Theo quan điểm của các học giả Mỹ, rủi ro là sự bất trắc có thể đo lườngđược, rủi ro là tổng hợp của những sự ngẫu nhiên có thể đo lường bằng xác xuất.Rủi ro thị trường được đo lường bằn
Trang 1BỘ TÀI CHÍNH TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI CHÍNH – MARKETING
BÀI THUYẾT TRÌNH
VÀ QUẢN TRỊ RỦI RO TỶ GIÁ CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
HP: KINH DOANH NGOẠI HỐI
Trang 21 Những vấn đề chung về rủi ro tỷ giá 2
1.1 Khái niệm rủi ro tỷ giá 2
1.2 Nguyên nhân của rủi ro tỷ giá và các nhân tố ảnh hưởng tỷ giá 2
1.3 Trạng thái ngoại hối và mối quan hệ với rủi ro tỷ giá 5
1.4 Đo lường rủi ro tỷ giá 9
1.5 Ảnh hưởng của rủi ro tỷ giá đối với các ngân hàng thương mại 12
2 Phương pháp phòng ngừa rủi ro tỷ giá 14
2.1 Các công cụ tài chính phái sinh phòng ngừa rủi ro tỷ giá 14
2.2 Phòng ngừa rủi ro tỷ giá bằng cách đầu tư vào tài sản phòng ngừa rủi ro20 2.3 Phương pháp thanh toán trước hạn hoặc thanh toán chậm 20
2.4 Sử dụng các phương pháp dự báo tỷ giá 21
3 Quản trị rủi ro tỷ giá 22
3.1 Tầm quan trọng của quản trị rủi ro tỷ giá 22
3.2 Giải pháp nâng cao hiệu quả quản trị rủi ro tỷ giá 23
3.3 Thực trạng kinh doanh ngoại hối của các ngân hàng thương mại tại Việt Nam hiện nay 26
3.4 Tìm hiểu sơ lược về chính sách quản trị rủi ro tỷ giá tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Quân đội MBBank 32
KẾT LUẬN 35
Trang 3NỘI DUNG
1 Những vấn đề chung về rủi ro tỷ giá
1.1 Khái niệm rủi ro tỷ giá
Rủi ro tỷ giá còn được là gọi là rủi ro tiền tệ, rủi ro ngoại hối, rủi ro tỷ giáhối đoái Đây là loại rủi ro đề cập đến những tổn thất mà một giao dịch tài chínhquốc tế có thể phải chịu do biến động tiền tệ, nó mô tả khả năng giá trị đầu tư cóthể giảm do thay đổi giá trị tương đối của các loại tiền tệ liên quan
Theo quan điểm của các học giả Mỹ, rủi ro là sự bất trắc có thể đo lườngđược, rủi ro là tổng hợp của những sự ngẫu nhiên có thể đo lường bằng xác xuất.Rủi ro thị trường được đo lường bằng độ chênh lệch giữa lợi nhuận thực thế vớimức lợi nhuận dự kiến, Đối với Ngân hàng, rủi ro có thể hiểu là mối đe họa bị tổnthấn một phần vốn của mình và không đạt được thu nhập hay đòi hỏi các khoảnchi phí bổ sung để thực hiện các nghiệp vụ tài chính nhất định
Rủi ro tỷ giá phát sinh khi Ngân hàng kinh doanh mua bán cho chính mình,hay là rủi ro xuất hiện khi có sự dịch chuyển tỷ giá của các ngoại tệ mà Ngânhàng Thương mại giữ dưới dạng tài sản Có hoặc Nợ tạo ra trạng thái ngoại hối
mở để đầu cơ kiếm lãi khi tỷ giá thay đổi
1.2 Nguyên nhân của rủi ro tỷ giá và các nhân tố ảnh hưởng tỷ giá
1.2.1 Nguyên nhân của rủi ro tỷ giá
Kinh doanh ngoại hối là hoạt động gặp nhiều rủi ro, trong đó rủi ro tỷ giá lànguy hiểm nhất Tỷ giá USD/VND biến động thường xuyên là yếu tố ảnh hưởngtrực tiếp đến rủi ro tỷ giá đối với các Ngân hàng Thương Mại Tỷ giá USD/VNDthường xuyên biến động theo chiều hướng đồng Việt Nam có giá trị sụt giảm sovới nước ngoài Trong suốt thời gian dài, đồng Việt Nam chỉ tăng với một biên độhẹp, thêm vào đó thị trường ngoại hối Việt Nam luôn rơi vào tình trạng khanhiếm ngoại tệ Các doanh nghiệp nhập khẩu chỉ muốn tìm mọi cách kí hợp đồng
kì hạn mua ngoại tệ để đảm bảo thanh toán hợp đồng
Rủi ro tỷ giá xuất hiện qua các hoạt động sau:
Trang 4- Hợp đồng với khách hàng nội địa liên quan đến tài sản có, tài sản nợ và các giao dịch ngoại bảng bằng ngoại tệ
- Hợp đồng với khách hàng nước ngoài liên quan đến tài sản có, tài sản nợ và các giao dịch ngoại bảng bằng nội tệ hay ngoại tệ
- Mua và bán ngoại tệ (giao ngay hoặc có kỳ hạn) với khách hàng hoặc cung cấp dịch vụ phòng ngừa tổn thất ngoại hối cho khách hàng
- Giao dịch ngoại tệ trên tài khoản riêng của NHTM, như giao dịch kinh doanh ngoại tệ của ngân hàng trên thị trường quốc tế
Các giao dịch này đều hình thành các khoản phải thu và các khoản phảitrả bằng ngoại tệ đối với NHTM Từ đó gây ra rủi ro tỷ giá
1.2.2 Các nhân tố ảnh hưởng tỷ giá
Có nhiều yếu tố quyết định tỷ giá hối đoái, và tất cả đều liên quan đến mốiquan hệ thương mại giữa hai quốc gia Hãy nhớ rằng, tỷ giá hối đoái có tínhtương đối, và được thể hiện như sự so sánh giữa đồng tiền của hai quốc gia Sauđây là một số yếu tố chính quyết định tỷ giá hối đoái:
- Chênh lệch lạm phát
Theo nguyên tắc chung, khi một đất nước duy trì tỷ lệ lạm phát ở mứcthấp, giá trị của đồng tiền nước này sẽ tăng lên, bởi sức mua trong nước tăng lêntương đối so với các đồng tiền khác Trong nửa cuối của thế kỷ 20, những nước
có lạm phát thấp bao gồm Nhật Bản, Đức và Thụy Sĩ, còn Mỹ và Canada mãi vềsau mới đạt được mức lạm phát thấp Còn đồng tiền của những nước có lạm phátcao hơn thường mất giá so với với đồng tiền của các đối tác thương mại củamình Hiện tượng này cũng thường đi kèm với lãi suất cao hơn
Lãi suất, lạm phát và tỷ giá hối đoái có mối tương quan chặt chẽ Bằngcách kiểm soát lãi suất, các ngân hàng trung ương sẽ gây ảnh hưởng đến cả lạmphát và tỷ giá hối đoái Ngoài ra, lãi suất thay đổi sẽ tác động đến lạm phát và giátrị tiền tệ Một nền kinh tế có lãi suất cho vay cao sẽ đem lại lợi nhuận cao hơn
Trang 5tư nước ngoài và làm tỷ giá hối đoái tăng Tuy nhiên, tác động của lãi suất cao sẽtrở nên tiêu cực, nếu lạm phát trong nước cao hơn nhiều so với các nước khác,hoặc nếu có thêm những yếu tố khác làm giảm giá trị đồng tiền Ngược lại, lãisuất giảm có xu hướng làm giảm tỷ giá hối đoái.
Tài khoản vãng lai là cán cân thương mại giữa một quốc gia và các đối tácthương mại của nó, phản ánh tất cả các khoản thanh toán giữa các nước liên quanđến hàng hoá, dịch vụ, lãi và cổ tức Thâm hụt tài khoản vãng lai cho thấy mộtquốc gia đang chi tiêu cho ngoại thương nhiều hơn việc thu nhập từ xuất khẩu, vàrằng nước này đang vay vốn từ các nguồn nước ngoài để bù đắp thâm hụt Nóicách khác, đất nước cần nhiều ngoại tệ hơn những gì nhận được thông qua xuấtkhẩu, và cung cấp nội tệ cho nước ngoài nhiều hơn những gì họ cần để mua hànghóa Nhu cầu ngoại tệ dư thừa làm giảm tỷ giá hối đoái của nước này cho đến khigiá của hàng hóa, dịch vụ trong nước đủ rẻ đối với người nước ngoài và các tàisản nước ngoài quá đắt để tạo ra doanh số bán hàng trong nước
- Nợ công
Do thâm hụt ngân sách, một quốc gia sẽ tài trợ quy mô lớn cho các dự ánnhà nước và hoạt động của chính phủ bằng hình thức vay nợ Mặc dù hoạt độngnày kích thích nền kinh tế trong nước, nhưng các quốc gia có thâm hụt ngân sách
và nợ công lớn sẽ trở nên kém hấp dẫn trong mắt các nhà đầu tư nước ngoài Lý
do là vì một khoản nợ lớn thường dẫn đến lạm phát, và nếu lạm phát lên cao,chính phủ phải trả lãi cho các khoản nợ này và cuối cùng trả hết nợ với đồng đô
la rẻ hơn trong tương lai
Trong trường hợp xấu nhất, chính phủ có thể in tiền để trả một phần củamột khoản nợ lớn, nhưng tăng cung tiền không tránh khỏi gây ra lạm phát Hơnnữa, nếu chính phủ không có khả năng trả lãi cho thâm hụt thông qua các công cụtrong nước (bán trái phiếu trong nước, tăng cung tiền), thì họ sẽ phải tăng nguồncung chứng khoán để bán cho người nước ngoài, do đó giá chứng khoán giảm
Trang 6ngoài nếu họ tin rằng quốc gia này sẽ không thể thực hiện nghĩa vụ trả nợ Nhàđầu tư nước ngoài sẽ không muốn sở hữu chứng khoán đề mệnh giá bằng đồngtiền nước đó nếu nguy cơ vỡ nợ là rất lớn Vì lý do này, xếp hạng nợ của mộtquốc gia (ví dụ như của Moody’s hay Standard & Poor) là một yếu tố quyết địnhđến tỷ giá hối đoái.
- Tỷ lệ trao đổi thương mại (terms of trade)
Là tỷ lệ so sánh giá xuất khẩu với giá nhập khẩu Tỷ lệ trao đổi thươngmại có liên quan đến tài khoản vãng lai và cán cân thanh toán Nếu tốc độ tănggiá xuất khẩu của một quốc gia nhanh hơn tốc độ tăng giá nhập khẩu, thì tỷ lệtrao đổi thương mại đã được cải thiện tích cực Tỷ lệ trao đổi thương mại tăngcho thấy nhu cầu về hàng xuất khẩu của nước đó đang tăng, dẫn đến doanh thu từxuất khẩu tăng, và nhu cầu cho nội tê tăng lên (và giá trị của đồng nội tệ tăng).Nếu tốc độ tăng trưởng của giá xuất khẩu chậm hơn so với nhập khẩu, giá trị củađồng nội tệ sẽ giảm tương đối với các đối tác thương mại
- Mức độ ổn định chính trị và hiệu quả kinh tế
Các nhà đầu tư nước ngoài chắc chắn muốn đầu tư vào những quốc gia cónền chính trị ổn định với nền kinh tế hoạt động mạnh mẽ Một đất nước có nhữngđặc điểm này sẽ thu hút được nhiều đầu tư hơn so với các nước có rủi ro chính trị
và kinh tế cao hơn Ví dụ, bất ổn chính trị có thể làm giảm niềm tin của nhà đầu
tư dành cho một đồng tiền và họ sẽ chuyển luồng vốn vào đồng tiền của các nước
ổn định hơn
1.3 Trạng thái ngoại hối và mối quan hệ với rủi ro tỷ giá
Trong nền kinh tế thị trường, rủi ro trong kinh doanh là không thể tránhkhỏi, đặc biệt là rủi ro tỷ giá đối với các ngân hàng tham gia kinh doanh trên thịtrường ngoại hối Trạng thái ngoại hối có ý nghĩa quan trọng trong việc quản lýrủi ro trong kinh doanh ngân hàng nói chung và rủi ro tỷ giá nói riêng Thực tế đãchỉ ra rằng, trong KDNT, nếu lỏng lẻo trong công tác quản lý trạng thái ngoại hốithì sớm hay muộn tai hoạ cũng sẽ xảy ra và hậu hoạ của nó là khó lường
Trang 7Chính vì vậy, đối với các nhà KDNT trên thế giới, yếu tố trạng thái ngoại tệ đượcxem là yếu tố thường trực trong kinh doanh.
1.3.1 Trạng thái ngoại hối
Đối với NHTM, trạng thái ngoại hối của mỗi ngoại tệ là chênh lệch giữatổng tài sản có và tổng tài sản nợ (bao gồm cả nội bảng và ngoại bảng) của ngoại
tệ đó tại một thời điểm nhất định
Vì là trạng thái tại một thời điểm nên trạng thái ngoại hối của một ngoại tệ phản ánh số dư của ngoại tệ đó tại một thời điểm nhất định
Ngày nay, vai trò tiền tệ và vai trò ngoại hối của vàng cũng như ý nghĩacủa nó so với ngoại tệ ngày càng giảm sút và trở nên thứ yếu, do đó trong thực tếngười ta coi trạng thái ngoại hối chính là trạng thái của các ngoại tệ
Trong thực tế hoạt động kinh doanh của NHTM, có rất nhiều giao dịch liênquan đến ngoại tệ, vậy căn cứ vào 2 tiêu chí để biết được một giao dịch có làmphát sinh trạng thái ngoại tệ:
- Nhóm giao dịch làm phát sinh sự chuyển giao quyền sử dụng về ngoại tệ
- Nhóm giao dịch làm phát sinh sự chuyển dịch quyền sở hữu về ngoại tệ;trong đó, chỉ các giao dịch làm phát sinh sự chuyển giao quyền sở hữu về ngoại tệ mới làmphát sinh trạng thái ngoại tệ
Từ tiêu chí quyết định nêu trên, ta có thể liệt kê các giao dịch làm phátsinh trạng thái ngoại tệ bao gồm:
- Mua, bán ngoại tệ (giao ngay và kỳ hạn)
- Thu, chi lãi suất bằng ngoại tệ
- Các khoản chi, thu phí bằng ngoại tệ
- Các khoản cho, tặng, biếu, viện trợ bằng ngoại tệ
- Các khoản ngoại tệ bị mất, rách nát, hư hỏng không còn giá trị…
Trạng thái ngoại tệ ròng đối với một loại ngoại tệ xác định là số chênh lệchgiữa tất cả các dòng tiền vào và tổng dòng tiền ra đối với ngoại tệ đó cho tất cảcác ngày đến hạn
Trang 8- Trạng thái dương (Net long position): xảy ra khi dòng tiền vào lớn hơn dòngtiền ra đối với một ngoại tệ xác định, có nghĩa là những giao dịch làm tăng quyền sở hữu vềngoại tệ đều làm phát sinh trạng thái trường của ngoại tệ đó.
- Trạng thái âm (Net short position): Xảy ra khi dòng tiền ra lớn hơn dòngtiền vào đối với một ngoại tệ xác định, có nghĩa là những giao dịch làm giảm quyền sở hữu
về ngoại tệ đều làm phát sinh trạng thái đoản của ngoại tệ đó
- Trạng thái cân bằng (square position): Xảy ra khi ròng tiền vào bằng dòng
tiền ra, tức là không có trạng thái ròng
1.3.2 Mối liên hệ giữa trạng thái ngoại tệ và rủi ro tỷ giá
Khi có trạng thái ngoại tệ ròng khác 0, thì NHTM phải đối mặt với rủi ro tỷgiá, cụ thể:
- Đối với trạng thái dương (trường), thì khi tỷ giá tăng sẽ tạo ra lãi ngoại hối
và khi tỷ giá giảm sẽ phát sinh lỗ ngoại hối đối với NHTM
- Đối với trạng thái âm (đoản), thì khi tỷ giá tăng sẽ tạo ra lỗ ngoại hối và khi
tỷ giá giảm sẽ phát sinh lãi ngoại hối đối với NHTM
- Đối với trạng thái cân bằng, thì những thay đổi của tỷ giá đều không ảnh
hưởng đến lãi hay lỗ ngoại hối của NHTM
Ví dụ về ý nghĩa của trạng thái ngoại tệ và rủi ro tỷ giá
NEPF(t-1) LFCF(t) SFCF(t) NEPF(t) Rủi ro tỷ giá
khi tỷ giá tăng lỗ khi tỷ giágiảm
lãi khi tỷ giá giảm lỗ khi tỷgiá tăng
không phát sinh lãi và lỗ khi
tỷ giá thay đổi
Trang 9Vì trong số các giao dịch làm chuyển giao quyền sở hữu về ngoại tệ, thìhoạt động mua bán ngoại tệ của ngân hàng trên thị trường ngoại hối là chủ yếu,
do đó, đôi khi người ta coi trạng thái ngoại tệ là trạng thái mua bán ngoại tệ củangân hàng
Trạng thái ngoại tệ phát sinh ngay tại thời điểm ký kết hợp đồng có sựchuyển giao quyền sở hữu, chứ không phải tại thời điểm xảy ra thanh toán Ví dụ,nếu một hợp đồng mua bán giao ngay được ký kết ngày hôm nay với số lượng
100 000 USD tại tỷ giá VND/USD = 15 000, thì ngay lập tức sau khi ký hợpđồng người mua USD ở trạng thái trường và người bán USD ở trạng thái đoản,cho dù việc thanh toán xảy ra vào ngày làm việc thứ hai sau ngày ký kết hợpđồng Tương tự, các giao dịch mua bán ngoại tệ kỳ hạn cũng tạo ra trạng tháingoại tệ ngay lập tức sau khi ký kết hợp đồng chứ không phải tại thời điểm thanhtoán
Trong thực tế ngoài việc quy định trạng thái ngoại tệ đối với từng ngoại tệ,người ta còn quy định tổng trạng thái ngoại tệ của tất cả các ngoại tệ (quy nội tệ)theo công thức:
NEP(t) = [EF* NEPF(t)]
Trong đó:
NEP(t) - Tổng trạng thái ngoại tệ của tất cả các ngoại tệ quy nội tệ
EF - Tỷ giá của ngoại tệ F tính bằng nội tệNEPF(t)- Trạng thái ngoại tệ F tại thời điểm tThông thường, trạng thái của mỗi ngoại tệ hay tổng trạng thái ngoại tệđược quy định bằng tỷ lệ % nhất định (quy đổi) so với vốn tự có của NHTM.Ngoài ra, một phương pháp khác cũng hay dùng đó là quy định trạng thái ngoại
tệ theo số lượng tyệt đối đối với từng loại ngoại tệ
1.4 Đo lường rủi ro tỷ giá
1.4.1 Mô hình Value at Risk và cơ sở khoa học để đo lường rủi ro tỷ giá
Trang 101.4.1.1 Lý luận mô hình Value at Risk.
Bạn đang chịu trách nhiệm quản trị rủi ro tỷ giá tại một ngân hàng Nếu giám đốc đã đọc một thông tin liên quan đến những khoản lỗ do biến động tỷ giá
ở một ngân hàng khác, và ông ta muốn biết liệu rằng điều tương tự đó có xãy đếnvới ngân hàng của ông ta không Hay nói khác hơn ông ta muốn biết rủi ro tỷ giá tác độngđến ngân hàng như thế nào? Bạn sẽ trả lời bằng những con số trạng thái ngoại tệ? Điều nàychưa đủ trừ khi ngài giám đốc đó cực kỳ am hiểu về trạng thái ngoại tệ sẽ gây ra cho ngânhàng ông ta nguy hiểm đến mức nào Câu trả lời có thể ở đây là Value at Risk
Value at Risk viết tắc VaR là một công cụ thống kê đo lường và địnhlượng mức độ rủi ro tài chính trong một doanh nghiệp, danh mục đầu tư hoặc vịthế hay tình trạng nắm giữ trong một khoảng thời gian xác định Giá trị này được
sử dụng phổ biến nhất bởi các ngân hàng đầu tư và thương mại để xác định mức
độ và tỉ lệ xảy ra tổn thất tiềm năng trong danh mục đầu tư của tổ chức họ
Value at Risk là mô hình đo lường khoản lỗ lớn nhất mà ngân hàng có thểgặp phải với một mức xác suất nhất định khi tỷ giá biến động trong điều kiện bìnhthường Một khoảng lỗ lớn hơn VaR có thể xãy ra nhưng với xác suất nhỏ hơn.(Thomas J Linsmeier and Neil D Pearson, 1996) Trong thực hành chúng ta haychọn mức xác suất để tính VaR là 95% hoặc 99%, vậy xác suất để khoản lỗ lớnhơn VaR là 5% hoặc 1% Theo quy tắc xác suất nhỏ xem như điều đó là khôngxảy ra
Mục tiêu của mô hình VaR là tính toán ra được giá trị VaR qua các phươngpháp
1.4.1.2 Các phương pháp tính VaR
VaR được tính toán mà không cần phải giả thiết giá trị VaR tuân theo phânphối chuẩn, theo đó cách tính này mang tính chất đơn giản Tuy nhiên kết quả tính toán từ phương pháp này sẽ mang tính chính xác kém hơn
Trang 11Ưu điểm: Cho kết quả nhanh, khối lượng tính toán ít, phù hợp khi nhàquản trị có một danh mục tài sản tài chính, hay các hợp đồng kỳ hạn với giá trịnhỏ.
Nhược điểm: Kết quả tính VaR kém chính xác
Nhận xét: Phương pháp này sẽ không hiệu quả nếu nhà quản trị muốn việckinh doanh, đặc biệt KDNT có hiệu quả, vì ngày nay với sự phát triển của khoahọc kỹ thuật máy tính, thì việc tính toán không còn là vấn đề trở ngại nữa Nênchính tính không chính xác từ phương pháp này sẽ là trở ngại lớn nhất khi quảntrị rủi ro
Phương pháp này còn gọi là phương pháp phương sai, hiệp phương sai.Đầu tiên hãy nói về sự ra đời của phương pháp Variance – covariance này.Các nhà quản trị cho rằng rủi ro của một danh mục đầu tư phải có sự liên hệ từcác rủi ro của các tài sản, chứ nó không thể bằng tổng rủi ro của các tài sản trongmột danh mục đầu tư Chính vì thế khái niệm Covariance đã được ra đời để tínhtoán rủi ro cho một danh mục đầu tư Hãy tiếp tục ở một khía cạnh khác, phươngpháp mô phỏng lịch sử còn có thêm một khuyết điểm khi không chú ý đến sựbiến động rủi ro cùng nhau của các tài sản trong một danh mục Do vậy nếu sửdụng phương pháp này để đo lường VaR cho danh mục thì kết quả càng khôngchính xác Từ những lý do này mà phương pháp Variance- covariance đã được rađời để đáp ứng nhu cầu tính VaR làm sao vừa có thể đáp ứng được tính chínhxác, vừa thể hiện được sự biến động rủi ro của cả danh mục bằng ma trậncovariance
Ưu điểm: Đảm bảo tính tương quan của các đồng tiền trong danh mục, do
đó làm cho VaR được tính chính xác hơn
Nhược điểm: VaR vướng phải một giả định là tuân theo phân phối chuẩn
Đây là phương pháp toàn diện nhất trong các phương pháp tính VaR, với
Trang 12chính xác về phân phối xác suất của VaR Với sự hỗ trợ của các phần mềm việctính toán tìm ra VaR ở mức độ tin cậy 95% hay 99% đã trở nên không đáng longại.
Ưu điểm: Cho kết quả chính xác nhất, vì nó bao hàm những biến động cóthể xảy ra trong quá khứ vào kết quả tính toán VaR
Nhược điểm: Đòi hỏi khối lượng tính toán nhiều Nhưng với sự phát triểncủa nhiều phần mềm thì việc tính toán đã trở nên đơn giản rất nhiều Nên phươngpháp này nên được sử dụng rộng rãi để có thể tính toán VaR chính xác nhất
1.4.1.3 Các hạn chế của mô hình VaR
Để có thể tính toán được VaR bằng mô hình Value at Risk không đòi hỏi
dữ liệu quá khứ phải là bao nhiêu mẫu thì kết quả tính toán mới chính xác Dovậy đôi lúc trong những trường hợp nhà quản trị chỉ có khoảng 10 đến 15 mẫucũng sẽ tính ra được VaR như bình thường, nhưng kết quả này có thể khôngchính xác do vậy cần dùng đến Back test
Song song đó VaR chỉ phản ảnh những biến động từ dữ liệu lịch sử dongười tính toán cung cấp Nên có đôi lúc chuỗi dữ liệu này không bao gồmnhững biến động lớn trong các cuộc khủng hoảng Do vậy để kết quả VaR phảnánh chính xác chúng ta cần dùng đến Stress – test
Cuối cùng khi VaR không đánh giá chính xác được rủi ro, tức kết quảBack – test đã bác bỏ VaR Lúc này chúng ta cần dùng đến một kết quả khác đểđánh giá rủi ro đó chính là E-VaR
1.4.4 Giới thiệu Back – test.
Những khoản lỗ lớn nhất trong hoạt động KDNT có thể được tìm ra bằng
mô hình VaR Nhưng vấn đề đặt ra là làm sao có thể biết giá trị VaR tìm được cóđánh giá đúng rủi ro? Một kiểm định được Cục dự trữ liên bang Mỹ, Fed, cùngvới các nước phát triển khác đang sử dụng là dùng kiểm định Back –test VậyBack – test được thực hiện như thế nào, và công dụng thực sự của nó ra sao
Trang 13Back test thực chất là một phép kiểm tra để so sánh VaR tìm được với những dữliệu trong quá khứ để đảm bảo rằng các mức lỗ thực sự gặp phải trong quá khứtương ứng với danh mục đồng tiền đang có không vượt qua một giới hạn nào đó.Nếu độ tin cậy là 95% thì số lần bị lỗ vượt qua này không quá N*5% (Với N làkích thước mẫu.)
1.4.5 Giới thiệu Stress – test và E-VaR.
Stress – test là phép kiểm định lại VaR trong trường hợp thị trường cónhững cú sốc đột biến bất ngờ Hay cách khác hơn sau khi thực hiện Stress – testkết quả VaR trong những trường hợp đột biến sẽ được biết đến Từ kết quả này,kết hợp với kết quả VaR trong những điều kiện bình thường và những kinhnghiệm của nhân viên, nhà quản lý KDNT để có những giải pháp phòng ngừa rủi
ro tỷ giá bằng công cụ phái sinh
Còn E-VaR là chữ viết tắc của Expanded Value at Risk, tức nó là giá trị
mở rộng của VaR Thường E-VaR được dùng trong những trường hợp mà kiểmđịnh Back – test cho kết quả bác bỏ VaR tức số ngày trong quá khứ có độ biếnđộng thua lỗ lớn hơn VaR vượt quá số lượng cho phép E-VaR sẽ cho kết quảchính xác về việc đo lường rủi ro hơn VaR trong những trường hợp Back –testbác bỏ VaR Tuy nhiên không phải lúc nào E-VaR cũng hữu hiệu vì nếu nhà quảntrị cứ đi dự phòng rủi ro thì mức lợi nhuận sẽ phải giảm xuống ảnh hưởng đến kếtquả kinh doanh Nên một lần nữa khẳng định lại rằng E-VaR chỉ nên sử dụngtrong những hợp đồng KDNT lớn hoặc trong trường hợp Back test cho rằng VaRđang đánh giá thấp rủi ro
1.5 Ảnh hưởng của rủi ro tỷ giá đối với các ngân hàng thương mại
Trong nền kinh tế thị trường, tỷ giá luôn biến động, với biến đổi của tỷ giáhối đoái, bất kỳ một khoản nợ nào cho dù dài hay ngắn, đối với một đồng tiềnnhất định, đều có thể tạo cho ngân hàng phải đối mặt với rủi ro tỷ giá hối đoái
Sự thay đổi tỷ giá dẫn đến sự thay đổi giá trị ngoại hối, cụ thể: Nếu ngânhàng có dư dật về ngoại tệ nào đó, khi ngoại tệ đó lên giá, ngân hàng sẽ có lãi,
Trang 14Ví dụ 1: NH A có tài sản Có ngoại tệ: 10 tr USD, tài sản Nợ ngoại tệ: 5 triệu
USD, như vậy, ngân hàng có trạng thái trường ròng 5 triệu USD (long position).E1 = 22.770 VND/USD
E2 = 22.000 VND/USD tỷ giá giảm
Tài sản Có: Ngân hàng bị thiệt hại do E giảm = 10 × 22.770 – 10 × 22.000
= 7700 triệu đồng
Tài sản Nợ: Ngân hàng được lợi do E giảm = 5 × 22.770 – 5 × 22.000
= 3850 triệu đồng
Ngân hàng bị thiệt 7700 – 3850 = 3850 triệu đồng
Nếu ngân hàng ở vị đoản về loại ngoại tệ nào đó, khi ngoại tệ đó lên giá, ngân
hàng sẽ lỗ và ngược lại ngân hàng sẽ có lãi nếu ngoại tệ đó xuống giá Ví dụ 2:
Tài sản Có: 5 triệu USD
Tài sản Nợ: 10 triệu USD
Ngân hàng có trạng thái đoản ròng: –5 triệu
Ngân hàng bị thiệt 2300 – 1150= 1150 triệu đồng
Một trạng thái ngoại hối dù ở thế trường hay thế đoản đều có nguy cơ gâytổn thất cho các nhà giao dịch Dư dật về ngoại tệ càng lớn thì rủi ro càng cao khi
tỷ giá giảm; ngược lại, đoản về ngoại tệ nào đó càng mạnh thì rủi ro cũng không
ít khi tỷ giá giảm
Ngoài ra, một số ảnh hưởng khác của rủi ro tỷ giá tới hoạt động kinh doanhnói chung và hoạt động ngân hàng như sau:
- Thứ nhất, rủi ro tỷ giá ảnh hưởng đến chi phí hoạt động của ngân hàng
Trang 15vậy khi tỉ giá tăng giảm cũng sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến chi phí của ngânhàng Rủi ro ngoại hối buộc các ngân hàng phải thực hiện các biện pháp phòngngừa và bảo hiểm rủi ro tỷ giá cho các khoản mục liên quan đến ngoại tệ.
- Thứ hai, rủi ro tỷ giá tạo áp lực cho ngân hàng khi gia tăng huy động vốnngoại tệ hay gia tăng đầu tư, cho vay bằng ngoại tệ Không giống như nội tệ, việc gia tăngnguồn vốn và tài sản bằng ngoại tệ luôn buộc ngân hàng phải đối mặt với nguy cơ gây tổnthất do nguy cơ biến động của tỷ giá hối đoái
- Thứ ba, rủi ro tỷ giá không đồng nghĩa với tổn thất mà ngân hàng phải gánhchịu, nhưng khi tổn thất xảy ra thì ngân hàng sẽ bị ảnh hưởng nghiêm trọng
- Thứ tư, với hoạt động thanh toán trong kinh doanh ngân hàng, rủi ro tỷ giá
có thể dẫn đến rủi ro thanh toán phát sinh khi những người gửi tiền và rút ra
Khi phân biệt tình hình lãi, lỗ ngoại hối theo vị thế ngoại hối, người ta sosánh số lỗ, lãi thực tế xảy ra so với mức lỗ, lãi dự kiến, qua đó đánh giá chấtlượng quản lý rủi ro tỷ giá hối đoái của một ngân hàng
2 Phương pháp phòng ngừa rủi ro tỷ giá
2.1 Các công cụ tài chính phái sinh phòng ngừa rủi ro tỷ giá
Trong xu thế toàn cầu hóa, tự do hóa thương mại , với sự hỗ trợ của côngnghệ thông tin, thế giới ngày càng trở “ phẳng hơn”, sự lưu thông và dịchchuyeẻn các nguồn tài chính cũng như các loại hàng hóa nhanh chóng và dễ dànghơn, nhưng cũng vì thế mà sự bất ổn cũng cao hơn và rủi ro cũng nhiểu hơn vàngày càng trở nên khó dự báo hơn
Trước tình hình đó, thị trường xuất hiện nhu cầu về các phương thức quảntrị rủi ro một cách năng động và chủ động hơn Các công cụ này cho phép cácdoanh nghiện có thể chuyển gúao trực tiếp các rủi ro tài chính cho bên thứ ba sẵnsàng chấp nhận rủi ró đó Tùy theo đặc điểm ngành nghề hoạt động của mình, các
Trang 16dưới mục tiêu khác nhau nhưng chủ yếu là để quản trị các rủi ro liên quan đến độbất ổn của lãi suất, của giá cả hàng hóa và của tỷ giá.
2.1.1 Hợp đồng kỳ hạn (forwards)
Hợp đồng kỳ hạn (forwards), là loại công cụ quản trị rủi ro ra đời sớm nhất, đơn giản nhất trong các sản phẩm phái sinh, xuất phát từ nhu caàu quản trị rủi ronhững bất ổn liên quan đến giá cả hàng hóa Đây là loại hợp đồng giữa hai bên –người mua và người bán – để mua hoặc bán tài sản vào một ngày trong tương laivới giá đã thỏa thuận ngày hôm nay Nếu vào ngày đáo hạn, giá thực tế cao hơngiá thức hiện, người sở hữu hợp đồng sẽ kiếm dược lợi nhuận, nếu giá thấp hơn ,người sở hữu hợp đồng sẽ chịu một khoản lỗ
Hợp đồng kỳ hạn thị trường ngoại hối và thị trường tiền tệ: là một thỏathuận giữa một doanh nghiệp và một ngân hàng hay giữa hai ngân hàng với nhau
để trao đổi một số lượng tiền nhất định với một tỷ giá xác định gọi là tỷ giá kỳhạn vào một ngày nào đó truong tương lai Khi doanh nghiệp ( hay ngân hàng thứ2) có nhu cầu chi trả hoặc các khoản phải thu trong tương lai, có thể thiết lập hợpđồng kỳ hạn để cố định tỷ giá mà tại mức tỷ giá này có thể mua hoặc bán mộtngoại tệ nào đó
Tỷ giá có kỳ hạn thường được yết theo hai cách: yết giá theo kiêu outright
và yết giá theo kiêu swap Tỷ giá có kỳ hạn theo kiểu outright đơn giản là giá cảcủa một đồng tiền này tính băng một sô đơn vị đồng tiền kia Nó cũng được niêmyết tương tự như tỷ giá giao ngay chỉ khác một điều là tỷ giá được hai bên xácđịnh và thỏa thuận ở hiện tại nhưng sẽ được áp dụng trong tương lai Tỷ giá theokiểu swap chỉ yết phần chênh lệch theo só điểm căn bản (basic points) giữa tỷ giá
có kỳ hạn và tỷ giá giao ngay tương ứng Yết giá theo kiểu swap thường được sửdụng trên thị trường liên ngân hàng, tức là trong giao dịch giữa một ngân hàngnày với một ngân hàng khác
Tỷ giá có kỳ hạn (forward rate) là tỷ giá áp dụng trong tương lai nhưngđược xác định ở hiện tại Tỷ giá này áp dụng cho các giao dịch mua bán ngoại tệ
Trang 17có kỳ hạn và được xác định dựa trên cơ sở tỷ giá giao ngay và lãi suất trên thịtrường tiên tệ.
Ưu điểm:
Trong hợp đồng kỳ hạn , giả của tài sản cơ sở được xác định tại thời điểm
ký kết hợp đồng, vì vậy vào ngày đáo hạn hợp đồng, cho dù giá cả trên trhịtrường là bao nhiêu thì hàng hóa cơ sở vẫn được giao dịch với mức giá xác địnhban đầu Chính nhở đặc điểm này mà hợ đồng kỳ hạn có khả năng quản trị rủi ro
tỷ giá
Việc xac định giá của rài sản cơ sở từ đó dự báo giá để giúp cho ngânhàng hạn chế được rủi ro và tùy vào loại hàng hóa, cách xác định giá lại khácnhau và độ phức tạo khác nhau
2.1.2 Hợp đồng giao sau (future)
Hợp đông giao sau (future) cũng là một loại công cụ quản trị rủi ro do bất
ổn về giá cả hàng hóa, lãi suất và ngoại tệ, là hợp đồng giữa hai bên - người mua
và người bán – để mua hoặc bán tài sản vào một ngày tương lai với giá đã thỏathuận ngày hôm nay Hợp đồng giao sau là sự phát triên của hợp đông kỳ hạn và
có nhiêu đặc điểm giống hợp đồng kỳ hạn, nhưng loại hợp đồng này được giaodịch trên thị trường có tổ chức, gọi là sàn giao dịch giao sau
Hợp đồng giao sau thị trường tiền tệ: là một thỏa thuận mua bán một sốlượng ngoại tệ đã biết theo tỷ giá cố định tại thời điểm hợp đông có hiệu lực vàviệc chuyển giao ngoại tệ được thực hiện vào một ngày trong tương lai được xác
Trang 18sau chỉ sẵn sàng cung cấp đối với một số loại ngoại tệ mà thôi Chăng hạn, thịtrường Chicago chỉ cung cấp hợp đồng với sáu loại ngoại tệ mạnh đó là GBP,CAD, EUR, JPY, CHF và AUD Thị trường giao sau thực chất chính là thịtrường có kỳ hạn được tiêu chuẩn hóa về ngoại tệ giao dịch , số lượng ngoại tệgiao dịch và ngày chuyển giao ngoại tệ.
Tât cả các hợp đồng giao sau đều thực hiện giao dịch ở Sở giao dịch có tổchức Sở giao dịch là người để ra quy chế và kiểm soát hoạt động của các hộiviên Hội viên của Sở giao dịch là các cá nhân, có thể là đại diện của các công ty,ngân hàng thương mại hay cá nhân có tài khoản riêng
Bên cạnh đó thị trường giao sau phòng ngừa rủi ro về lãi suất dài hạn vàngắn hạn thông qua phòng ngừa vị thế mua và bán trái phiếu chính phủ, trái phiêucông ty
Ưu điểm:được chuẩn hóaNhược điểm: chỉ có thể thực hiển được với một số đồng tiền mạnh
2.1.3 Hợp đồng quyền chọn (options)
Mặc dù hợp đồng kỳ hạn và hợp đồng giao sau có thể sử dụng để phòngngừa rủi ro, nhưng vì tất cả những hợp đồng bắt buộc thực hiện khi đến hạn nên
nó cũng đánh mất đi cơ hội kinh doanh, nếu như sự biên động giá thuận lợi Đây
là nhược điêm lớn nhât của hợp đông kỳ hạn và hợp đông giao sau Để khắc phụcnhược điểm này phát sinh một dạng hợp đồng mới là hợp đồng quyền lựa chọnmua hay bán hàng hóa hay không khi đến hạn hợp đồng (gọi tắt là hợp đồngquyền chọn - HĐQC)
- Quyền chọn (options) là một hợp đồng giữa hai bên - người mua và ngườibán, trong đó cho người mua quyền, nhưng không phải nghĩa vụ, để mua hoặc bán một tàisản nào đó vào một ngày trong tương lai với giá đã đồng ý vào ngày hôm nay Quyền chọnđược chia làm quyền chọn mua và quyền chọn bán Quyền chọn có thể được sử dụng làmcông cụ quản trị rủi ro các bất ổn về lãi suất, tỷ giá, giá cả hàng hóa