1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Vi phạm pháp luật và các yếu tố cấu thành vi phạm pháp luật cho ví dụ minh hoạ

12 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 12
Dung lượng 400,03 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khái niệm và nhận xét Vi phạm pháp luật là hành vi trái pháp luật, có lỗi của chủ thể có năng lực trách nhiệm pháp lí xâm hại tới quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ.. - Vi phạm hình sự

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGÂN HÀNG TP HỒ CHÍ MINH BÀI THI KẾT THÚC HỌC PHẦN

Môn thi PHÁP LUẬT ĐẠI CƯƠNG:

Họ và tên sinh viên:

MSSV: Lớp học phần: LAW349_211_D05

Giảng viên hướng dẫn: TRẦN THỊ BÍCH NGA

YÊU CẦU

Vi phạm pháp luật và các yếu tố cấu thành vi phạm pháp luật Cho ví dụ minh hoạ.

MỤC LỤC

1 Vi phạm pháp luật

1.1.Khái niệm và nhận xét

1.2.Phân loại vi phạm pháp luật

1.3.Lưu ý

2 Các yếu tố cấu thành vi phạm

pháp luật

2.1.Mặt khách quan

2.2.Mặt chủ quan

Khái niệm

a Lỗi

b Các yếu tố có liên quan đến lỗi

2.3.Khách thể

Khái niệm

Phân loại

a Khách thể chung của tội phạm

b Khách thể loại của tội phạm

c Khách thể trực tiếp của tội phạm

d Ý nghĩa của khách thể 2.4.Chủ thể

Khái niệm

Năng lực của chủ thể

3 Biên pháp ngăn ngừa các hành

vi vi phạm pháp luật

4 Kết luận

1

THÔNG TIN BÀI THI

Bài thi có: (bằng số): …11… trang

(bằng chữ): mười một trang

Trang 2

BÀI LÀM

1 Vi phạm pháp luật

1.1 Khái niệm và nhận xét

Vi phạm pháp luật là hành vi trái pháp luật, có lỗi của chủ thể có năng lực trách nhiệm pháp lí xâm hại tới quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ

Vi phạm pháp luật đã có từ thời xa xưa và có thể xem như một hiện tượng lịch

sử, xuất hiện từ khi có khái niệm pháp luật Ở thời điểm hiện tại, xã hội ngày càng phát triển, các hành vi vi phạm pháp luật ngày càng tăng, thì việc nhận thức về vi phạm pháp luật cũng cần toàn diện, đầy đủ và chính xác hơn nữa Nhận thức đúng đắn về vi phạm pháp luật có ý nghĩa quan trọng, giúp con người nâng cao sự hiểu biết, nhận diện và phân biệt nó với các hiện tượng lệch chuẩn khác, từ đó, có những biện pháp hiệu quả để ngăn ngừa và giảm thiểu hiện tượng này trong đời sống

Vi phạm pháp luật có thể tồn tại ở dạng hành động hoặc không hành động Hành vi vi phạm pháp luật được thực hiện cố ý hoặc vô ý, với những động cơ khác nhau và nhằm những mục đích khác nhau

1.2 Phân loại vi phạm pháp luật

Theo quan điểm truyền thống, vi phạm pháp luật được chia thành bốn loại là

vi phạm hình sự, vi phạm hành chính, vi phạm kỉ luật và vi phạm dân sự Cơ

sở của sự phân loại này là tổng hợp các yếu tố bao gồm khách thể, hậu quả, phương pháp, cách thức thực hiện hành vi, chủ thể

- Vi phạm hình sự: là sự xâm hại đến các quan hệ pháp luật hình sự phát

sinh giữa Nhà nước và người phạm tội, pháp nhân thương mại phạm tội liên quan đến việc họ thực hiện tội phạm, các hành vi được quy định trong Bộ luật Hình sự

VD: Giết người trả thù được xem là 1 hành vi vi phạm hình sự.

- Vi phạm hành chính: là hành vi có lỗi do cá nhân, tổ chức thực hiện, vi

phạm quy định của pháp luật về quản lý nhà nước mà không phải là tội phạm và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt hành chính

VD: Hành vi vượt đèn đỏ sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính.

- Vi phạm kỉ luật: là hành vi có lỗi của chủ thể trái với các quy chế, quy tắc

xác lập trật tự trong nội bộ cơ quan, tổ chức, tức là không thực hiện đúng kỷ luật lao động, học tập, công tác hoặc phục vụ được đề ra trong nội bộ cơ quan, tổ chức đó

2

Trang 3

VD: Học sinh sử dụng tài liệu trong giờ kiểm tra.

- Vi phạm dân sự: là sự xâm phạm đến các quan hệ nhân thân và tài sản

được quy định chung trong bộ luật Dân sự và quan hệ pháp luật dân sự khác được pháp luật bảo vệ, như quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp

VD: Xâm phạm danh dự, nhân phẩm của người khác thì đã vi phạm quy định pháp luật dân sự.

1.3.Lưu ý :

Cần phân biệt vi phạm hành chính và tội phạm

Chủ thể Là cá nhân, tổ chức Chỉ là cá nhân

Khách

thể

Là các quy tắc về ATGT,

ANTT, ATXH…

Các quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ như tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm…

Lỗi

2 hình thức: lỗi cố ý và lỗi vô

ý (yêu cầu về lỗi không cao

như luật hình sự)

4 hình thức: lỗi cố ý gián tiếp và trực tiếp, lỗi vô ý vì quá tự tin, lỗi

vô ý do cẩu thả (đòi hỏi cao và chính xác về mặt lỗi hơn)

VD

Không đội mũ bảo hiểm khi

điều khiển phương tiện giao

thông sẽ bị xử phạt hành

chính từ 200.000 đồng

-300.000 đồng

Tội giết người, tội hiếp dâm được xếp vào nhóm tội phạm rất nghiêm trọng theo BLHS 2015

2 Các yếu tố cấu thành vi phạm pháp luật

- Mặt khách quan

- Mặt chủ quan

- Khách thể

- Chủ thể

2.1 Mặt khách quan

 Khái niệm: Mặt khách quan của vi phạm pháp luật là toàn bộ những biểu

hiện ra bên ngoài của thế giới khách quan, bao gồm:

 Là hành vi thể hiện bằng hành động hoặc không hành động.

3

Trang 4

 Các hành vi trái pháp luật.

Hành vi trái pháp luật là việc thực hiện không đúng theo quy định của pháp luật, được thể hiện dưới một trong ba dạng hành vi sau:

- Thực hiện hành vi mà pháp luật cấm

- Không thực hiện hành vi mà pháp luật bắt buộc phải thực hiện

- Thực hiện hành vi vượt quá phạm vi pháp luật cho phép thực hiện.

Mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật và thiệt hại

Thiệt hại là tổn thất về tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền và lợi ích hợp pháp khác của cá nhân; tài sản, danh dự, uy tín của pháp nhân hoặc chủ thể khác được pháp luật bảo vệ.

Hành vi trái pháp luật được coi là nguyên nhân và thiệt hại được coi là hậu quả Về mặt nguyên tắc, hành vi trái pháp luật phải có trước và thiệt hại có sau Việc xác định mối quan hệ nhân quả này đặc biệt quan trọng vì nó là cơ

sở quan trọng để đánh giá mức độ nguy hiểm cho xã hội của vi phạm pháp luật Do đó, cần có cái nhìn toàn diện tránh đánh giá một cách khiên cưỡng, suy diễn chủ quan, bảo thủ.

“Thiệt hại xảy ra phải đúng là kết quả tất yếu của hành vi trái pháp luật hay ngược lại, hành vi trái pháp luật là nguyên nhân trực tiếp hoặc là nguyên nhân có ý nghĩa quyết định đối với thiệt hại xảy ra”.

 Gây thiệt hại chung cho xã hội hoặc thiệt hại trực tiếp về vật chất hoặc tinh thần cho từng thành viên cụ thể của xã hội.

 Bao gồm thời gian , địa điểm , phương tiện vi phạm pháp luật.

- Thời gian: giờ, ngày, tháng, năm xảy ra vi phạm pháp luật

- Địa điểm: nơi xảy ra vi phạm pháp luật

- Phương tiện: phương tiện, dụng cụ mà chủ thể dùng để thực hiện hành vi trái pháp luật

Ví dụ về mặt khách quan: Theo thông tin từ Cục trợ giúp pháp lý, anh Hảng

A C - người đồng bào dân tộc Mông cư trú tại xã P, huyện M, tỉnh B Ngày 4/2/2014, do thiểu hiểu biết pháp luật, A đã dùng dầu châm lửa đốt rừng phòng hộ do Ban Quản lý rừng phòng hộ huyện M quản lý và được trồng từ năm 2006, gây cháy rừng với diện tích là 5,1 héc-ta (38.356.000 m ) nhằm 2 mục đích làm bãi chăn thả gia súc.

4

Trang 5

Hành vi trái pháp luật: dùng lửa đốt rừng phòng hộ do Ban Quản lý rừng phòng hộ huyện M quản lý và được trồng từ năm 2006.

Thiệt hại: cháy rừng với diện tích là 5,1 héc-ta (38.356.000 m2).

Thời gian xảy ra: 4/2/2014.

Địa điểm: rừng phòng hộ do Ban Quản lý rừng phòng hộ huyện M (thuộc tỉnh B) quản lý.

Phương tiện: Dầu, lửa.

2.2 Mặt chủ quan

 Khái niệm: Mặt chủ quan của vi phạm pháp luật là thái độ tâm lý của chủ

thể, là diễn biến bên trong của con người mà giác quan người khác không thể cảm giác chính xác được, bao gồm lỗi và các yếu tố có liên quan đến lỗi là động cơ, mục đích của chủ thể thực hiện VPPL

a Lỗi

Lỗi là dấu hiệu thuộc mặt chủ quan của tội phạm phản ánh chủ thể đã lựa chọn thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội khi có đủ điều kiện lựa chọn thực hiện hành vi khác phù hợp với đòi hỏi của xã hội

Lỗi được phân chia thành 4 loại sau đây:

- Cố ý trực tiếp: trường hợp người vi phạm nhận thấy trước hậu quả nguy

hiểm cho xã hội của hành vi và mong muốn hậu quả xảy ra

VD: Vì trả thù C ngoại tình với vợ mình, A đã lên kế hoạch giết C.

- Cố ý gián tiếp: trường hợp người vi phạm nhận thức được hậu quả nguy

hiểm cho xã hội của hành vi nhưng để mặc cho hậu quả xảy ra

VD: Khu du lịch V nuôi cá sấu trong hồ nhưng không lắp biển cảnh báo dẫn tới việc cá sấu làm bị thương khách tham quan.

- Vô ý vì quá tự tin: trường hợp người vi phạm nhận thấy trước được hành

vi của mình có thể gây ra hậu quả nguy hiểm cho xã hội nhưng tin rằng không xảy ra hoặc có thể ngăn ngừa được

VD: Thấy đường vắng, B đã tăng tốc xe quá quy định cho phép vì nghĩ sẽ không có người nhưng cuối cùng B đã đâm chết một người qua đường.

- Vô ý do cẩu thả: trường hợp người vi phạm không nhận thức được hậu

quả nguy hiểm cho xã hội của hành vi mình thực hiện mặc dù có trách nhiệm phải biết hoặc có thể biết

5

Trang 6

VD: Y là bảo vệ của Trường THPT D, có nhiệm vụ khóa cửa tất cả các phòng học nhưng hôm qua Y lại khóa sót 1 phòng dẫn tới việc phòng đó bị trộm.

b Các yếu tố có liên quan đến lỗi

- Động cơ vi phạm pháp luật: là những nguyên nhân bên trong (các nhu

cầu cần thoả mãn) thúc đẩy chủ thể vi phạm pháp luật

VD: K thấy G đang đuối nước nhưng xung quanh không ai giúp đỡ, dù không muốn G chết nhưng K đã bỏ đi vì có cuộc hẹn quan trọng Động cơ là K có cuộc hẹn quan trọng bỏ mặc G.

- Mục đích vi phạm pháp luật: là những mục tiêu mà chủ thể cần đạt tới

khi thực hiện hành vi vi phạm pháp luật (Chỉ những hành vi vi phạm với lỗi cố ý trực tiếp mới có yếu tố mục đích)

VD: H vì nợ nần bài bạc nên đã lập kế hoạch cướp ngân hàng T Mục đích là

H đi cướp để lấy tiền trả nợ.

Ví dụ về mặt chủ quan: Lê Thanh Vân (sinh năm 1956) vì muốn chiếm đoạt

chiếc xe khách mang bảng số 53L – 5329 đã lên kế hoạch đầu độc bà Trần Thị Xinh – chủ chiếc xe này bằng chất độc xyanua Sau khi uống xong cốc chanh muối cùng với Vân, bà Xinh có biểu hiện nôn ói, khó chịu, mệt mỏi Đến chiều cùng ngày, khi đã xuống TP.HCM, bà Xinh đã “ngất xỉu” khi cùng Vân ăn hủ tiếu tại bến xe Miền Đông Sau đó bà lại bị Vân đầu độc một lần nữa và lần này bà đã không qua khỏi Lê Thanh Vân cũng là thủ phạm giết 13 mạng người khác cùng với cách thức tương tự.

Đây là lỗi cố ý trực tiếp vì hành động giết người của Lê Thanh Vân đã

có kế hoạch, mục đích từ trước, biết trước sẽ có án mạng xảy ra nhưng vẫn thực hiện.

2.3.Khách thể

6

Trang 7

 Khái niệm: Khách thể của vi phạm pháp luật là quan hệ xã hội được pháp

luật bảo vệ nhưng bị hành vi vi phạm pháp luật xâm phạm

VD: Tội vi phạm chế độ một vợ một chồng (Điều 182 – Bộ luật Hình sự 2015) xâm phạm đến quan hệ hôn nhân Ở đây, khách thể là quan hệ hôn nhân.

Phân loại

a Khách thể chung của tội phạm

Khách thể chung của tội phạm là tổng hợp các quan hệ xã hội dược pháp luật bảo vệ khỏi sự xâm hại của tội phạm Nhìn vào khách thể chung chúng ta thấy được phạm vi các quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ cũng như thấy được chính sách hình sự của Nhà nước ta

Bất kì hành vi phạm tội nào cũng gây phương hại đến khách thể chung vì nếu không thì hành vi đó không trái pháp luật hình sự, không bị coi là tội phạm

VD: Độc lập, chủ quyền, nền văn hóa, chế độ chính trị, chế độ kinh tế… được xem là khách thể chung của tội phạm.

b Khách thể loại của tội phạm

Khách thể loại của tội phạm là nhóm quan hệ xã hội có cùng tính chất được một nhóm các quy phạm pháp luật hình sự bảo vệ và bị một nhóm tội phạm xâm hại Khách thể loại có vai trò quan trọng trong việc phân loại, phân nhóm tội phạm Nó là cơ sở để BLHS xây dựng các chương trong phần các tội phạm một cách hợp lý và khoa học

Các tội phạm được quy định trong cùng một chương phần các tội phạm của BLHS (có cùng khách thể loại) bao giờ cũng xâm hại đến khách thể loại của chúng

VD: Rất nhiều tội được liệt kê trong Chương XIII – Các tội xâm phạm an ninh Quốc gia (Bộ luật Hình sự 2015) như: Điều 108 – Tội phản bội Tổ quốc, Điều 109 – Tội hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân…

c Khách thể trực tiếp của tội phạm

Khách thể trực tiếp của tội phạm là quan hệ xã hội cụ thể được một quy phạm Pháp luật hình sự bảo vệ bị một loại tội phạm trực tiếp xâm hại Khách thể trực tiếp là cơ sở thể hiện rõ nhất bản chất của tội phạm cụ thể Nó giúp xác định đúng tội danh và đánh giá đúng đắn tính nguy hiểm cho xã hội của hành

vi phạm tội cụ thể

7

Trang 8

Mặc dù các tội phạm được quy định trong cùng một chương phần các tội phạm của BLHS 2015 có cùng khách thể loại nhưng điều đó không có nghĩa các tội phạm này có cùng khách thể trực tiếp Mỗi tội phạm có một khách thể trực tiếp riêng Thông qua việc gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại đối với khách thể trực tiếp mà tội phạm đã gây phương hại đến khách thể chung và khách thể loại của tội phạm

VD: Anh L giết chị E thì khách thể trực tiếp là “tính mạng chị E”, thông qua

đó xâm hại khách thể loại là “sức khỏe, danh dự, nhân phẩm chị E”, khách thể loại này là một trong các nhóm quan hệ xã hội thuộc hệ thống khách thể chung của tội phạm.

d Ý nghĩa của khách thể

- Căn cứ định tội, bảo đảm xử lý đúng người, đúng tội và đúng pháp luật

- Căn cứ quan trọng để phân biệt tội phạm với các vi phạm pháp luật khác

- Thể hiện nhiệm vụ của đạo luật hình sự, bản chất giai cấp của luật hình sự

và chính sách hình sự của nhà nước

- Căn cứ để phân loại, sắp xếp, đánh giá mức độ nguy hiểm của tội phạm

2.4 Chủ thể

 Khái niệm: Chủ thể của vi phạm pháp luật là cá nhân, tổ chức có năng lực

trách nhiệm pháp lý đã thực hiện hành vi trái pháp luật, có lỗi, tương ứng với mỗi loại vi phạm pháp luật

VD: Anh V 30 tuổi, nhân viên công ty X, không có tiền sử bệnh thần kinh, điều khiển xe gắn máy gây tai nạn chết người Chủ thể ở đây là anh V (30 tuổi thuộc công ty X) là người có đủ năng lực trách nhiệm pháp lý khi thực hiện hành vi vi phạm này.

 Năng lực chủ thể: Chủ thể của vi phạm pháp luật phải có năng lực chủ thể

bao gồm:

 Năng lực pháp luật: Là những quy định của pháp luật ghi nhận những

quyền và nghĩa vụ của các loại chủ thể: tổ chức, cá nhân, nhà nước

Trong đó, năng lực chủ thể của tổ chức phát sinh khi tổ chức đó được thành lập hợp pháp, còn năng lực chủ thể của cá nhân về nguyên tắc có từ khi cá nhân đó sinh ra và mất khi cá nhân đó chết đi

VD: Điều 16/Mục 1/Chương III/ BLDS 2015 quy định:

8

Trang 9

1 Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân là khả năng của cá nhân có quyền dân sự và nghĩa vụ dân sự

2 Mọi cá nhân đều có năng lực pháp luật dân sự như nhau

3 Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân có từ khi người đó sinh ra và chấm dứt khi người đó chết.

 Năng lực hành vi: Là khả năng tự chịu trách nhiệm pháp lý

- Đối với tổ chức, thông thường phát sinh cùng lúc với năng lực pháp luật.

Tổ chức là chủ thể vi phạm pháp luật bao gồm các cơ quan nhà nước, đơn

vị vũ trang nhân dân, các tổ chức xã hội, các tổ chức có tư cách pháp nhân theo quy định của pháp luật và các tổ chức nước ngoài theo quy định của pháp luật Việt Nam, trừ trường hợp điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc tham gia có quy định khác

VD: Tổ chức tín dụng nơi cá nhân, tổ chức bị cưỡng chế thi hành mở tài khoản phải giữ lại trong tài khoản của cá nhân, tổ chức đó số tiền tương đương với số tiền mà cá nhân, tổ chức phải nộp theo yêu cầu của người có thẩm quyền ra quyết định cưỡng chế Trường hợp số dư trong tài khoản tiền gửi ít hơn số tiền mà cá nhân, tổ chức bị cưỡng chế phải nộp thì tổ chức tín dụng vẫn phải giữ lại và trích chuyển số tiền đó Trong thời hạn 05 ngày làm việc trước khi trích chuyển, tổ chức tín dụng có trách nhiệm thông báo cho cá nhân, tổ chức bị cưỡng chế biết việc trích chuyển; việc trích chuyển không cần sự đồng ý của họ (Điều 88 – Luật Xử lý vi phạm hành chính 2012).

- Đối với cá nhân, năng lực hành vi phát sinh căn cứ vào độ tuổi, vào khả năng nhận thức và điều khiển hành vi Cá nhân là con người cụ thể, không mắc bệnh tâm thần hoặc mắc các bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi và đủ độ tuổi do pháp luật quy định

VD: Điều 105/BLDS 2015 quy định người dưới 18 tuổi phạm tội bị phạt cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù, nếu lập công hoặc mắc bệnh hiểm nghèo, thì được xét giảm ngay và có thể được miễn chấp hành phần hình phạt còn lại.

Tuỳ thuộc vào khách thể được pháp luật bảo vệ mà quy định năng lực chịu trách nhiệm pháp lý trong các ngành luật là khác nhau

Cần phải phân biệt rõ các tổ chức là chủ thể vi phạm pháp luật với vi phạm pháp luật có tổ chức: tổ chức là chủ thể vi phạm pháp luật phải là tổ chức hợp

9

Trang 10

pháp còn vi phạm pháp luật có tổ chức là một nhóm người liên kết với nhau cùng vi phạm pháp luật, sự tồn tại của họ là bất hợp pháp

VD1: Đầu tháng 12-2019, nhóm đối tượng trong “Tổ đồng thuận” do Lê Đình Kình và Lê Đình Công cầm đầu, chủ mưu đã tập trung, xô xát, chửi bới,

đe dọa lãnh đạo và cán bộ UBND xã Đồng Tâm; đe dọa, chửi bới những đại biểu đã phát biểu ủng hộ việc làm của chính quyền các cấp tại Hội nghị đối thoại của Thanh tra chính phủ, UBND TP Hà Nội với nhân dân xã Đồng Tâm Đây là vi phạm có tổ chức.

VD2: Năm 2016, nguồn thải lớn từ tổ hợp nhà máy của Công ty Formosa Hà Tĩnh chứa độc tố tạo thành một dạng phức hợp, di chuyển vào Nam làm hải sản ở tầng đáy biển chết, là nguyên nhân gây ra thảm họa ô nhiễm môi trường biển này Tổ chức vi phạm ở đây là Công ty Formosa Hà Tĩnh.

3 Biên pháp ngăn ngừa các hành vi vi phạm pháp luật

- Tuyên truyền rộng rãi trong dân chúng về vi phạm pháp luật và các yêu tố cấu thành của nó

- Mở các lớp học trong nhà trường để giáo dục về pháp luật cho con em ngay từ nhỏ

- Có thêm nhiều mức hình phạt cụ thể hơn cho từng hành vi vi phạm pháp luật đặc biệt …

4 Kết luận

Như vậy, nhận thức đúng đắn về vi phạm pháp luật và các yếu tố cấu thành của nó có ý nghĩa quan trọng, giúp con người nâng cao sự hiểu biết, nhận diện, phân biệt nó với các hiện tượng lệch chuẩn khác, và là căn cứ thực tế để truy cứu trách nhiệm pháp lý; từ đó, đưa ra những biện pháp ngăn ngừa vi phạm pháp luật một cách hợp lý

10

Ngày đăng: 10/08/2022, 17:35

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w