Để giải quyết các tranh chấp này một cách thỏa đáng,đảm bảo quyền lợi, lợi ích của hai bên, đồng thời giữ một môi trường kinh doanh xuấtnhập khẩu trong sạch lành mạnh thì cần có những qu
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
KHOA LÝ LUẬT
=====000=====
TIỂU LUẬN PHÁP LUẬT KINH DOANH
QUỐC TẾ PHÂN TÍCH QUYẾT ĐỊNH SỐ 25/2018/QĐKDTM-PT YÊU CẦU CÔNG NHẬN VÀ CHO THI HÀNH TẠI VIỆT NAM PHÁN QUYẾT CỦA TRỌNG TÀI NƯỚC NGOÀI
Nhóm số: 25 Lớp: PLU410(He2022).1 Thành viên: Trần Trường Giang 2014740031
Nguyễn Khánh Toàn 2014740111 Phạm Kim Ngân 2014740074 Giảng viên giảng dạy: TS Nguyễn Ngọc Hà
Trang 2MỤC LỤC
MỤC LỤC 2
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT 4
LỜI MỞ ĐẦU 5
NỘI DUNG 6
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP TRONG KINH DOANH QUỐC TẾ 6
1 Tổng quan về giải quyết tranh chấp trong kinh doanh quốc tế 6
2 Giải quyết tranh chấp bằng tòa án 7
3 Giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại 10
4 Vấn đề pháp lý đặt ra trong tranh chấp 12
CHƯƠNG 2: TÓM TẮT SƠ LƯỢC VỀ QUYẾT ĐỊNH SỐ 25 /2018/QĐKDTM-PT 13
1 Phần mở đầu 13
2 Nhận thấy: Các bên trình bày 13
3 Xét thấy: Tòa đưa ra nhận định, đánh giá và cách áp dụng pháp luật 13
4 Quyết định: Kết quả giải quyết tranh chấp 13
CHƯƠNG 3: PHÂN TÍCH CÁC VẤN ĐỀ PHÁP LÝ ĐƯỢC ĐẶT RA TRONG QUYẾT ĐỊNH CỦA TÒA ÁN 14
3.1 Tóm tắt nội dung của cuộc tranh chấp và quyết định của Tòa án 14
3.2 Các vấn đề pháp lý được đặt ra trong quyết định của tòa án 16
CHƯƠNG 4: BÀI HỌC KINH NGHIỆM RÚT RA CHO DOANH NGHIỆP VIỆT NAM 22
1 Bài học về xác minh tư cách thẩm quyền của các bên ký kết hợp đồng 22
2 Vấn đề thông báo liên quan đến khiếu nại ra trọng tài 22
3 Lựa chọn bên trọng tài đúng với yêu cầu kí kết trọng tài 22
4 Về hiệu lực của phán quyết trọng tài 23
KẾT LUẬN 24
TÀI LIỆU THAM KHẢO 26
2
Trang 33
Trang 5LỜI MỞ ĐẦU
Trong thế giới ngày càng hội nhập và phát triển hiện nay thì hoạt động thương mại đaquốc gia, giao thương và kinh doanh quốc tế đang ngày một phát triển Các hoạt độngxuất nhập khẩu, vận chuyển xuyên quốc gia ngày trở nên phổ biến và đóng vai tròquan trọng với nền kinh tế Việt Nam Trong hoạt động kinh doanh quốc tế, các hành vi
tổ chức, kí kết hợp đồng, kí kết thỏa thuận trọng tài, thực hiện hợp đồng, … khôngtránh khỏi những tranh chấp Để giải quyết các tranh chấp này một cách thỏa đáng,đảm bảo quyền lợi, lợi ích của hai bên, đồng thời giữ một môi trường kinh doanh xuấtnhập khẩu trong sạch lành mạnh thì cần có những quy tắc, pháp luật áp dụng cho hoạtđộng kinh doanh xuất nhập khẩu nói chung và hoạt động kinh doanh quốc tế nói riêngTrong pháp luật Việt Nam hay cụ thể là luật thương mại Việt Nam cũng đã có nhiềuquy định về hình thức giải quyết các tranh chấp như: thương lượng, tòa án, trọng tài, Các phương thức này đều có ưu nhược điểm khác nhau vì vậy tùy vào tình hình mà haibên sẽ chọn phương thức giải quyết tranh chấp khác nhau Tuy nhiên hiện nay phươngthức trọng tài thương mại được nhiều doanh nghiệp lựa chọn bởi có ưu điểm vượt trộinhư: thủ tục dễ dàng, trọng tài thường có chuyên môn cao, linh hoạt trong việc chọntrọng tài viên, đảm bảo tính bảo mật cho hai bên
Trọng tài thương mại thì có trong nước và nước ngoài, trong tình thương mại quốc tếngày càng phát triển như hiện nay thì vấn đề trọng tài thương mại nước ngoài là mộtvấn đề được nhiều doanh nghiệp trong và ngoài nước quan tâm Vì vậy nhóm sinh viênchúng em quyết định nghiên cứu phân tích quyết định số 25/2018/qđkdtm-pt yêu cầucông nhận và cho thi hành tại việt nam phán quyết của trọng tài nước ngoài
Bài tiểu luận gồm 3 phần chính:
Chương 1: Cơ sở lý luận về giải quyết tranh chấp trong kinh doanh quốc tế
Chương 2: Tóm tắt sơ lược về Quyết định số 25 /2018/QĐKDTM-PT
Chương 3: Phân tích các vấn đề pháp lý được đặt ra trong quyết định của Tòa ánChương 4: Bài học kinh nghiệm rút ra cho doanh nghiệp Việt Nam
Bên cạnh việc tích cực tìm hiểu, thu thập thông tin dữ liệu, vận dụng kiến thức thựctiễn và lý thuyết từ bộ môn Pháp luật kinh doanh quốc tế, song bài tiểu luận không
5
Trang 6tránh khỏi sai sót Nhóm sinh viên rất mong nhận được sự góp ý xây dựng từ thầy đểbài tiểu luận hoàn thiện hơn Nhóm sinh viên chân thành cảm ơn.
NỘI DUNG CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ GIẢI QUYẾT TRANH
CHẤP TRONG KINH DOANH QUỐC TẾ
1 Tổng quan về giải quyết tranh chấp trong kinh doanh quốc tế
1.1 Khái niệm tranh chấp trong kinh doanh quốc tế
Tranh chấp theo từ điển Tiếng Việt phổ thông có nghĩa là “giành nhau một cáchgiằng co cái không thuộc về bên nào” hoặc “đấu tranh giằng co khi có ý kiến bấtđồng, thường trong vấn đề quyền lợi giữa hai bên”
Tranh chấp trong kinh doanh quốc tế là sự giành giật, bất đồng về lợi ích kinh tếgiữa các bên liên quan tham gia vào hoạt động kinh doanh quốc tế Hay hiểu đơngiản hơn, đó là sự mâu thuẫn, bất đồng về quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm giữa cácbên liên quan trong kinh doanh quốc tế
Những tranh chấp này diễn ra do nhiều nguyên nhân khác nhau:
Sự khác biệt về luật pháp (sự xung đột pháp luật) giữa các nước
Sự khác biệt về ngôn ngữ, thông tin, sự thay đổi trong quan hệ cung-cầu trênthị trường v.v
Những tranh chấp kinh doanh quốc tế thường rất đa dạng và phức tạp với sựtranh chấp liên quan giữa các bên: người xuất khẩu, người nhập khẩu, ngườichuyên chở hàng hóa xuất khẩu…
1.2 Đặc điểm về tranh chấp trong kinh doanh quốc tế
Tranh chấp trong kinh doanh quốc tế sẽ có nhiều điểm khác biệt so với tranh chấpkinh doanh trong nước và cụ thể bởi những đặc điểm cơ bản sau:
Tính chất của các tranh chấp thường phức tạp hơn
Trị giá tranh chấp thường lớn hơn
Thời gian xử lý thường kéo dài hơn
Cơ quan giải quyết tranh chấp có yếu tố nước ngoài
Luật áp dụng để giải quyết tranh chấp cũng phức tạp hơn
1.3 Phân loại phương thức giải quyết tranh chấp trong kinh doanh quốc tế
Các phương thức giải quyết tranh chấp không mang tính tài phán
Thương lượng trực tiếp giữa các bên (Khiếu nại)
Giải quyết tranh chấp thông qua hòa giải
Giải quyết tranh chấp thông qua trung gian
6
Trang 7 Một số giải quyết tranh chấp khác như: Mini Trial
Các phương thức giải quyết tranh chấp mang tính tài phán
Giải quyết tranh chấp bằng tòa án
Giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại
2 Giải quyết tranh chấp bằng tòa án
2.1 Khái niệm về tòa án và hệ thống tòa án
Toà án là một trong những cơ quan thuộc hệ thống bộ máy nhà nước có chức năng xét
xử các vụ án hình sự, dân sự, hành chính và giải quyết những việc khác theo quy địnhcủa pháp luật Theo Hiến pháp năm 1946, các toà án được gọi là cơ quan tư pháp
Hệ thống tòa án ở Việt Nam phân cấp từ tòa án tối cao đến tòa án tỉnh và tòa án huyện.Trong đó có các tòa án chuyên trách về kinh tế, dân sự, hình sự, hành chính, lao động
và hôn nhân gia đình Ở cấp tòa án tối cao và tòa án tỉnh đều có đầy đủ các tòa ánchuyên trách trên
Hiện nay các vụ tranh chấp kinh tế -thương mại cũng được giải quyết tài tòa án dân sự
2.2 Các nguyên tắc trong giải quyết tranh chấp bằng tòa án
Nguyên tắc “quyền quyết định và tự định đoạt của đương sự”
Theo nguyên tắc này các bên tranh chấp trong hợp đồng kinh doanh quốc tế hoàn toàn
có quyền tự quyết định có đưa vụ việc ra xét xử tại tòa án hay không Tức là các bênđương sự có quyền quyết định việc khởi kiện, yêu cầu tòa án có thẩm quyền giải quyết
vụ việc Tòa án chỉ thụ lý vụ việc khi có đơn khởi kiện và chỉ giải quyết trong phạm vikhởi kiện đó Trong quá trình tòa án giải quyết tranh chấp, các bên tranh chấp cóquyền chấm dứt, thay đổi các yêu cầu khởi kiện nếu sự thay đổi đó không trái với phápluật và đạo đức xã hội Đây là một trong những nguyên tắc thể hiện sự khác biệt rấtlớn giữa tố tụng kinh tế và tố tụng hình sự Trong tố tụng hình sự thì các đương sự rất
ít khi có quyền tự quyết định việc có đưa vụ việc ra tòa hay không
Nguyên tắc “bình đẳng” giữa các bên đương sự
Bình đẳng trước pháp luật là nguyên tắc “hiến định” tức là đã được quy định tronghiến pháp của rất nhiều nước trên thế giới cũng như tại Việt Nam, vì thế, đây cũng làmột nguyên tắc rất quan trọng trong việc giải quyết các tranh chấp kinh doanh nóichung và kinh doanh quốc tế nói riêng tại tòa án Theo nguyên tắc này, tất cả các bêntranh chấp sẽ được bình đẳng với nhau trong quá trình tố tụng tại tòa án, không phânbiệt doanh nghiệp thuộc thành phần kinh tế nhà nước hay thuộc thành phần kinh tế tư
7
Trang 8nhân, không phân biệt đó là doanh nghiệp của nước lớn hay của nước nhỏ, không phânbiệt doanh nghiệp đó là doanh nghiệp nhỏ hay tập đoàn kinh tế lớn Tuy nhiên, thựctiễn xét xử cũng cho thấy sự bình đẳng này có được bảo đảm thực tế hay không còntùy thuộc vào công tác pháp chế ở trong nước và trong từng giai đoạn, thời kỳ lịch sửnhất định.
Nguyên tắc “tòa án xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật”
Theo nguyên tắc này, khi xét xử các tranh chấp trong kinh doanh quốc tế, tòa án hoàntoàn độc lập trong xét xử, không phụ thuộc và các cơ quan khác; việc xét xử của tòa ánchỉ tuân theo pháp luật, không chịu sự chi phối của các quan điểm chính trị… Phápluật các nước cũng nghiêm cấm mọi hành vi cản trở thẩm phán, hội thẩm thực hiệnnhiệm vụ trong xét xử
Nguyên tắc “hòa giải”
Nguyên tắc này quy định tòa án có trách nhiệm tiến hành hào giải và tạo điều kiệnthuận lợi để các bên tranh chấp thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ việc Chỉ khinào các bên không thể hòa giải được với nhau thì tòa án mới chính thức xét xử vụ việc.Việc hòa giải có thể thực hiện ở bất cứ giai đoạn nào của quá trình giải quyết tranhchấp
2.3 Thẩm quyền xét xử của tòa án
Về cơ bản thì tòa án thương mại các nước có thẩm quyền xét xử các vụ việc sau:
Tranh chấp về hợp đồng được ký kết giữa các thương nhân với nhau
Tranh chấp giữa các thành viên trong công ty với nhau giữa họ với công ty
Tranh chấp liên quan đến hành vi thương mại của tất cả mọi chủ thể
Tuyên bố phá sản, giải thể hay đình chỉ hoạt động của một doanh nghiệp
Ngoài ra thẩm quyền của tòa án thương mại còn có thể xác định theo nguyên tắc thẩmquyền lãnh thổ theo đó toà án thương mại có thẩm quyền xét xử sơ thẩm tranh chấpthương mại là các tòa án nơi bị đơn có trụ sở kinh doanh hoặc nơi bị đơn có tài sảnliên quan đến vụ tranh chấp
Việc áp dụng các quy tắc trên chủ yếu áp dụng trong việc giải quyết các tranh chấptrong phạm vi một quốc gia, còn với các tranh chấp có tính quốc tế thì cần có sự kếthợp, thỏa thuận của các bên trong hợp đồng Tòa án chỉ có quyền xét xử tranh chấp khi
8
Trang 9các bên có liên quan thỏa thuận giao vụ tranh chấp cho tòa án xét xử Thẩm quyền củatòa án cũng có thể được quy định trong các điều ước quốc tế.
2.4 Thủ tục giải quyết tranh chấp bằng tòa án
Tòa án thương mại chỉ xét xử theo trình tự tố tụng chung Điều này nghĩa là tòa ánthương mại nước nào sẽ tuân theo quy tắc xét xử của luật tố tụng dân sự nước đó.Quá trình xét xử tại tòa án bắt đầu từ lúc nguyên đơn đưa đơn kiện tới tòa án Thườngthì giải quyết sẽ công khai nhưng trong một số trường hợp khác thì có thể xét xử kín.Thường khi giải quyết tranh chấp sẽ chọn tòa án thương mại của nước bị đơn hoặcnước bị đơn có tài sản để tạo điều kiện thuận lợi cho việc thi hành án sau này
Việc giải quyết tranh chấp bằng tòa án sẽ có ưu nhược điểm như sau:
Ưu điểm: Phán quyết tòa án có tính ràng buộc, cưỡng chế cao, nếu không đồng ý vớiphán quyết ở tòa án sơ thẩm thì có thể yêu cầu xét xử lại tại tòa án phúc thẩm, việc thihành tổ chức án được pháp luật đảm bảo, đặc biệt trong trường hợp bản án được tuyên
ở nước bên thua kiện
Nhược điểm: Thủ tục xét xử là công khai nên có thể gây ảnh hưởng đến uy tín củadoanh nghiệp sau này Phán quyết và quyết định của tòa án sẽ ít chính xác vì khôngphải thẩm phán nào cũng có kiến thức chuyên môn ở mức độ cần thiết để xét xử Chiphí đi lại hoặc tiền thuê luật sư cũng tốn kém
Ở Việt Nam, về cơ bản, trình tự, thủ tục giải quyết tranh chấp trong kinh doanh quốc tếcũng giống như trình tự, thủ tục giải quyết tranh chấp dân sự
2.5 Công nhận và thi hành bản án của tòa án nước ngoài
Trong hợp đồng kinh doanh quốc tế ký kết giữa Việt Nam và bên nước ngoài, ta có thểlựa chọn cơ quan giải quyết tranh chấp là tòa án bên nước ngoài Nếu bị thua kiệnnhưng bên Việt Nam không tự nguyện thi hành bản án và quyết định của tòa án nướcngoài thì bên nước ngoài thắng kiện có thể làm thủ tục yêu cầu tòa án Việt Nam côngnhận và cho thi hành tại Việt Nam bản án của tòa án nước ngoài Nếu tòa án Việt Namcông nhận và cho thi hành phán quyết theo tòa án nước ngoài thì Việt Nam sẽ phảithực hiện theo những yêu cầu mà phán quyết tòa án Việt Nam tuyên bố
Thủ tục công nhận và thi hành bản án hoặc quyết định của tòa án nước ngoài (sau đâygọi chung là bản án) tại Việt Nam được quy định trong pháp luật tố tụng dân sự, hiệntại là Bộ luật Tố tụng Dân sự Việt Nam năm 2004 Thủ tục bao gồm các bước như sau:
9
Trang 10Bước 1: Bên yêu cầu (bên thắng kiện nước ngoài) phải có đơn yêu cầu công nhận vàcho thi hành bản án của tòa án nước ngoài gửi đến bộ Tư pháp Việt Nam Đơn yêu cầuphải có đủ các nội dung cần thiết như quy định tại Điều 350 và phải được gửi kèmtheo cùng các giấy tờ tài liệu như quy định tại Điều 351 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.Bước 2: Bộ Tư pháp chuyển hồ sơ cho Tòa án
Căn cứ vào quy định hiện hành, trong thời hạn 7 ngày kể từ ngày nhận được đơn yêucầu, các giấy tờ, tài liệu kèm theo, Bộ Tư pháp phải chuyển hồ sơ đến Tòa án có thẩmquyền theo quy định tại Điều 34 và Điều 35 của Bộ luật Tố tụng Dân sự
Bước 3: Tòa án có thẩm quyền thụ lý hồ sơ và thông báo cho Viện kiểm sát cùng cấpbiết
Bước 4: Chuẩn bị xét đơn yêu cầu
Trong thời hạn 4 tháng kể từ ngày thụ lý, Tòa án đã thụ lý hồ sơ sẽ nghiên cứu để đưa
ra quyết định có mở phiên họp xét đơn yêu cầu hay không Nếu có thì trong thời hạnmột tháng kể từ ngày ra quyết định Tòa án phải mở phiên họp xét đơn yêu cầu
Bước 5: Mở phiên họp xét đơn yêu cầu
Thủ tục tiến hành phiên họp xét đơn yêu cầu được thực hiện theo quy định tại Điều
355 của Bộ luật Tố tụng Dân sự
Bước 6: Gửi quyết định của Tòa án
Hội đồng xét xử có quyền ra quyết định công nhận hoặc không công nhận bản án,quyết định tòa án nước ngoài Nếu Tòa án quyết định công nhận và cho thi hành tạiViệt Nam bản án, quyết định của tòa án nước ngoài thì tòa án xét đơn yêu cầu sẽ gửiquyết định đó cho các đương sự và Viện kiểm sát cùng cấp Nếu đương sự ở nướcngoài thì quy định được gửi thông qua Bộ Tư pháp Từ thời điểm này, việc thi hànhbản án, quyết định của tòa án nước ngoài sẽ trở thành việc thi hành bản án, quyết địnhcủa tòa án Việt Nam
3 Giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại
3.1 Khái niệm, nguyên tắc của phương thức giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại
Giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại là phương thức giải quyết mang tínhtài phán Đây là phương thức giải quyết tranh chấp bằng cách giao vụ việc cho mộtngười thứ ba là các trọng tài viên để họ xét xử và ra quyết định cuối cùng trong trường
10
Trang 11hợp các bên không tự dàn xếp được với nhau bằng con đường thương lượng trực tiếp
mà lại không muốn đưa vụ tranh chấp ra xét xử tại tòa án thương mại
Về cơ bản, trọng tài thương mại là phương pháp giải quyết tranh chấp phát sinh từquan hệ kinh doanh ngoài khuôn khổ tòa án, nhưng được tòa án hỗ trợ bằng thủ tục vàthi hành phán quyết Phương pháp trọng tài được tiến hành theo một thủ tục nhất định
và được kết thúc bằng phán quyết trọng tài
Nguyên tắc giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại:
− Trọng tài viên phải tôn trọng thỏa thuận của các bên nếu thỏa thuận đó không viphạm điều cấm và trái với đạo đức xã hội
− Trọng tài viên phải độc lập, khách quan, vô tư và tuân theo quy định của pháp luật
− Các bên tranh chấp đều bình đẳng về quyền và nghĩa vụ Hội đồng trọng tài có tráchnhiệm tạo điều kiện để họ thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình
− Giải quyết tranh chấp bằng trọng tài được tiến hành không công khai, trừ trường hợpcác bên có thỏa thuận khác
− Phán quyết trọng tài là chung thẩm
3.2 Điều kiện giải quyết tranh chấp bằng trọng tài
Tranh chấp được giải quyết bằng Trọng tài nếu các bên có thỏa thuận trọng tài Thỏathuận trọng tài có thể được lập trước hoặc sau khi xảy ra tranh chấp Trường hợp mộtbên tham gia thỏa thuận trọng tài là cá nhân chết hoặc mất năng lực hành vi, thỏathuận trọng tài vẫn có hiệu lực đối với người thừa kế hoặc người đại diện theo phápluật của người đó, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác Trường hợp một bêntham gia thỏa thuận trọng tài là tổ chức phải chấm dứt hoạt động, bị phá sản, giải thể,hợp nhất, sáp nhập, chia, tách hoặc chuyển đổi hình thức tổ chức, thỏa thuận trọng tàivẫn có hiệu lực đối với tổ chức tiếp nhận quyền và nghĩa vụ của tổ chức đó, trừ trườnghợp các bên có thỏa thuận khác Điều kiện áp dụng: về nguyên tắc, trọng tài không cóthẩm quyền đương nhiên đối với các vụ việc tranh chấp cụ thể, mà chỉ có thẩm quyềnkhi các bên đương sự thỏa thuận đưa tranh chấp ra giải quyết trước trọng tài, đồng thờitranh chấp này phải nằm trong phạm vi các tranh chấp được pháp luật cho phép giảiquyết bằng trọng tài
11
Trang 123.3 Hình thức thỏa thuận trọng tài
Thỏa thuận trọng tài có thể được xác lập dưới hình thức điều khoản trọng tài trong hợpđồng hoặc dưới hình thức thỏa thuận riêng Thỏa thuận trọng tài phải được xác lậpdưới dạng văn bản Các hình thức thỏa thuận sau đây cũng được coi là xác lập dướidạng văn bản:
− Thỏa thuận được xác lập qua trao đổi giữa các bên bằng telegram, fax, telex, thưđiện tử và các hình thức khác theo quy định của pháp luật;
− Thỏa thuận được xác lập thông qua trao đổi thông tin bằng văn bản giữa các bên;
− Thỏa thuận được luật sư, công chứng viên hoặc tổ chức có thẩm quyền ghi chép lạibằng văn bản theo yêu cầu của các bên;
− Trong giao dịch các bên có dẫn chiếu đến một văn bản có thể hiện thỏa thuận trọngtài như hợp đồng, chứng từ, điều lệ công ty và những tài liệu tương tự khác;
− Qua trao đổi về đơn kiện và bản tự bảo vệ mà trong đó thể hiện sự tồn tại của thỏathuận do một bên đưa ra và bên kia không phủ nhận Có thể là một điều khoản thỏathuận trọng tài trong hợp đồng hoặc bằng một thỏa thuận đưa tranh chấp ra giải quyếttrước trọng tài và về hình thức thỏa thuận trọng tài phải được lập thành văn bản theonghĩa rộng, mọi hình thức khác đều không có giá trị pháp lý
1.3.4 Hiệu lực thi hành
Để trọng tài có thẩm quyền giải quyết tranh chấp thì trước hết phải có một thỏa thuậntrọng tài và thỏa thuận trọng tài này phải có hiệu lực pháp luật Một thỏa thuận trọngtài muốn có hiệu lực, trước hết phải tuân thủ pháp luật quốc gia được áp dụng đối vớithỏa thuận trọng tài, nếu vi phạm, hậu quả pháp lý xảy ra có thể là quyết định củatrọng tài không được thi hành, hoặc công nhận và thi hành ở nước ngoài
4 Vấn đề pháp lý đặt ra trong tranh chấp
Pháp lý là sự lý luận, vận dụng các quy định pháp luật do Nhà nước ban hành từ đó cóthể đưa ra những lý lẽ, lẽ phải theo pháp luật hoặc cũng có thể là những giá trị pháp lý
mà bắt nguồn từ một sự việc, hiện tượng trong xã hội
Khi có sự xuất hiện của pháp luật thì sẽ dẫn tới sự xuất hiện của pháp lý và không baogiờ có trường hợp sự xuất hiện của pháp lý dẫn tới sự xuất hiện của pháp luật Thông
12
Trang 13thường, khi gặp những điều cần phải xem xét, nghiên cứu, tìm ra hướng giải quyết thìchúng ta thường gọi đó là vấn đề
Vấn đề pháp lý chính là những điều, những câu hỏi vấn đề trọng tâm cần được tranhluận hoặc cần được giải quyết theo hình thức pháp luật của vấn đề Để giải quyết đượcvấn đề pháp lý, cần phải xác minh được pháp luật có liên quan thì từ đó mới có thể giảiquyết được
13