tế đi theo hơi hướng chủ nghĩa tư bản thân hữu Luật Doanh nghiệp 2014 tốt hơn cho doanh nghiệp, giảm quyền lực một số bộ ngành, nhưng tư duy quản trị không thay đổi
“Nếu xem bộ luật năm 1990 là phiên bản 1.0, bộ luật 1999 là 2.0 thì bộ luật
2005 là 2.1, bộ luật 2014 là 2.5”, ông Tự Anh nhận xét Nghĩa là hiệu quả của việc hoạch định chính sách thụt lùi
Một thực trạng khác là ý chí thực thi chính sách yếu, thiếu sự đồng thuận, khủng hoảng về mặt lãnh đạo:“Các bộ không đối thoại được với nhau Cùng trong một nội các thủ tướng mà các bộ phải ký kết thỏa thuận hợp tác với nhau Mỗi bộ như một ốc đảo quyền lực, cơ quan nào có thể ra chính sách thì đều lạm dụng tối
đa việc đó để làm lợi cho mình, quyền phân phối lợi ích tăng thì quyền lực lại càng lớn”
9
Trang 11Các nhà nghiên cứu kinh tế đặc biệt phê phán các chính sách áp dụng cho các doanh nghiệp FDI, ưu đãi họ quá nhiều trong khi họ kết nối với các doanh nghiệp trong nước rất kém, không chuyển giao công nghệ, chỉ đến tận dụng nhân công rẻ
và môi trường rẻ “Một trong những lợi nhuận đáng kể của họ đến từ việc không phải chịu các quy định chặt chẽ về môi trường; mù quáng với FDI, con cháu ta sẽ phải trả giá”, ông Võ Trí Hảo nói
Trong không khí học thuật cởi mở, các nhà khoa học rất thẳng thắn, như giáo
sư Hansjorg Herr từ Trường kinh tế Berlin (Đức): “Nghe các bạn nói về khó khăn hiện tại, tôi thấy một loạt Hiệp định thương mại mới ký kết rất nguy hiểm với Việt Nam Doanh nghiệp tư nhân chưa phát triển đủ mức, doanh nghiệp nhà nước bị chi phối bởi chính trị còn nền kinh tế bị doanh nghiệp FDI lũng đoạn như vậy thì các bạn vẫn chỉ gia công xuất khẩu, tạo lợi nhuận cho nước khác, luẩn quẩn trong bẫy thu nhập trung bình”
TS Nguyễn Đức Thành từ Viện Nghiên cứu kinh tế và chính sách (VEPR) thuộc Trường Kinh tế, Đại học Quốc gia Hà Nội cũng nhận định: “Qua rồi thời kỳ
cứ cho rằng cứ hội nhập là tốt, ngày trước hội nhập thì mình được, bây giờ hội nhập được mất như nhau, nếu không thay đổi thể chế chính sách thì mất nhiều hơn được Muốn thoát khỏi bẫy phải thay đổi thể chế chính sách, thay đổi ít là thất bại, thay đổi vừa thì bớt thất bại, chỉ có quyết tâm thay đổi cao nhất cộng với may mắn
và nhiều ngoại lực thuận lợi khác mới thoát bẫy thành công”
1.3 Hiệu quả sử dụng vốn
Nói về bẫy thu nhập trung bình thì việc sử dụng hiệu quả nguồn vốn cũng là một trong những yếu tố có tác động lớn Thực tế trong thuyết của GS Kenichi Ohno hiệu quả sử dụng vốn cũng đã được để cập trong 2 giai đoạn đầu Trải qua 35 năm phát triển và đổi mới nền kinh tế thì đến nay kinh tế Việt Nam đã đạt được những thành quả ấn tượng và càng ngày càng hội nhập với kinh tế toàn cầu Cơ cấu ngành cũng đang dần chuyển dịch theo hướng giảm thị phần nông nghiệp tang cách ngành công nghiệp và dịch vụ Theo thống kê năm 2018 phần trăm xuất khẩu của ngành chế biến chế tạo của Việt Nam chiếm tới gần 70% tổng sản lượng toàn ngành công nghiệp nhưng chủ yếu là khu vực xuất khẩu FDI Phần lớn các doanh nghiệp trong nước chỉ xuất khẩu các mặt hàng nông sản, dệt may,… Qua đó có thể thấy, trong tăng trưởng của Việt Nam không chỉ do nguồn vốn trong nước mà còn
có một phần vốn quan trọng đến từ các quốc gia khác
10