1. Trang chủ
  2. » Nông - Lâm - Ngư

Giáo trình Tổ chức học động vật (Nghề: Dịch vụ thú y - Cao đẳng) - Trường Cao đẳng Cộng đồng Đồng Tháp

85 25 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tổ chức học động vật
Trường học Trường Cao đẳng Cộng đồng Đồng Tháp
Chuyên ngành Dịch vụ Thú y
Thể loại Giáo trình
Năm xuất bản 2017
Thành phố Đồng Tháp
Định dạng
Số trang 85
Dung lượng 1,72 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • CHƯƠNG 1 (11)
    • 1. Định nghĩa (11)
    • 2. Cấu tạo chung của biểu mô (12)
    • 3. Nhiệm vụ của biểu mô (12)
    • 4. Phân loại biểu mô (12)
      • 4.1. Biểu mô phủ (12)
        • 4.1.1. Biểu mô phủ đơn (13)
        • 4.1.2. Biểu mô phủ kép (14)
        • 4.1.3. Đặc điểm chung của biểu mô phủ (15)
      • 4.2. Biểu mô tuyến (15)
        • 4.2.1. Phân loại (15)
        • 4.2.2. Cấu tạo (16)
        • 4.2.3. Hoạt động của biểu mô tuyến (18)
    • 5. Thực hành (19)
      • 5.1. Chuẩn bị dụng cụ và mẫu vật (19)
      • 5.2. Phương pháp tiến hành (0)
      • 5.3. Nội dung thực hành (19)
      • 5.4. Tổng kết nhận xét và đánh giá (0)
  • CHƯƠNG 2 (20)
    • 1. Mô liên kết (21)
      • 1.1. Định nghĩa (21)
      • 1.2. Phân loại (22)
        • 2.2.1. Mô liên kết chính thức (22)
        • 2.2.2. Mô sụn (26)
        • 2.2.3. Mô xương (27)
    • 2. Mô cơ (30)
      • 2.1. Định nghĩa (30)
      • 2.2. Phân loại (31)
        • 2.2.1. Cơ trơn (31)
        • 2.2.1. Cơ vân (32)
        • 2.2.3. Cơ tim (34)
    • 3. Mô thần kinh (35)
      • 3.1. Định nghĩa (35)
      • 3.2. Cấu tạo (36)
        • 3.2.1. Tế bào thần kinh ( nơron) (36)
        • 3.2.2. Tế bào thần kinh đệm (39)
    • 4. Thực hành (40)
      • 4.1. Phương pháp thực hiện tiêu bản mô cơ vân động vật (0)
        • 4.1.1. Chuẩn bị dụng cụ và mẫu vật (40)
        • 4.1.2. Phương pháp tiến hành (0)
        • 4.1.3. Nội dung thực hành (40)
        • 4.1.4. Tổng kết nhận xét và đánh giá (0)
      • 4.2. Phương pháp thực hiện tiêu bản mô sụn, mô cơ trơn động vật (0)
        • 4.2.1. Chuẩn bị dụng cụ và mẫu vật (41)
        • 4.2.2. Phương pháp tiến hành (0)
        • 4.2.3. Nội dung thực hành (41)
        • 4.2.4. Tổng kết nhận xét và đánh giá (0)
  • CHƯƠNG 3 (43)
    • 1. Hệ thống tuần hoàn (43)
      • 1.1. Mạch máu (0)
        • 1.1.1. Động mạch (44)
        • 1.1.2. Tĩnh mạch (44)
        • 1.1.3. Mao mạch (45)
      • 1.2. Tim (45)
        • 1.2.1. Màng lót cơ tim (46)
        • 1.2.2. Cơ tim (47)
        • 1.2.3. Màng ngoài tim (47)
        • 1.2.4. Van tim (47)
      • 1.3. Mạch bạch huyết (47)
        • 1.3.1. Mao mạch bạch huyết (47)
        • 1.3.2. Tĩnh mạch bạch huyết (47)
    • 2. Cơ quan tạo huyết (47)
      • 2.1. Nốt bạch huyết (hạch lympho) (48)
      • 2.2. Hạch bạch huyết (hạch lâm ba) (48)
      • 2.3. Lách (49)
      • 2.4. Tủy xương (50)
      • 2.5. Tuyến ức (0)
      • 2.6. Túi Fabricius (51)
    • 3. Thực hành (51)
      • 3.1. Chuẩn bị dụng cụ và mẫu vật (51)
      • 3.2. Phương pháp tiến hành (0)
      • 3.3. Nội dung thực hành (51)
      • 3.4. Tổng kết nhận xét và đánh giá (0)
  • CHƯƠNG 4 (53)
    • 1.2. Cấu tạo (53)
    • 2. Tuyến thượng thận (54)
      • 2.2. Cấu tạo (55)
      • 2.3. Chức năng (0)
    • 3. Tuyến giáp trạng (55)
      • 3.3. Chức năng (0)
    • 4. Tuyến phó giáp trạng (56)
      • 4.1. Cấu tạo (56)
      • 4.2. Chức năng (0)
    • 5. Tuyến tụy (56)
    • 6. Tuyến sinh dục (57)
  • CHƯƠNG 5 (58)
    • 2. Cấu tạo (52)
      • 2.1. Lỗ mũi (59)
      • 2.2. Xoang mũi (59)
      • 2.3. Thanh quản (60)
      • 2.4. Khí quản (60)
      • 2.5. Phế quản (61)
      • 2.6. Phổi (61)
        • 2.6.1. Sườn chống đỡ (62)
        • 2.6.2. Bộ phận dẫn khí (63)
        • 2.6.3. Cấu tạo hô hấp (63)
    • 3. Hoạt động sinh lý của hệ thống hô hấp (64)
      • 3.1. Cơ chế hô hấp (64)
      • 3.2. Phương thức hô hấp: Có ba phương thức hô hấp (0)
    • 4. Hệ thống hô hấp gia cầm (64)
  • CHƯƠNG 6 (10)
    • 2.1. Ống tiêu hóa (67)
      • 2.1.1. Xoang miệng (68)
      • 2.1.2. Hầu (68)
      • 2.1.3. Thực quản (68)
      • 2.1.4. Xoang bụng (69)
      • 2.1.5. Dạ dày: ở động vật có vú thì dạ dày chia làm hai loại (69)
      • 2.1.6. Ruột (70)
    • 2.2. Tuyến tiêu hóa (71)
      • 2.2.1. Tuyến nước bọt: Gồm 3 đôi (71)
      • 2.2.2. Tuyến gan (72)
      • 2.2.3. Tuyến tụy: Có hai chức năng nội tiết và ngoại tiết (72)
    • 3. Hoạt định sinh lý của tiêu hóa (73)
      • 4.1. Chuẩn bị dụng cụ và mẫu vật (73)
      • 4.2. Phương pháp tiến hành (0)
      • 4.3. Nội dung thực hành (73)
      • 4.4. Tổng kết nhận xét và đánh giá (0)
  • CHƯƠNG 7 (10)
    • 1. Hệ sinh dục (75)
      • 1.2.1. Hệ sinh dục thú đực (75)
      • 1.2.2. Hệ sinh dục thú cái (77)
      • 1.3. Chức năng (0)
    • 2. Hệ tiết niệu (80)
      • 1.2. Cấu tạo hệ tiết niệu (80)
        • 1.2.1. Thận (80)
        • 1.2.2. Đường dẫn tiểu (82)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (85)

Nội dung

Giáo trình Tổ chức học động vật này giúp sinh viên có kiến thức cơ bản về sự cấu tạo các mô trong cơ thể động vật, từ đó so sánh được sự khác biệt giữa cấu tạo mô bình thường với mô bị bệnh, liên quan đến các môn học chuyên ngành sau này. Mời các bạn cùng tham khảo!

Định nghĩa

Biểu mô là lớp phủ ở mặt ngoài của cơ thể (da) và là lớp lót ở mặt trong của các cơ quan nội tạng, như niêm mạc của ống tiêu hóa và đường hô hấp, cũng như thành phần của hệ bài tiết Bên cạnh đó, biểu mô còn là nơi tập hợp các tế bào để hình thành các tuyến nội tiết và ngoại tiết, gồm tuyến mồ hôi, tuyến sữa, tuyến tiêu hóa và tuyến giáp.

Biểu mô là nhóm mô gồm các tế bào xếp sát vào nhau, tạo thành một lớp màng bảo vệ Lớp màng này bao bọc bên ngoài cơ thể hoặc lót mặt trong của các ống, xoang cơ thể, và bao phủ ngoài các cơ quan Biểu mô cũng tham gia vào quá trình chế tiết ở một số tuyến và có vai trò bảo vệ, hấp thụ và bài tiết trong cơ thể.

Hình 1.1: Cấu tạo tế bào biểu mô ở da ếch

Cấu tạo chung của biểu mô

Biểu mô thường được gắn với mô xung quanh nó, thường là mô liên kết, bằng một màng đáy Giữa các tế bào của biểu mô có một khoảng gian bào hẹp khoảng 100–120 Å; bên trong khu vực này chứa một chất nền thuần nhất gồm mucopolysaccharide và ion Ca2+, được coi là yếu tố thiết yếu để duy trì sự liên kết giữa các tế bào biểu mô.

Bên dưới lớp biểu mô có sự hiện diện lớp màng đáy, màng đáy có cấu tạo bằng carbohydrat và chất dinh dưỡng có thể xuyên qua màng này

Màng đáy có chức năng chống đỡ và tính đàn hồi, giúp mao mạch chịu huyết áp trong lòng mạch Nó đóng vai trò như một lớp lọc quan trọng trong quá trình trao đổi chất giữa dịch mô ở khoảng gian bào và tế bào biểu mô, liên kết giữa mô liên kết và tế bào biểu mô để hỗ trợ trao đổi chất và duy trì sự cân bằng sinh học của biểu mô.

Bên dưới màng đáy biểu mô là mô liên kết mềm có nhiệm vụ cung cấp chất dinh dưỡng hay dưỡng khí cho tế bào biểu mô

Biểu mô hiện diện ở mặt khô và mặt ướt của cơ thể

+ Phần khô: lòng bàn tay, bàn chân biểu mô có nhiều lớp tế bào và lớp trên hóa sừng (keratin)

Phần ướt gồm một lớp tế bào và trên lớp tế bào có hiện diện thêm phần phụ như biểu mô khí quản có lông rung để lọc và tích bụi, biểu mô ruột non có lông vi nhung để hút dưỡng chất nuôi cơ thể; trung bình 1 tế bào trên 300 vi nhung.

Nhiệm vụ của biểu mô

Nhiệm vụ bảo vệ của cơ thể là ngăn ngừa và hạn chế tổn thương do các yếu tố ngoại cảnh đối với cơ thể hoặc bộ máy sinh học Khi tổn thương xảy ra, cơ thể sẽ kích hoạt các cơ chế tự bảo vệ và hồi phục để giảm thiểu thiệt hại và khôi phục chức năng Nhờ quá trình hàn gắn tự nhiên này, các mô sẽ phục hồi và cơ thể dần trở lại trạng thái cân bằng.

Nhiệm vụ hấp thu: biểu mô phủ ở các bộ máy, cơ quan có tác động hấp thụ một số chất như: biểu mô ruột, bàng quang, thận,

Nhiệm vụ chế tiết ở các tuyến nội tiết và ngoại tiết được đảm bảo bởi biểu mô, thành phần chủ yếu tạo nên các tuyến và là nơi tế bào biểu mô tiết ra các chất giúp cho quá trình sinh trưởng và sinh sản của cơ thể động vật diễn ra bình thường, không bị rối loạn hay đình trệ.

Phân loại biểu mô

Nếu dựa vào chức năng: phân ra biểu mô phủ và biểu mô tuyến

Nếu dựa vào cấu tạo: phân ra biểu mô đơn và biểu mô kép

Về hình thái tế bào biểu mô có rất nhiều dạng: hình trụ, hình hộp, hình dẹp thì chiếm đa số

Biểu mô biệt hóa là lớp tế bào phủ mặt ngoài cơ thể (da) hoặc lót mặt trong của các đường ống rỗng trong cơ thể, như thành xoang miệng, thành ống tiêu hóa (dạ dày, ruột), bàng quang và tử cung.

Chức năng: bao phủ, giác quan (võng mạc, lông rung ở tai), hấp thu (ruột, thận)

- Biểu mô phủ đơn lát:

Cấu tạo của lớp mô gồm một hàng tế bào hình lát, dẹt và xếp sát cạnh nhau như các viên gạch lát nền Đường giới hạn giữa các tế bào có đặc trưng hình răng cưa, tạo nên sự liên kết chặt chẽ giữa các tế bào với nhau Nhân tế bào tròn, nằm ở giữa tế bào và thường nổi lên trên mặt tế bào.

Biểu mô này thường gặp ở các xoang, lót trong lòng mạch máu, phế nang

Biểu mô dẹp, hơi ướt và nhẵn lót mặt ngoài của các phủ tạng và mặt trong của thành cơ thể, tạo thành lớp màng giúp các phủ tạng di chuyển dễ dàng và giảm ma sát giữa chúng với nhau cũng như với thành cơ thể khi cơ thể hoạt động.

Hình 1.2: Biểu mô phủ đơn lát

- Biểu mô phủ đơn hộp (khối đơn):

Tế bào vuông đơn tầng có hình khối vuông và nhân tròn nằm ở giữa tế bào; đây là một loại biểu mô duy nhất Chúng thường gặp ở ống dẫn của các tuyến ngoại tiết, ở ống thận (vi quản thận) và ở tiểu phế quản tận cùng, nơi chúng tham gia vào quá trình hấp thu và bài tiết, đồng thời tạo thành lớp niêm mạc bảo vệ và hỗ trợ vận chuyển chất qua lòng ống.

- Biểu mô phủ đơn trụ:

Cấu trúc tế bào hình khối trụ đứng dựng, xếp sát nhau và có ranh giới giữa các tế bào rõ ràng, cho thấy sự tổ chức chặt chẽ của lớp tế bào Nhân tế bào hình trứng tròn nằm ở phía đáy của tế bào.

Loại mô này thường trải qua sự biến đổi đáng chú ý: đỉnh tế bào hình thành vi nhung mao (microvilli) trên bề mặt niêm mạc, gặp ở lòng tiêu hóa từ dạ dày xuống ruột già và ở một số ống thận, nhằm tăng diện tích tiếp xúc và tối ưu hóa quá trình hấp thụ và trao đổi chất ở các cơ quan tiêu hóa và thận.

Hình 1.3: Biểu mô đơn trụ 4.1.2 Biểu mô phủ kép

Biểu mô phủ kép lát:

Biểu mô nhiều lớp có lớp trên cùng hình lát dẹp, càng xuống sâu thì tế bào có hình đa giác hoặc hình hộp và nhân tế bào nằm ở giữa tế bào Loại này gặp ở xoang miệng, thực quản và giác mạc; đôi khi tế bào trên cùng hóa sừng Biểu mô phủ kép trụ:

Có 2 lớp tế bào, những tế bào ở trên hình trụ, ở tầng sâu là những tế bào hình đa giác, hình hộp, hình thoi Nhân tế bào nằm ở phía đáy tế bào Loại này trong cơ thể rất ít gặp, gặp ở niệu đạo tiền liệt, kết mạc mắt động vật ăn thịt và ngựa Biểu mô phủ kép trụ giả:

Biểu mô này là biểu mô giả tầng có một lớp tế bào, mọi tế bào đều gắn trên màng đáy, nhưng nhân tế bào nằm ở các mức cao thấp khác nhau nên tạo cảm giác có nhiều hàng tế bào Loại biểu mô này gặp chủ yếu ở đường hô hấp và ở một số ống bài xuất của tuyến ngoại tiết.

Biểu mô phủ kép biến dị:

5 Đây là biểu mô lát kép đặc biệt,có lớp tế bào trên cùng rất to có thể dãn nở được và tế bào bên dưới hình đa giác Biểu mô này hiện diện ở những bộ phận có sự dãn nở bên trong như bàng quang, niệu đạo, niệu quản, khi cơ quan căng ra lớp tế bào trên đều bị dẹp lại

4.1.3 Đặc điểm chung của biểu mô phủ

Tế bào biểu mô phủ bao giờ cũng bao phủ phía ngoài các bộ phận, bộ máy để tiếp xúc với môi trường ngoài hoặc các cơ quan khác

Tế bào biệt hóa phân cực rỏ ràng, cực đáy thẩm thấu chất dinh dưỡng để nuôi tế bào, cực đỉnh biệt hóa để dịch tế bào không thấm ra ngoài

Tế bào nhanh chết nhưng sinh sản phục hồi nhanh do đó tổn thương được bồi đắp nhanh

Dinh dưỡng biểu mô là dinh dưỡng thẩm thấu qua màng đáy vì không có mạch máu đi vào

Chứa nhiều đầu tận cùng thần kinh cảm giác và vận động

Biểu mô phủ hình thành một số cấu tạo đặc thù: vi nhung mao, lông rung, tất cả do bào tương hoặc chất kẻ do tế bào tạo thành

Hình 1.4: Các loại biểu mô phủ 4.2 Biểu mô tuyến

Là tập hợp các tế bào có chức năng chế tiết và bài xuất, các tuyến như tuyến vú, tuyến mồ hôi và tuyến nước bọt thích nghi với việc sản xuất và bài tiết một chất dịch đặc trưng Chất dịch do các tuyến bài tiết có thể là mồ hôi, mang theo chất cặn bã thải ra ngoài, hoặc là dịch được rút từ máu để hình thành sữa ở tuyến vú.

Theo số tế bào tạo thành tuyến

Nếu một tế bào tạo thành tuyến gọi là tuyến đơn bào

Nếu nhiều tế bào tạo thành tuyến gọi là tuyến đa bào

Theo sự tiết dịch của tế bào

Tuyến ngoại tiết và tuyến nội tiết

Tuyến vừa nội tiết và ngoại tiết gọi là tuyến pha

Trong mô ruột, có một loại tế bào đơn bào tạo thành tuyến và đảm nhận đồng thời hai chức năng: chế tiết và bài xuất các sản phẩm bài tiết ra ngoài Điển hình cho nhóm tế bào này là tế bào hình đài sáng màu ở niêm mạc ruột, cho thấy rõ đặc điểm vừa tiết vừa bài xuất.

Trong mô này, hình dạng tế bào giống cái cốc phình giữa; khi tiết nhiều chất tiết, độ phình tăng lên và sau khi bài xuất xong nó co lại như một cái chai Nhân tế bào thường bị đẩy về phía đáy, bào tương chứa nhiều tiểu thể nhỏ nằm rải rác Tế bào hình đài nằm trong biểu mô phủ đơn trụ, có thể tồn tại riêng lẻ hoặc tụ lại thành từng đám.

Chu kỳ và thời gian bài tiết bắt đầu bằng quá trình tích trữ chất dịch ở không bào trong bào tương; khi các không bào tăng kích thước và vỡ ra, dịch tụ ở đầu tế bào và cuối cùng được giải phóng thành dịch nhờn, giúp biểu mô ẩm và trơn tru.

Thực hành

Phương pháp thực hiện tiêu bản biểu mô động vật

5.1 Chuẩn bị dụng cụ và mẫu vật Ếch, xanh mêthylen, lam, lamen,kính hiển vi, dao mổ

Giáo viên hướng dẫn cho sinh viên cách làm tiêu bản biểu mô da ếch tạm thời

Bước 1: Rửa ếch cho sạch

Bước 2: Nhỏ sẵn trên lam một giọt xanh mêthylen

Bước 3: Dùng dao cạo nhẹ lớp niêm mạc trên da của ếch để lấy tế bào biểu mô

Bước 4: Rồi giàn đều vào giọt phẩm nhuộm trên lam và đậy lamen lại Bước 5: Quan sát dưới kính hiển vi

Quan sát dưới kính hiển vi với vật kính 10X cho thấy tế bào có dạng gần tròn hoặc hình đa giác không đều, và đôi khi bị biến dạng trong quá trình chuẩn bị tiêu bản do màng tế bào tương đối mỏng Nhân tế bào nằm giữa tế bào và có màu vàng đậm hơn tế bào chất, giúp phân biệt cấu trúc tế bào khi phân tích hình thái dưới kính hiển vi.

Dưới vật kính 40X, nhân t ế bào đồng đều và không gấp nếp dễ quan sát

5.4 Tổng kết nhận xét và đánh giá

10 Đánh giá kết quả thực hành dựa vào việc kiểm tra lại kiến thức sinh viên ghi nhận trong buổi thực hành

Ghi chép đầy đủ, chính xác những thông tin cần thiết

Sinh viên tham gia đầy đủ

Tinh thần thái độ học tập nghiêm túc

Viết bài phúc trình ( vẽ hình và chú thích đầy đủ chi tiết một tế bào biểu mô da ếch)

1 Biểu mô là gì? Gồm mấy loại kể tên?

2 Hãy trình bày nhiệm vụ của biểu mô?

3 Thế nào là biểu mô phủ đơn lát, biểu mô phủ đơn trụ, biểu mô đơn hộp, chúng có ở các cơ quan nào kể ra?

4 Thế nào là biểu mô phủ kép lát, biểu mô phủ kép trụ, biểu mô phủ kép trụ giả, biểu mô phủ kép biếm dị, chúng có ở các cơ quan nào kể ra?

5 Thế nào là tuyến nội tiết,tuyến ngoại tiết? Cho ví dụ.

Mô liên kết

Mô liên kết có mặt hầu hết các cơ quan, bộ phận của cơ thể

Có tác dụng chống đỡ, bảo vệ, dinh dưỡng, tu sữa, phục hồi và có công năng vận chuyển vật chất cho cơ thể

Mô liên kết tập hợp các loại tế bào làm nhiệm vụ hỗ trợ cho các mô khác

Mô liên kết đóng vai trò bảo vệ và nâng đỡ cơ thể qua các cấu trúc như gân, dây chằng, sụn và xương, đồng thời ngăn chặn sự xâm nhập của vi khuẩn, độc tố và dị vật nhờ sự tham gia của các tế bào bạch cầu Quá trình tuần hoàn máu và bạch huyết vận chuyển dưỡng chất đến từng tế bào và mang chất thải ra ngoài Cấu tạo của mô liên kết gồm tế bào, chất gian bào và các sợi liên kết, tạo nền tảng cho chức năng và khả năng tái tạo của mô.

Khác với biểu mô, chất gian bào ở mô liên kết rất phong phú và đa dạng, tạo thành nền ngoại bào đặc trưng cho mô này Thông thường chất gian bào tồn tại ở hai thể: thể lỏng được gọi là dịch mô và phần đặc hơn gọi là chất căn bản Đặc điểm cấu tạo chung của mô liên kết nằm ở sự hiện diện của chất gian bào kết hợp với các thành phần cấu trúc khác, cho phép mô liên kết thực hiện chức năng nâng đỡ, bao bọc và nuôi dưỡng các cơ quan trong cơ thể.

Một tế bào gồm nhiều thành phần, nổi bật với chất căn bản và các sợi phong phú; vì quanh nó là chất căn bản đồng đều nên tế bào không có cực tế bào Mô liên kết có thể tồn tại ở nhiều trạng thái khác nhau, từ đó tạo nên tính đa dạng và khả năng thích ứng cao của cơ thể.

Dựa vào sự khác nhau chủ yếu của chất căn bản, người ta phân biệt mô liên kết ra 3 loại

Mô liên kết chính thức: chất cặn bã và đàn hồi

Mô sụn: chất căn bản có độ cứng vừa phải

Mô xương là một mô nền rắn chắc, đóng vai trò chủ đạo trong cấu trúc và nâng đỡ cơ thể Đặc biệt, máu thường được xếp vào mô liên kết vì chứa nhiều tế bào có nguồn gốc từ mô liên kết, tuy nhiên phần lỏng của máu khác với chất gian bào của mô liên kết.

2.2.1 Mô liên kết chính thức

Cấu tạo gồm: chất gian bào liên kết, phần tử sợi, những tế bào liên kết

Chất gian bào liên kết là một chất vô hình, không có cấu trúc hình thái, độ quánh thay đổi tùy nơi tùy lúc Đây là môi trường thuận lợi cho sự chuyển tế bào và lưu thông thể dịch, đồng thời cũng là nơi thuận tiện cho sự trao đổi chất giữa tế bào và môi trường vì các chất sẽ được khuếch tán.

Chất gian bào được cấu thành từ các thành phần mucopolysaccharide liên kết với protein để hình thành các phức hợp, trong đó mucopolysaccharide chủ yếu là axit hyaluronic kết hợp với glycoprotein và các protein tham gia vào quá trình hình thành sợi, mạng keo và protein huyết tương.

Ngoài ra còn có nước và các chất hòa tan trong đó để tạo thành dịch mô Chất gian bào liên kết được thành lập từ 2 nguồn:

Từ tế bào: mucopolysaccarid được tạo ra từ các tế bào sợi và dưỡng bào

Dịch mô, hay còn gọi là dịch gian bào, là phần lỏng của chất gian bào được sinh ra từ huyết tương trong máu Khi huyết tương thấm qua thành mao mạch và thoát ra khỏi lòng mạch, nó tích tụ giữa các tế bào để hình thành dịch mô, cung cấp dưỡng chất và hỗ trợ trao đổi chất cho tế bào Quá trình này phụ thuộc vào sự cân bằng giữa áp lực thủy tĩnh và áp lực thẩm thấu, và phần dịch mô sẽ được hệ lymphatic tái hấp thu hoặc hấp thu trở lại vào hệ tuần hoàn.

-Phần tử sợi: gồm 3 loại sợi: sợi tạo keo, sợi đàn hồi, sợi lưới

Sợi tạo keo có đặc tính mềm và bền, làm cho mô liên kết có tính dai bền Dưới kính hiển vi, khi quan sát ở trạng thái tươi, sợi tạo keo màu trắng; khi được nhuộm, chúng sẽ có màu đỏ, cho thấy sự hiện diện và vai trò của sợi trong cấu trúc của mô liên kết.

13 điện tử, sợi này tạo bởi những sợi rất nhỏ, có hình trụ, đường kính 80 – 300 A 0 , có vân sáng tối, về mặt hóa học đó là những phần tử collagen

Sợi đàn hồi là các sợi nhỏ có đường kính khoảng 1–1,5 µm, thường chạy thẳng hoặc phân nhánh thành lưới, có thể tập hợp thành bó hoặc thành lớp Khi quan sát ở trạng thái tươi, sợi đàn hồi có màu vàng nhạt; khi nhuộm, chúng bắt màu tím Sợi đàn hồi có tính đàn hồi và khả năng giãn cao do chứa elastin.

Dưới kính hiển vi điện tử, sợi đàn hồi cũng tạo những sợi tơ nhỏ nhưng không có vân

Sợi lưới là thành phần của mạng lưới mô liên kết, khi quan sát dưới kính hiển vi quang học nó tạo thành một lưới mịn với đường kính sợi khoảng 0,2–2 µm Những sợi lưới được cấu tạo từ các sợi tơ mềm và mang nhiều glycoprotein trên bề mặt, tương tự sợi keo nhưng có lượng glycoprotein cao hơn Sợi lưới thường gặp trong mô liên kết đặc biệt, ví dụ như trong hệ thống mạch máu và phổi, nơi lưới sợi này đóng vai trò hỗ trợ cấu trúc và liên kết tế bào.

-Những tế bào liên kết: gồm có nhiều loại tế bào ở các giai đoạn khác nhau và có nguồn gốc khác nhau với các nhiệm vụ khác nhau

Một loại do tế bào gian chất biến thành như: tế bào sợi, mô bào, lâm ba cầu, tương bào, đại thực bào

Một số do máu đưa đến như: bạch cầu, tế bào nội bì

Tế bào sợi có hình thoi hoặc hình sao, được liên kết với nhau bằng các nhánh nhỏ nên ít di động Tế bào có thể tích lớn, nhân bầu dục, ít chất nhiễm sắc thể, có 1–2 nhân; khi còn ở giai đoạn nghỉ ngơi, bào tương ít và không có bào quan Trong giai đoạn hoạt động, bào tương dồi dào, có nhiều lưới nội bào có hạt.

Tế bào này tiết ra procotagen,mucopolysaccarid và cả elastin

Tế bào này có thể biến thành tế bào mỡ

Tế bào mỡ là loại tế bào chứa nhiều hạt mỡ trong bào tương Các hạt mỡ ban đầu nhỏ dần lớn lên và đẩy nhân tế bào ra sát màng tế bào, khiến phần bào tương còn lại rất ít Tế bào mỡ tích trữ dinh dưỡng dưới dạng chất béo, đóng vai trò làm đệm, bảo vệ và cung cấp năng lượng cho một số bộ phận của cơ thể.

* Tế bào di động: là những tế bào có liên quan đến phản ứng của mô liên kết để chống yếu tố xâm nhiễm

Mô bào là các tế bào lớn, rất đa dạng về hình dạng, có thể hình trứng hoặc hình bất định do bào tương tỏa ra nhiều nhánh Màng tế bào không đều vì sự phóng nhánh của bào tương Nhân tế bào nhỏ, có 1–2 hạt nhân, chứa nhiều chất nhiễm sắc Bào tương có hệ tiểu thể phong phú với nhiều không bào, cùng enzym và vitamin.

Tế bào này có khả năng thực bào và ẩm bào, có thể di động và sát nhập với các tế bào khác để hình thành tế bào khổng lồ đa nhân Vai trò của nó trong chuyển hóa lipid, cholesterol và vitamin rất quan trọng Nó có thể di động và biệt hóa thành đại thực bào để tiêu hủy vật lạ và xác hồng cầu.

Tương bào, hay tế bào miễn dịch, có kích thước khoảng 10–15 µm, hình trứng hoặc hình tròn Nhân tương bào tròn và chất nhiễm sắc được sắp xếp thành dạng nan hoa quanh nhân, tạo nên hình bánh xe nên còn được gọi là tế bào bánh xe Đặc tính nổi bật của tương bào là tiết kháng thể và chúng xuất hiện nhiều trong các bệnh viêm mạn tính.

Mô cơ

Mô cơ là một loại mô được cấu thành từ các tế bào đã biệt hóa để đảm nhận chức năng co giãn và vận động Khả năng co rút và vận động của mô cơ được điều phối bởi các đơn vị nằm trong bào tương gọi là nguyên tơ cơ; các nguyên tơ cơ tập hợp thành các bó gọi là tơ cơ.

Mô là thành phần chính tạo nên thành vách của các cơ quan nội tạng, bao gồm vách ống tiêu hóa, tuyến tiêu hóa, tuyến nội tiết, bộ máy hô hấp, tiết niệu sinh dục và các mạch máu.

Cơ trơn tự động co rút tạo nên sự hoạt động của các cơ quan dưới sự điều khiển của thần kinh thực vật, hoạt động không theo ý muốn

- Dạ dày tự dộng co bóp khi có thức ăn

- Cơ niệu đạo tự động co rút để thải nước tiểu

Cơ trơn có màu hồng nhạt hoặc trắng, được cấu tạo từ các tế bào cơ hình thoi với một nhân ở giữa mỗi tế bào Những tế bào này hợp thành các bó nhỏ và thường xếp thành lớp mỏng vòng quanh ống (cơ vòng) hoặc theo chiều dọc của ống (cơ dọc).

Hình 2.3: Sợi cơ trơn 2.1.1.2 Vị trí cơ trơn

Cơ trơn là thành phần chủ yếu tạo nên thành và vách của các cơ quan nội tạng và mạch máu, bao gồm thành ống tiêu hóa, dạ dày–ruột, thành ống khí quản, cũng như thành tử cung và âm đạo Ngoài ra, cơ trơn còn nằm dưới da, quanh tuyến vú và tuyến mồ hôi.

Những sợi cơ trơn phối hợp với nhau thành các bó; nhiều bó tập hợp lại thành mô cơ trơn Đàn hồi của cơ trơn rất cao: nó có thể rút ngắn tới 65–70% chiều dài ban đầu và khi giãn ra có thể gấp 3–4 lần trong khi sức căng vẫn không đổi.

Ví dụ: khi gia súc mang thai

Hoạt động của cơ trơn mang tính tự động và được điều khiển bởi hệ thần kinh thực vật, bao gồm nhánh giao cảm và phó giao cảm Cơ trơn co rút chậm, nên các vận động cơ lan truyền từ từ và tạo thành nhu động theo hình sin.

Là loại cơ chiếm tỷ lệ cao nhất trong cơ thể ( 36- 45% khối lượng cơ thể)

Cơ vân bám vào xương và là phần động chủ động của cơ thể, tham gia trực tiếp vào mọi hoạt động vận động Khi cơ vân co lại, nó sinh ra lực đẩy và công suất phát động giúp một bộ phận hoặc toàn bộ cơ thể di chuyển vị trí trong không gian Cơ vân hoạt động theo ý muốn và được điều khiển bởi hệ thần kinh trung ương, cho phép thực hiện các động tác có mục đích và tinh tế.

Khi cơ co một phần năng lượng chuyển thành nhiệt tạo nên thân nhiệt ổn định của cơ thể

Mô này cấu tạo bởi những sợi cơ vân hay tế bào cơ vân, đây là một dạng hợp bào

Cắt ngang một cơ ta thấy các phần cấu tạo:

- Màng bọc ngoài: là tổ chức sợi liên kết màu trắng bọc ngoài phần thịt

- Trong là nhiều bó cơ: mỗi bó chứa nhiều sơi cơ được bao bọc bởi màng bọc trong

Tế bào cơ võn là các sợi hình trụ có đường kính khoảng 40–50 μm và dài khoảng 4–5 cm Trong tế bào cơ võn có rất nhiều nhân nằm sát màng tế bào Khi tập hợp nhiều tế bào lại với nhau, chúng hình thành sợi cơ và trên bề mặt sợi cơ sẽ xuất hiện các vân ngang rõ rệt: màu sẫm ở nơi có nhân và màu sáng ở nơi không có nhân.

Cơ vân màu đỏ sẫm có hình dáng và độ to nhỏ khác nhau tùy theo nơi bám vào hoặc chức năng từng vùng cơ thể

Ví dụ: Ở cổ, ngực, bụng cơ thường mỏng, bề mặt rộng Ở chi có dạng hình thoi, có 1 thân và 2 đầu

Thân cơ là phần thân thịt, ngoài bao bọc bởi màng sợi dai chắc để cho mạch máu thần kinh đi vào nuôi cơ

Cấu trúc của một cơ phổ biến là hai đầu có thể là màng sợi hoặc gân bám vào xương Trong hai đầu ấy, một đầu bám cố định (đầu bám gốc) và đầu kia là đầu bám động (đầu bám tận), có thể di chuyển tương đối khi cơ co lại để sinh lực tác động lên khung xương.

Trong cơ vân, các sợi cơ tụ thành các bó cơ (fascicles); nhiều bó cơ nhỏ lại hợp thành một bó cơ lớn hơn, và nhiều bó cơ lớn tiếp tục tụ thành một bắp cơ, giữa các bó cơ được ngăn cách bởi mô liên kết.

Giữa mô cơ và mô liên kết dính vào nó có sự nối tiếp liên tục, nên khi co rút các sợi cơ kéo trực tiếp vào gân và các phần liên kết khác của bắp cơ Sự phân bố mạch máu ở cơ rất phong phú, do đó người ta ứng dụng đặc điểm này để tiêm thuốc qua lớp cơ.

Cơ vân được sự điều khiển của hệ thần kinh não tủy, sự co bóp đặc hiệu của nó bao gồm 1 giai đoạn co và 1 giai đoạn duỗi

2.2.1.3 Đặc tính sinh lý của cơ vân

Tính đàn hồi của cơ là đặc tính cho phép cơ giãn dài khi bị kéo và trở về vị trí ban đầu khi lực kéo được giải phóng, nhờ vào cấu trúc và hoạt động của mô cơ Tuy nhiên, tính đàn hồi của cơ không tỷ lệ thuận với lực kéo: lực kéo lớn không đồng nghĩa với sự hồi phục nhanh hơn theo một tỷ lệ tuyến tính, vì phản ứng đàn hồi còn chịu ảnh hưởng của thời gian tác dụng của lực và các yếu tố sinh lý như trạng thái mỏi cơ và điều kiện luyện tập.

Ví dụ: khi kéo với lực lớn thì cơ bị đứt hoặc không trở lại vị trí ban đầu

Tính cường cơ (tonus cơ) là trạng thái một số nhóm cơ vẫn duy trì ở mức co rút nhẹ ngay khi cơ không hoạt động, giúp các bộ phận của cơ thể giữ hình dạng và nghỉ ngơi ở mức độ tương đối Tính cường cơ được điều khiển bởi hệ thần kinh vận động, nhờ vậy cơ thể duy trì tư thế ổn định và thân nhiệt được duy trì ở mức cân bằng.

- Tính cảm ứng (kích thích): khi bị kích thích cơ sẽ phản ứng lại bằng cách co rút, tức là chuyển từ trạng thái nghỉ ngơi sang trạng thái hưng phấn

+Kích thích cơ học: sự châm chích, va, đập

+ Kích thích nhiệt: nóng, lạnh

+ Kích thích hóa học: tác dụng của axit, bazo,

+ Kích thích điện: tác dụng của dòng điện

+ Kích thích sinh lý: các yếu tố kích thích vào cơ quan cảm giác (mắt, mũi, tai,…)

- Sự co cơ: co đơn, co lặp, co testanos (dùng dòng điện kích thích→1 lần, nhiều lần, không trở lại)

- Sự mệt mỏi của cơ: cơ cũng như các cơ quan khác, sau một thời gian dài làm việc sẽ trở nên mệt mỏi

- Nguồn năng lượng của cơ: năng lượng của cơ có được do mạch máu mang đến

- Sinh lý vận động: vận động là một trong những hoạt động sinh lý quan trọng nhất của cơ thể do xương và cơ cùng thực hiện, chúng tạo nên nhiều trạng thái đòn bẩy khác nhau và là cơ sở của sự vận động (đi, đứng, chạy,….)

Mô thần kinh

Hệ thần kinh đóng vai trò thiết yếu trong việc duy trì sự thống nhất giữa cơ thể và môi trường xung quanh Nó nhận và xử lý thông tin từ các giác quan, sau đó điều hòa và phối hợp hoạt động của mọi bộ phận trong cơ thể Nhờ sự tương tác này, cơ thể phản ứng nhanh nhạy, thích nghi với biến đổi bên ngoài và duy trì sự cân bằng của các quá trình sinh lý.

Thần kinh có tổ chức cơ bản là khả năng tiếp nhận kích thích từ môi trường bên ngoài và phản ứng lại một cách thích hợp với các kích thích ấy Quá trình này cho phép cơ thể nhận diện và xử lý thông tin cảm giác, từ đó điều chỉnh hành động và phản ứng sinh lý để thích nghi với hoàn cảnh Nhờ sự phối hợp giữa hệ thần kinh trung ương và hệ thần kinh ngoại vi, tín hiệu cảm giác được thu nhận, phân tích và chuyển thành hành động, từ phản xạ đến hành động có chủ đích.

Hệ thống thần kinh gồm 2 bộ phận đó là:

Thần kinh trung ương (hệ thần kinh não tủy) là hệ chịu trách nhiệm điều khiển mọi hoạt động của hệ xương - cơ vân và một số cơ quan khác như lưỡi, yết hầu và thanh quản, đồng thời đóng vai trò là trung tâm xử lý thông tin và phản xạ cho cơ thể.

Hệ thần kinh thực vật gồm hai phần chính là hệ thần kinh giao cảm và hệ thần kinh phó giao cảm Hai hệ này điều khiển hoạt động của hệ thống cơ trơn, các cơ quan nội tạng, mạch máu và tuyến, từ đó điều hòa các quá trình sinh lý không tự chủ như nhịp tim, huyết áp, tiêu hóa và bài tiết, nhằm duy trì cân bằng nội môi và đáp ứng với tác nhân bên ngoài.

Phân chia hệ thần kinh mang tính tương đối vì các bộ phận của hệ có mối liên hệ mật thiết với nhau và chịu sự điều khiển chung của bán cầu đại não Đơn vị cấu tạo của hệ thần kinh là tế bào thần kinh (nơron) Vì vậy, tế bào thần kinh khác với các tế bào khác ở chỗ khi sợi tế bào thần kinh bị tổn thương thì không tái sinh được.

Mô thần kinh gồm 2 thành phần: tế bào thần kinh và tế bào thần kinh đệm

3.2.1 Tế bào thần kinh ( nơron) Đây là tế bào mà bào tương của nó có hai đặc tính được phát triển cao độ

- Tính cảm ứng: là khả năng đáp lại những kích thích (cơ học, hóa học) bằng cách phát sinh ra một xung động

Tính dẫn truyền là quá trình vận chuyển xung động từ nơi này đến nơi khác trong hệ thần kinh Bên cạnh đó, mỗi nơ-ron có khả năng kích thích nơ-ron khác mà nó tiếp xúc, và điểm tiếp xúc giữa các nơ-ron được gọi là synapse (khớp thần kinh).

Hình 2.6: Cấu tạo tế bào thần kinh

Mỗi nơron gồm: thân nơron và các nhánh

Thân nơron có hình dáng và kích thước biến đổi tùy loại, có thể là hình cầu, hình thoi hoặc hình sao, từ nhỏ đến lớn Thân nơron chứa nhân ở giữa và là nơi sinh ra các nhánh của tế bào thần kinh Nhân nằm ở trung tâm, bào tương chứa các bào quan như ti thể và bộ Golgi, cùng với ribosome và mạng lưới nội chất, ngoài ra còn có các cấu trúc đặc biệt của nơron Ngoài ra nơron còn có các thành phần đặc thù khác như nhánh dendrit và sợi trục, giúp nhận và truyền tín hiệu thần kinh.

Thể Nissl là các khối chất ưa base xuất hiện trong bào tương của neuron, tập trung quanh nhân hoặc ở vùng vi quanh thân tế bào và có mặt ở các đuôi gai (dendrites) Tuy nhiên, chúng không có ở sợi trục (axon).

- Tơ thần kinh: là những bó sợi mảnh, tơ thần kinh nằm ở cả thân và nhánh, nó có chức năng chống đỡ

- Chất vùi: bào tương của nơ ron có thể chứa các chất vùi

* Nhánh của noron thần kinh: đây là phương tiện dẫn truyền và có tác dụng tăng diện tích tiếp xúc của nơron

Đuôi gai hay sợi gai của neuron có đặc điểm là chia nhánh nhỏ dần như cành cây khi nhận kích thích và dẫn xung động về thân nơron Nhờ sự phân nhánh lớn, một nơron có thể nhận xung động từ nhiều nơron khác nhau Sợi gai tạo thành các sợi thần kinh không có bao myelin.

Sợi trục là nhánh dẫn truyền xung động từ thân nơron đi ra ngoài Mỗi nơron hầu như có một sợi trục duy nhất, nhưng cũng có nơron không có sợi trục Sợi trục có thể biến đổi về hình thái và độ dài tùy từng loại nơron Các nhánh tận cùng của sợi trục dần thu nhỏ và rất mảnh để tiếp xúc với sợi nhánh của nơron khác hoặc với sợi trục của một hoặc nhiều nơron khác, qua đó truyền tín hiệu thần kinh.

* Sợi thần kinh: được cấu tạo bởi một nhánh của noron, có thể là sợi nhánh hay sợi trục, có 3 loại:

- Sợi trần: không có gì bao bọc xung quanh (nhánh nơron)

- Sợi không có bao myelin (sợi trục)

- Sợi thần kinh có bao myelin (ống trục)

Myelin là một phức hợp glycoprotein giàu lipid, bao gồm cholesterol, cerebroside và phospholipid, tạo thành lớp vỏ bao bọc sợi thần kinh và đóng vai trò tăng tốc dẫn truyền tín hiệu thần kinh Chất này hình thành từ các tế bào thần kinh đệm ít nhánh (oligodendrocytes) trong hệ thần kinh trung ương và từ tế bào thần kinh đệm ngoại vi, còn gọi là tế bào Schwann.

Quá trình truyền tín hiệu bắt đầu từ sợi trục của nơ ron nhận cảm, sợi này chia nhánh dần và kết thúc ở nhánh tận cùng Đầu nhánh tận cùng phình to thành hình quả nho để tiếp giáp với nơ ron thứ hai hoặc với một tế bào đáp ứng, và điểm phình này được gọi là cúc tận cùng Đây là nơi liên hệ giữa nhánh tận cùng và nơ ron thứ hai (sợi gai hoặc thân nơ ron) hoặc tế bào đáp ứng, được gọi là xináp.

Hình 2.7: Cấu tạo tế bào thần kinh

Hình 2.8: Cấu tạo sợi trục 3.2.1.2 Phân loại tế bào thần kinh

Những điểm xuất phát của các nhánh từ thân tế bào thần kinh được gọi là những cực, căn cứ vào đó người ta phân ra 3 loại cực

- Nơron một cực (đơn cực): loại này ít thấy và gồm hai loại (nơ ron đơn cực thật và nơ ron đơn cực giả)

- Nơron hai cực (lưỡng cực): loại này tương đối nhiều hơn Thân tế bào hình thoi hoặc hình trứng

nơ-ron đa cực là loại neuron phổ biến nhất trong cơ thể người và nhiều loài động vật, có nhiều sợi nhánh (dendrite) và một sợi trục (axon) giúp nhận và truyền tín hiệu thần kinh Kích thước và hình dạng của thân tế bào nơ-ron đa cực thay đổi tùy loài, cho thấy sự đa dạng về cấu tạo của nơ-ron trong tự nhiên.

Hình 2.9: Các loại tế bào thần kinh 3.2.1.3 Chức năng của tế bào thần kinh

Quá trình dẫn truyền thần kinh bắt đầu khi một nơron nhận kích thích và chuyển nó thành xung động điện Xung động được truyền từ nơron này sang các nơron khác qua các khớp synap, lan rộng trong mạng lưới thần kinh cho tới khi đến cơ quan đích và kích hoạt phản ứng đặc hiệu của cơ quan ấy Nhờ quá trình dẫn truyền thần kinh, tín hiệu được vận chuyển hiệu quả khắp hệ thần kinh, tạo ra đáp ứng sinh lý phù hợp với kích thích đã nhận.

Chế tiết là quá trình một số nơron có khả năng chế tiết và giải phóng các hormone hoặc chất tiết đặc hiệu Sản phẩm chế tiết của những nơron này được vận chuyển qua sợi trục ngắn xuống thùy sau tuyến yên và được phóng thích vào máu để tác động lên các cơ quan đích Ví dụ điển hình là oxytocin (và vasopressin), những hormone này tham gia điều hòa nhiều chức năng sinh lý, như co bóp tử cung, tiết sữa và các hoạt động nội tiết khác Quá trình này cho thấy sự phối hợp nhịp nhàng giữa hệ thần kinh và hệ nội tiết, giúp tối ưu hóa các quá trình sinh lý cần thiết cho cơ thể.

3.2.2 Tế bào thần kinh đệm

Trong mô thần kinh, ngoài các noron còn có những tế bào thần kinh đệm

Thực hành

4.1 Phương pháp thực hiện tiêu bản mô cơ vân động vật

4.1.1 Chuẩn bị dụng cụ và mẫu vật Ếch (gà), nước muối sinh lý, lam, lamen, kính hiển vi, dao mổ, kim mũi nhọn

Giáo viên hướng dẫn cho sinh viên cách làm tiêu bản mô cơ vân của ếch (gà) tạm thời

Bước 1: Rạch da đùi ếch lấy một bắp cơ đùi hoặc miếng thịt gà còn tươi

Bước 2 trong quy trình là dùng kim mũi nhọn rạch bao cơ theo chiều dọc của bắp cơ Dùng ngón cái hoặc ngón trỏ đặt ở hai bên mép vết rạch và ấn nhẹ để cảm nhận những sợi mảnh nằm dọc bên trong, chính là các tế bào cơ.

Trong bước 3 của quy trình phân tích mô cơ, mục tiêu là tách các sợi cơ khỏi mô dính trên lam kính và chuẩn bị mẫu để quan sát dưới kính hiển vi bằng cách thực hiện các thao tác nhẹ nhằm tách rời các sợi cơ, sau đó làm ẩm tế bào cơ bằng dung dịch muối sinh lý và đóng kính để bảo quản và phân tích cấu trúc cơ.

Đặt lamen sao cho không có bọt khí; để làm được điều này, trước hết đặt một cạnh lamen tiếp xúc đều với dung dịch sinh lý, dùng kim đỡ rồi hạ dàn cạnh kia của lamen xuống lam kính.

Bước 4: Quan sát dưới kính hiển vi

Dưới vật kính 10X quan sát mô cơ vân, bên trong mỗi sợi cơ xuất hiện các tơ cơ hiện lên dưới dạng các khía dọc chạy song song với chiều dài sợi cơ Những khía dọc này cho thấy sự sắp xếp của tơ cơ (actin và myosin) và phản ánh cấu trúc tổ chức theo chiều dọc của sợi cơ, nền tảng cho khả năng co giãn của mô cơ vân Nhờ hình ảnh này, người đọc có thể nhận diện rõ sự hiện diện và phân bổ của tơ cơ trên sợi cơ, từ đó hiểu cách cơ cấu sợi cơ vân hoạt động khi co và giãn.

4.1.4 Tổng kết nhận xét và đánh giá Đánh giá kết quả thực hành dựa vào việc kiểm tra lại kiến thức sinh viên ghi nhận trong buổi thực hành

Ghi chép đầy đủ, chính xác những thông tin cần thiết

Sinh viên tham gia đầy đủ

Tinh thần thái độ học tập nghiêm túc

Viết bài phúc trình (vẽ hình và chú thích đầy đủ chi tiết một tế bào mô cơ vân ếch (gà))

4.2 Phương pháp thực hiện tiêu bản mô sụn, mô cơ trơn động vật

4.2.1 Chuẩn bị dụng cụ và mẫu vật Ếch (gà), xanh mêthylen, lam, lamen, kính hiển vi, dao mổ

Giáo viên hướng dẫn cho sinh viên cách làm tiêu bản mô sụn trong của ếch (gà) tạm thời

Thực hiện tiêu bản tạm thời mô sụn trong

Bước 1: Mổ đùi ếch hoặc đùi gà, lấy một xương đùi còn nguyên vẹn sụn đầu khớp, bóc màng bao khớp

Bước 2 mô tả quá trình chuẩn bị mẫu sụn ở đĩa Petri và nhuộm màu cho tăng độ tương phản, giúp nhận diện các đặc điểm cấu trúc sụn dưới kính hiển vi Sau khi nhuộm, mẫu được làm sạch và đặt lên lam kính, rồi đậy nắp lam để chuẩn bị phân tích hình thái tế bào và các thành phần sụn dưới kính.

Bước 3: Quan sát dưới kính hiển vi

Dưới vật kính 10X, ta thấy sụn trong suốt, bên trong có những tế bào sụn rỏ rệt

Thực hiện tiêu bản tạm thời mô cơ trơn

Bước 1: Lấy dạ dày, ruột gà hoặc ếch bổ ra rồi rửa sạch

Bước 2 của quá trình phẫu thuật dạ dày là bóc bỏ lớp niêm mạc và dưới niêm mạc ở mặt trong dạ dày; tiếp đó, bác sĩ dùng mũi dao mổ để rạch và tước bỏ một số sợi mảnh thuộc lớp cơ thành dạ dày, tức là các tế bào cơ trơn.

Bước 3: Đặt lam kính, đã nhỏ sẳn dung dịch nước muối sinh lý

Bước 4: Quan sát dưới kính hiển vi

Dưới vật kính 10X, sợi cơ trơn xuất hiện là các tế bào dài hình thoi với hai đầu nhọn và phần giữa phình ra, nơi chứa nhân tế bào Nhân tế bào có hình oval và nằm theo chiều dài của sợi cơ trơn.

4.2.4 Tổng kết nhận xét và đánh giá Đánh giá kết quả thực hành dựa vào việc kiểm tra lại kiến thức sinh viên ghi nhận trong buổi thực hành

Ghi chép đầy đủ, chính xác những thông tin cần thiết

Sinh viên tham gia đầy đủ

Tinh thần thái độ học tập nghiêm túc

Viết bài phúc trình (vẽ hình và chú thích đầy đủ chi tiết một tế bào mô sụn trong, mô cơ trơn của ếch (gà))

1 Định nghĩa và phân loại mô liên kết?

2 Tế bào bất động, tế bào di động gồm những tế bào nào?

3 Cấu tạo mô sụn, cấu tạo mô xương, chức năng của mô xương và những yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển của xương?

4 Mô cơ là gì? Định nghĩa, cấu tạo, chức năng của mô cơ trơn, cơ vân, cơ tim?

5 Cấu tạo, chức năng của tế bào thần kinh?

6 Cúc tận cùng, xinap là gì?

7 Cấu tạo, chức năng của tế bào thần kinh đệm?

Ngày đăng: 10/08/2022, 14:24

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm