Vì vậy, tôi quyết định chọn đề tài nghiên cứu cho bài tiểuluận cuối kỳ của tôi về “nghệ thuật cải lương” để có thể hiểu sâu hơn về văn hóa –nghệ thuật Việt Nam và cùng với mong muốn mọi
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC HOA SEN
KHOA NGOẠI NGỮ
TIỂU LUẬN CUỐI KỲ MÔN: CƠ SỞ VĂN HÓA VIỆT NAM
ĐỀ TÀI: NGHỆ THUẬT CẢI LƯƠNG
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thị Ngọc Hân
Trang 2KHOA NGOẠI NGỮ
TIỂU LUẬN CUỐI KỲ MÔN: CƠ SỞ VĂN HÓA VIỆT NAM
NGHỆ THUẬT CẢI LƯƠNG
Giảng viên hướng dẫn: Nguyễn Thị Châu Anh Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thị Ngọc Hân
TP HCM, 06/ 2021.
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cảm ơn cô Nguyễn Thị Châu Anh – giảng viên môn Cơ
sở văn hóa Việt Nam – trường đại học Hoa Sen, đã tận tình giảng dạy và hướng dẫn tôi trong quá trình học tập Cảm ơn cô đã chia sẻ, hỗ trợ kiến thức cho chúng tôi để hoàn thành tốt môn học và cũng như bài tiểu luận này.
Tôi cũng chân thành cảm ơn khoa Ngôn ngữ và Văn hóa Anh Mỹ và trường Đại học Hoa Sen đã tạo điều kiện giúp tôi có thể tiếp sâu rộng hơn
những kiến thức về văn hóa và nghệ thuật của Việt Nam.
Trong quá trình hoàn thành bài tiểu luận này không thể tránh khỏi những thiếu sót Kính mong nhận được sự đóng góp ý kiến từ cô để tôi có thể hoàn thiện kiến thức và kỹ năng hơn.
Xin chân thành cảm ơn.
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN 1
MỤC LỤC 2
MỞ ĐẦU 4
NỘI DUNG 6
CHƯƠNG I: CẢI LƯƠNG – NGHỆ THUẬT SÂN KHẤU TỔNG HỢP 6
1 ĐỊNH NGHĨA 6
2 CẢI LƯƠNG - NGHỆ THUẬT SÂN KHẤU TỔNG HỢP 6
2.1 Cấu trúc 6
2.1.1 Kịch 6
2.1.2 Ca nhạc 9
2.1.3 Trang phục 10
2.2 Biểu cảm 11
2.2.1 Nội dung kịch bản 11
2.2.2 Diễn xuất 12
CHƯƠNG II: QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN 14
1 Giai đoạn hình thành từ 1919 – 1930 14
2 Từ năm 1930 đến năm 1945 17
3 Từ năm 1945 đến năm 1965 19
4 Từ năm 1965 đến năm 1985 22
5 Từ năm 1985 đến năm 2007 23
6 Từ năm 2007 đến nay 24
CHƯƠNG III: GIÁ TRỊ CỦA NGHỆ THUẬT SÂN KHẤU CẢI LƯƠNG 26
1 Giá trị nhân văn 26
2 Giá trị nghệ thuật 26
Trang 5KẾT LUẬN 28
1 Kết luận 28
2 Kiến nghị 28
TÀI LIỆU THAM KHẢO 29
PHỤ LỤC HÌNH ẢNH 30
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Nghệ thuật Việt Nam ngày càng đa dạng và phong phú hơn sau hội nhập vănhóa thế giới Chính điều này đã làm cho giới trẻ ngày nay chạy theo nghệ thuật nghệthuật thế giới với những thần tượng nổi tiếng mà quên đi những nghệ thuật đáng quýcủa đất nước, khiến những nghệ thuật ấy ngày càng phai dần đi trong đời sống văn hóa– nghệ thuật của thế hệ trẻ Vì vậy, tôi quyết định chọn đề tài nghiên cứu cho bài tiểuluận cuối kỳ của tôi về “nghệ thuật cải lương” để có thể hiểu sâu hơn về văn hóa –nghệ thuật Việt Nam và cùng với mong muốn mọi người sẽ luôn giữ lại và phát triểnnhững nghệ thuật đầy giá trị của đất nước
2 Mục tiêu nghiên cứu
Nghệ thuật cải lương là một trong những nghệ thuật mang đậm bản sắc dân tộc
và có bề dày hơn 100 năm lịch sử và từng có một thời “làm mưa làm gió” khắp cảnước Và đây cũng là một nghệ thuật văn hóa đặc sắc riêng của Việt Nam Bài nghiêncứu này tìm hiểu sâu quá trình phát triển và các giá trị của nghệ thuật cải lương
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài: Cải lương
Khách thể nghiên cứu của đề tài: Những yếu tố cấu thành nghệ thuật cải lương, quátrình phát triển và những giá trị của nghệ thuật cải lương mang lại
4 Giả thuyết khoa học của đề tài
Vì sao nghệ thuật cải lương còn được các chuyên gia đánh giá là nghệ thuật sân khấutổng hợp?
Quá trình phát triển của cải lương thế nào? Kéo dài bao lâu?
Nghệ thuật cải lương đã mang lại những giá trị gì?
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
Trang 7 Nghiên cứu từng đặc tính, yếu tố giúp nghệ thuật cải lương trở thành nghệ thuậtsân khấu tổng hợp.
Tìm hiểu từng giai đoạn, thời kì phát triển
Nghiên cứu các yếu tố tạo nên các giá trị của nghệ thuật cải lương
6 Giới hạn của đề tài
Nội dung: chỉ tập trung tìm hiểu, nghiên cứu về các yếu tố tạo thành, các giá trịvăn hóa và giai đoạn phát triển của nghệ thuật sân khấu cải lương
Không gian: khái quát khắp ba miền đất nước Bắc – Trung – Nam
Thời gian: khái quát sự thay đổi, phát triển qua từng giai đoạn thời gian
7 Phương pháp nghiên cứu
Tìm đọc nội dung nghiên cứu qua các sách, báo và đúc kết kiến thức, tổng hợpnội dung
Tìm hiểu qua các trang mạng xã hội, qua các đoạn video cải lương để nghiêncứu chính xác các giá trị
8 Cấu trúc của đề tài
Bài tiểu luận gồm các phần: mở đầu, nội dung, kết luận, tài liệu tham khảo vàcác phần phụ lục Trong đó, phần nội dung nghiên cứu gồm ba chương:
CHƯƠNG I: CẢI LƯƠNG – NGHỆ THUẬT SÂN KHẤU TỔNG HỢP.
CHƯƠNG II: QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN.
CHƯƠNG III: GIÁ TRỊ CỦA NGHỆ THUẬT SÂN KHẤU CẢI LƯƠNG.
Trang 8NỘI DUNG CHƯƠNG I: CẢI LƯƠNG – NGHỆ THUẬT SÂN KHẤU TỔNG
HỢP
1 ĐỊNH NGHĨA
Cải Lương là nghệ thuật sân khấu tổng hợp có nguồn gốc hình thành và pháttriển nổi trội ở vùng Nam Bộ "Cải lương" có nghĩa là “cải cách và biến đổi để tốthơn.” Cải cách và biến đổi ở đây nhằm mục đích phát triển nghệ thuật sân khấu Nam
Bộ vừa mang nét truyền thống, vừa hướng theo sự phát triển của văn minh Điều nàyđược thể hiện qua hai câu đối: “Cải cách hát ca theo tiến bộ, lương truyền tuồng tíchsánh văn minh” Sự ra đời của nghệ thuật cải lương chính là kết quả của quá trình giaolưu, hội nhập văn hóa Việt - Pháp và kết hợp với nghệ thuật truyền thống ở miền Nam
là Đờn ca tài tử Loại hình giao lưu văn hóa này hòa nhập sâu sắc với văn hóa Nam Bộcùng với nội dung và lối diễn xuất của nghệ sĩ được truyền tải phù hợp với tâm tình,khát khao, nguyện vọng và lối sống phóng khoáng của người dân ở vùng đất Nam Bộ
2 CẢI LƯƠNG - NGHỆ THUẬT SÂN KHẤU TỔNG HỢP
Gọi cải lương là nghệ thuật sân khấu tổng hợp vì cấu trúc của nó được tổng hợp
từ nhiều loại hình nghệ thuật khác nhau, không những vậy nó còn hội tụ những đặctính về biểu cảm giúp cho loại hình nghệ thuật này trở nên mới lạ, trữ tình và truyền tảitâm tình, nội dung của các nghệ sĩ dễ dàng và thu hút khán giả hơn
Trang 9trong thập niên hai mươi của thế kỷ 20 Không những vậy, những bậc trí thức Tâycũng theo đó tiếp thu và linh hoạt sử dụng sân khấu kịch để nhường chỗ cho cải lương.Không thể không kể đến Pierre Châu Văn Tú, năm 1917 sau khi du học ở Pháp và trở
về Việt Nam, ông đã áp dụng những nghệ thuật sân khẩu của Pháp để xây dựng vàthành lập gánh hát mang tên của chính mình với hiệu là Thầy Năm Tú và song song
đó, ông cũng thành lập xưởng chế tạo máy hát đĩa với thương hiệu “La voix dumaitre” Hoặc có thể kể đến là nghệ sĩ Tư Chơi với gánh hát “Tái Đồng Ban”
Những kịch bản cải lương là những tác phẩm được các nhà soạn giả chuyển thểthành chứ không phải tự sáng tác Đối với những kịch bản mang văn phong nướcngoài sẽ được các soạn giả chuyển thể từ cấu trúc nghệ thuật đến cốt truyện trở nênthuần Việt và nội dung của kịch bản phải phản ánh được đời sống xã hội cũng như tâm
tư, tình cảm của con người Việt Nam Vì thế, những nhà soạn giả cải lương luôn sẵnsàng kế thừa, tiếp nhận và đan xen văn hóa nghệ thuật để đưa ra tác phẩm xuất sắcnhất Như soạn giả Trương Duy Toản với tác phẩm “Lục Vân Tiên”; Mộng Vân với tácphẩm “Lửa thù”; Năm Châu với tác phẩm “Nước biển mưa nguồn”; những kịch bảnnày vẫn còn lưu danh đến ngày nay Có thể thấy, chủ đề và nội dung của các kịch bảnnày luôn gắn liền với đối sống xã hội và con người Cải lương bao gồm những yếu tố
và tác động của ca nhạc và kịch được cân bằng và đan xen hài hòa lẫn nhau Ca nhạcbao gồm giọng ca, bài hát, tiết tấu và những nhạc cụ để phối hợp, còn kịch thì là nhữnghành động, đòi hỏi kĩ năng diễn xuất Vì thế, cải lương phải được cân bằng giữa cácyếu tố này
Một kịch bản cải lương cần muốn được hoàn thiện phải được phân chia và sắpxếp thành phân Và sự phân chia này thường được xây dựng và đánh giá theo ba bướcgồm: Khai đề - Thắt nút – Mở nút
Khai đề là phần mở đầu, giới thiệu khiến khán giả có thể dễ dàng liên tưởng vàhình dung được bối cảnh và hoàn cảnh của vở cải lương và đồng thời nó cũng làm tiền
đề cho phần Thắt nút Thắt nút là giai đoạn xây dựng, phát triển các tình tiết trở nêngay cấn để dẫn đến các xung đột và sẽ giải quyết các xung đột ấy ở phần kết Điều này
Trang 10sẽ giúp cho phần kết đầy cảm xúc và đọng lại trong khán giả nhiều hơn Mở nút chính
là phần kết, mở nút ở đây chính là tháo gỡ mọi rắc rối, xung đột để kết thúc vở kịch
Dựa theo chủ đề và nội dung của kịch bản cải lương thường được chia thành haihình thức sân khấu lớn:
Sân khấu cải lương theo tuồng Tàu, hay được gọi là tuồng cổ
Sân khấu cải lương theo tuồng Tây, hay còn có một tên gọi khác là cảilương tuồng hương xa Loại này ngoài diễn những kịch bản có cốt truyệnViệt Nam ra sẽ diễn thêm những tác phẩm của Anh, Pháp
Dựa theo đề tài và nội dung của vở kịch mà thầy tuồng1 quy định loại hình sânkhấu Các gánh hát theo tuồng Tàu nổi tiếng và trở nên phổ biến rộng rãi hơn trongcông chúng vào năm 1920 – 1950 như Nam Phong, Thanh Bình – Kim Mai, Văn HíBan Trong loại hình sân khấu tuồng Tàu sẽ đặc biệt chú trọng đến âm nhạc, các bàihát sẽ chiếm vị trí chủ đạo Lời thoại đối đáp cũng được nhấn nhá theo tiết tấu nhạc vàcác động tác hình thể cũng được chuyển đổi thành vũ đạo Sự kết hợp này thườngđược người trong nghề gọi là vũ đạo hóa Ví dụ như diễn viên run rẩy tay chân, hayđảo tròng mắt đều sẽ theo nhịp trống Vì vậy, tiết tấu đóng vai trò rất quan trọng trongviệc kết hợp chặt chẽ giữa lời thoại và các động tác diễn xuất nhằm làm tăng kịch tínhcủa vở kịch
Sân khấu tuồng Tây thì lại chú trọng đến ca từ và lối diễn xuất tự nhiên gắn liềnvới đời sống sinh hoạt thường ngày, tuân thủ theo chủ trương của Năm Châu là “Mộtsân khấu thật và đẹp”
Trong kịch bản của nghệ thuật cải lương, các yếu tố ca – kịch luôn là vị trí chủđạo và luôn được phối hợp, đan xen hài hòa Chất giọng của người nghệ sĩ cũng phảiphản ánh được những cung bậc cảm xúc đối với phân cảnh diễn Người khán giả khixem bất kì vở cải lương nào cũng sẽ được thưởng thức phần kịch và cả phần ca nhạcvọng cổ
1 Thầầy tuồầng – ng ườ i so n gi kiêm vai trò đ o diêễn ạ ả ạ
Trang 112.1.2 Ca nhạc
Sự kết hợp giữa kịch và ca nhạc trong kịch bản cải lương có thể cho chúng tanhận thấy rõ nhà soạn giả vô cùng tài năng khi vừa phải đóng vai trò là nhạc sĩ vừa lànghệ sĩ Những nhà nghiên cứu nghệ thuật sân khấu đều nhận định rằng các nhà soạngiả kịch bản cải lương đều mang trên mình những tư chất sáng tác tổng hợp “Viếttuồng cải lương, điều khó nhất là sắp bài ca cho trúng chỗ Trong điệu cải lương cónhiều giọng: Bắc, Oán, Nam, Lý, Bình, Ngâm v.v Mỗi giọng đều có tiết riêng, khônggiống nhau Muốn đề bài ca cho đúng điệu, phải biết đờn và biết mùi của mỗi bản Tùylúc vui, buồn, giận, sợ của vai tuồng chọn lọc kỹ trong những bản đờn, bản nào hợpvới hoàn cảnh và hạp với vai tuồng mới đề vào Nếu đề sái, người ta biết rằng tác giảkhông thạo đờn.” (Trần Văn Khải, 1970, tr 216)
Lịch sử cải lương gồm có 20 bài tổ mang những ý nghĩa trụ cột “sáu Bắc, baNam, bốn Oán, bảy Hạ”
Sáu Bắc có âm điệu vui tươi, trong sáng, ngắn gọn, gồm: Lưu thủy trường, Phúlục, Bình bán chấn, Xuân tình, Tây Thi, Cổ Bản
Ba Nam có âm điệu buồn bã, ai oán, gồm: Nam xuân, Nam ai, Đảo ngũ cung
Bốn Oán với giọng nhạc hài hòa, hiền diệu, thanh bình, gồm: Tứ đại oán, Phụngcầu hoàng, Phụng hoàng, Giang Nam
Bảy Hạ (hay còn gọi là bảy Lễ) âm điệu uy nghi, nghiêm trang, gồm: Ngũ đối
hạ, Ngũ đối thượng, Long Đăng, Tiểu khúc, Xàng xê, Long ngâm, Vạn giá.Ngoài ra, có những bản của Trung Quốc du nhập vào nước ta và đã đượcchuyển đổi thuần Việt như: Ú líu ú xáng, Bắc sơn trà, Liễu thuận nương Làn điệu củanhững vở cải lương phong phú hơn cả hát bội vì ngoài giọng Bắc, Oán, Nam, Quảngcòn có điệu lý, hò giọng bình, ngâm, thơ, thán, vọng cổ và tân nhạc Sự kết hợp hàihòa giữ kịch bản và âm điệu này sẽ giúp diễn viên dễ dàng diễn tả tình cảm, tâm tư vàhành động của nhân vật
Chính những bài tổ và những làn điệu đa dạng đã tạo nên các thành tố đóng vaitrò quan trọng trong cấu trúc của cải lương Và để trở thành nghệ sĩ cải lương, người
Trang 12nghệ sĩ phải hiểu và nắm rõ tất cả những nguyên tắc này để nhập vai và truyền tải cảmxúc đến khán giả một cách trọn vẹn.
Cũng như những nghệ thuật khác, cải lương cũng được thiết kế phục trang vàhóa trang cho diễn viên nhằm tái hiện lại nhân vật bằng xương bằng thịt giúp khán giảcảm thấy gần gũi hơn Trang phục này phải thiết kế phù hợp với từng phân cảnh cũngnhư vai diễn trong kịch bản
Khi nói đến nghệ thuật sân khấu, một trong những hạng mục quan trọng khôngkém phục trang, vì nó ảnh hưởng trực tiếp đến ấn tưởng của khán giả đối với nhân vật
Sự xuất hiện của các diễn viên trong những bộ phục trang khác liền gây hiệu ứng vàtạo được ấn tượng với khán giả Vì vậy, các đạo diễn luôn đặc biệt chú trọng và quantâm đến phục trang của diễn viên Phục trang của cải lương vào những buổi đầu rấthạn chế vì phải cần nhiều bộ trang phục đa dạng với mỗi vai diễn dù đó là vai chínhhay vai phụ, và điều này đã tạo nên khó khăn đối với đạo diễn về vấn đề chi phí này
Trang phục của tuồng Tàu thường là cổ phục và thường được may lụa là, đínhthêm kim tuyến Đa phần, trang phục của vai diễn võ sẽ mặc đồng loạt là áo nhungngắn; đầu đội mũ nồi hoặc khăn đóng; chân đi giày màu hoặc giày ban; quần cũngđược may bằng vải nhung đủ màu và như quần cụt của kép xiếc Đào sẽ đeo thêmchiếc kiềng vàng ở cổ chân Đào và kép đều khoác thêm áo choàng ở phía ngoài; tay
sẽ cầm vũ khí như đoản đao, đinh ba, v.v Trang phục của vai diễn văn sẽ là: áo gấm,
áo lụa ánh vàng, áo huyền đen, quần lụa trắng Nam cũng sẽ đội khăn đóng nhưng sẽ
đi giày hạ hoặc guốc kinh Nữ sẽ bới tóc, đi giày kinh giống nam hoặc có thể đổi thànhgiày cườm Đối với trang phục của tuồng Tây sẽ theo những mẫu thiết kế hiện đại, đểthể hiện thẩm mỹ của xã hội đương đại
Và để tạo được diện mạo bên ngoài, người diễn viên còn phải chú trọng trangđiểm và hóa trang cho phù hợp với tính cách và thân phận của nhân vật Cải lươngđược ra đời trên tinh thần và sự khát khao đổi mới so với sân khấu truyền thống, vì vậtlối hóa trang cũng tiết chế màu sắc và thiên về tả thực nhiều hơn Khi trình diễn, diễnviên chỉ đánh son, thoa phấn, kẻ mày sao cho phù hợp với vở diễn và vai diễn và phải
Trang 13giống hình mẫu thực ở ngoài đời thường Song song đó, diễn viên phải biểu lộ cảmxúc, thân phận bằng gương mặt thật nhằm thể hiện sự chân thật Cách hóa trang này đãphá bỏ thủ pháp cách thức hóa và cường điệu hóa của nghệ thuật hát bội.
Hình 1 1 Trang ph c c i l ụ ả ươ ng tuồồng Tàu.
Nguồần: Dao-Tan/newsid/44D66E86-52F3-4E6E-9E94-FE43EF46B9D2/cid/B4E888BA-7D4B-4410-91DE-
2.2 Biểu cảm
Các loại hình nghệ thuật của Nam Bộ đều mang cho mình đặc trưng biểu cảmriêng: âm điệu nhẹ nhàng, trầm bổng, đậm chất trữ tình và diễn tả tâm tư, tình cảm.Cải lương cũng được hội tụ đủ các đặc trưng này và thể hiện rõ nét qua nội dung kịchbản và mấu chốt chính là diễn xuất của người nghệ sĩ
Kịch bản cải lương thường dựa trên những câu chuyện xã hội nên cốt truyện dễkhai thác nhiều tình tiết làm nổi bật sự kịch tính, bi thương, v.v “Nhìn lại trên 1000 tácphẩm cải lương đều có lối dẫn dắt truyện: tử biệt – sinh ly – chia lìa – gặp lại, mangnội dung trữ tình, đi sâu khai thác những xung đột tình cảm, tạo cái bi, hài.” (TuấnGiang, 2006, tr.476)
Trang 14Kịch bản cải lương thường dựa trên những cảm xúc: bi, hài, anh hùng ca Đaphần, soạn giả sẽ lựa chọn xây dựng theo bi, hài Trong đó, bi sẽ là chủ đạo nhằmchạm đến trái tim, cảm xúc của khán giả với những câu chuyện tình bi thương Tìnhyêu luôn là đề tài khá phổ biến và luôn được nhiều soạn giả quan tâm và viết nhiềunhư tác phẩm Lan và Điệp của tác giả Anh Bằng, Nửa đời hương phấn của soạn giả HàTriều, Đời cô Lựu của soạn giả Trần Hữu Trang, Tuy chứa đựng cảm xúc bi cảmnhưng không phải tuyệt vọng không có lối thoát mà soạn giả sẽ dùng cái bi đó để tìm
ra con đường giải thoát hướng đến hạnh phúc
Nếu như cảm xúc bi tập trung nhiều trong kịch bản, thì cảm xúc hài sẽ đượcbiểu hiện qua diễn xuất của diễn viên, điều này sẽ giúp cho kịch bản giảm đi phần ảmđạm, bi thương Sự kết hợp của bi và hài chính là đặc trưng trong tính cách của ngườiNam Bộ, luôn tìm cách giải quyết khó khăn, ưu sầu để hướng đến cuộc sống tràn đầyniềm vui, hạnh phúc
2.2.1 Diễn xuất
Bên cạnh kịch bản hay và giọng ca khỏe, người nghệ sĩ cải lương cũng luôn chútrọng đến lối diễn xuất của mình phải biểu cảm và mang tính chân thật Lối diễn xuấtphải được nhập tâm để khắc họa đúng tính cách nhân vật trong từng phân cảnh Vậyphải nhập tâm như thế nào để thể hiện được tính chân thật? Đó chính là qua từng cửchỉ nhỏ từ nét mặt đến hành động Tài năng của diễn xuất chính là ở đây, diễn viênphải diễn làm sao mà không cần thể hiện tình cảm quá thân mật nhưng khán giả vẫn cóthể cảm nhận được tình yêu mãnh liệt của hai người hoặc sư bi đát mà người đó đangphải trải qua
Trang 15Nguồn:
https://nld.com.vn/van-nghe/cai-luong-kinh-dien-lam-nong-san-dien-tet-201901172122265.htm, truy cập ngày 05/ 06/ 2021
Để trở thành một nghệ sĩ cải lương cần phải hội tụ đủ bốn yếu tố là “thanh, sắc,tài, duyên” Thanh là thanh âm, giọng hát, giọng nói phải dễ nghe Đối với nam thì cầngiọng trẻ, khỏe, dứt khoác, còn với nữ sẽ cần giọng trong trẻo, nhẹ nhàng để phù hợpngân nga câu thoại Còn sắc chính là sắc đẹp Tài và duyên ở đây chính là tài năngdiễn xuất, nhập tâm vào nhân vật Nếu người nghệ sĩ hội tụ đủ các yếu tố này sẽ trởthành người nghệ sĩ có sức cuốn hút độc đáo và dễ dàng thu hút được ánh nhìn củakhán giả
Hình 1 2 Ngh sĩ Lê T và Ngh sĩ Tú S ệ ứ ệ ươ ng diêễn v “Máu nhu m sân chùa” ỡ ộ
Trang 16CHƯƠNG II: QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN
1 Giai đoạn hình thành từ 1919 – 1930
Đầu năm 1919, khi diễn carabộ không còn thịnh hành ở Sài Gòn, ông chủ gánhAndre Thận đã đổ vỡ doanh thu và quyết định bán toàn bộ đào, kép nổi tiếng của mìnhcho thầy Năm Tú, trong đó có những tên tuổi lừng danh như Phán Nhuộm, Tư Hương,
Ký Quờn, Hai Diêu Khi đoàn hát của thầy Năm Tú sở hữu được nhiều diễn viênmới, ông Trương Duy Toản2 đã không bỏ lỡ cơ hội mà viết thêm nhiều kịch bản khácnhư Kiều gặp Kim Trọng, Kiều Hoạn Thư, Những kịch bản này đều được trình diễn
từ Mỹ Tho lên đến Sài Gòn và đi đến đâu cũng nhận được sự chào đón nồng nhiệt củakhán giả
Trong giai đoạn cuối năm 1918, đầu 1919 chỉ có Trương Duy Toản soạn và viếtkịch bản theo tuồng cổ Nội dung của ông đều dựa theo văn học dân gian nhằm đề caochữ hiếu thuận, thủy chung của người phụ nữ Ngoài ra, còn có ý phê phán xã hộiphong kiến đầy hủ tục và luôn trói buộc cuộc sống của người phụ nữ
Gánh hát thầy Năm Tú là gánh cải lương đầu tiên của sân khấu cải lương Đếngiữa năm 1919, có gánh Đồng bào Nam của bà Tư Sự ở Mỹ Tho Nhưng bà khôngdám sử dụng từ “cải lương” để đặt bảng hiệu vì sợ ông Năm Tú kiện bản quyền vàphải nghỉ diễn, nên bà chỉ dám đặt là “Gánh hát kim thời Đồng bào Nam Mỹ Tho”.Gánh hát của bà Tư Sự có tác giả Nguyễn Phong Sắc chuyên soạn kịch bản với nộidung bênh vực thân phận, sự thủy chung và những áp bức mà người phụ nữ phải gánhchịu như những vở: Bội thê thiên xử, Tham phú phụ bần, Nhưng những vở của gánh
bà Tư Sự đều luôn hướng đến cuộc sống mới Không thua kém gánh Năm Tú, sự đổimới của bà Tư Sự đã giúp cho các diễn viên có thể sáng tạo và bộc lộc lối diễn xuất tựnhiên và sau này họ đã trở thành trụ cột của ngành sân khấu cải lương với những cáitên như: Năm Phỉ, Hai Thầu, Sáu Huề, Ba Thâu,
Cũng giữa năm 1919 này, vào tháng 6, ở Hậu Giang cũng cho ra đời một gánhhát với tên gọi “Gánh Nam Đồng” và được nhà soạn giả Nguyễn Công Mạnh soạnkịch bản như vở: Thiện ác hữu báo, Ơn đền oán trả, Vì không chọn được phong
2 Tr ươ ng Duy To n – là so n gi viêết và so n k ch b n c i l ả ạ ả ạ ị ả ả ươ ng cho r p thầầy Năm Tú ạ