Giáo trình Sản khoa và gieo tinh nhân tạo trang bị cho học sinh những kiến thức cơ bản nhất về sản khoa; Hiểu các nguyên nhân gây vô sinh trên gia súc, gia cầm; Hiểu các bệnh thuộc về gia súc cái trong thời kỳ mang thai, đề ra phương pháp phòng, trị có hiệu quả. Mời các bạn cùng tham khảo!
BỆNH DỊ TẬT BẨM SINH TRÊN ĐƯỜNG SINH DỤC
Bệnh dị tật bẩm sinh trên đường sinh dục thú cái
Những dị tật bẩm sinh thường thấy trên buồng trứng như: có một buồng trứng, buồng trứng kém hoặc không phát triển, nằm sai vị trí, lớp tế bào mầm không bình thường ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển của buồng trứng, có thể xuất hiện những nang hay những mô bào sinh dục đực A.V Trekaxova, kiểm tra 575 heo cái vô sinh nhận thấy có 2,8% là heo lưỡng tính Nguyễn văn Thành (1982) khảo sát 14100 heo cái tại Vissan, ghi nhận có 2,2% heo lưỡng tính Các bệnh ở buồng trứng được trình bày ở bảng 1.1
Bảng 1.1: Tỷ lệ các bệnh ở buồng trứng
Bệnh Số mẫu khảo sát Tỷ lệ (%)
Buồng trứng sai vị trí 30 7,92
Nguyên nhân dị tật cơ quan sinh dục thú cái được nhiều tác giả nghiên cứu như: Poliansep và Taritrenko (1969) cho rằng trường hợp dị dạng xảy ra trong thời kỳ thai nhi với những biến đổi về cấu trúc giải phẩu, gây ảnh hưởng đến chức năng sinh sản của buồng trứng là do nội tiết tố Bệnh buồng trứng teo chiếm tỷ lệ
2 cao trong các trường hợp vô sinh Chiristenson và Ford (1979) ghi nhận heo cái đến tuổi thành thục nhưng không rụng trứng chiếm tỷ lệ 45% trong các trường hợp chậm động dục Eliason và Selling (1991) heo cái động dục nhưng không xuất noãn chiếm 20%
1.2 Dị tật ống dẫn trứng
Dị tật này thường thấy trong thời gian phát triển của bào thai như ống dẫn trứng không phát triển một hoặc cả hai bên (heo, bò, ngựa), ống dẫn trứng luôn co thắt…
Các trường hợp dị tật tử cung thường gặp là: tử cung một sừng, hai thân tử cung, cổ tử cung luôn co thắt, tử cung kém phát triển, không cổ tử cung do sinh đôi một đực và một cái trên bò (màng đệm nhau thai ở thai đực và thai cái cùng tiếp xúc với một núm nhau của tử cung bò mẹ, cả hai có chung nguồn máu và có cùng ảnh hưởng của kích thích tố testosterone, anti-mullerian)
Theo Wernick ghi nhận có 5 – 11,4% tử cung một sừng trong các trường hợp bệnh lý trên gia súc Nineteen ghi nhận có 2 – 10,5% dị tật ở sừng tử cung heo Gethals khảo sát 1000 heo cái tơ cho thấy có 2,2% dị tật đường sinh dục với 3% trường hợp tử cung một sừng, 0,4% tử cung có hai sừng, 0,1% tử cung có hai thân
Hình 1.1: Tử cung một sừng trên heo 1.4 Dị tật ở âm hộ và âm đạo
Các trường hợp dị tật thường thấy như bị co thắt ở chó mèo, âm vật phát triển như dương vật nhưng biểu hiện bên ngoài giống con cái nhiều hơn, đôi khi có cả dương vật bên dưới rốn hoặc có dịch hoàn trong xoang bụng Một số trường hợp âm đạo phát triển kém với khe rất hẹp và thông vào tử cung rất nhỏ Nguyễn Văn Thành (1988) khảo sát 412 bò tại Vissan ghi nhận bệnh dị tật này chiếm tỷ lệ 0,24%
Bệnh dị tật bẩm sinh trên đường sinh dục thú đực
Dịch hoàn ẩn có thể xảy ra trên một cái hoặc cả hai, thường gặp trên heo đực, chó đực… Nguyên nhân: Phần lớn các loài động vật có vú, dịch hoàn di chuyển xuống dưới để vào bìu Cơ chế di chuyển của dịch hoàn chưa được hiểu rõ Sự di chuyển của dịch hoàn tùy thuộc vào sự phát triển của cơ thể và sự thoái hóa của một dây chằng Dây này được cấu tạo bởi mô liên kết gắn vào cực bụng của dịch hoàn và kéo dài đến vùng bẹn của phôi Trong quá trình tăng trưởng, những thay đổi ở từng giai đoạn khác nhau của dây làm cho dịch hoàn di chuyển xuống bìu theo cách cơ học Nhưng vì một lý do nào đó mà dịch hoàn không thể di chuyển xuống bìu, có thể do dây chằng không thoái hóa hoặc thoái hóa chậm Trên heo, cung cấp kích dục tố gonadotropin hoặc kích dục tố testosterone không làm dây chằng này tăng trưởng
Triệu chứng: Có thể nhìn thấy khiếm khuyết này bằng mắt thường Thú bị ẩn một dịch hoàn vẫn còn biểu lộ tính đực, phối giống và có khả năng thụ thai Tuy nhiên, nếu thú bị ẩn cả hai dịch hoàn cũng còn biểu lộ tính đực như ve vản, phối giống nhưng không có khả năng thụ thai, trường hợp này có thể do dịch hoàn không có khả năng sản xuất tinh trùng (ống dẫn tinh có thể bị xoắn, phần da bên ngoài dịch hoàn có nhiệm vụ điều hòa thân nhiệt trong khi xoang bụng không thể)
Hình 1.2: Dịch hoàn ẩn 2.2 Dịch hoàn phát triển bất thường
Một số trường hợp khi quan sát, dịch hoàn có sự phát triển không bình thường dẫn đến những biểu hiện trở ngại sinh dục như: dịch hoàn không phát triển, dịch hoàn phát triển kém, dịch hoàn phát triển quá mức
Một số tình trạng bệnh dẫn đến sự trở ngại các hoạt động sinh sản, sinh dục thường thấy trên các loài gia súc như chó, heo, gia súc lớn…là một dịch hoàn, không có dịch hoàn, ba dịch hoàn, phó dịch hoàn bị teo…
2.3 Bệnh nửa đực nửa cái
Bệnh thường thấy trên các loài heo, cừu, dê, bò…với các dạng: thú vừa có dịch hoàn vừa có buồng trứng hoặc trong dịch hoàn có mô hay tế bào của noãn
Một số trường hợp lưỡng tính giả, thú có cơ quan sinh dục của thú đực bình thường nhưng biểu hiện tính dục thứ cấp của thú cái, thú có cơ quan sinh dục của thú cái bình thường nhưng biểu hiện tính dục thứ cấp của thú đực
2.4 Bệnh ở dương vật Ở một số loài, dương vật di động ra vào được nhờ vào các hoạt động co rút của các cơ dương vật, sự co rút yếu hay không co rút làm thú không thể giao phối được Một số loài có bao qui đầu hẹp, tích nước tiểu gây nhiễm trùng dương vật, không phối được (trên heo tích nước bao qui đầu làm nước tiểu lọt vào tinh dịch khi lấy tinh) Ngoài ra, bệnh ở dương vật còn ghi nhận các trường hợp dương vật kém phát triển, dương vật nhỏ, cong, ngắn, chẻ đôi )
1 Các trường hợp dị tật bẩm sinh trên thú đực?
2 Các trên hợp dị tật bẩm sinh trên thú cái?
3 Giải thích tại sao bò cái sinh đôi với bò đực không sinh sản được
BỆNH TRÊN THÚ CÁI TRONG THỜI KỲ MANG THAI
Bệnh bại liệt trước khi sinh
Bệnh bại liệt trước khi sinh trên thú cái thường gặp trên trâu, bò cao sản, heo…ở giai đoạn gần đẻ với hai dạng thường gặp: yếu hai chân sau và bại liệt toàn thân
Thường do công tác nuôi dưỡng, chăm sóc, quản lý không tốt hoặc do khẩu phần thức ăn không cân đối, không đáp ứng nhu cầu về vitamin và muối khoáng Các nguyên nhân được ghi nhận như sau:
- Chuồng trại không đạt yêu cầu, quá trơn láng, quá dốc, dễ té ngã, che chắn quá kín làm thú không tổng hợp được vitamin D
- Chế độ chăn thả không hợp lý, ít vận động nhất là vào các giai đoạn mùa mưa hay mùa đông
- Suy nhược, mệt mỏi của thú cái trong giai đoạn mang thai dẫn đến rối loạn tiến trình trao đổi chất làm việc hấp thu dinh dưỡng kém, đào thải chậm các chất cặn bã
- Thiếu hay mất cân bằng Ca/P do khẩu phần thức ăn, thiếu vitamin D
- Cơ học: té, cắn nhau dẫn đến tổn thương thần kinh xương chậu
Dạng nhẹ: thường xảy ra vào giai đoạn cuối thời kỳ mang thai Triệu chứng biểu hiện đầu tiên là yếu hai chân sau, dáng đi không vững; đại gia súc thường đi không được, thú nằm yên một chỗ, nằm sấp trên ức và đầu quay về phía hông; trên heo thường cố gắng đứng lên, loạng choạng, run chân… Trường hợp do các
6 yếu tố dinh dưỡng như thiếu calcium, phospho, vitamin D hay tỷ lệ Ca/P mất cân đối thân nhiệt có thể giảm 0,5-1 0 C
Dạng nặng: thú không đi lại, nằm một chỗ, teo bắp cơ ở chân nếu thú nằm một bên trong thời gian dài, thú có thể bị lỡ loét ở phần dưới, nhiễm trùng, kém ăn hoặc bỏ ăn,sốt…có thể nhiễm trùng huyết, dần dần hôn mê rồi chết Trong trường hợp thú bị bại liệt do thiếu Ca, P hay vitamin D thì thân nhiệt hạ, mất trương lực cơ nhất là phần cơ trơn của đường tiêu hóa (chướng hơi dạ cỏ trên trâu, bò) có thể thấy bệnh lý xoắn tử cung (thai di chuyển mà cơ thể không di chuyển)
1.3 Biện pháp phòng và trị
- Cần phân biệt với các bệnh có triệu chứng tê liệt như tetanos, ketosis…
- Điều chỉnh phương pháp nuôi dưỡng, chăm sóc, quản lý, chế độ chăn thả, làm việc hợp lý trước và trong thời kỳ có thai
- Chế độ dinh dưỡng đầy đủ, chú ý đến lượng, chất, nhất là các vitamin và muối khoáng )
- Thường xuyên thay đổi thế nằm của thú nhằm tránh tụ huyết, lỡ loét
- Điều trị bằng thuốc ( vitamin D, Calcium gluconate, Calcium Chloride ) Điều trị phải tốc độ và tích cực để mang lại hiệu quả cao, thú mau lành bệnh, ít ảnh hưởng đến khả năng sinh đẻ.
Bệnh sa âm đạo
Thường xảy ra vào giai đoạn cuối của thai kỳ và có thể xảy ra ngay sau khi sinh Thường thấy là: sa âm đạo một phần, sa âm đạo toàn phần hay vừa sa âm đạo vừa sa tử cung, sa trực tràng, trì kéo bàng quang…
Có nhiều nguyên nhân dẫn đến sa âm đạo:
- Cuối thời kỳ mang thai, bào thai phát triển, cử động, gia tăng thể tích của tử cung, của dạ cỏ tạo áp lực chèn ép đẩy âm đạo ra ngoài
- Thú già yếu, trương lực của các cơ, các dây treo giảm nên việc định vị các tổ chức trong xoang bụng không được chắc chắn
- Thú sinh đẻ nhiều lần, thai lớn, nhiều hơn bình thường
- Dây chằng màng treo yếu không giữ nổi khối lượng treo của âm đạo
- Thú bị nuôi nhốt do nhiều nguyên nhân như vào mùa mưa, mùa đông, ít chăn thả, ít vận động
- Bị trúng độc trong thức ăn, ngộ độc thuốc, thiếu rau xanh gây táo bón…
2.2.1 Sa âm đạo một phần
- Thường kết hợp với trì kéo bàng quang, tử cung, âm đạo lồi ra ngoài có dạng như quả cam, quả bưởi Trường hợp bệnh lý này có thể thấy trên trâu, bò sữa khi nằm (tăng áp lực xoang bụng đẩy âm đạo lòi ra ngoài) nhưng khi thú đứng lên âm đạo sẽ thụt vào
- Một số trường hợp do âm đạo lòi ra ngoài cọ sát với nền chuồng nên có thể thấy lớp niêm mạc bị xây sát, nhiễm trùng làm thú sốt, bỏ ăn, ảnh hưởng tới bào thai
- Trên trâu bò bị sa âm đạo một phần ít ảnh hưởng đến toàn thân, nhưng trên dê, chó, mèo, heo có thể bị nhiễm trùng, sốt, bỏ ăn, ảnh hưởng bào thai
2.2.2 Sa âm đạo toàn phần Âm đạo bị sa toàn phần thường xảy ra tiếp sau khi thú bị sa âm đạo một phần nhưng không được điều trị Biểu hiện âm đạo lồi ra ngoài rất to, niêm mạc tụ huyết, sưng đỏ, có thể xuất huyết do cương mạch thụ động, nguy hiểm hơn có thể lộ tử cung ra ngoài làm con vật khó tiểu tiện Thường kết hợp với lòi trực tràng, trì kéo bàng quang Trên các loài gia súc lớn ít thấy triệu chứng toàn thân nhưng trên gia súc nhỏ biểu hiện bệnh rất rõ như bồn chồn, cong lưng, hay rặn dẫn đến hiện tượng tụ huyết, xuất huyết, nhiễm trùng vết thương, nhiễm trùng toàn thân, có thể chết nếu không can thiệp kịp thời Thường xẩy thai, ảnh hưởng đến sự có mang và sinh đẻ lần sau
Sa âm đạo theo mức độ
- Độ 1: Âm đạo lòi ra như quả cam, cổ tử cung sa vào âm đạo
- Độ 2: Âm đạo sa lòi ra như quả bưởi hay trái banh, cổ tử cung còn trong âm đạo
- Độ 3: Cổ tử cung có thể thấy bằng mắt thường ở bên ngoài, có thể kết hợp với sa tử cung
2.3 Điều trị: Theo nguyên tắc
- Sát trùng cẩn thận( vết thương )
- Đưa âm đạo về vị trí bình thường
- Cố định, không cho âm đạo lòi ra
- Cố định con vật đứng yên, dốc phần mông
- Rửa sạch vết thương (thuốc tím, glugol 1-2%)
- Dùng chất chát (tanin) giúp se lớp niêm mạc âm đạo
- Dùng bột kháng sinh tại chỗ ngừa nhiễm trùng
- Cố định âm đạo bằng cách ngăn cản sự co thắt tử cung, âm đạo (tiêm novocain, lidocain, procain ) May cố định hai mép âm môn lại
- Tiêm kháng sinh chống nhiễm trùng toàn thân (Oxytetracyline, Gentamycine, Amoxyllin )
Hình 2.1: Sa âm đạo trên heo
Hình 2.2: Sa âm đạo trên bò
Các chứng rối loạn về sản khoa trên thú cái ở giai đoạn cuối thời kỳ
Giai đoạn cuối của thai kỳ, thú mẹ thường có những biểu hiện làm ổ, bồn chồn, cong lưng, thở mạnh, hay rặn đẻ Dẫn đến các trường hợp:
- Chứng xuất huyết âm đạo
- Cơn co tử cung sớm
3.1 Chứng xuất huyết âm đạo (thường gặp cuối thai kỳ )
Là biểu hiện bệnh lý do sa âm đạo, phần âm đạo lòi ra ngoài bị cương mạch thụ động dẫn đến sự vỡ mạch, là hậu quả của bệnh viêm âm đạo cấp tính do các tổn thương cơ học, hoá học tạo ra
Các triệu chứng bệnh lý có thể thấy:
- Lớp niêm mạc âm đạo tím bầm từng vùng, kích thước nhỏ lớn tuỳ mức độ xuất huyết, máu thoát ra ngoài nhiều hay ít tuỳ vào mạch vỡ lớn hay nhỏ
- Xây sát, tổn thương do niêm mạc bị viêm cấp tính
- Mệt mỏi, suy nhược, đứng nằm không yên, đầu hay quay về phía bụng
- Thường sinh sớm do stress và sự can thiệp của con người trong quá trình điều trị
- Theo dõi bệnh lý màu, mùi, lượng của chất dịch và máu chảy ra
- Cần xác định vùng mạch máu vỡ, nếu có tụ huyết nên mổ để máu hư hại thoát ra ngoài, rửa vết thương, sát trùng
- Tiến hành các biện pháp cầm máu (dùng pen kẹp lại, cột mạch máu…)
- Chú ý phần thao tác điều trị giống như trường hợp sa âm đạo
- Kháng sinh có thể được dùng với liệu trình 3-5 ngày
3.2 Cơn co tử cung sớm
Cuối thai kỳ, hoàng thể chuẩn bị thoái dưới tác động của PGF2α tạo ra các cơn co thắt nhẹ ở đường sinh dục, đây là sự co thắt sinh lý không có hại Tuy nhiên, trong một số trường hợp cơ thể thú mẹ có những biểu hiện bất thường, khó chịu do sự co thắt của các tế bào cơ trơn đường sinh dục phối hợp với sự co thắt của cơ thành bụng làm tăng cường độ và biên độ từng hồi chuẩn bị cho thú mẹ đi vào giai đoạn sinh nở Kết quả là thú đẻ non hay sinh sớm Cơn co này có thể xảy ra trên các loài gia súc
- Cơ học: Làm việc quá sức, hoặc bị đánh đập, rượt đuổi, cắn nhau trên heo có thể do nhảy chuồng, chen lấn khi ăn uống
- Hoá học: Ngộ độc thức ăn, nước uống, tiêm nhầm thuốc, hay tiêm quá liều…
- Do nội tiết tố: Cơ thể thú mẹ bị rối loạn nội tiết tố như thoái hoá hoàng thể sớm do lượng prostaglandine phân tiết nhiều hay do rối loạn phân tiết oxytoxine của não thuỳ sau
- Trương lực tử cung gia tăng, gò nổi lên mặt thành bụng , tiếp theo là sự rặn đẻ
- Thú có biểu hiện đưa chân đá thành bụng khi có cơn co, có trạng thái không yên, có biểu hiện làm tổ
- Âm hộ không có dấu hiệu sưng phồng và tiết dịch (khác với sự đẻ bình thường)
- Xẩy thai chỉ xảy ra khi cơn co trãi qua vài ngày
- Cần phân biệt được hiện tượng sinh thật hay giả, theo dõi lâm sàng
- Giảm co thắt bằng Atropin hoặc dùng thuốc gây tê Novocain, Lidocain, Procain
- Có thể dùng thuốc an thần nhẹ giảm kích động
- Khám thai thường xuyên, quan sát bên ngoài, khám qua trực tràng, áp tay vào bụng
Trứng được thụ tinh và định vị trong tử cung của thú mẹ với tổ chức mô học chắc chắn đảm bảo sự phát triển bình thường Thời gian thai định vị thay đổi tùy theo loài động vật và đến cuối giai đoạn của kỳ mang thai, thú con sẽ được sinh ra, nhưng vì một lý do nào đó thai được tống ra khỏi cơ thể thú mẹ được gọi là xẩy thai
Trong khoảng nửa giai đoạn đầu của thời kỳ mang thai mà thú mẹ bị xẩy thai thì khó xác định nguyên nhân gây ra ngoại trừ trường hợp bị xẩy thai với dịch thoát từ âm hộ có màu vàng xám lẫn máu do viêm âm đạo, tử cung… Trong chăn nuôi, xẩy thai gây nhiều thiệt hại kinh tế, làm kéo dài khoảng cách giữa hai lứa đẻ, thú mẹ dễ bị viêm tử cung, vô sinh và có thể lây lan nếu nguyên nhân gây xẩy thai là bệnh truyền nhiễm Các trường hợp thường thấy như: tiêu thai, sinh non, thai khô, chết thai thối rữa
Trong thực tế, khi thú bị xẩy thai chúng ta thường tập trung vào các căn nguyên là bệnh truyền nhiễm Tuy nhiên, các nguyên nhân gây ra xẩy thai gồm hai nhóm: truyền nhiễm và không truyền nhiễm Như vậy việc chẩn đoán xác định nguyên nhân là việc làm khó khăn, cần chú ý đến các biểu hiện bệnh lý để có biện pháp điều trị hợp lý mang lại hiệu quả
- Nhiễm trùng qua đường sinh dục
- Nhóm vi sinh vật gây bệnh bao gồm: virus giả dại, Salmonella spp, Pasteurella spp, Brucella, Leptospira Hội chứng hô hấp sinh sản trên heo nái (PRRS) gây xẩy thai trên nái mang thai, heo con gây tiêu chảy và viêm phổi…
3.1.2 Nguyên nhân không truyền nhiễm
Chứng xẩy thai trên thú mẹ mà nguyên nhân được xác định là không truyền nhiễm được phân làm hai nhóm:
- Do cơ thể thú mẹ hay bào thai
- Do các yếu tố ngoại cảnh hay môi trường
Hình 2.3: Thai heo 5 tuần tuổi a Do cơ thể thú mẹ hay bào thai
- Khoản 80-90% noãn thụ thai được làm tổ, khoảng 28,6% hao hụt khi làm tổ Tỷ lệ hao hụt này gọi là sự lỡ làng ban đầu Việc này không thấy có dấu hiệu lâm sàng trên thú mẹ Theo Hertog et al., (1979) cho rằng sự lỡ làng ban đầu xẩy
12 ra là do sự bất ổn trong mối tương quan giữa trứng thụ tinh với lớp niêm mạc tử cung thú mẹ (dịch tiết tử cung, sự dị thường của trứng)
- Do yếu tố di truyền của thú mẹ đối với sự có mang, phôi phát triển không phù hợp với cơ thể mẹ
- Hormon sinh dục phát triển không bình thường giữa nhóm an thai
(progesterone) và nhóm phát triển trứngchín (FSH, LH)
- Thai nhiều hơn bình thường hay do dây rốn bị xoắn
- Nhau thai bám vào niêm mạc tử cung yếu hay bám không hoàn toàn vào tử cung
- Thú mẹ bị bệnh cũng là nguyên nhân thứ phát ảnh hưởng đến sự phát triển nội tạng của thai như tim, phổi, gan, dạ dày, ruột… b Do các yếu tố ngoại cảnh, môi trường
- Dinh dưỡng sai lệch, thú mẹ rối loạn trao đổi chất ảnh hưởng đến bào thai
- Thiếu vitamin, khoáng chất làm bào thai dị dạng, không đủ sức bám vào niêm mạc tử cung
- Thiếu dinh dưỡng, thú mẹ không đủ sức để duy trì bào thai
- Thú bị trượt ngã, bị đánh đập, cắn nhau Trên heo thường bị xẩy thai do nhảy chuồng hay bị stress nóng, lạnh
- Do nhiễm trùng (vi khẩn thường trực như Staphilococcus aureus)
- Cơ thể nhiễm độc chất từ thức ăn như Arsenic, Nitrate chì Thuốc điều trị không đúng liệu pháp, thuốc kỵ thai
- Chuồng trại trơn láng, không vệ sinh, quá nóng, quá lạnh
- Chăm sóc nuôi dưỡng không tốt
Các biểu hiện về xẩy thai trên gia súc thay đổi tùy thuộc vào sự phát triển của thai Sẽ có sự thay đổi ở các dây chằng, âm hộ… Tùy thuộc vào tình trạng thai chết trong bụng mẹ mà có những tên gọi như:
Thường xảy ra ở giai đoạn đầu thời kỳ mang thai, thời gian này thai chưa phát triển và chưa hình thành các tổ chức Tử cung hấp thu nước, thai không còn hiện hữu, nhưng dấu hiệu nhận biết là sừng tử cung có kích thước to hơn bình thường và mất trương lực Trường hợp này thường do thai yếu, thú mẹ bị nhiễm trùng khi phối giống, thú mẹ suy nhược, chậm động dục trở lại
Trường hợp này xảy ra trên heo hoặc thú đa thai, trung bình trên thú đa thai thì thai gỗ chiếm 4-5%, xảy ra ở 1/3 thời gian sau của thai kỳ Trên heo, thai gổ thường xảy ra trong khoảng 35-90 ngày của thai kỳ, số thai còn sống vẫn phát triển bình thường và được sinh ra như thường lệ a Nguyên nhân
Do bào thai hoặc nhau thai phát triển không đầy đủ, dị dạng hoặc không phù hợp với tử cung của thú mẹ Nhóm Parvo virus được coi là nguyên nhân chính gây ra trường hợp thai hóa gỗ, bên cạnh đó một số loài virus khác như: EMC, enterovirus, hội chứng sinh sản hô hấp trên heo cũng gây chứng thai hóa gỗ…
BỆNH SINH SẢN TRÊN THÚ CÁI TRONG THỜI KỲ
Hiện tượng đẻ bình thường trên gia súc
Trong điều kiện sinh lý bình thường, thú đẻ tự nhiên không cần sự can thiệp của con người, đây là điều kiện tốt nhất cho cơ thể thú mẹ Trong giai đoạn chuẩn bị lâm bồn thú mẹ có những biểu hiện bên ngoài: Bồn chồn, làm ổ, hay quay đầu về phía bụng…,những thay đổi bên trong: Co rút các cơ hoành, cơ bụng, cơ tử cung với cường độ và biên độ tăng dần, cổ tử cung mở ra (đây là dấu hiệu quan trọng của sự sinh con)
Sau khi cổ tử cung mở ra, nhau tách khỏi núm tử cung, thai chui dần vào âm đạo theo nhịp co thắt của tử cung Tại đây túi nước ối vỡ ra và dịch ối đầu thoát ra ngoài, tử cung tạm ngừng co bóp vài phút và co bóp trở lại với cường độ cao hơn, cùng với sự nín thở và phản xạ rặn đẻ tống thai vào âm đạo
Thai được bao bọc bằng các màng đệm, màng niệu, màng ối Các màng này vỡ, dịch ối chảy ra với độ nhầy rất cao trợ giúp thai tiến dần ra cửa âm hộ Bên ngoài âm hộ xuất hiện hai chân (chân trước là ngôi đầu, chân sau là ngôi sau) Cuối cùng toàn thân thai được tống ra ngoài, dây rốn tự đứt
Giai đoạn này cần có sự phối hợp nhịp nhàng giữa những phản xạ rặn đẻ đối với sự phân tiết nội tiết tố như oxytocine, relaxin để điều khiển quá trình sinh đẻ của thú mẹ Thời gian tống nhau thay đổi tuỳ thuộc nhiều yếu tố: giống, tuổi, lứa đẻ, kích cỡ xương chậu Thai vừa lọt lòng mẹ cần phải thông đường hô hấp, nếu không thở được cần phải hô hấp nhân tạo Đối với bê con cần được cạo lớp sừng mỏng ở bốn đầu móng chân để bê dễ dàng đứng dậy
Hình 3.1: Các hormone chi phối quá trình đẻ
Nguyên tắc cơ bản để kiểm tra đẻ khó
Kiểm tra thời gian mang thai, thời gian sinh, thời gian ra nhau các diễn biến trong quá trình mang thai và sinh đẻ
Kiểm tra lâm sàng: thể trạng thú, các biểu hiện ở đường sinh dục, âm hộ, hiện tượng rặn đẻ
Xem bên trong bằng mỏ vịt: xem cổ tử cung, các biểu hiện như cổ tử cung mở, trạng thái, (cứng hay mềm), kích thước, (nhỏ hay to), màu sắc…
Kiểm tra dịch ối: màu sắc, độ nhầy (đỏ tươi là xuất huyết ở tử cung, đỏ xẩm là xuất huyết ở nhau thai, độ nhầy thấp do dịch thuỷ thủng mô bào )
Kiểm tra ngôi (trước hay sau) Nếu là ngôi trước móng của thai úp xuống theo chiều dài sống lưng thú mẹ, tiếp tục sờ được đầu của thai Nếu là ngôi sau móng của thai ngửa lên theo chiều dài sống lưng thú mẹ
Cần quyết định nhanh chóng khi phát hiện bất thường để cứu được mẹ hoặc cả mẹ và con
Thai lớn và chin mùi
Dãn dây chằn xương chậu
Phá hủy hoàng thể, ức chế progesterone Đẻ
Tăng nhạy cảm với Oxytoxin
19 Đối với heo là động vật đa thai, khi đẻ được một số con thì thú mẹ ngưng đẻ nhưng bụng vẫn còn to, heo mẹ có biểu hiện mệt mỏi Người chăm sóc có thể can thiệp bằng cách đưa tay vào kiểm tra (có thể thai quá lớn hoặc tư thế, vị trí, hướng thai bất thường)
Cần xác định dạng đẻ khó để quyết định cách can thiệp Công việc chăm sóc thú sinh sản, nhất là trong những trường hợp đẻ khó đòi hỏi phải có tính kiên nhẫn, bình tĩnh, thao tác chín xác và khéo léo Như vậy thành công hay thất bại tùy thuộc vào các yếu tố:
- Biện pháp kỹ thuật, thiết bị hỗ trợ (dụng cụ, thuốc thú y).
Các trường hợp đẻ khó
Bộ khung xương chậu hẹp hay nhỏ hơn bình thường do các nguyên nhân:
- Thú cái tơ chưa phát triển hoàn chỉnh, cho phối giống sớm
- Do bẩm sinh, còi cọc suy dinh dưỡng nhất là trong giai đoạn sơ sinh
- Thú ít vận động trong thời kỳ mang thai
- Thú bị bại liệt trước khi sinh
- Rối loạn sản xuất và phân tiết hormone relaxin Hormone này có tác dụng làm dãn dây chằng xương chậu, dãn cổ tử cung
Cần phân biệt hẹp khung xương chậu với các trường hợp khác như sự phối hợp hoạt động không đồng bộ giữa cơ tử cung, cơ bụng với sự rặn đẻ, thai quá lớn, hai thai ra cùng lúc Các biện pháp có thể áp dụng như:
- Xoay thai ngang: Khi xương chậu hẹp vừa phải hoặc thai không quá lớn, biện pháp thực hiện bằng cách sửa vai thú con từng bên để lọt qua xương chậu, giảm được độ vướng khi hai vai ra cung lúc
- Dùng móc sản khoa: Trong trường hợp thai đã chết thì dùng móc sản khoa móc vào hốc mắt của thú con hoặc cắt thai
- Cắt thai: Thai sẽ được cắt thành từng mảnh nhỏ và đem ra ngoài qua đường âm đạo , biện pháp này rất khó, đòi hỏi kỹ thuật cao
3.2 Cổ tử cung mở chậm
Trong điều kiện sinh lý bình thường, sau khi thú có những biểu hiện của triệu chứng rặn đẻ thì cổ tử cung sẽ mở và chuẩn bị sinh con Nếu cổ tử cung không mở hoặc mở không đạt kích thước coi như cổ tử cung mở chậm Tử cung có dạng ống hình trụ dài 8-10cm (trâu bò), kích thước có biểu hiện giảm dần khi thú chuyển dạ, sự giảm kích thước được gọi là sự xóa mất cổ tử cung hay độ mở tử cung khi lỗ tử cung rộng ra
Khi triệu chứng sinh đẻ đã trãi qua các cơn rặn mãnh liệt nhưng cổ tử cung chưa mở hay mở chưa đạt kích thước có thể dẫn đến vỡ tử cung (cẩn thận khi dùng oxytocine) Để hạn chế các cơn rặn này có thể dùng các loại thuốc tê gây tê màng cứng tuỷ sống (novocain, lidocain, procain) Khi triệu chứng sinh đẻ thông qua các cơn rặn yếu, cổ tử cung mở chậm do trở ngại trong co thắt tử cung thường xảy ra trên thú thiếu calcium trong máu; đôi khi do sốt sữa…, lúc này cần tăng cường co bóp tử cung bằng oxytocine
Bệnh có thể xảy ra ở cả thú mang thai một sừng tử cung hay trên thú mang thai cả hai sừng Nguyên nhân có thể do hệ thống các dây treo bị yếu, thường xảy ra trên thú đẻ nhiều lần, tỷ lệ tăng dần theo tháng mang thai Tác hại có thể cản trở tuần hoàn trong việc cung cấp máu đến tử cung và bào thai Hình dạng xoắn dài theo trục âm đạo và thân tử cung theo chiều bên phải hay trái, mức độ xoắn
Có thể xảy ra trên thú đang sinh con do sự di động của thai nhi, sức rặn, sự lăng trở đau đớn của thú mẹ, sự căng dãn quá mức của dây chằng.Trong trường hợp cổ tử cung mở chậm hơn so với các cơn rặn đẩy thai nhi ra làm cho tử cung bị quay vòng Theo William các trường hợp xoắn xảy ra trên bò nuôi chăn thả là 2,7% và trên bò nuôi chuồng là 8,6% Các nhà thú y tại Mỹ cho rằng tình trạng đẻ khó xảy ra vào mùa xuân vì suốt mùa đông bò bị nhốt trong chuồng từ 4-6 tháng nên thiếu sự vận đông
Bệnh có thể can thiệp bằng cách:
- Kiểm tra qua âm đạo để xác định chiều xoắn (nếp nhăn xuyên theo chiều xoắn hướng về cổ tử cung)
- Xác định sớm, can thiệp kịp thời
- Dùng tay đưa vào âm đạo, tựa vào đầu bê đẩy mạnh qua thành bụng thú mẹ, đẩy thai theo chiều ngược lại
- Lật thú mẹ ngược lại chiều xoắn tử cung
- Mổ đường hông, sửa tử cung lại vị trí cũ
3.4 Sinh đôi trên thú cái đơn thai
Trong điều kiện bình thường, hoạt động của các nội tiết tố không bị rối loạn Nhưng do hai thai sẽ có kích thước và khối lượng lớn hơn bình thường, tử cung phải co dãn rộng hơn để chứa được hai bào thai Thai thứ nhất được sinh ra dễ dàng nhưng thai thứ hai có thể có những trường hợp xoay trở Có thể can thiệp bằng cách:
- Nếu hai thai ra cùng lúc sẽ bị vướng ở khung xương chậu (thú đa thai) Chờ cơn rặn giảm đưa tay vào đẩy bớt một thai vào trong, đỡ lần lượt từng con ra ngoài khi đã chỉnh sửa tư thế thuận lợi Trên thú nhỏ, có thể nắm hai chân sau của thú mẹ nhấc chỏng lên để giúp cho thai tuột vào trở lại vào bên trong, sau đó đỡ lần lượt từng con ra ngoài
- Trên gia súc lớn, sau khi đã đỡ thai thứ nhất có thể tiêm oxytocine hỗ trợ thêm sức rặn cho thú mẹ và giảm bớt độ rộng của tử cung
3.5 Tư thế - Vị trí và hướng thai bất thường
3.5.1 Tư thế a Đầu của thai (vẹo qua một bên, quập xuống, ngửa ra sau gáy, cổ bị vặn)
- Đầu của thai quẹo qua một bên:
Do đầu vẹo gấp lại một bên làm đường kính lớn hơn khung xương chậu nên dẫn đến đẻ khó Có thể lúc đầu chỉ vẹo ít, nhưng do cơn co thắt và cơn rặn đẻ làm cho mức độ vẹo nặng hơn Đôi khi thai bị vẹo đầu do người can thiệp kéo thai ra quá sớm khi đầu thai chưa qua khỏi cổ tử cung Tư thế này có thể có trên các loài gia súc, ngoại trừ trên heo (heo có cổ ngắn)
Khi khám bên trong có thể nhận thấy hai chân nhưng không thấy được đầu của thai (cần phân biệt với hai chân sau) Nhìn bên ngoài, thú mẹ có triệu chứng đẻ kéo dài, mệt mỏi
Can thiệp: Tùy thuộc vào tư thế nằm của thú mẹ, có thể gây tê màng cứng tủy sống để hạn chế cơn rặn của thú mẹ, sau đó đẩy thai ngược vào bên trong xoang bụng, chỉnh lại hai chân và kéo đầu bê thẳng theo trục của thai (dùng tay nắm hàm dưới của thai và kéo đầu thẳng lại) Khi hết tác dụng của thuốc tê, cơn rặn trở lại thì bơm dung dịch bôi trơn vào tử cung và kéo thai ra ngoài theo từng nhịp rặn Khi đã xác định đầu vẹo sang một bên thì không nên cố kéo ra hoặc sử dụng oxytocine Nếu thai đã chết và dịch ối đã khô, các biện pháp can thiệp bên ngoài không hiệu quả có thể cắt thai hoặc mổ lấy thai ra
- Đầu thai quập xuống ức
22 Đầu co xuống phần ức giữa hai chân trước của thai, trường hợp này xảy ra trên thú có cổ quá dài Nguyên nhân dẫn đến thường do quá trình di chuyển trong âm đạo thai thường chúi mỏm xuống, đưa gáy vào xương chậu, cơn co bóp sẽ đẩy phần sau thai dồn về trước làm đầu của thai quập xuống từ từ
Can thiệp giống như tình huống đầu vẹo sang một bên Tuy nhiên, nếu đầu hơi chúi xuống đưa trán hay đỉnh đầu vào xương chậu thì dễ can thiệp Một số trường hợp, cơn rặn của thú mẹ mạnh và kéo dài làm thai vướng rất chặt ở khung xương chậu thì phải sử dụng phương pháp gây tê tủy sống để đẩy thai vào trong, cắt thai hoặc mổ bụng lấy thai
- Đầu thai nhi ngửa ra sau Được xác định khi khám thai sờ thấy phần sụn khí quản, trường hợp này thường kết hợp với đầu vẹo sang một bên
Sót nhau
Sau khi tống thai thì đến thời kỳ tống nhau (bao gồm các giai đoạn: chuẩn bị, bong nhau, tống nhau và tắt mạch), nếu quá một khoảng thời gian nhất định mà nhau chưa ra thì coi như sát nhau Bệnh thường xảy ra trên thú cao sản như bò sữa
Có nhiều nguyên nhân ảnh hưởng đến khả năng bong nhau và tống nhau:
- Bên ngoài: Thiếu vận động trong thời gian mang thai, thiếu dinh dưỡng (A,
E, Ca, Mg hay Se ), thú mẹ có thể bị nhiễm vi sinh vật trong thời gian mang thai
- Bên trong: Thú mẹ đẻ non, sinh nhiều thai, viêm núm tử cung, núm nhau, tử cung co bóp yếu, nước ối nhiều hơn bình thường
Thường lá nhau bị rách, khi ráp hai mí rách lại các mạch máu không trùng khớp thì khả năng còn lại một mảng trong tử cung thú mẹ Trên heo, mảng nhau còn sót có thể được tống ra cùng với các lần rặn đẻ con kế tiếp hoặc ra cùng với lá nhau khác Trên trâu bò phần sót < 1/5 lá nhau khó phát hiện, 1 hoặc 2 ngày sau hôi thối khó chịu Nếu sót mảng nhau > 1/3 lá nhau thì có thể thấy phần nhau ló ra ngoài âm đạo và cũng hôi thối sau 1-2 ngày Xảy ra mãnh liệt trên ngựa do bại huyết và có thể chết, trên heo gây sốt, bỏ ăn thai , tái lạnh, sản dịch và nhau thai thối tống ra âm đạo dẫn đến viêm tử cung, mất sữa trong hội chứng MMA
(Mastitis, Metritis, Agalactiae) Trên trâu bò kém nhai lại, bỏ ăn, cong lưng rặn, sốt, sản lượng sữa giảm (30-50% )
- Số con đẻ ra nhiều hơn số nhau (heo, dê, cừu…) Trên trâu bò dễ nhận khi kiểm tra phía sau
- Phân biệt với trường hợp thú ăn lại nhau (theo dõi triệu chứng toàn thân)
- Trên thú lớn, khi chưa thấy tống nhau, không thấy các màng trắng hồng ở âm hộ, chỉ thấy nước nhầy ở âm đạo, không thấy màng đàn hồi dai của lá nhau thì thú có thể sót nhau Trên ngựa, sót nhau toàn phần để lại cuống nhau ló ở âm hộ và sau 12-24 giờ mà nhau chưa ra sẽ có triệu chứng toàn thân như sốt, bỏ ăn, rặn cong đuôi, sữa giảm Nhau tự thối rữa và tống ra ngoài nhưng thường để lại hậu chứng viêm tử cung vào thời kỳ hậu sản
Hình 4.1: Sót nhau trên bò sữa Bảng 4.1: Thời gian ra nhau của một số loài gia súc
TT Loài động vật Thời gian ra nhau Thời gian sót nhau
- Ưu tiên theo thứ tự ngựa, heo, dê, cừu, trâu bò
- Không lôi kéo, cột vật nặng, hay cắt bỏ phần nhau lòi ra ngoài
- Không bơm dung dịch rửa tử cung vào vì có thể gây viêm tắt ống dẫn trứng
- Trên trâu bò có thể bóc nhau (thực hành)
- Bảo lưu nhau lại trong tử cung (đặt thuốc ngừa viêm nhiễm, tiêm kháng sinh tòan thân), nhau tự ra sau một tuần
- Trên heo có thể tiêm oxytocin để hỗ trợ tống nhau
- Trên ngựa sau khi đẻ 30 phút không thấy nhau ra thì dùng phương pháp bóc nhau Thao tác có thể nhẹ nhàng hơn trên trâu bò vì sức bám của nhau thai kém hơn trên trâu bò
- Không thụt rửa tử cung, chỉ làm vệ sinh bên ngoài, có thể đặt nang thuốc kháng sinh
- Có thể tiêm oxytocin trong ba ngày đầu, mỗi ngày một lần nhằm hỗ trợ tử cung tống sản dịch tốt hơn.
Bại liệt sau khi sinh
Sau khi sinh, thú cái thường có biểu hiện không đứng dậy được, tình trạng này gọi là bại liệt sau khi sinh
- Thường do cơn rặn kéo dài, tử cung co thắt quá mãnh liệt, do can thiệp lúc không cần thiết của con người (kéo thai khi thiếu dịch ói), tiêm oxytocin không đúng thời điểm
- Thường xảy ra trên thú đẻ nhiều lần (>3)
- Bị liệt từ lúc có mang kéo dài đến lúc sinh
- Do tổn thương dây thần kinh xương chậu khi sinh đẻ hay can thiệp
- Thai quá lớn, dây chằng xương chậu giãn, cơ mông, cơ âm đạo nhão
- Thiếu vận động trong thời gian mang thai, thiếu D, Ca, P
- Thú đứng dậy khó khăn kéo dài vài giờ hoặc liệt chân sau vài ngày hay vài tuần
- Thường xảy ra từ lúc đẻ đến 24 giờ sau, thể nhẹ chiếm khoảng 80%
- Trên gia súc lớn thường chướng hơi nhẹ, kém đi lại, run rẩy, lảo đảo, có thể liệt nằm một chỗ
- Trên heo thường hoảng hốt, cố bật để đứng dậy, chết thường do đập đầu xuống nền chuồng
- Do thiếu Ca thường nhiệt độ thấp hơn bình thường, bại liệt do thần kinh thì phản ứng kém khi dùng kim đâm vào đùi
- Dê cừu thường ở thể nhẹ
- Bệnh nặng có thể hôn mê, giảm phân tiết hay mất sữa
- Triệu chứng bệnh phát ra rất nhanh, dễ dẫn đến tử vong nếu can thiệp chậm
- Phát hiện kịp thời, chẩn đoán chính xác nguyên nhân, khả năng khỏi cao (80%), nhưng nếu tái phát bệnh sẽ trầm trọng hơn
- Nếu kết hợp với đẻ khó, sa tử cung thì khả năng khỏi bệnh thấp
- Nếu do thần kinh xương chậu nên dùng một số thuốc kích thích hệ thần kinh
- Do thiếu Ca và P thì cung cấp các chất có chứa calcium, chú ý khi thú bị chướng hơi.
Bệnh sốt sữa
Thường xảy ra trên bò cái sau sinh, nhất là các giống bò sữa cao sản và đã sinh đẻ nhiều lứa
- Hàm lượng Calcium giảm đột ngột từ 10mg% xuống còn 3mg%
- Hàm lượng magnesium huyết thanh tăng hay giảm nhiều nếu quá cao dẫn đến tình trạng tê liệt, thú đờ đẫn Nếu hàm lượng quá thấp sẽ gây ra chứng co giật (xảy ra ở mọi thời điểm, mọi lứa tuổi và không nhất thiết sau khi sinh)
- Xuất hiện từ 24-72 giờ sau khi sanh
- Thú mất thăng bằng, lảo đảo, biếng ăn, nằm nhiều, thân nhiệt dưới 38 0 C, đầu quay về phía hông, mắt mờ, ngơ ngác, gương mũi khô, thân nhiệt hạ, đường tiêu hóa mất trương lực, thú bị táo bón, hậu môn mở rộng
- Hôn mê nặng và chết (nằm nghiêng, nôn mửa, bụng phình to)
- Cần phân biệt với các bệnh khác như co giật vì cỏ, dạ cỏ không tiêu, trật khớp xương hông, tê liệt dây thần kinh
- Cung cấp vitamin D vài ngày
- Cung cấp gluconate calcium hay calcium chloride
- Vắt cạn sữa bầu vú
- Khi do Mg thấp cần cung cấp thêm magnesium sulfate 5%
- Nếu chưa xác định được thành phần Ca, Mg, P trong huyết thanh nên cung cấp dung dịch chung cả ba loại trên
- Có thể bơm khí lọc sạch vào bầu vú 6-8giờ/lần
Tổn thương đường sinh dục sau khi sinh
Niêm mạc âm đạo và âm hộ thường bị tổn thương sau khi sinh, nhất là trên gia súc mới đẻ lứa đầu hay do bộ phận sinh dục có kích thước nhỏ hơn bình thường, sự viêm nhiễm này thường không chuyên biệt
- Do can thiệp bên ngoài hay do đẻ khó
- Do viêm tử cung, sót nhau, dịch viêm đi qua âm đạo
- Sa âm đạo sau khi sanh
- Xâm nhiễm các chất dơ từ bên ngoài như phân từ hậu môn, nền chuồng
- Ung thư âm đạo, âm đạo có hạt bội triển
- Âm hộ, âm đạo sưng đỏ hay xám, có vết xây sát, màng niêm dễ chảy máu, có khi hoại tử có mủ, hôi thối
- Âm hộ có thể phù độc (Clostridium septicum), có thể chết sau 1 - 2 ngày
- Ít gây ảnh hưởng tình trạng chung nhưng có thể lây sang tử cung
- Có thể tự khỏi nhưng cần điều trị để giảm sự đau đớn
- Bơm rửa các dung dịch sát trùng nhẹ
- Nặng, có thể tiêm kháng sinh chống nhiễm trùng toàn thân
- Có thể gây tê để giảm đau
- Can thiệp kịp thời hồi phục tốt
4.2 Viêm âm đạo thú nhỏ
Do giao phối, do sinh đẻ, do ngoại vật vào âm đạo, nang thủng buồng trứng kích thích phân tiết estrogen liên tục, một số trường hợp có thể do sót nhau
- Vết mủ rơi vải nơi thú nằm, hay dính khô ở hai mép âm môn, môi âm đạo sưng to tùy theo mức độ bệnh
- Ở chó dịch viêm tiết ra có thể gây hấp dẫn chó đực và dễ nhầm lẫn với hiện tượng lên giống
- Khám âm đạo bằng mỏ vịt thấy các hạt nhỏ, đỏ, có mủ Nặng thì cả âm đạo viêm đỏ
- Dùng dung dịch sát trùng nhẹ rửa sạch âm đạo và âm hộ
- Khi có triệu chứng toàn thân cần tiêm kháng sinh
- Khi có biểu hiện lên giống cần tiêm progesterone
Do can thiệp, do đẻ khó, nhiễm vật lạ vào trong tử cung, thú mẹ suy nhược khi đẻ, do xảy thai, sót nhau
- Suy nhược toàn thân, thân nhiệt tăng, mạch tăng, thở nhanh, tử cung teo lại chậm, tiết chất hôi thối, màu trắng, xám có lẫn máu hay tế bào
- Nặng có thể gây thủng lớp niêm mạc, lớp cơ tử cung, lớp tương mạc tử cung gây chết thú
- Trên heo nái thường đi đôi với viêm vú và mất sữa ( MMA )
- Trên ngựa, dê, cừu thường đi đôi với hiện tượng sót nhau
- Kịp thời thì mau lành bệnh và ít ảnh hưởng đến khả năng sinh sản của thú
- Phải tích cực, đúng phương pháp
- Chú ý một số trường hợp kết hợp với tồn lưu hoàng thể
- Chú ý sự vấy nhiễm vsv khi can thiệp đẻ khó
- Có thể đặt thuốc (viên nang), tiêm kháng sinh điều trị toàn thân
- Chú ý sự suy nhược của thú mẹ (hỗ trợ bằng glucose & acid amin)
Hình 4.2: Cơ chế gây viêm 4.4.Viêm tử cung ở thú nhỏ
Tổn thương sau khi sanh, sót nhau, đẻ khó, thai chết, do thời kỳ động dục trong năm, ung thư tử cung, do lớp niêm mạc tử cung bội triển
- Thể cấp thú sốt cao, uống nhiều nước, nôn ói, tiêu chảy, suy nhược toàn thân, đôi khi dẫn đến nhiễm độc máu
- Tiết chất lẫn mủ, máu, dịch chảy ra âm hộ
- Ít xảy ra viêm kinh niên, tuy nhiên khó thụ thai và thường sinh non
- Đôi khi chỉ thấy được khi chụp X quang (thành tử cung dày lên)
- Vệ sinh đường sinh dục và âm môn
- Đặt viên nang vào tử cung, âm đạo
- Dùng oxytocin liều thấp để tống dịch viểm ra ngoài
- Tiêm kháng sinh toàn thân Động dục Mở cổ tử cung Đẻ Giai đoạn mang thai Táo bón, tress
Viêm tử cung Tạo nang buồng trứng Nâng, chậm lên giống
Nhiễm bẩn quanh âm đạo
Bệnh khớp Nước uống không đủ Dư khoáng Dư đạm
- Nặng thì cắt bỏ buồng trứng, tử cung
Sa tử cung do nhiều nguyên nhân: có thể do thú đẻ nhiều lần, thai quá lớn, can thiệp không đúng cách, thô bạo, sót nhau…
- Toàn bộ tử cung lòi ra bên ngoài
- Niêm mạc sưng, xuất huyết
Việc điều trị cần tich cực, nhanh chóng với các thao tác sau:
- Gây tê màng cứng để hạn chế sức rặn
- Đưa tử cung trở lại vị trí bình thường
- Cố định bằng các đường may
- Trợ sức bằng dung dịch glucose 5% hoặc 30%
- Dùng kháng sinh toàn thân.
Bệnh viêm vú trên bò sữa
Trong một chu kỳ tiết sữa, lượng sữa thường đạt đến đỉnh cao (vào tháng thứ 2 -3) Kể từ sau đỉnh sữa, người ta ước lượng sữa tháng sau thường thấp hơn tháng trước 10 % Khi bò có thai, lượng sữa cũng giảm nhanh chóng, nhất là từ tháng có thai thứ 5 trở đi Lượng sữa sáng thường chiếm 60% lượng sữa trong ngày
Trong một đời bò sữa, bò thường đạt năng suất cao nhất vào chu kỳ thứ 3 Ở chu kỳ 1, năng suất của bò chỉ chiếm 75% so với thời điểm đạt cao nhất Ở chu kỳ 2 là khoảng 85% Sữa được tiết theo cơ chế phản xạ Phản xạ tiết sữa liên quan đến thần kinh và thể dịch (các kích thích tố, hormone)
Trong suốt thời gian thải sữa 40% sữa còn nằm trong bể sữa và trong các hệ thống ống lớn, còn lại 40% được sản xuất và dự trữ trong các hệ thống ống dẫn nhỏ và những kênh nhỏ Muốn cho sự thải sữa hoàn toàn thì việc vắt sữa phải bắt đầu ngay tức thì khi xảy ra hiện tượng thải sữa Bởi vì, oxytocin sẽ chấm dứt tiết ra, nếu thời gian vắt sữa chậm hơn hiện tượng thải sữa là 5 phút, có nghĩa là 25% sữa sẽ tồn lại bầu vú và sản lượng sữa sẽ giảm (theo thống kê các nước lượng giảm 2 kg/bò/ngày trên một bò cái)
Tuy nhiên, trong điều kiện những hộ chăn nuôi nhỏ, không có nơi vắt sữa chuyên biệt, khi tiến hành vắt sữa một con thì những con khác cũng đã bắt đầu bị kích thích và khi con này được vắt xong thì mới đến lượt con khác thì cũng gây ảnh hưởng đến phản xạ tiết sữa Vì vậy cần phải bố trí một nơi vắt sữa chuyên biệt để việc kích thích một con bò này không ảnh hưởng đến phản xạ tiết sữa của con khác
Bảng 4.2: Thành phần chính của sữa đầu và sữa thường
Thành phần Sữa đầu (%) Sữa thường (%)
5.2 Các loại vi trùng gây bệnh viêm vú
- Liên cầu khuẩn (Streptococcus): chiếm 86%, Gram + chủ yếu là:
+ S.agalactiae: chỉ phát triển trên mô tuyến vú ; dễ bị khống chế, tiêu diệt
+ S dysgalactiae, S uberis, S.agalactiae phát triển bên ngoài mô tuyến vú và khó loại trừ
- Tụ cầu khuẩn (Staphyloccus) chiếm 5,4% trường hợp S.aureus (vi khuẩn
Gram +) là vi khuẩn gây bệnh mạnh và thường ở dạng cấp tính Vi khuẩn này xâm nhập và tấn công vào các tế bào nang và có tính kháng penicillin Vì vậy nó rất khó xử lý Bên cạnh đó, nó còn sản sinh ra các độc tố (coagulaza, hemolysine) gây co thắt mạch máu và hoại tử mô tế bào
- Trực khuẩn bao gồm các trực trùng sinh mủ 2,7%, E.coli 1,2%, các loài vi trùng khác 3,75% Các vi khuẩn này sống chủ yếu trong môi trường (phân, chất độn, nguồn nước bị ô nhiễm…)
- Ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp
- Nhiệt độ cao, ẩm độ cao cũng là điều kiện thuận lợi cho các vi sinh vật gây bệnh, các côn trùng mang tác nhân gây bệnh phát triển
- Các loại stress tác động trên bò sữa ( tiếng ồn, thái độ chăm sóc bò, mật độ nuôi quá cao…) ảnh hưởng đến hệ thống miễn dịch của bò sữa (làm suy yếu) từ đó cũng làm gia tăng tỷ lệ mắc bệnh viêm vú
- Đặc biệt nhiệt độ, ẩm độ cao gây ra stress nhiệt trên bò sữa là cần được quan tâm nhiều nhất
- Bò nếu được nuôi giử trong chuồng thì cũng dễ mắc bệnh viêm vú
- Tại Úc, người ta nhận thấy bò sữa nếu được chăn thả ngoài đồng cỏ thường xuyên, thì tỷ lệ mắc bệnh viêm vú do môi trường giảm
- Tuy nhiên, khi chăn thả ngoài đồng cỏ, cần phải chú ý đến các tổn thương trên bầu vú
- Tỷ lệ bệnh viêm vú trên bò nuôi nhốt ở kiểu chuồng cầm cột cao hơn ở kiểu chuồng tự do không cầm cột
Tóm lại, chuồng trại vệ sinh kém, không thông thoáng và ánh sáng thiếu, mật độ nuôi cao là nguyên nhân gây tỷ lệ bệnh viêm vú tăng cao, chăm sóc quản lý không đúng kỹ thuật, dinh dưỡng không phù hợp
5.3.3 Nguồn thức ăn, nước uống
- Mức cân bằng dưỡng chất và việc thay đổi khẩu phần quá nhanh
- Khẩu phần ăn quá dư thừa nitơ đặc biệt là nitơ phi protein (tác động đến hệ thống miễn dịch của cơ thể bò sữa)
- Tỷ lệ thức ăn tinh trong khẩu phần quá cao cũng là nguyên nhân gây nên bệnh
- Khẩu phần có năng lượng cao cũng ảnh hưởng đến tỷ lệ viêm vú Việc bổ sung quá nhiều thức ăn thô xanh họ đậu, đặc biệt là cỏ Alfalfa, có chứa nhiều chất estrogen, cũng làm ảnh hưởng đến tỷ lệ viêm vú Hàm lượng Vitamin E và
Selenium cao trong khẩu phần thức ăn sẽ giúp cải thiện hệ thống miễn dịch của cơ thể bò sữa
- Thức ăn nhiều vi trùng, nấm mốc làm ảnh hưởng đến hệ thống miễn dịch
- Phương pháp vắt sữa, kỹ thuật vắt sữa không đúng, thời gian và số lần vắt, áp lực vắt không đảm bảo
- Người vắt sữa có trách nhiệm,lau gia súc, dọn nơi vắt sữa, rửa dụng cụ vắt sữa và tay rửa trước khi bắt đầu vắt sữa
- Người vắt sữa phải khỏe mạnh không mang vi trùng hay bệnh tật có khả năng truyền vi trùng hoặc lây lan sang gia súc
- Nên có qui định người vắt sữa phải có giấy phép hành nghề, và kiểm tra sức khoẻ định kỳ
- Chú ý có ngăn sát trùng ở cửa chuồng vì người vắt sữa có thể đi từ chuồng này qua chuồng khác hoặc nhà này sang nhà khác
5.4 Điều trị bệnh viêm vú
- Giúp bầu vú tránh khỏi vi khuẩn gây bệnh phá hoại
- Ngăn ngừa bầu vú không cho trở thành nguồn truyền bệnh viêm vú trong đàn bò sữa
- Bò bệnh phải được nhốt riêng cách ly
- Người chăm sóc và dụng cụ riêng
- Phân và chất độn chuồng, chất thải khác phải tiêu độc triệt để hằng ngày Những con vật không còn khả năng chữa khỏi nên loại thải sớm Để điều trị, người ta tiến hành 2 biện pháp song song a Điều trị tại chổ: Tiến hành xoa bóp bầu vú
Nhúng vào dung dịch sát trùng: có thể sử dụng các lọai thuốc sát trùng nhúng núm vú như Iodine, Diplo hoặc CID 20 Bơm vào bầu vú các loại pomade trị viêm vú: pomade Mamifort được sử dụng điều trị bệnh viêm vú trong giai đoạn bò đang cho sữa một cách hiệu quả
Sử dụng thuốc chống viêm: Có thể dùng loại thuốc kháng viêm mới không chứa steroid, tác động nhanh, mạnh và kéo dài, không gây ảnh hưởng trên sữa, giúp giảm đau hạ sốt đang được khuyến cáo (Neuxyn tiêm 2ml/ 50 kg thể trọng)
37 b Điều trị toàn thân: Điều trị toàn thân cho bò sữa nếu bò có triệu chứng toàn thân (sốt cao, bỏ ăn…)
- Tiêm thuốc kháng sinh liều cao: Có thể sử dụng thuốc kháng sinh
Amoxoil Retard (Amoxycillin) với liều 1ml/15 -30 kg thể trọng với tác dụng kéo dài 48 giờ
- Biện pháp hỗ trợ: giảm thức ăn bò bị viêm vú, bò bệnh có chế độ chăm sóc riêng, bổ sung ADE và các Vitamin
Các vấn đề cần ghi nhớ khi thực hiện vắt sữa Việc áp dụng đúng các quy trình vắt sữa đúng phương pháp không những giúp cho việc kiểm soát được bệnh viêm vú mà con tăng năng suất cho bò sữa
- Phản xạ xuống sữa của bò sữa chỉ kéo dài khoảng 5 -6 phút
- Thời điểm vắt sữa là thời điểm cơ vòng bầu vú mở ra
- Sữa là một nguồn dinh dưỡng phong phú và dồi dào
- Sữa sau khi vắt phải được nhanh chóng đưa vào hệ thống bảo quản để hạn chế quá trình phát triển của các vi sinh vật có hại
- Phải chuẩn bị nơi vắt sữa chuyên biệt
- Nơi vắt sữa phải khô ráo, sạch sẽ, thường xuyên được sát trùng
- Toàn bộ dụng cụ vắt sữa phải sạch sẽ, sát trùng hoặc tráng qua nước sôi phơi khô
- Người vắt sửa phải có quần áo sạch, rữa tay bằng xà phòng và lau kỹ bằng khăn sạch trước khi vắt sữa
- Nếu bò được tắm trước khi vắt sữa, thì phải đợi cho bò khô ráo hoàn toàn mới tiến hành đưa vào nơi vắt Dùng khăn sạch nhúng vào nước ấm 40oC - 420C rữa sạch đầu vú sau đó lau bằng khăn sạch
- Chú ý đến thứ tự vắt
• Nhúng đầu vú vào thuốc sát trùng hoặc dùng bình xịt
• Xoa bóp kích thích bầu vú đến khi có cảm giác bầu vú đã bắt đầu cương cứng, căng sữa Vắt bỏ các tia sữa đầu từ mỗi núm vú vào một khay sẫm
• Vắt kiệt sữa để tăng tỷ lệ mỡ sữa và giảm nguy cơ viêm vú
• Sữa những con viêm vú và đang điều trị kháng sinh để riêng không nhập chung vào sữa sạch để bán