Đô thị hóa và tác động của đô thị hóa đến phát triển KT – XH ở thành phố Đà Nẵng.Đô thị hóa và tác động của đô thị hóa đến phát triển KT – XH ở thành phố Đà Nẵng.Đô thị hóa và tác động của đô thị hóa đến phát triển KT – XH ở thành phố Đà Nẵng.Đô thị hóa và tác động của đô thị hóa đến phát triển KT – XH ở thành phố Đà Nẵng.Đô thị hóa và tác động của đô thị hóa đến phát triển KT – XH ở thành phố Đà Nẵng.Đô thị hóa và tác động của đô thị hóa đến phát triển KT – XH ở thành phố Đà Nẵng.Đô thị hóa và tác động của đô thị hóa đến phát triển KT – XH ở thành phố Đà Nẵng.Đô thị hóa và tác động của đô thị hóa đến phát triển KT – XH ở thành phố Đà Nẵng.Đô thị hóa và tác động của đô thị hóa đến phát triển KT – XH ở thành phố Đà Nẵng.Đô thị hóa và tác động của đô thị hóa đến phát triển KT – XH ở thành phố Đà Nẵng.Đô thị hóa và tác động của đô thị hóa đến phát triển KT – XH ở thành phố Đà Nẵng.Đô thị hóa và tác động của đô thị hóa đến phát triển KT – XH ở thành phố Đà Nẵng.Đô thị hóa và tác động của đô thị hóa đến phát triển KT – XH ở thành phố Đà Nẵng.
Trang 1NGUYỄN ĐẶNG THẢO NGUYÊN
ĐÔ THỊ HÓA VÀ TÁC ĐỘNG CỦA ĐÔ THỊ HÓA ĐẾN PHÁT TRIỂN
KINH TẾ - XÃ HỘI Ở THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
Chuyên ngành: Địa lí học
Mã số : 9.31.05.01 LUẬN ÁN TIẾN SĨ ĐỊA LÍ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
1: GS.TS Nguyễn Viết Thịnh 2: PGS.TS Đậu Thị Hòa
HÀ NỘI- 2022
Trang 2
cứu được trình bày trong luận án là trung thực, khách quan, có nguồn gốc rõ ràng Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm về nội dung và kết quả nghiên cứu của luận án
Tác giả luận án
NCS Nguyễn Đặng Thảo Nguyên
Trang 3người đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn cho tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và thực hiện luận án này
Tôi trân trọng cảm ơn Ban Giám hiệu, phòng Sau Đại học trường Đại học sư phạm Hà Nội đã tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình làm Nghiên cứu sinh Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban Chủ nhiệm khoa Địa Lý, các thầy cô trong bộ môn Địa lý KT-XH, trường Đại học sư phạm Hà Nội đã động viên, đóng góp nhiều ý kiến quý báu trong quá trình học cũng như thực hiện luận án
Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban Giám Đốc và Ban Tổ Chức Cán Bộ Đại Học Đà Nẵng cùng Ban Giám hiệu trường Đại học sư phạm Đà Nẵng, Ban chủ nhiệm Khoa Địa lý, Bộ môn địa lý KT-XH đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi hoàn thành luận
án theo quy định
Xin chân thành cảm ơn Tổng cục Thống Kê thành phố Đà Nẵng;các Sở ban ngành thành phố Đà Nẵng đã giúp đỡ tôi trong quá trình thu thập tài liệu, điều tra khảo sát và trao đổi kiến thức, kinh nghiệm thực tiễn
Xin gửi lời cảm ơn đến gia đình, bạn bè, đồng nghiệp và người thân đã luôn động viên, ủng hộ, chia sẻ và giúp đỡ tôi cả về tinh thần lẫn vật chất trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận án
Xin trân trọng cảm ơn!
Tác giả luận án
NCS Nguyễn Đặng Thảo Nguyên
Trang 41 CN Công nghiệp
2 CN- XD- DV Công nghiệp- xây dựng- dịch vụ
3 CNH – HĐH Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa
16 KT – XH – MT Kinh tế - xã hội – môi trường
17 VKTTĐMT Vùng kinh tế trọng điểm miền trung
Trang 522 NN Nông nghiệp
24 TNBQĐN Thu nhập bình quân đầu người
26 GO Tổng giá trị tăng thêm của tất cả các ngành kinh tế
27 TNK Thuế nhập khẩu vào tỉnh/thành phố
28 TC Trợ cấp sản xuất phát sinh từ các đơn vị thường trú
trong tỉnh/thành phố
30 UN-Habitat Chương trình Nhân cư Liên Hợp Quốc
Trang 62 BRT Bus Rapid Transit Phương tiện giao thông nhanh
3 EWEC East-West Economic Corridor Hành lang kinh tế Đông Tây
4 FDI Foreign Direct Investment Đầu tư trực tiếp nước ngoài
5 GDP Gross Domestic Product Tổng sản phẩm quốc nội
6
GRDP Gross Regional Domestic
7 LRT Light Rail Transit Phương tiện giao thông đường
12 UNESCO United Nations Educational,
Scientific And Cultural Organization
Tổ chức Giáo dục, Khoa học
và Văn hóa Liên Hiệp Quốc
13 UNFPA United Nation Fund Population
Agency
Quỹ Dân số Liên Hợp Quốc
15 PCI Peripheral Component
Interconnect
Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh
Trang 7PHẦN MỞ ĐẦU 1
4.2.1 Phương pháp thu thập và xử lý tài liệu 5
4.2.2 Phương pháp phân tích, so sánh, tổng hợp 5
4.2.3 Phương pháp khảo sát và điều tra xã hội học 5
4.2.4 Phương pháp bản đồ và hệ thống thông tin địa lý (GIS) 6
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ ĐÔ THỊ HÓA VÀ TÁC ĐỘNG CỦA
1.1 TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN
Trang 81.2.1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến đô thị hóa 26
1.2.2 Tác động của đô thị hóa đến phát triển kinh tế - xã hội 31
1.2.2.3 Các tiêu chí đánh giá tác động của ĐTH đến phát triển KT-XH 36
1.3.1 Thực tiễn đô thị hóa ở Việt Nam giai đoạn 2003 - 2020 37
1.3.2 Kinh nghiệm đô thị hóa ở một số thành phố trực thuộc trung ương 40
2.1.2.2 Tài nguyên khí hậu và tài nguyên nước 50
Trang 92.2.2.1 Quy mô dân số đô thị giai đoạn 2003 – 2020 65
2.2.4.3 Hệ thống cấp, thoát nước và xử lý nước thải 76
Trang 103.1 TÁC ĐỘNG CỦA ĐÔ THỊ HÓA ĐẾN PHÁT TRIỂN KINH TẾ CỦA
3.1.1 Tốc độ tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế 87
3.1.2 Đô thị hóa tác động đến các ngành kinh tế trụ cột của TP Đà Nẵng 91
3.1.2.3 Tác động đến phát triển Công nghiệp 99
3.2 TÁC ĐỘNG CỦA ĐÔ THỊ HÓA ĐẾN XÃ HỘI CỦA TP ĐÀ NẴNG 105
3.2.1 Đô thị hóa tác động tới vấn đề lao động, việc làm 105
3.2.1.2 Tác động đến giải quyết việc làm cho người lao động 108
3.2.2 Đô thị hóa tác động đến GRDP bình quân đầu người, thu nhập BQĐN và
3.2.2.1 Tác động đến thu nhập bình quân đầu người 109
3.2.2.2 Tác động đến đời sống của người dân 111
3.2.2.3 Tác động tích cực đến đời sống người dân nằm trong khu chỉnh trang
* Đánh giá chung về tác động của ĐTH đến KT – XH của TP Đà Nẵng trong
GIẢI PHÁP HIỆU QUẢ CHO ĐÔ THỊ HÓA VÀ PHÁT TRIỂN 120
4.1.1 Định hướng về đô thị hóa của Vùng kinh tế trọng điểm miền Trung và
Trang 11b Định hướng về không gian đô thị Đà Nẵng 123
4.2.1 Giải pháp về quy hoạch cấu trúc không gian đô thị hài hòa giữa hiện đại
4.2.2 Nâng cao chất lượng nguồn lao động để thực hiện đô thị hóa và phát triển
4.2.3 Thu hút mạnh đầu tư và sử dụng hiệu quả nguồn vốn đầu tư cho đô thị và
4.2.4 Xây dựng đô thị kết nối trong vùng và khu vực 140
4.2.5 Xây dựng đô thị theo hướng thông minh tiến đến quản trị đô thị 141
4.2.6 Xây dựng đô thị xanh thân thiện với môi trường, hướng tới sự phát triển
Trang 121 Bảng 1.1 Tỷ lệ dân đô thị phân theo vùng giai đoạn 2000 – 2020 39
2 Bảng 1.2 Một số chỉ tiêu về ĐTH ở TP Hải Phòng giai đoạn 2003
9 Bảng 2.6 Tỷ lệ dân đô thị TP Đà Nẵng, giai đoạn 2003 – 2020
phân theo quận, huyện
12 Bảng 2.9 Biến động diện tích đất phân theo loại đất của các quận,
huyện, của TP Đà Nẵng giai đoạn 2005 – 2020
79
Trang 1314 Bảng 3.2 Lao động từ 15 tuổi trở lên đang làm việc hàng năm
phân theo nhóm ngành kinh tế giai đoạn 2003 – 2020
17 Bảng 3.5 GRDP/người và tỷ lệ hộ thoát nghèo từ 2003 - 2020 111
18 Bảng 4.1 Một số chỉ tiêu KT – XH chủ yếu của TP Đà nẵng giai
đoạn 2021 – 2030
122
Trang 141 Hình 1.1 Biểu đồ chuyển dịch lao động theo 3 khu vực kinh tế
5 Hình 2.3 Biểu đồ cơ cấu lao động đang làm việc phân theo nhóm
ngành kinh tế của TP Đà Nẵng giai đoạn 2003 – 2020
8 Hình 3.3 Biểu đồ chuyển dịch cơ cấu GRDP theo thành phần kinh
tế của TP Đà Nẵng giai đoạn 2003 – 2020
91
9 Hình 3.4 Biểu đồ tỉ lệ lao động đang làm việc đã qua đào tạo của
TP Đà Nẵng giai đoạn từ 2003 – 2020
106
10 Hình 3.5 Biểu đồ TNBQĐN/tháng của TP Đà Nẵng giai đoạn
2003 – 2020 (đơn vị: triệu đồng/người/)
109
11 Hình 3.6 Biểu đồ GRDP bình quân đầu người của Đà Nẵng (theo
giá HH) giai đoạn 2003 – 2020
110
Trang 1513 Hình 3.8 Biểu đồ so sánh đời sống người dân sau khi đến ở khu
Trang 161 Bản đồ hành chính thành phố Đà Nẵng Sau trang 48
2 Bản đồ các nhân tố tự nhiên của thành phố Đà Nẵng Sau trang 54
3 Bản đồ các nhân tố kinh tế- xã hội của thành phố Đà Nẵng Sau trang 62
4 Bản đồ thực trạng đô thị hóa thành phố Đà Nẵng Sau trang 76
5 Bản đồ hiện trạng sử dụng đất thành phố Đà Nẵng năm 2020 Sau trang 80
6 Bản đồ hiện trạng các khu chức năng ở thành phố Đà Nẵng Sau trang 83
7 Bản đồ cơ cấu phân vùng chức năng phát triển đô thị đến năm
2030, tầm nhìn đến năm 2045 của thành phố Đà Nẵng
Sau trang 132
Trang 18PHẦN MỞ ĐẦU
1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Đô thị hóa (ĐTH) là xu thế chung của các quốc gia trên thế giới Ở các nước phát triển thuộc châu Âu, Bắc Mỹ ĐTH diễn ra sớm, gắn liền với công nghiệp hóa (CNH) Nửa sau của thế kỷ XX, ĐTH phát triển mạnh ở các nước đang phát triển thuộc châu Á, Mỹ La Tinh và châu Phi Tỷ lệ dân thành thị trên toàn thế giới tăng liên tục từ 30,0% năm 1950 lên 36,6% năm 1970, 46,7% năm 2000 và 56,2% năm
2020 (The World’s Cities in 2020 United Nations)
ĐTH vừa là điều kiện, là phương tiện, vừa là mục tiêu của phát triển kinh tế -
xã hội (KT – XH) ĐTH là quá trình chuyển từ hoạt động nông nghiệp phân tán sang hoạt động phi nông nghiệp tập trung trên địa bàn xác định Đây là hiện tượng KT –
XH phức tạp, diễn ra trên một không gian rộng lớn và khoảng thời gian lâu dài ĐTH thực chất là sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế và cơ cấu xã hội
Nước ta, từ 1986 thực hiện đường lối đổi mới toàn diện nền KT – XH, với chính sách mở cửa, thu hút đầu tư nước ngoài, đẩy mạnh CNH, hiện đại hóa (HĐH) đất nước ĐTH phát triển song song với quá trình CNH Các đô thị lớn được hình thành và phát triển, trở thành những trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội quan trọng của đất nước và là những hạt nhân tạo vùng kinh tế Tỉ lệ dân đô thị tăng nhanh
từ 24,2% năm 2000 lên 30,4% năm 2010 và đạt 36,8% năm 2020 Số lượng đô thị tăng nhanh, từ 649 đô thị các loại năm 2000 lên 862 đô thị năm 2020, trong đó có 2
đô thị đặc biệt và 22 đô thị loại I, đóng góp 70% GDP cả nước [132] Cùng với việc tăng nhanh số đô thị và tỷ lệ dân số đô thị trong tổng số dân, diện tích đô thị cũng được mở rộng nhanh chóng; cơ cấu lao động đang làm việc và cơ cấu kinh tế cũng thay đổi mạnh mẽ Tỷ lệ lao động đang làm việc trong 2 nhóm ngành phi nông nghiệp tăng lên rõ rệt, từ 34,9% năm 2000, lên 50,5% năm 2010 và đạt 66,9% năm 2020 Cơ cấu GDP cả nước của 2 nhóm ngành phi nông nghiệp cũng chuyển dịch nhanh chóng, năm 2000 là 75,5%, năm 2010: 81,6% và đạt 85,1% năm 2020 [132]
Trước năm 1997, Đà Nẵng là thành phố (TP) trực thuộc tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng, với không gian nhỏ hẹp, cơ sở hạ tầng (CSHT) đô thị chưa phát triển, khả năng thu hút đầu tư kém, thiếu động lực kinh tế ĐTH của TP diễn ra nhanh chóng từ năm
2003, khi được công nhận là đô thị loại I, trực thuộc trung ương đến nay Tỷ lệ dân thành thị cao, từ 79,1% năm 2003 lên 86,9% năm 2010 và đạt 87,3% năm 2020, đứng đầu trong 63 tỉnh thành của cả nước Không gian đô thị đã mở rộng gấp gần 4 lần,
Trang 19các khu dân cư được quy hoạch khá bài bản, các khu phố cũ được cải tạo nâng cấp Kinh tế đô thị ngày càng phát triển, quy mô GRDP năm 2020 hơn 103,0 nghìn tỷ đồng, đứng thứ 11/63 tỉnh thành; cơ cấu GRDP với thế mạnh là DV - CN (87,6%)
ĐTH ở TP Đà Nẵng đã trải qua hơn 20 năm, có những đặc trưng riêng của một
đô thị có 3 mặt giáp biển, gắn chặt với tự nhiên, mang dấu ấn của con người miền Trung Xứ Quảng, dám nghĩ, dám làm, dễ dàng thích ứng với cái mới, bắc cầu vượt sông, vươn mình ra biển lớn
Nghị quyết số 43 NQ/TW về xây dựng và phát triển TP Đà Nẵng đến năm
2030, tầm nhìn đến năm 2045 của Bộ Chính trị ban hành ngày 24/1/2019 nêu rõ mục tiêu xây dựng TP Đà Nẵng trở thành đô thị lớn, thông minh, sáng tạo, bản sắc, giữ vai trò động lực trong phát triển kinh tế của khu vực miền Trung – Tây Nguyên, là một trong những trung tâm KT – XH lớn của cả nước và Đông Nam Á
Đề tài “Đô thị hóa và tác động của đô thị hóa đến phát triển KT – XH ở thành phố Đà Nẵng” nhằm làm rõ đặc điểm ĐTH ở TP Đà Nẵng trong giai đoạn
2003 – 2020; tác động của ĐTH đến phát triển KT – XH của TP; những giải pháp đặt
ra để thực hiện mục tiêu xây dựng TP Đà Nẵng mà Bộ Chính trị và chính quyền TP đặt ra
2 MỤC TIÊU VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
2.1 Mục tiêu
Trên cơ sở hệ thống lý luận về ĐTH và tác động của ĐTH đến phát triển KT – XH đề tài có mục tiêu là nghiên cứu ĐTH và tác động của ĐTH đến KT – XH của TP Đà Nẵng; từ đó đề xuất các giải pháp cho ĐTH và tác động của ĐTH đến
phát triển KT - XH của TP Đà Nẵng đến năm 2030
2.2 Nhiệm vụ
- Tổng quan cơ sở lý luận về ĐTH và tác động của ĐTH đến phát triển KT –
XH để vận dụng vào nghiên cứu ở TP Đà Nẵng
- Đánh giá các các nhân tố ảnh hưởng đến ĐTH và phân tích thực trạng ĐTH ở
Trang 203.1 Giới hạn về nội dung
- Tập trung vào nghiên cứu thực trạng ĐTH ở TP Đà Nẵng theo các khía cạnh: chức năng đô thị; dân số đô thị; kinh tế đô thị; CSHT đô thị; sự mở rộng không gian
du lịch), kết cấu hạ tầng giao thông
+ Về xã hội: tác động của ĐTH đến lao động - việc làm, tăng trưởng GRDP/người, đời sống văn hóa của người dân trên địa bàn
3.2 Giới hạn về không gian
- Đề tài nghiên cứu quá trình ĐTH trên lãnh thổ hành chính của TP Đà Nẵng, chủ yếu tập trung vào 6 quận nội thành, gồm 2 quận trung tâm (Hải Châu, Thanh Khê), được coi là lõi của đô thị; quận Liên Chiểu hướng đô thị mở rộng về phía Bắc
và Tây Bắc; các quận Cẩm Lệ, Sơn Trà, Ngũ Hành Sơn hướng đô thị mở rộng về phía Đông Nam và Tây Nam TP Đối với huyện Hòa Vang, đề tài tập trung nghiên cứu ĐTH ở một số xã (Hòa Bắc, Hòa Liên, Hòa Sơn, Hòa Nhơn, Hòa Châu, Hòa Phước), đây là khu vực tiếp nối, mở rộng của vùng nội thành Riêng tại quần đảo Hoàng Sa không có dữ liệu nên đề tài không đề cập đến vấn đề ĐTH ở đây
- Ngoài ra, đề tài cũng đặt TP Đà Nẵng trong vùng kinh tế trọng điểm miền Trung (VKTTĐMT) và cả khu vực miền Trung – Tây Nguyên để phân tích
3.3 Giới hạn về thời gian
- Đề tài nghiên cứu ĐTH ở TP Đà Nẵng giai đoạn từ 2003 – 2020 Mốc 2003 đánh dấu Đà Nẵng được công nhận là TP loại I, trực thuộc trung ương
- Các dữ liệu về ĐTH và tác động của ĐTH đến phát triển KT – XH ở TP Đà Nẵng chủ yếu tập trung trong giai đoạn 2003 – 2020 và dự báo đến năm 2030
4 QUAN ĐIỂM VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
4.1 Quan điểm nghiên cứu
4.1.1 Quan điểm hệ thống
ĐTH là một hiện tượng KT – XH đa dạng và phức tạp, phát triển trong mối quan hệ qua lại, nhiều chiều với các hiện tượng khác trong hệ thống KT – XH Vận dụng quan điểm hệ thống trong nghiên cứu ĐTH ở TP Đà Nẵng, đề tài đặt nó trong
hệ thống KT – XH của TP và trong hệ thống KT – XH ở cấp cao hơn, đó là
Trang 21VKTTĐMT để phân tích những ảnh hưởng của hệ thống tự nhiên, dân cư, kinh tế,
xã hội của địa phương đối với ĐTH; đồng thời phân tích những tác động của ĐTH đến hệ thống KT – XH của TP; xem xét sự phát triển của đô thị Đà Nẵng, đặc biệt là
vị thế, chức năng có ảnh hưởng đến VKTTĐMT và khu vực Tây Nguyên ở các mức
độ khác nhau
4.1.2 Quan điểm lãnh thổ
Nghiên cứu ĐTH theo quan điểm lãnh thổ là đặc thù trong nghiên cứu Địa lý
KT – XH ĐTH là hiện tượng KT – XH phức tạp, nó diễn ra trên một không gian xác định và có sự khác biệt theo lãnh thổ Bởi vì mỗi lãnh thổ có những điều kiện ảnh hưởng và tác động riêng đến quá trình ĐTH Vận dụng quan điểm lãnh thổ trong nghiên cứu để phân tích, làm rõ tính phân hóa không gian của ĐTH, nêu bật được những đặc điểm đặc thù riêng của ĐTH ở TP Đà Nẵng so với các đô thị khác và các vùng lãnh thổ khác
4.1.3 Quan điểm tổng hợp
Quan điểm tổng hợp thực chất là việc vận dụng quan điểm biện chứng trong địa lí ĐTH là một quá trình phức tạp, đan xen nhiều nhân tố, nhiều lĩnh vực, có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Vận dụng quan điểm tổng hợp cho phép xem xét quá trình ĐTH ở TP Đà Nẵng thời gian qua diễn ra nhanh, mạnh mẽ do nhiều yếu tố tự nhiên, dân cư, kinh tế, văn hóa, xã hội tác động, đồng thời ĐTH cũng tác động và làm biến đổi KT – XH Vận dụng quan điểm này còn cho phép xác định các chỉ tiêu của ĐTH
và tác động của nó đến sự phát triển KT – XH của TP Đà Nẵng
4.1.4 Quan điểm lịch sử - viễn cảnh
Quan điểm lịch sử - viễn cảnh trong nghiên cứu ĐTH, chính là thấy được ĐTH
ở TP Đà Nẵng là một quá trình vận động và phát triển trong không gian và thời gian ĐTH giai đoạn 2003 – 2020 chính là sự kế thừa kết quả ĐTH của giai đoạn trước, đồng thời là cơ sở cho định hướng phát triển ĐTH ở TP Đà Nẵng trong tương lai
4.1.5 Quan điểm phát triển bền vững
Đây là cách tiếp cận chính xuyên suốt quá trình nghiên cứu luận án ĐTH là một hiện tượng KT – XH và là một quá trình tất yếu trong phát triển, tuy nhiên sự phát triển của ĐTH phải dựa trên những yếu tố và điều kiện phù hợp mới có các tác động tích cực, lâu dài đối với KT – XH, môi trường đối với mỗi lãnh thổ, quốc gia
và địa phương Nếu ĐTH phát triển không phù hợp thì tác động ngược, tiêu cực đối với các yếu tố, nhất là môi trường Vận dụng quan điểm phát triển bền vững người nghiên cứu cần xem xét phát triển ĐTH bền vững ở TP Đà Nẵng cần đảm bảo cân
Trang 22bằng giữa KT – XH và môi trường Hướng đến mục tiêu chung phát triển xã hội bền vững, chất lượng cuộc sống của người dân đô thị cao cả về vật chất, tinh thần và môi trường sống
4.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
4.2.1 Phương pháp thu thập và xử lý tài liệu
Là phương pháp cần thiết cho việc tiếp cận, thu thập các tài liệu thứ cấp, sơ cấp
từ nhiều nguồn khác nhau
- Các tài liệu thứ cấp được thu thập từ các cơ quan phát hành, nhà xuất bản, trên cổng thông tin điện tử, cụ thể là: Tổng cục Thống kê, Niên giám thống kê của TP Đà Nẵng, các báo cáo hàng năm, các đề án quy hoạch thành phố và các sở như: Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Kiến trúc, Sở Công nghiệp, Sở Du lịch, Sở Giao thông,…
- Các tài liệu sơ cấp được thu thập thông qua: (1) quan sát, ghi chép ngoài thực địa; (2) phỏng vấn, tham vấn ý kiến của các hộ dân tại các quận, phường, xã ở TP Đà Nẵng của tác giả
- Xử lý tư liệu thu thập được, tiến hành lựa chọn, phân loại, sắp xếp, tổng hợp theo những nội dung nghiên cứu
4.2.2 Phương pháp phân tích, so sánh, tổng hợp
Trên cơ sở các tài liệu đã thu thập, tác giả tiến hành phân tích, so sánh quá trình ĐTH của TP Đà Nẵng và tác động của ĐTH đến KT - XH theo thời gian và không gian đã xác định
Thực hiện phương pháp so sánh, đối chứng giữa các giai đoạn, các thời kì của quá trình ĐTH để đánh giá thực trạng ĐTH ở TP Đà Nẵng và tác động của ĐTH đối với phát triển KT – XH của TP trong giai đoạn 2003 – 2020
4.2.3 Phương pháp khảo sát và điều tra xã hội học
Kết quả nghiên cứu của đề tài không chỉ dựa vào nguồn tài liệu thứ cấp, mà còn
sử dụng và xử lý các kết quả điều tra thu thập trên thực địa Những kết quả điều tra giúp tác giả phân tích cụ thể hơn và sâu hơn tác động của ĐTH đến các khía cạnh của
KT – XH trong các khu vực dân cư của TP
Việc xây dựng nội dung, lựa chọn đối tượng, phương pháp và địa bàn điều tra được tác giả thực hiện như sau:
a Xác định nội dung điều tra
- Mục đích điều tra:
+ Thu thập các thông tin về nhận thức, thái độ của người dân đối với chủ trương, chính sách thực hiện ĐTH của TP
Trang 23+ Làm rõ những tác động tích cực và tiêu cực của ĐTH đến việc làm, đời sống của dân cư ở các khu đô thị cũ được chỉnh trang và các khu đô thị mới tái định cư
- Đối tượng điều tra: các hộ gia đình trong các khu đô thị cũ thực hiện chỉnh trang và các hộ gia đình thuộc các khu tái định cư (đô thị mới)
- Địa bàn điều tra các hộ ở các quận Hải Châu, Thanh Khê, Cẩm Lệ, Ngũ Hành Sơn, Liên Chiểu
- Thời gian thực hiện: điều tra 2 đợt (đợt 1: tháng 7, 8 năm 2018; đợt 2: tháng 6,7 năm 2019)
b Xây dựng phiếu điều tra: 2 phiếu điều tra cho 2 khu vực (xem phụ lục 1), với 200 mẫu (100 hộ tại khu đô thị cũ thực hiện chỉnh trang chủ yếu ở quận Hải Châu, Thanh Khê; 100 hộ tại những khu tái định cư (đô thị mới), chủ yếu ở các quận Cẩm
lệ, Ngũ Hành Sơn, Liên Chiểu
c Xử lý kết quả điều tra: Những thông tin thu được, tác giả xử lý bằng phần mềm thống kê SPSS (phụ lục 2) để có những kết quá chính xác và tin cậy
4.2.4 Phương pháp bản đồ và hệ thống thông tin địa lý (GIS)
- Các số liệu sơ cấp và thứ cấp được xử lý trên các phần mềm Excel, SPSS để đưa ra những kết quả nghiên cứu sơ bộ
- Từ những kết quả sơ bộ, tác giả sử dụng phần mềm Mapinfo thành lập cơ sở
dữ liệu, xây dựng các các bản đồ, sơ đồ, biểu đồ thể hiện kết quả nghiên cứu một cách
cụ thể, chính xác và khoa học
4.2.5 Phương pháp tham vấn chuyên gia
Trong quá trình nghiên cứu, tác giả đã trao đổi và tham vấn các ý kiến của các nhà khoa học thuộc lĩnh vực đô thị, lĩnh vực KT – XH và các nhà quản lý đại diện cho các sở, ban ngành như Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Kiến trúc và Ban dự án quy hoạch đô thị Dựa trên các ý kiến đóng góp của các chuyên gia, những người đã và đang trực tiếp quản lý hay thực hiện nhiều đề tài, dự án về đô thị, quy hoạch đô thị
và con người trong đô thị, tác giả giải quyết các nội dung nghiên cứu; đồng thời xác định được hướng đi và phương pháp nghiên cứu
5 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA LUẬN ÁN
- Ý nghĩa khoa học: Luận án góp phần làm sáng tỏ rõ thêm những vấn đề lý
luận và thực tiễn về ĐTH và tác động của ĐTH đến phát triển KT – XH, lựa chọn các tiêu chí đánh giá và phương pháp nghiên cứu ĐTH phù hợp để vận dụng cho TP Đà Nẵng
- Ý nghĩa thực tiễn:
Trang 24+ Luận án làm rõ những thuận lợi và khó khăn của các nhân tố ảnh hưởng đến ĐTH ở TP Đà Nẵng, phân tích thực trạng ĐTH ở TP Đà Nẵng trong giai đoạn 2003 – 2020, đánh giá được những tác động của ĐTH đến phát triển KT – XH của TP Đà Nẵng và đề xuất được các giải pháp có cơ sở khoa học cho ĐTH, tác động tích cực của ĐTH đến phát triển KT – XH ở TP Đà Nẵng trong tương lai
+ Từ những kết quả trên đây, đề tài có thể làm tài liệu tham khảo về thực tiễn ĐTH của TP Đà Nẵng giai đoạn 2003 – 2020 cho các cơ quan chức năng của TP trong quy hoạch và phát triển đô thị ở giai đoạn tiếp theo
6 CẤU TRÚC CỦA LUẬN ÁN
Ngoài phần mở đầu và kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung chính của luận án được trình bày trong 4 chương:
Chương 1: Cơ sở khoa học về ĐTH và tác động của ĐTH đến phát triển KT –
XH
Chương 2 Thực trạng ĐTH ở TP Đà Nẵng
Chương 3 Tác động của ĐTH đến phát triển KT – XH ở TP Đà Nẵng Chương 4 Giải pháp hiệu quả cho ĐTH và phát triển kinh tế - xã hội ở TP Đà Nẵng
Trang 25CHƯƠNG 1: CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ ĐÔ THỊ HÓA VÀ TÁC ĐỘNG CỦA
ĐÔ THỊ HÓA ĐẾN KINH TẾ - XÃ HỘI
1.1 TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
1.1.1 Những nghiên cứu về đô thị hóa
1.1.1.1 Trên thế giới
- Về khái niệm và đặc điểm của đô thị hóa
Trong lịch sử phát triển của xã hội loài người, ĐTH diễn ra từ rất sớm, những
đô thị đầu tiên xuất hiện cách đây 5000 năm, nhưng nghiên cứu về ĐTH bài bản và
có cơ sở khoa học thì phải đến cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX Cerda (Tây Ban Nha)
[69] là người đưa ra khái niệm đầu tiên về ĐTH trong cuốn “Lý luận chung về đô thị hóa” vào năm 1867 khi ông nghiên cứu để mở rộng thành phố Barcelona Theo quan
điểm của ông, ĐTH là một hiện tượng phức tạp có tính lịch sử, đa diện, nó không chỉ
là sự mở rộng đô thị, tăng dân số đô thị mà còn liên quan đến sự thay đổi về kinh tế,
về xã hội và môi trường; phát triển mạnh của các ngành phi nông nghiệp như công nghiệp, thủ công nghiệp, dịch vụ và sự phân công lao động, việc làm và nơi ở,… Trên cơ sở đó, Cerda đã tổng kết lý thuyết chung về đô thị gồm 5 lĩnh vực: cơ sở công nghệ, hành chính, chính trị, luật pháp và kinh tế Vì thế mà theo ông cần phải xây dựng khoa học về đô thị
Vào thập niên giữa của thế kỷ XX, những nghiên cứu về ĐTH phát triển mạnh, dưới nhiều góc độ khác nhau như đô thị học, nhân khẩu học, kinh tế học đô thị, địa
lý KT – XH,…với nhiều khái niệm khác nhau về ĐTH Các khái niệm ĐTH thay đổi tùy thuộc vào đặc điểm nhân khẩu học, trình độ phát triển KT – XH và chiến lược của từng quốc gia Nhiều nghiên cứu đề cập đến ĐTH ở khía cạnh dễ nhận biết nhất, chính là sự tăng dân số đô thị trên tổng số dân của một quốc gia, một khu vực, một châu lục; là hiện tượng thu hút dân cư từ nơi khác nhập cư vào đô thị làm cho dân số tăng nhanh và mở rộng về không gian đô thị [69,108] Tuy nhiên, về sau này những nghiên cứu lại chứng minh sự phát triển của lực lượng sản xuất là động lực chính của ĐTH; đô thị là trung tâm phát triển kinh tế ở mỗi khu vực, mỗi quốc gia Michael
Spence và cộng sự đã cho rằng: ĐTH là “động lực quan trọng nhất” để phát triển
kinh tế đô thị, thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế, làm thay đổi về cơ cấu lao động, tạo thu nhập cao cho người dân đô thị, điều này đúng với quá trình ĐTH mạnh mẽ của các nước đang phát triển vào nửa sau của thế kỉ XX [1]
Trang 26Ủy ban nghiên cứu khoa học xã hội thế giới (SSRC) từ những năm 60 của thế
kỷ XX đã tổng quan những nghiên cứu về đô thị và ĐTH Ngoài việc đưa ra những khái niệm về ĐTH, SSRC đã đưa ra nhận định về đặc điểm của ĐTH, đó là một quá trình phức tạp, đan xen nhiều vấn đề KT – XH – Môi trường và không gian, ĐTH thể hiện rõ tính lịch sử, nó gắn liền với quá trình CNH và thể hiện tính toàn cầu Năm
1985, Harold Carter cho xuất bản cuốn “Nghiên cứu địa lý đô thị”, cùng với các tác
giả Anh đề cập đến nhiều vấn đề, nhiều đặc điểm đa dạng, phức tạp, nhiều xu hướng mới về ĐTH trong các giai đoạn lịch sử và địa lí khác nhau như: quá độ đô thị, ĐTH đảo ngược của Brian.T Berry năm 1976 [96], ĐTH vùng ven của Alan Rabinowitz [95], các thành phố trên thế giới thứ 3 của David Drakakis năm 2000, tăng trưởng đô thị của Michael Spence [1] và các kiểu thay đổi không gian đô thị trong ĐTH của Pierre Laborde năm 2002 [46]
- Các nhân tố ảnh hưởng đến ĐTH
Song song với những nghiên cứu về khái niệm và đặc điểm của ĐTH, có nhiều nghiên cứu đề cập đến các nhân tố ảnh hưởng đến ĐTH, đặc biệt trong nghiên cứu về việc xây dựng các mô hình TP, các nhà nghiên cứu chú trọng nhất là quỹ đất để xây
dựng mô hình các TP Điển hình như “mô hình thành phố” của Hoyt (năm 1939), mô hình “các đường tròn đồng tâm” (năm 1925) của Ernest Burgess, đều chú trọng đến yếu tố địa tô Lý thuyết “Vị trí trung tâm” (Central Place Theory) của nhà địa lý
người Đức - Walter Christaller (năm 1933) [100], đề cập đến các mối quan hệ mật thiết giữa các TP và khu vực bao quanh: vị trí và các điều kiện xung quanh Đại hội Địa lý quốc tế lần thứ XXIII tổ chức tại Matxcova (năm 1976), đã thảo luận và đưa
ra các kết quả nghiên cứu mới thuộc các trường phái địa lý khác nhau về ĐTH Một trong những điểm mới đó là ĐTH được nghiên cứu dưới góc độ địa lý: ĐTH được hình thành và phát triển dưới tác động của các điều kiện tự nhiên (tài nguyên đất), điều kiện KT – XH (cấu trúc của hệ thống dân cư, sự phát triển của nền kinh tế, đặc biệt là CNH, tính liên tục của nông thôn và thành thị), ảnh hưởng của thể chế chính trị tới sự phát triển các đô thị Trên cơ sở những lí luận mới, một số nghiên cứu đã phân tích những điều kiện để thay đổi về không gian, thay đổi cơ cấu kinh tế, sự phát triển cảnh quan đô thị Minh chứng cụ thể ở những vùng đô thị mới của Hoa Kỳ, Canada, Anh và một số nước ở châu Phi, châu Á (trong đó có Việt Nam) [92] Tuy nhiên, điều kiện cụ thể của mỗi quốc gia không giống nhau, nên ĐTH ở các quốc gia cũng có những đặc trưng riêng về mức độ, tiến trình và quy mô
Trang 27Hiện nay, một số lý thuyết hiện đại hơn về ĐTH được đề cập và đang tiếp tục được nghiên cứu, điển hình là: ĐTH ngoại vi, ĐTH quá tải, ĐTH dựa vào nguồn vốn đầu tư bên ngoài, mô hình phát triển các TP tiền công nghiệp và quy luật phát triển
của các TP từ nhỏ đến lớn đã được Michael Pacione đề cập, phân tích trong “Urban Geography– a global perspective” [105], Paul L.Knox và Linda McCarthy trong
“Urbanization”, cũng đã phân tích sâu hơn những nhân tố ảnh hưởng và áp dụng
chúng vào thực tiễn khi nghiên cứu ĐTH ở nhiều nước trên thế giới, trong đó chủ yếu
là Hoa Kỳ và một số nước Tây Âu [107]
- Về tiêu chí đánh giá ĐTH
ĐTH là một diễn tiến phức tạp và đa diện về các mặt địa lý, lịch sử, dân cư, KT – XH, văn hóa,… vì vậy tùy thuộc điều kiện và hoàn cảnh nghiên cứu mà các tác giả
đã lựa chọn những tiêu chí định tính, định lượng để đánh giá, đo lường tốc độ và trình
độ ĐTH của mỗi quốc gia, mỗi vùng lãnh thổ
Liên hợp quốc đã sử dụng tiêu chí tỉ lệ dân số đô thị là số dân đô thị so với tổng dân số để đánh giá trình độ ĐTH và tiêu chí sự thay đổi trung bình năm của tỉ lệ dân
số đô thị để đánh giá tốc độ ĐTH [109] Ở Ấn Độ, N.G.Fian sử dụng 2 tiêu chí dân
số và không gian lãnh thổ để đánh giá ĐTH [48]; Pranati Datta chỉ sử dụng tiêu chí dân số; trong khi đó, ở Phi-lip-pin, Fu – Chen Lo và Yeu – Man Yeung xác định 3 chỉ tiêu để đánh giá mức độ ĐTH vùng Metro Manila và gắn với chỉ tiêu về dân số học [104]
Hiện nay, nhiều tác giả đã xây dựng bộ tiêu chí tổng hợp (gồm nhiều tiêu chí với các chỉ tiêu) để đánh giá ĐTH như dân số, KT – XH, lao động, CSHT và môi trường Cụ thể như Tổ chức UN – Habitat đưa ra 5 tiêu chí với 23 chỉ tiêu [110], Li – Yin Shen đưa ra 4 tiêu chí với 127 chỉ tiêu [103], Wang Yeu đưa ra 3 tiêu chí với
22 chỉ tiêu [111], Vichit Lorchirachoonkul đưa ra 9 tiêu chí với 489 chỉ tiêu Nhiều tác giả còn tính cả chỉ số tổng hợp để đánh giá tổng quát quá trình ĐTH, điều này thể hiện được tính phức tạp, đa diện, đa tiêu chí của ĐTH Những tiêu chí trên cũng được tác giả tham khảo để xác định cho đề tài
1.1.1.2 Ở Việt Nam
- Về khái niệm và đặc điểm của ĐTH
Ở nước ta, những nghiên cứu về ĐTH cũng đã được thực hiện vào những thập niên 80, 90 của thế kỉ XX Tác giả Đàm Trung Phường là một trong những người đi
đầu và đặt nền móng cho nghiên cứu về đô thị và ĐTH ở Việt Nam Cuốn “Đô thị Việt Nam” tập 1, 2 của ông (1995) [59] đã đề cập khá toàn diện về đô thị và ĐTH ở
Trang 28Việt Nam Trong tập 1, tác giả đã đi sâu vào một số vấn đề lý luận về ĐTH ở Việt Nam, đưa ra khái niệm tương đối toàn diện về ĐTH Tác giả cho rằng ĐTH là một quá trình diễn thế về KT – XH, văn hóa, không gian gắn với những tiến bộ về khoa học kỹ thuật (KHKT) ĐTH là quá trình chuyển đổi về cơ cấu lao động, cơ cấu kinh
tế, lối sống,…Ngoài khái niệm ĐTH, tác giả cũng phân tích rõ các đặc điểm chung của ĐTH và vận dụng vào phân tích những đặc điểm cụ thể của ĐTH ở Việt Nam Cùng hướng nghiên cứu cơ sở lý luận về ĐTH, còn có các tác giả Mạc Đường
trong cuốn “Dân tộc học - Đô thị và vấn đề đô thị hóa” năm 2002 [28], tác giả Trương Quang Thao trong cuốn “Đô thị học nhập môn” và “Đô thị học - những khái niệm
mở đầu” năm 2003 [69] Nghiên cứu về “Lịch sử phát triển đô thị” có tác giả Đặng Thái Hoàng, Nguyễn Quốc Thông Nghiên cứu về “Quản lý đô thị” có Nguyễn Ngọc
Châu, Võ Kim Cương, Phạm Kim Giao [7,17,29] Các tác giả, đã đưa ra những khái niệm về đô thị và ĐTH trên cơ sở tổng quan từ các nhà nghiên cứu trên thế giới như Cerda, A Gutnov, I Lejav và chú trọng phân tích, làm rõ các đặc điểm chức năng của
đô thị, diễn biến ĐTH và sự phát triển mạnh của cuộc cách mạng KHKT và CNH đến ĐTH Những lý thuyết đô thị tiền công nghiệp, đô thị công nghiệp, đô thị hậu công
nghiệp đã được đề cập đến bởi các tác giả Nguyễn Thế Bá trong “Quy hoạch xây dựng đô thị” năm 1982 [2], Ngô Huy Quỳnh trong “Quy hoạch cải tạo, xây dựng và phát triển đô thị”năm 1997 [61]
- Về các nhân tố ảnh hưởng đến ĐTH
Cuốn “Đô thị Việt Nam” tập 1 của tác giả Đàm Trung Phường đã đề cập và
phân tích rõ các nhóm yếu tố tác động đến ĐTH và quá trình ĐTH như nhóm yếu tố
tự nhiên và tài nguyên thiên thiên, nhóm yếu tố KT – XH, lịch sử và cả thể chế chính
sách Trong các giáo trình về “Đô thị hóa” và “Quy hoạch phát triển đô thị” của các
tác giả Nguyễn Thế Bá, Vũ Thị Bình và các cộng sự khác đều đề cập đến các nhân tố ảnh hưởng tới ĐTH Hai tác giả Đỗ Thị Minh Đức và Nguyễn Viết Thịnh cho rằng các luồng di cư từ nông thôn ra thành phố gắn với quá trình CNH là nguyên nhân của ĐTH Ngoài ra, trong nhiều công trình nghiên cứu về ĐTH ở một lãnh thổ cụ thể, các tác giả đều lựa chọn phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình ĐTH Nghiên cứu
của Hoàng Phúc Lâm (2002) [47] về “Tác động của những biến đổi kinh tế - xã hội đến sự phát triển đô thị ở thị xã Lạng Sơn”, nhấn mạnh đến nhóm nhân tố KT – XH của địa phương này Các luận án tiến sĩ Địa lý học như: “Phân tích quá trình đô thị hóa ở Hải phòng” của Vũ Thị Chuyên (2010) [11]; “Nghiên cứu quá trình đô thị hóa
và ảnh hưởng của nó đến sự phát triển kinh tế - xã hội thành phố Cần Thơ” của tác
Trang 29giả Phạm Đỗ Văn Trung (2014) [78]; Nghiên cứu “Đô thị hóa và sử dụng đất đô thị
ở tỉnh Bắc Ninh trong giai đoạn 2005 – 2015” [94] của tác giả Ngô Thị Hải Yến đều
đề cập các nhóm nhân tố: vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên, nhóm KT – XH, thể chế chính sách ảnh hưởng đến ĐTH ở địa bàn nghiên cứu
đô thị hóa”, đã phân tích các khía cạnh về biến đổi dân số cơ học, mật độ dân số liên
quan đến chuyển đổi hoạt động kinh tế, chuyển đổi sử dụng lao động và sử dụng đất
ở vùng ngoại thành Hà Nội từ 1980 – 1989 [25] Những nghiên cứu của các tác giả
Vũ Thị Chuyên (năm 2010), Phạm Đỗ Văn Trung (năm 2014), Ngô Thị Hải Yến
(năm 2016), Nguyễn Thị Hoài Phương (năm 2020) [58], đặc biệt là nghiên cứu “Vận dụng phương pháp phân tích đa tiêu chí đánh giá mức độ đô thị hóa nhằm góp phần xây dựng quan điểm phát triển đô thị ở Việt Nam” của Nguyễn Hữu Đoàn [22] Các
nghiên cứu của các tác giả đều vận dụng bộ tiêu chí dựa trên 5 lĩnh vực: chức năng
đô thị, dân số, lao động, CSHT, kiến trúc cảnh quan đô thị để xây dựng hệ thống tiêu chí đánh giá ĐTH ở các địa phương Đây cũng là những căn cứ giúp tác giả lựa chọn
và xác định tiêu chí đánh giá cho luận án của mình
Tháng 11/ 2011, “Đánh giá Đô thị hóa ở Việt Nam, Báo cáo hỗ trợ kỹ thuật”
của Ngân hàng thế giới do ông Dean Cira phụ trách với sự tham gia của nhóm cán bộ chủ chốt, bao gồm: Arish Dastur, Henry Jewell, Austin Kilroy, Nancy Lozano, Phan Thị Phương Huyền và Hyoung Gun Wang Báo cáo được xây dựng trên những nghiên cứu chuyên sâu để đánh giá phân tích toàn diện quá trình ĐTH ở Việt Nam trong 2 thập niên gần đây, theo 5 khía cạnh chuyển đổi của hệ thống đô thị và ĐTH, nêu rõ những mặt tích cực và cả những hạn chế, thách thức mà Việt Nam đang phải đối mặt trong quá trình ĐTH [52]
Trang 301.1.2 Những nghiên cứu về tác động của đô thị hóa đến kinh tế - xã hội
1.1.2.1 Trên thế giới
Theo David Drakakis - Smith, kinh tế, dân cư, xã hội, môi trường là các nhân
tố then chốt cần nghiên cứu trong quá trình ĐTH ở bất cứ quốc gia nào trên thế giới [98] ĐTH là quá trình phức tạp mang tính quy luật, nó chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố, nhưng cũng tác động đến nhiều mặt của đời sống và phát triển kinh tế Các tác động của ĐTH tập trung ở các khía cạnh chính là:
- Tác động tới dân cư: nghiên cứu tác động của ĐTH với vấn đề dân cư, David
E Bloom đã dự đoán xu hướng gia tăng dân số đô thị thế giới trong tương lai và đưa
ra một số mô hình ĐTH trên thế giới, ông cho rằng gia tăng dân số đô thị là nguyên nhân chính của những thay đổi về xã hội đô thị trong ĐTH ở mỗi quốc gia [99] Michael Timberlake [106] và Alan Rabinowitz [95], thì cho rằng CNH đã dẫn đến dòng di cư từ nông thôn ra TP, dòng di cư này đã làm thay đổi quy mô, cơ cấu dân số
và lối sống dân cư trong các đô thị James H Spener [102] cũng chỉ ra rằng ở các nước phát triển như Hoa Kỳ, khu vực Tây Âu, và một số nước châu Á (Nhật Bản, Singapore…), quá trình ĐTH đã ở giai đoạn ổn định nên hiện tượng dịch cư theo chiều sâu không còn, dân cư đã có xu hướng phân tán ra các đô thị nhỏ và các vùng ven đô
- Tác động tới kinh tế: Đây là vấn đề được nhiều tổ chức, cá nhân quan tâm
nghiên cứu như UNESCO, UNDP, WB, ADB với mục đích làm sáng tỏ những mối liên kết giữa toàn cầu hóa và ĐTH Một số nghiên cứu cho rằng các TP đang ngày càng trở thành động lực quan trọng của quá trình thay đổi cơ cấu kinh tế đô thị theo hướng tăng tỉ lệ lao động ở khu vực II và III, giảm mạnh lao động ở khu vực I, dẫn đến kinh tế các đô thị tăng trưởng nhanh, xuất hiện kinh tế đô thị và sự phát triển kinh
tế ở các quốc gia trên thế giới [106] Ở Đông Nam Á, các đô thị phần lớn là các trung tâm công nghiệp, trung tâm kinh tế nên sự phát triển ĐTH thường song song với phát triển kinh tế
Tài liệu “Dân số, đô thị hóa và chất lượng cuộc sống” của Liên hiệp quốc tại
Hội nghị quốc tế về dân số và phát triển ở Nairobi (1994), đã đề cập đến những tác động tích cực của ĐTH đến sự tăng trưởng phát triển kinh tế đô thị, tác động tới cả khu vực nông thôn, từ đó góp phần làm thay đổi các vấn đề xã hội như thu nhập người dân, đời sống văn hóa xã hội, mức sinh tử và quy mô gia đình [110]
Michael Spence và cộng sự đã phân tích tác động của ĐTH làm đẩy nhanh tốc
độ tăng trưởng kinh tế, thay đổi về cơ cấu lao động và là động lực phát triển kinh tế
Trang 31[53] Tác giả Nhiêu Hội Lâm trong cuốn “Kinh tế học đô thị” [48], coi đô thị là con
đẻ của lực lượng sản xuất, là thể hữu cơ xã hội của kinh tế tập trung, phân tích và đưa
ra cơ chế phát triển của kinh tế đô thị Theo ông, cơ cấu ngành của kinh tế đô thị có mối quan hệ chặt chẽ với cơ cấu không gian đô thị Tác giả đã đưa ra những đặc điểm
để nhận dạng khu kinh tế đô thị với hệ thống đô thị
- Tác động tới các vấn đề xã hội: tác giả David Drakakis trong “Third World Cities” [98], đề cập tính hai mặt của ĐTH đến các vấn đề xã hội Các tác động tích
cực của ĐTH như tạo việc làm, tăng thu nhập, cải thiện đời sống, lối sống văn minh
đô thị Mặt trái của ĐTH ở những nước có ĐTH nhanh, đặc biệt là những nước thuộc
“thế giới thứ ba” cũng gay gắt, họ đang phải đối mặt với một loạt các vấn đề xã hội như dân cư đông đúc, thiếu nhà ở, thất nghiệp, thiếu nước sạch, ô nhiễm môi trường, chênh lệch giàu nghèo ngày càng lớn, tệ nạn xã hội ngày càng gia tăng Michael Pacione [105] cũng nhận định các siêu đô thị ở châu Phi, Mỹ La Tinh và châu Á tập trung nhiều lao động giản đơn, có thu nhập thấp nên dẫn đến một xã hội bất ổn, bạo lực gia tăng và nguy cơ xảy ra chiến tranh đô thị Còn Brian J.L Berry [96] cho rằng chiến lược phát triển kinh tế không kiểm soát, tốc độ tăng dân số nhanh hơn tốc độ tăng trưởng kinh tế, cơ sở hạ tầng chậm phát triển đã khiến sức chứa của nhiều đô thị quá tải Hiện tượng ĐTH đảo ngược, ĐTH giả tạo đã diễn ra ở nhiều nước châu Á, châu Phi và Mỹ La Tinh cũng khiến những tác động tiêu cực của ĐTH ở đây thêm sâu sắc
Sau những nghiên cứu về ĐTH, Kaplan, Wheeler, Holloway đã cho rằng song song với phát triển ĐTH cần phải tái cấu trúc đô thị để khắc phục những tồn tại và chữa những căn bệnh do ĐTH mang lại [100] Để ĐTH một cách bền vững, trong
“Urbanization – an introduction to urban geography”, Paul L Knox và Linda Mc
Carthy [107] nhấn mạnh ĐTH là động lực phát triển kinh tế ở mỗi quốc gia và chỉ ra những mặt trái, những thách thức của ĐTH ở mỗi nhóm nước khác nhau, đặc biệt là
ở các nước thuộc thế giới thứ ba Một số tác giả chú trọng đến những giải pháp để giảm tiêu cực trong ĐTH, như xây dựng một hệ sinh thái đô thị toàn cầu dựa trên những đặc điểm lịch sử, thể chế chính trị, chức năng, trình độ phát triển kinh tế của
các đô thị ở mỗi quốc gia [102] Một số công trình nghiên cứu khác như “Urban Geography” [100] đã cho rằng cần tạo nên sự cân bằng, đồng đều giữa tỉ lệ tăng dân
số đô thị với tốc độ tăng trưởng kinh tế và mức độ hiện đại hóa CSHT giao thông, còn những nước có dân số đang chuyển đổi mạnh mẽ từ nông thôn thành đô thị cần
Trang 32có những sách lược khác với những nước mới bước vào quá trình ĐTH hoặc ĐTH đã
đi vào giai đoạn ổn định
1.1.2.2 Ở Việt Nam
Có nhiều công trình nghiên cứu về tác động của ĐTH đến kinh tế xã hội cả về
lý luận và thực tiễn trên phạm vi cả nước, từng địa phương, nhất là ở các đô thị lớn của Việt Nam Các tác giả cũng nghiên cứu sâu ở nhiều góc độ, nhiều khía cạnh khác nhau
- Tác động tới dân cư – xã hội: trong cuốn “Phát triển bền vững đô thị” [79]
của tác giả Đào Hoàng Tuấn, đã coi sự biến đổi về dân cư – lao động là một thành phần của ĐTH và đã phân tích mối quan hệ giữa nông thôn và đô thị thông qua dòng
di cư tự phát từ các vùng nông thôn ra các đô thị lớn là Hà Nội, Hồ Chí Minh Cùng hướng này còn có Đỗ Thị Thanh Hoa [34], Phạm Thị Xuân Thọ [74] đều đề cập đến tác động của ĐTH đến việc di dân tự do từ nông thôn đến đô thị Hà Nội và TP Hồ Chí Minh Nhóm nghiên cứu của Ngân hàng Thế giới, thông qua nghiên cứu về ĐTH
ở Việt Nam cũng phân tích gia tăng dân số đô thị và di cư là một trong những thành phần chính của các đô thị ở Việt Nam hiện nay [13] Dưới góc độ Địa lý học hai tác giả Lê Thông [70] và Nguyễn Minh Tuệ [80] cho rằng ĐTH tác động mạnh đến sự phân bố dân cư và hình thái quần cư, đến cơ cấu nghề nghiệp – xã hội Tác giả Đỗ Thị Minh Đức [25], trong nghiên cứu về ĐTH, đã nêu ra thị trường lao động ở ngay
trong lòng đô thị hiện tại đang “cung” lớn hơn “cầu” và việc cơ cấu lại thành phần
kinh tế lại có xu hướng đẩy lao động ra hơn là thu hút lao động vào thì sức ép của vùng nông thôn lên đô thị là rất lớn Tác động của ĐTH đến cơ cấu lao động nghề nghiệp ở vùng nông thôn và vùng đang trở thành đô thị cũng được tác giả Phan Thanh
Khôi phân tích trong “Một số vấn đề nảy sinh trong tiến trình CNH, HĐH vùng đồng bằng sông Hồng” [44], chính sách phát triển kinh tế nhiều thành phần, sự chấp nhận
hoạt động của thị trường lao động đã khiến sự di chuyển lao động từ khu vực nông thôn ra thành thị theo hình thức mùa vụ đã trở nên dễ dàng và phổ biến hơn Bên cạnh
đó, trong “Dân số học đô thị”, các quá trình dân số trong đô thị, cấu trúc dân cư đô
thị và nhân khẩu, gia đình trong đô thị được tác giả Trần Hùng đã đề cập đến [38]
Trong cuốn “Xã hội học đô thị” [31] của Đỗ Hậu (chủ biên) và của Trịnh Duy Luân
[50], tác giả cũng đi sâu đề cấp đến các vấn đề về xã hội như lao động, việc làm, văn hóa, tệ nạn của đô thị Tác giả Phan Thị Mai Hương [43], còn đề cập đến tác động của ĐTH đến những biến đổi tâm lý của dân cư vùng ven đô trong quá trình ĐTH ở
TP Hồ Chí Minh
Trang 33Ngoài ra, tác động của ĐTH đến các vấn đề khác như chính sách phát triển
đô thị, quản lý đô thị đã được nghiên cứu bởi các tác giả Nguyễn Ngọc Châu [7], Phạm Ngọc Côn [12], Võ Kim Cương [18], Nguyễn Đình Hương [42], Phạm Sĩ Liêm [49] nghiên cứu dưới các góc độ khác nhau
- Tác động của ĐTH đến phát triển kinh tế: lĩnh vực này có nhiều nhà nghiên
cứu dưới nhiều khía cạnh như Nguyễn Sĩ Quế, Đặng Thái Hoàng [35] và Nguyễn Quốc Thông [75], trong nghiên cứu về lịch sử đô thị đã sắp xếp, phân tích và bình luận tác động của ĐTH đến kinh tế theo từng giai đoạn lịch sử [35,75] Các tác giả Trần Văn Tấn [68], Nguyễn Đình Hương [42], Phạm Ngọc Côn [12] cũng đã đưa ra những chứng minh phát triển đô thị cần lấy tăng trưởng kinh tế làm trọng tâm trên cơ
sở vận dụng lý thuyết các cực tăng trưởng và thực hiện ĐTH cũng cần chú ý đến lý thuyết phát triển đô thị dựa vào kinh tế xuất khẩu và lý thuyết phát triển kinh tế lấy con người làm trung tâm Ở một khía cạnh khác dưới góc độ địa lý KT – XH, nhiều tác giả đã xác lập mối quan hệ chặt chẽ nông thôn – đô thị và xu hướng phát triển của
đô thị như Đỗ Thị Minh Đức [25], Hoàng Phúc Lâm [47] Các nghiên cứu khác về
góc độ này có thể đề cập thêm là “Nghiên cứu đô thị hóa và tác động của nó đến sự phát triển kinh tế - xã hội thành phố Cần Thơ” của Phạm Đỗ Văn Trung [78], “Đô thị hóa và sử dụng đất đô thị của tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 2005 – 2015” của Ngô Thị Hải Yến [94]; “Nghiên cứu đô thị hóa và ảnh hưởng của nó đến chuyển dịch cơ cấu
sử dụng đất của tỉnh Bình Dương” của Nguyễn Thị Hoài Phương [58] Báo cáo tổng hợp “Đánh giá Đô thị hóa ở Việt Nam” của Ngân hàng thế giới [52] đã tập trung phân
tích tác động của ĐTH đến 5 chuyển đổi của đô thị: chuyển đổi về quản lý hành chính, chuyển đổi về không gian, chuyển đổi về kinh tế, chuyển đổi về dân số, chuyển đổi
về phúc lợi trong quá trình ĐTH ở Việt Nam
1.1.3 Những nghiên cứu về đô thị hóa ở Đà Nẵng
Thực tế các công trình nghiên cứu về ĐTH và tác động của ĐTH đến KT – XH
ở TP Đà Nẵng không nhiều Một số nghiên cứu sau đây của các tác giả đề cập đến những khía cạnh liên quan đến ĐTH và tác động của ĐTH tại TP Đà Nẵng
- Một số tài liệu liên quan đến ĐTH ở TP Đà Nẵng:
Các tác giả Dương Trung Quốc, Trần Hữu Đính, Nguyễn Văn Nhật, Nguyễn Tố
Uyên, Ngô Văn Minh (2001) [60] khi nghiên cứu về “Lịch sử thành phố Đà Nẵng”,
đã đề cập đến địa danh và sự hình thành của đô thị Đà Nẵng trong các giai đoạn lịch
sử Tài liệu “Đà Nẵng thành tựu và triển vọng - Đà Nẵng Achievements and Prospects”, của Nguyễn Đức Hùng (2015) [39], đã tổng kết những thành tựu của quá
Trang 34trình ĐTH và phát triển KT – XH, đồng thời cũng đề cập đến những hạn chế trong quá trình ĐTH của TP Đà Nẵng trong giai đoạn 1997 – 2015
- Một số công trình nghiên cứu liên quan đến ĐTH và tác động của nó đến các khía cạnh KT – XH của TP Đà Nẵng
Đề tài khoa học “Xây dựng lối sống đô thị trong quá trình đô thị hóa ở thành phố Đà Nẵng Thực trạng và giải pháp”, của các tác giả Phạm Hảo, Nguyễn Hồng
Sơn, Lê Văn Định (2006) [32], Học viện Chính trị Quốc Gia, TP Hồ Chí Minh Nội dung chủ yếu của đề tài tập trung đánh giá lại thực trạng quá trình ĐTH và thực trạng lối sống đô thị của TP Đà Nẵng, rút ra những bài học kinh nghiệm và đề ra những giải pháp xây dựng lối sống đô thị văn minh, hiện đại, tạo điều kiện để TP Đà Nẵng phát triển bền vững trong giai đoạn hiện nay
Luận án tiến sĩ với đề tài “Việc làm cho nông dân bị thu hồi đất trong quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa ở thành phố Đà Nẵng”, của tác giả Nguyễn Dũng Anh
(2014) [21], nội dung tập trung phân tích thực trạng việc làm cho nông dân bị thu hồi đất trong quá trình CNH, ĐTH ở TP Đà Nẵng giai đoạn 2001 – 2014, nêu quan điểm
và đề xuất các giải pháp tạo việc làm cho nông dân ở các khu vực bị thu hồi đất
Luận án tiến sĩ với đề tài “Ảnh hưởng của đầu tư trực tiếp nước ngoài tới đô thị hóa theo hướng bền vững ở Đà Nẵng” của tác giả Nguyễn Thị Thoa (2014) [73], nội
dung đề tài tập trung phân tích vai trò, thực trạng và các tác động của việc thu hút đầu
tư trực tiếp của nước ngoài tới ĐTH, hướng tới xây dựng đô thị Đà Nẵng bền vững,
đề xuất các giải pháp thu hút đầu tư và sử dụng nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tới ĐTH ở TP Đà Nẵng hiệu quả nhất
Luận án tiến sĩ với đề tài “Tác động của người nhập cư đến phát triển kinh tế -
xã hội ở thành phố Đà Nẵng”, của tác giả Nguyễn Nữ Đoàn Vy (2018) [93], nội dung
nghiên cứu tập trung vào phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến nhập cư vào Đà Nẵng, thực trạng của việc nhập cư và đánh giá tác động của người nhập cư đến phát triển
KT – XH của TP Đà Nẵng
- Những bài viết về ĐTH ở TP Đà Nẵng đăng trên các tạp chí, các trang web
Có nhiều bài viết của các nhà khoa học nghiên cứu về ĐTH, các kiến trúc sư, các nhà nghiên cứu kinh tế đăng trên các tạp chí khoa học, các báo viết và báo điện
tử, đánh giá về quá trình ĐTH của TP Đà Nẵng, phân tích những thành tựu và hạn chế của quá trình ĐTH và nêu định hướng, giải pháp cho ĐTH ở TP Đà Nẵng Tác
giả Ngô Viết Nam Sơn có các bài viết: “Tầm nhìn trăm năm trong công tác quy hoạch các đô thị biển Đà Nẵng” đăng trong Tạp chí Kiến trúc Việt Nam, số 7/2009 [63],
Trang 35“Bản sắc Quy hoạch và Kiến trúc của Đà Nẵng và Huế: Thử thách và Cơ hội, Tạp chí Kiến trúc, số 183 (tháng 7/2010) [64], “Không gian đô thị Đà Nẵng trong thế kỷ XXI”, Tạp chí Kiến trúc, số 214, năm 2013 [65] Tác giả Lê Hồng Kế “Thành phố Đà Nẵng - Một đô thị phát triển bền vững và hội nhập”, bài viết trong Hội thảo khoa học
Quy hoạch phát triển đô thị Đà Nẵng - Hội nhập và phát triển TP Đà Nẵng, ngày 6/8/2010 [45]; Tác giả Xuân Ngọ có bài “Nhìn lại 10 năm Đà Nẵng triển khai thực hiện đề án thành phố môi trường” đăng trong Tạp chí môi trường, số 7/2019 [54] Kiến trúc sư Tô Văn Hùng, “Đà Nẵng – Hướng đến phát triển đô thị đẳng cấp khu vực” [40]
Bên cạnh các công trình nghiên cứu, những bài viết trên các tạp chí, TP Đà Nẵng còn có những dự án Quốc tế về đầu tư cho ĐTH và phát triển thành phố như:
Dự án thứ nhất: Da Nang Priority Infrastructure Investment Project (Dự án đầu
tư cơ sở hạ tầng ưu tiên Đà Nẵng) của ngành Phát triển đô thị năm 2008 - Phòng Phát triển Bền vững – Khu vực Đông Á và Thái Bình Dương [57]
Dự án thứ hai: Danang Sustainable City Development, Dự án Phát triển Bền
vững Thành phố Đà Nẵng của Ngân hàng Thế giới (ngày phê duyệt của Ngân hàng Thế giới: 26/4/2013, ngày kết thúc sửa đổi: 30/6/2019) [53]
Đề án mới nhất: “Xây dựng thành phố thông minh tại thành phố Đà Nẵng giai
đoạn 2018 - 2025, định hướng đến năm 2030” (Quyết định số 6439/QĐ-UBND ngày 29/12/2018 của UBND TP Đà Nẵng) [87]
Kết luận: Qua tiếp cận và lược khảo những công trình nghiên cứu về ĐTH và
tác động của ĐTH đến KT – XH trên đây, tác giả rút ra một số nhận xét như sau:
Thứ nhất, các kết quả các công trình đã đạt được: Các nghiên cứu đã làm rõ
và đưa ra những lý luận cơ bản về ĐTH, đặc điểm, diễn tiến, các nhân tố ảnh hưởng đến ĐTH, tiêu chí đánh giá ĐTH và những tác động trở lại của ĐTH đến các lĩnh vực
KT – XH và môi trường dưới nhiều góc độ khác nhau; về thực tiễn, các công trình nghiên cứu cũng đề cập đến ĐTH ở nhiều khía cạnh, nhiều lãnh thổ, khu vực khác nhau Mỗi khu vực, lãnh thổ sử dụng các tiêu chí đánh giá ĐTH phù hợp với điều kiện đặc thù cho kết quả đánh giá thuyết phục Nhìn chung các công trình nghiên cứu
có giá trị khoa học và thực tiễn, là nguồn tư liệu quý giá để nghiên cứu sinh tham khảo
Thứ hai, những “khoảng trống” trong các công trình nghiên cứu: Những cơ
sở lý luận về ĐTH đã được nghiên cứu kỹ dưới nhiều góc độ như nhân khẩu học, xã hội học, kinh tế chính trị học, nhưng chưa có các công trình nghiên cứu đầy đủ, toàn
Trang 36diện dưới góc độ địa lý KT – XH Về cơ sở thực tiễn cũng chưa có công trình nghiên cứu nào nghiên cứu thực trạng ĐTH và tác động của ĐTH đến KT – XH ở TP Đà Nẵng dưới góc độ Địa lý học một cách toàn diện đối với TP có vị thế là động lực của VKTTĐMT, là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội của khu vực miền Trung – Tây Nguyên
Trên cơ sở kế thừa về lý luận và tiếp thu các kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học đi trước, thấy được những “khoảng trống” của lý luận và thực tiễn về ĐTH; tác động của ĐTH đến KT – XH ở đô thị trong giai đoạn hiện tại, tác giả luận án nghiên cứu ĐTH và tác động của nó đến phát triển KT – XH ở TP Đà Nẵng dưới góc
độ địa lý KT – XH
● Nghiên cứu những nhân tố ảnh hưởng đến ĐTH
● Thực trạng ĐTH từ 2003 – 2020 của một TP biển, trung tâm kinh tế - văn hóa – xã hội – khoa học kỹ thuật
● Tác động của ĐTH đến KT – XH của TP
1.2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐÔ THỊ HÓA VÀ TÁC ĐỘNG CỦA ĐÔ THỊ HÓA ĐẾN PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI
1.2.1 Về đô thị hóa
1.2.1.1 Khái niệm về đô thị và đô thị hóa
a Khái niệm đô thị
Quá trình hình thành và phát triển đô thị trải qua các thời kỳ lịch sử khác nhau Mỗi một thời kỳ tạo nên các đô thị có đặc trưng riêng do được hình thành và phát triển trong mối quan hệ tổng hòa của các nhân tố tự nhiên và KT – XH Đô thị là đối tượng nghiên cứu của nhiều chuyên ngành, vì vậy có rất nhiều khái niệm đô thị được công bố ở nhiều lĩnh vực
- Thuật ngữ đô thị trong tiếng La tinh là “urbs”, tiếng Anh “urban” Trên thế
giới, các nhà nghiên cứu đô thị học ở Mỹ bao gồm Kaplan, Wheeler và Holloway đã
đưa ra định nghĩa về đô thị: “Đô thị là những nơi có dân cư sinh sống đông đúc với mật độ cao, người dân sống ở đó thường làm các ngành nghề không liên quan đến lĩnh vực nông nghiệp và đó thường là những trung tâm chính trị, kinh tế và xã hội
Đô thị không chỉ là nơi tập trung đông dân cư mà ở đó còn diễn ra các hoạt động kinh tế phi nông nghiệp và đây là những trung tâm về kinh tế, chính trị và xã hội” Theo Richtofen (1968) “Đô thị là một nhóm tập hợp những người có cuộc sống không dựa vào nông nghiệp và trước hết dựa vào công nghiệp” Theo Yu.G Xauskin: Đô
Trang 37thị là một điểm quần cư có mật độ nhân khẩu cao và dân cư ở đây không có hoạt động nông nghiệp trực tiếp [100]
Ở Việt Nam, theo tác giả Đàm Trung Phường “Đô thị là một đơn vị kinh tế xã hội phản ánh sự vận động của bản thân lực lượng sản xuất và tổ chức xã hội, khi bột phát, khi phát triển bình thường, khi suy thoái làm cho cấu trúc đô thị luôn luôn chuyển hóa Sự chuyển hóa này mang tính chất vừa sinh học, vừa cơ học, diễn ra từ trong tâm đô thị ra ngoài và từ ngoài tác động vào tâm đô thị” [59]
Tác giả Phạm Ngọc Côn trong cuốn “Kinh tế học đô thị” [12] đã đưa ra khái
niệm đô thị theo hai khía cạnh:
+ Theo tính chất đô thị: đô thị phải có 3 điều kiện là tính tập trung với mật độ
cao, tính kinh tế và tính xã hội, từ đó tác giả nêu định nghĩa “Đô thị là một thực thể thống nhất hữu cơ của thực thể kinh tế phi nông nghiệp, thực thể xã hội và thực thể vật chất tập trung với mật độ cao tại một khu vực nhất định”
+ Theo điểm dân cư đô thị: “Đô thị là điểm dân cư tập trung với mật độ cao, chủ yếu là lao động phi nông nghiệp, là trung tâm tổng hợp hay chuyên ngành, có vai trò thúc đẩy phát triển KT – XH của cả nước hoặc một tỉnh, một huyện”
Tác giả Phạm Trọng Mạnh trong cuốn “Quản lý đô thị” [51] cho rằng “Đô thị
là những điểm dân cư tập trung, có vai trò thúc đẩy sự phát triển KT – XH của một vùng lãnh thổ, có cơ sở hạ tầng thích hợp và dân cư nội thị không dưới 4000 người (đối với miền núi là 2000 người) với tỷ lệ lao động phi nông nghiệp tối thiểu là 65,0%”
Khái niệm về đô thị được đưa ra trong thông tư số 34/2009/TT - BXD và quy định chi tiết một số nội dung của Nghị định 42/2009/NĐ - CP của Chính phủ Việt
Nam “Đô thị là khu vực tập trung dân cư sinh sống có mật độ cao và chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực kinh tế phi nông nghiệp, là trung tâm chính trị, hành chính, kinh
tế, văn hóa hoặc chuyên ngành có vai trò thúc đẩy sự phát triển KT – XH của quốc gia hoặc một vùng lãnh thổ, một địa phương, bao gồm nội thành, ngoại thành của thành phố, nội thị, ngoại thị của thị xã, thị trấn” [6]
- Cấu trúc không gian đô thị chính là hình thức tồn tại về không gian KT –
XH Nó không chỉ bao gồm mối quan hệ không gian giữa các ngành công nghiệp (CN), dịch vụ (DV), thương mại với nông nghiệp (NN) vùng ngoại ô mà còn mối quan hệ với không gian các ngành sản xuất phi vật chất như văn hóa, giáo dục, y tế, các dịch vụ hành chính và cả sự kết hợp giữa các khu nhà ở, các cơ sở CN, thương mại, CSHT với đất đai và với dân cư sống ở đô thị đó Cấu trúc không gian đô thị bao
Trang 38gồm: phần cấu trúc cứng (mạng lưới hạ tầng kỹ thuật cứng chủ đạo và các bộ phận của thiên nhiên cần được bảo tồn); phần cấu trúc mềm (mạng lưới nhà ở, hạ tầng xã hội cơ động cùng các bộ phận của thiên nhiên được phép tác động cải tạo, tôn tạo); phần cấu trúc điều hòa (các dạng tổ chức hoạt động phát triển của cộng đồng gắn kết hai phần cấu trúc cứng và cấu trúc mềm trong từng thời gian và không gian cụ thể, gồm cả chính sách quản lý và tiến bộ KHKT) [59] Đô thị có cấu trúc không gian phù hợp hay không phù hợp sẽ ảnh hưởng mạnh đến hiệu quả KT – XH và môi trường của lãnh thổ
- Phân khu chức năng đô thị: các khu chức năng đô thị được phân chia dựa trên những yêu cầu tập trung hóa chức năng KT – XH của đô thị Các khu chức năng
đô thị nếu được phân chia phù hợp và có sự kết hợp với nhau sẽ thúc đẩy sự phát triển
KT – XH của đô thị Những điều kiện ảnh hưởng đến quá trình phân chia các khu vực chức năng đô thị là quy luật phân bố sức sản xuất, khối lượng và chất lượng tài nguyên, sự mở rộng của thị trường, số lượng và chất lượng nguồn lao động, CSHT, tính chất đô thị,…Các đô thị thường phân thành các khu chức năng như: khu chức năng CN, khu chức năng thương mại – DV, khu chức năng ngoại ô
Từ các khái niệm đô thị nêu trên, có thể thấy sự thống nhất chung về dấu hiệu nhận biết đô thị, đó là mật độ dân cư cao, chủ yếu là hoạt động phi nông nghiệp và
có vai trò thúc đẩy phát triển KT – XH Tác giả luận án đồng tình với các dấu hiệu nhận biết và kế thừa, phát triển trong nghiên cứu ĐTH ở chương 2
Hiện nay, đô thị phát triển mạnh, ngày càng hiện đại và đã có thêm nhiều khái niệm ở các khía cạnh khác nhau của đô thị như:
Chùm đô thị, là một tập hợp đô thị gần nhau, ảnh hưởng lẫn nhau bởi quá trình ĐTH và có quan hệ gắn bó với nhau về CSHT kết nối với nhau Chùm đô thị gồm một hoặc vài TP lớn làm cực và nhiều TP nhỏ làm vệ tinh;
Đô thị vệ tinh, là đô thị độc lập về hành chính, có hệ thống quản lý riêng, nhưng vẫn nằm trong cơ cấu và phát triển theo định hướng chiến lược của thành phố lớn [130];
Đô thị sinh thái, là đô thị xây dựng dựa trên nền tảng tự nhiên, phát triển hài hòa với tự nhiên như một thành phần hữu cơ của tổng thể tự nhiên, đạt được sự cân bằng động trong hệ sinh thái đô thị [79];
Đô thị xanh (Green Cities) là tổng thể quy hoạch xây dựng đô thị trên 3 yếu
tố: MT xanh – KT xanh – XH xanh, cư dân sống trong đô thị phải cảm thấy hài lòng, được thụ hưởng các điều kiện về hạ tầng kĩ thuật và hạ tầng xã hội, có công viên, có
Trang 39chỗ cho trẻ nhỏ vui chơi và học tập;
Đô thị bền vững (Sustainable city), là đô thị đạt được sự thống nhất, đảm bảo
sự cân bằng cả ba mặt KT – XH - Môi trường, nhằm nâng cao chất lượng sống của thế hệ hiện tại mà không làm ảnh hưởng tới các nhu cầu sống, phát triển của thế hệ tương lai Một đô thị bền vững phải đảm bảo được 4 tiêu chí: cuộc sống của cư dân tốt hơn, nền tài chính lành mạnh, quản lý tốt, khả năng cạnh tranh tốt [79];
Đô thị thông minh (Smart City), là mô hình đô thị ứng dụng CNTT, trí tuệ
nhân tạo để quản lý, nâng cao tiêu chuẩn cuộc sống đô thị, cải thiện chất lượng phục
vụ của chính quyền đô thị và sử dụng hiệu quả các nguồn năng lượng, tài nguyên thiên nhiên Cũng có thể hiểu, TP thông minh là TP có nền kinh tế thông minh, đi lại thông minh, cư dân thông minh, môi trường thông minh, quản lý đô thị thông minh
và cuộc sống thông minh [87]
b Khái niệm đô thị hóa
Thuật ngữ ĐTH bắt nguồn từ cổ tự la tinh “urbanus”, nghĩa là thuộc tính đô thị, sang tiếng Anh là “Urbanization” Hiện nay, có nhiều khái niệm về ĐTH, theo
từng lĩnh vực nghiên cứu khác nhau như: Địa lý học, Xã hội học, Nhân khẩu học, Kinh tế học, Đô thị học, Kiến trúc học,…
- Dưới góc độ đô thị học, các nhà nghiên cứu đô thị cũng đưa ra các khái niệm
Theo trường phái của của Liên Xô (cũ) như E.B.Alaev cho rằng: “ĐTH là một quá trình KT - XH gia tăng mạnh mẽ trong thời đại KHKT Biểu hiện của ĐTH là sự tăng nhanh về số lượng và quy mô các điểm dân cư đô thị hay sự tập trung về dân cư trong các TP ĐTH là sự chuyển biến sâu sắc trong cấu trúc kinh tế và trong các hoạt động đời sống xã hội ở các đô thị” [25] Các chuyên gia ở Trung tâm định cư Liên hợp quốc cho rằng “ĐTH là quá trình mà nhờ nó, dân số các quốc gia chuyển dịch từ các nghề nghiệp nông thôn sang các nghề nghiệp đô thị, từ các điểm dân cư nông thôn sang các điểm dân cư đô thị ĐTH được hiểu là sự biểu hiện của các mô hình phát triển các điểm dân cư” [56] Các nhà nghiên cứu đô thị Mỹ Paul L Knox và L
McCarthy lại cho rằng: ĐTH là một quá trình liên quan đến những người sống và làm việc ở các TP lớn và các vùng siêu đô thị Quá trình ĐTH diễn ra với sự biến đổi cùng lúc một loạt các yếu tố có quan hệ mật thiết với nhau như: kinh tế, chính trị, văn hóa, môi trường, dân cư, nhân khẩu, xã hội, công nghệ, kết quả của những biến đổi này đã tác động đến hệ thống đô thị và các vấn đề khác như sử dụng đất, môi trường xây dựng, sinh thái xã hội và kiến trúc trong đô thị [107] Ở Việt Nam, GS Đàm Trung Phường, nhà nghiên cứu về đô thị đã đưa ra khái niệm tương đối đầy đủ và khái quát
Trang 40về ĐTH: “ĐTH là một quá trình diễn thế về KT - XH – Văn hóa – Không gian gắn liền với những tiến bộ về KHKT, trong đó diễn ra sự phát triển nghề nghiệp mới, sự chuyển dịch cơ cấu lao động, sự phát triển đời sống văn hóa, sự chuyển đổi lối sống
và sự mở rộng phát triển không gian thành hệ thống đô thị, song song với tổ chức bộ máy hành chính, quân sự” [59]
- Dưới góc độ kinh tế học đô thị: ĐTH được coi là quá trình chuyển đổi về sự phân bố lực lượng sản xuất trong nền kinh tế, sự thay đổi trong sắp xếp dân cư ở những vùng ngoại ô, nông thôn thành vùng đô thị Cách hiểu này cho thấy, ĐTH còn
là sự phát triển các đô thị theo chiều sâu và là sản phẩm của xã hội CN, được đánh giá dựa trên sự thay đổi tỉ lệ lao động, tỉ trọng GRDP của ngành NN với các ngành
phi NN [12] Tác giả Nhiêu Hội Lâm đã đưa ra khái niệm “ĐTH là quá trình thay đổi tính chất trạng thái của đô thị, tăng vọt của số lượng đô thị và nâng cao chất lượng đô thị Nghĩa hẹp của ĐTH là một quá trình lịch sử, nói về số lượng, chủ yếu chỉ dân số phi NN tập trung với quy mô lớn tại đô thị và khu vực đô thị” [48]
- Dưới góc độ địa lý KT- XH: ĐTH là một quá trình chuyển từ hoạt động NN phân tán sang hoạt động phi NN tập trung trên địa bàn nhất định Đây là hiện tượng
KT – XH phức tạp, diễn ra trên một không gian rộng lớn và khoảng thời gian lâu dài
để chuyển biến các xã hội nông nghiệp – nông dân – nông thôn sang xã hội công nghiệp – thị dân – đô thị ĐTH thực chất là quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế và
cơ cấu xã hội với các biểu hiện sau:
+ Hình thành và mở rộng quy mô đô thị với CSHT kỹ thuật hiện đại, cùng với
đó dẫn đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ NN là chủ yếu sang CN và DV là chủ yếu
+ Tăng nhanh dân số đô thị trong tổng số dân, dẫn đến thay đổi cơ cấu giai cấp, phân tầng xã hội
+ Chuyển từ lối sống phân tán (mật độ dân số thấp) sang lối sống tập trung (mật độ dân cư cao)
+ Chuyển từ lối sống nông thôn sang lối sống đô thị, từ văn hóa làng xã sang văn hóa đô thị, từ văn minh NN sang văn minh đô thị
Bên cạnh khái niệm ĐTH, còn có khái niệm phi ĐTH diễn ra chủ yếu ở các
đô thị quy mô lớn của các nước phát triển, với hiện tượng giảm dân số đô thị; khái niệm đảo cực ĐTH, là hiện tượng dân cư tập trung ngày càng đông vào các đô thị nhỏ
và trung bình; hay khái niệm ĐTH khác biệt, là hiện tượng có nhiều dòng dịch cư vào
và đồng thời có nhiều dòng chuyển cư ra khỏi trung tâm đô thị
Từ những khái niệm về ĐTH nêu trên, tác giả nhận thấy ĐTH có tính chất