1. Trang chủ
  2. » Nông - Lâm - Ngư

Giáo trình Môi trường và sức khỏe vật nuôi (Nghề: Chăn nuôi - Cao đẳng) - Trường Cao đẳng Cộng đồng Đồng Tháp

60 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Giáo trình Môi trường và sức khỏe vật nuôi (Nghề: Chăn nuôi - Cao đẳng)
Trường học Trường Cao Đẳng Cộng Đồng Đồng Tháp
Chuyên ngành Chăn nuôi
Thể loại Giáo trình
Năm xuất bản 2017
Thành phố Đồng Tháp
Định dạng
Số trang 60
Dung lượng 1,01 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • CHƯƠNG 1 (8)
    • 1. Các khái niệm về bệnh dịch (8)
    • 2. Những vấn đề cơ bản cần nắm vững để quản lý dịch bệnh thành công (11)
      • 2.1. Quy định về tiêm phòng bắt buộc vaccine cho gia súc, gia cầm (11)
      • 2.2. Danh mục các bệnh phải công bố dịch; các bệnh nguy hiểm của động vật; các bệnh phải áp dụng các biện pháp phòng bệnh bắt buộc (13)
      • 2.3. Trách nhiệm của cơ quan quản lý nhà nước và người chăn nuôi trong việc phòng chống dịch bệnh (14)
      • 2.4. Hướng dẫn phương pháp tiêu độc, khử trùng, tiêu huỷ xác động vật và xử lý sự cố chôn trong vùng có dịch (17)
      • 2.5. Vùng, cơ sở an toàn dịch bệnh động vật (20)
    • 3. Thực hành (24)
  • CHƯƠNG 2 (27)
    • 1. Giới thiệu (27)
    • 2. Các bệnh dịch trên đàn heo (28)
    • 3. Chiến lược quản lý dịch bệnh (34)
      • 3.1. Dinh dưỡng và thức ăn (34)
      • 3.2. Nguyên tắc cơ bản của các biện pháp kiểm soát bệnh (34)
      • 3.3. Quản lý đàn heo để chăn nuôi đạt hiệu quả (36)
      • 3.4. Sách lược quản lý dịch bệnh trên heo (38)
    • 4. Thực hành (39)
  • CHƯƠNG 3 (41)
    • 2. Các bệnh dịch trên bò (41)
      • 3.1. Hệ thống sản xuất và quản lý sức khỏe vật nuôi (43)
      • 3.2. Quản lý sức khỏe đàn bò từ công tác giống (44)
      • 3.3. Sách lược quản lý dịch bệnh (45)
  • CHƯƠNG 4 (49)
    • 2. Các bệnh dịch trên gia cầm (49)
      • 3.3. Quản lý đàn gia cầm để chăn nuôi đạt hiệu quả (53)
      • 3.4. Sách lược quản lý dịch bệnh trên gia cầm (56)
    • 4. Thảo luận (58)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (60)

Nội dung

Giáo trình Môi trường và sức khỏe vật nuôi trang bị cho sinh viên kiến thức về các nguyên lý, cách xây dựng các chiến lược, quản lý dịch bệnh trên vật nuôi khi có dịch bệnh xảy ra. Mời các bạn cùng tham khảo!

Các khái niệm về bệnh dịch

Vậy chiến lược quản lý dịch bệnh là một kế hoạch bao gồm nhiều biện pháp và cách thức để kiểm soát được dịch bệnh (phòng và chống dịch)

- Ca bệnh: là những cá thể riêng biệt với những bất thường về sức khoẻ xảy ra

- Bệnh dịch: là những bệnh lây lan nhanh và có thể tạo thành dịch

Ổ dịch là vị trí xác định có dịch, là nơi ghi nhận các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm ở động vật thuộc danh mục các bệnh phải công bố dịch hoặc danh mục các bệnh nguy hiểm của động vật Việc nhận diện ổ dịch giúp giám sát, kiểm soát và ngăn ngừa sự lây lan của bệnh động vật, đồng thời cung cấp cơ sở cho các biện pháp phòng dịch và thông tin cho cộng đồng.

- Vùng có dịch: là vùng có nhiều ổ dịch đã được cơ quan thú y có thẩm quyền xác định

Vùng bị dịch uy hiếp là vùng ngoại vi bao quanh khu vực có dịch hoặc vùng tiếp giáp với vùng có dịch ở biên giới nước láng giềng, được cơ quan thú y có thẩm quyền xác định Việc xác định và công bố vùng này nhằm tăng cường giám sát dịch bệnh, khoanh vùng và triển khai các biện pháp phòng chống để ngăn ngừa lây lan sang khu vực lân cận Khung quản lý vùng bị dịch uy hiếp giúp bảo vệ sức khỏe cộng đồng và động vật, đồng thời thúc đẩy hợp tác giữa cơ quan quản lý, người chăn nuôi và các bên liên quan trong công tác phòng chống dịch.

Vùng đệm là khu vực tiếp giáp với vùng an toàn dịch bệnh, được xác định bằng bán kính tính từ biên của vùng an toàn dịch bệnh Theo quy định, vùng đệm có bán kính 10 km đối với Lở mồm long móng, 5 km đối với Dịch tả heo (ASF), 3 km đối với Cúm gia cầm và Newcastle, và 1 km đối với các bệnh khác Phạm vi vùng đệm của một cơ sở an toàn dịch bệnh sẽ được thiết lập dựa trên mức bán kính tương ứng với từng bệnh, nhằm mục đích kiểm soát và ứng phó nhanh chóng khi có dịch.

2 móng, 3km đối với bệnh Dịch tả heo, 2km đối với bệnh Cúm gia cầm và Newcastle, 0,5km đối với các bệnh khác

Vùng an toàn dịch bệnh là vùng lãnh thổ, có thể gồm một huyện hoặc nhiều huyện, hoặc một tỉnh hoặc nhiều tỉnh, được xác định sao cho không có ca bệnh trong thời gian quy định đối với từng bệnh hoặc đối với nhiều bệnh Trong vùng này, các hoạt động thú y phải được kiểm soát nhằm bảo đảm ngăn ngừa và kiểm soát dịch bệnh, đồng thời hỗ trợ hoạt động kinh doanh và vận chuyển động vật, sản phẩm động vật, và thực hiện kiểm tra vệ sinh thú y tại giết mổ Việc kiểm soát nguồn gốc động vật và sản phẩm động vật trong vùng an toàn dịch bệnh, cũng như tại cơ sở an toàn dịch bệnh, được thực hiện nhằm duy trì an toàn sinh học và nguồn gốc hợp lệ của động vật và sản phẩm động vật.

Dịch rời rạc (sporadic) là các đợt dịch không xảy ra thường xuyên và không có quy luật về thời gian hoặc không gian Dịch có thể tồn tại âm thầm trong đàn gia súc và chỉ bùng phát thành dịch khi gặp một tập hợp các điều kiện thuận lợi, làm gia tăng nguy cơ lan rộng bất ngờ.

Dịch nội vùng (enzootic) là các dịch bệnh xảy ra thường xuyên ở một khu vực nhất định, trong đó mầm bệnh luôn có mặt và sự cân bằng giữa vật chủ, môi trường và mầm bệnh duy trì ở trạng thái động Khi cân bằng này bị phá vỡ, nguy cơ bùng phát và lây lan dịch bệnh tăng lên, khiến bệnh dễ tái phát và tồn tại ở cộng đồng.

Dịch điển hình, hay ổ dịch lưu hành (epizootic, epidemic), là hiện tượng bệnh xuất hiện trên quy mô rộng, khiến nhiều đàn thú mắc bệnh và tỷ lệ mắc cao hơn bình thường rất nhiều Dịch lây lan nhanh và lan rộng, nếu không được kiểm soát kịp thời sẽ tác động nghiêm trọng đến sức khỏe động vật, gây tổn thất cho người chăn nuôi và ngành nông nghiệp.

- Đại dịch hay toàn dịch (panzootic, pandemic): là thuật ngữ dùng để chỉ dịch có tầm lây lan rất rộng với qui mô toàn cầu

Gia súc và gia cầm thuộc diện tiêm phòng là các động vật nằm trong vùng quy định bắt buộc tiêm và đáp ứng đầy đủ điều kiện tiêm phòng (không áp dụng đối với các trường hợp đang mắc bệnh, mang thai kỳ cuối hoặc mới sinh).

- Tiêm phòng định kỳ: là tiêm phòng vào thời gian nhất định được quy định trong năm tuỳ theo từng bệnh

Tiêm phòng bổ sung là tiêm phòng ngoài thời gian tiêm định kỳ dành cho gia súc mới sinh đến độ tuổi tiêm phòng, gia súc mới nhập đàn hoặc gia súc chưa được tiêm trong lần tiêm định kỳ Hoạt động này giúp đảm bảo miễn dịch cho đàn vật nuôi, giảm nguy cơ mắc bệnh và tăng cường bảo vệ sức khỏe cho đàn gia súc Để đạt hiệu quả và an toàn, tiêm phòng bổ sung nên được thực hiện theo hướng dẫn của bác sĩ thú y hoặc cơ quan thú y, đúng thời điểm và đúng lịch tiêm phù hợp với từng nhóm gia súc.

- Tiêm phòng khẩn cấp: là tiêm phòng khi xảy ra dịch bệnh

Cơ sở an toàn dịch bệnh là cơ sở chăn nuôi gia súc, gia cầm (trại, nông trường, xí nghiệp) hoặc một xã, một phường đáp ứng tiêu chí không có ca bệnh nào xảy ra trong thời gian quy định cho từng loại bệnh, và các hoạt động chăn nuôi, thú y được triển khai hiệu quả để đảm bảo kiểm soát dịch bệnh cũng như quản lý việc xuất nhập khẩu động vật và sản phẩm động vật.

Giám sát dịch bệnh là hoạt động liên tục theo dõi, kiểm tra và đánh giá tính chất, nguyên nhân xuất hiện và đường lây truyền của bệnh trong suốt quá trình chăn nuôi, vận chuyển, giết mổ, sơ chế và kinh doanh sản phẩm động vật Mục tiêu của giám sát dịch bệnh là phát hiện sớm các dấu hiệu bất thường, xác định nguồn lây và biện pháp kiểm soát hiệu quả nhằm ngăn ngừa sự lây lan và bảo đảm an toàn cho người tiêu dùng.

Điều kiện vệ sinh thú y là tập hợp các yêu cầu và tiêu chuẩn về địa điểm, vị trí trang trại, hệ thống chuồng nuôi và kho bảo quản, cũng như các yếu tố liên quan đến không khí, nước và môi trường; đồng thời bao gồm quy định về con giống, thức ăn chăn nuôi, dụng cụ chăn nuôi và xử lý chất thải theo đúng quy định của Nhà nước.

Những vấn đề cơ bản cần nắm vững để quản lý dịch bệnh thành công

(Ban hành kèm theo Quyết định số: 63/2005/QĐ-BNN ngày 13 tháng 10 năm

2005 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn)

* Các bệnh phải tiêm phòng bắt buộc

- Bệnh Lở mồm long móng Đối tượng tiêm phòng: bao gồm trâu, bò, dê, cừu, heo nái, heo đực giống Phạm vi tiêm phòng:

Tiêm chủng định kỳ được triển khai tại các huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh có biên giới giáp với nước ngoài và tại các xã, phường, thị trấn đã xảy ra dịch bệnh trong hai năm trước đó.

Tiêm 2 lần trong năm, lần sau cách lần trước 6 tháng; thời gian tiêm vào tháng

Tiêm phòng khẩn cấp khi có dịch xảy ra: tiêm gia súc mẫn cảm với bệnh tại các thôn, ấp, xã, huyện xung quanh nơi xảy ra dịch, tiêm từ ngoài vào trong Chi cục Thú y quyết định vùng tiêm tuỳ theo tính chất lây lan của bệnh

Chế độ tiêm phòng cho vùng biên giới quy định tiêm liên tục 5 năm, thời gian và phạm vi tiêm có thể kéo dài hoặc thu hẹp tùy tình hình dịch bệnh tại địa phương và dịch bệnh ở nước láng giềng Đối với vùng ổ dịch cũ – gồm vùng có dịch và vùng bị dịch uy hiếp – không thuộc vùng biên giới, tiêm liên tục 2 năm, sau đó ngừng tiêm nếu trong 2 năm đó không xảy ra dịch.

Những tỉnh nằm trong vùng dự kiến thanh toán bệnh không phải tiêm phòng

Liều lượng, đường tiêm, gia súc trong diện tiêm theo hướng dẫn của nhà sản xuất vaccine và Cục Thú y

- Bệnh Dịch tả heo Đối tượng tiêm phòng: tất cả các loại heo trong diện tiêm phòng

Phạm vi tiêm phòng: Các cơ sở chăn nuôi tập trung, chăn nuôi hộ gia đình trong phạm vi cả nước

Tiêm phòng định kỳ mỗi năm 2 lần vào tháng 3 - 4 và 9 - 10 hàng năm Tiêm phòng bổ sung đối với heo mới sinh, mới nhập về chưa được tiêm

5 trong thời gian tiêm định kỳ

Tiêm phòng khẩn cấp: khi có dịch xảy ra, tiêm thẳng vào ổ dịch trong phạm vi xã có dịch

Liều lượng, đường tiêm, heo trong diện tiêm theo sự hướng dẫn của nhà sản xuất vaccine

- Bệnh Nhiệt thán Đối tượng tiêm phòng: trâu, bò, ngựa

Phạm vi tiêm phòng: các tỉnh có dịch trong thời gian 10 năm tính từ ổ dịch cuối cùng

Tiêm phòng định kỳ mỗi năm 2 lần vào tháng 3 - 4 và 9 - 10 hàng năm

Tiêm phòng bổ sung gia súc mới sinh, gia súc thuộc diện tiêm phòng mới nhập về

Liều lượng, đường tiêm, gia súc trong diện tiêm theo sự hướng dẫn của nhà sản xuất vaccine

- Bệnh Tụ huyết trùng trâu bò, heo Đối tượng tiêm phòng: trâu, bò, heo

Phạm vi tiêm phòng: các cơ sở chăn nuôi tập trung, chăn nuôi hộ gia đình trong phạm vi cả nước

Tiêm phòng định kỳ mỗi năm 2 lần vào tháng 3 - 4 và 9 - 10 hàng năm

Tiêm phòng bổ sung gia súc mới sinh, gia súc thuộc diện tiêm phòng mới nhập về

Liều lượng, đường tiêm, gia súc trong diện tiêm theo sự hướng dẫn của nhà sản xuất vaccine

- Bệnh Dại Đối tượng tiêm phòng: chó, mèo nuôi

Phạm vi tiêm phòng: cá nhân, tổ chức trong phạm vi cả nước

Tiêm phòng định kỳ mỗi năm 1 lần bằng vaccine tế bào

Tiêm phòng bổ sung cho chó, mèo mới sinh

Liều lượng, đường tiêm, gia súc trong diện tiêm theo sự hướng dẫn của nhà sản xuất vaccine

6 Đối tượng tiêm phòng: gà các lứa tuổi

Phạm vi tiêm phòng: các cơ sở chăn nuôi tập trung, chăn nuôi hộ gia đình trong phạm vi cả nước

Tiêm phòng định kỳ hai lần mỗi năm cho gà được xác định theo lứa tuổi và loại vaccine; tùy vaccine, có thể nhỏ vaccine vào mắt hoặc mũi hoặc tiêm để áp dụng cho chăn nuôi hộ gia đình, cá nhân Đối với các cơ sở chăn nuôi tập trung, việc tiêm phòng được thực hiện theo lịch tiêm đã lên kế hoạch nhằm đảm bảo sức khỏe và hiệu quả phòng bệnh cho đàn gia cầm.

Liều lượng, đường tiêm, gia cầm trong diện tiêm theo sự hướng dẫn của nhà sản xuất vaccine

- Bệnh Dịch tả vịt Đối tượng tiêm phòng: vịt, ngan các lứa tuổi

Phạm vi tiêm phòng: các cơ sở chăn nuôi tập trung, chăn nuôi hộ gia đình trong phạm vi cả nước

Tiêm phòng định kỳ mỗi năm 2 lần, tuỳ theo lứa tuổi

Liều lượng, đường tiêm, gia cầm trong diện tiêm theo sự hướng dẫn của nhà sản xuất vaccine

Những bệnh khác được kiểm soát bằng tiêm phòng để khống chế dịch bệnh và thanh toán dịch bệnh theo đề nghị của Cục Thú y Đối với các bệnh này, tỷ lệ tiêm phòng phải đạt 100% cho gia súc và gia cầm trong diện tiêm.

2.2 Danh mục các bệnh phải công bố dịch; các bệnh nguy hiểm của động vật; các bệnh phải áp dụng các biện pháp phòng bệnh bắt buộc

(Ban hành kèm theo Quyết định số: 64/2005/QĐ-BNN ngày 13 tháng 10 năm

2005 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn) a Danh mục các bệnh phải công bố dịch

Bệnh thuộc danh mục bảng A của Luật Thú y thế giới

Danh sách các bệnh động vật có thể xuất hiện ở Việt Nam gồm bệnh Lở mồm long móng, bệnh Cúm gia cầm chủng độc lực cao (HPAI), bệnh Dịch tả heo, bệnh Dịch tả trâu bò, bệnh Lưỡi xanh, bệnh Newcastle, bệnh Đậu cừu và Đậu dê, cùng với các bệnh khác thuộc bảng A của Luật Thú y thế giới khi xuất hiện tại Việt Nam.

Bệnh thuộc danh mục bảng B của Luật Thú y thế giới

Bệnh Nhiệt thán; bệnh Dại; bệnh Tụ huyết trùng trâu bò; bệnh Bò điên b Danh mục các bệnh nguy hiểm của động vật

Danh sách các bệnh động vật nguy hiểm và dễ lây lan bao gồm Bệnh Lở mồm long móng, Cúm gia cầm chủng độc lực cao (HPAI), Dịch tả heo, Dịch tả trâu bò, Lưỡi xanh, Newcastle, Gumboro, Đậu cừu, Đậu dê, Nhiệt Thán, Dại, Tụ huyết trùng trâu, bò, heo, Leptospira (xoắn khuẩn), Tiên mao trùng Việc nhận diện sớm, tiêm chủng và các biện pháp vệ sinh chuồng trại là rất quan trọng để giảm thiểu nguy cơ bùng phát và bảo vệ sức khỏe động vật và con người.

Danh sách các bệnh nguy hiểm trên gia súc và gia cầm bao gồm Biên trùng; bệnh Lê dạng trùng; bệnh giả dại; bệnh Ung khí thán; bệnh Giun bao; bệnh Suyễn heo; bệnh Rối loạn sinh sản và hô hấp ở heo; bệnh Bò điên; bệnh Dịch tả vịt; bệnh Viêm gan vịt; bệnh Xuất huyết ở thỏ và một số bệnh nguy hiểm khác mới xuất hiện Trong khuôn khổ quản lý dịch bệnh, danh mục các bệnh này phải áp dụng các biện pháp phòng bệnh bắt buộc nhằm ngăn ngừa lây lan, bảo vệ đàn vật nuôi và an toàn cho người tiêu dùng Các biện pháp này thường bao gồm giám sát dịch bệnh, tiêm phòng, vệ sinh chuồng trại và kiểm soát vận chuyển động vật, tùy thuộc vào đặc thù từng bệnh để đạt hiệu quả cao nhất trong công tác phòng dịch.

Trong chăn nuôi và thú y, các bệnh chủ lực cần chú ý gồm Bệnh Cúm gia cầm, Lở mồm long móng, Dịch tả heo, Bệnh Nhiệt thán, Tụ huyết trùng ở trâu, bò và heo, Dại, Newcastle và Dịch tả vịt Những bệnh này có khả năng lây lan nhanh và gây thiệt hại nặng cho sản xuất cũng như sức khỏe cộng đồng, do đó nhận biết sớm, giám sát dịch tễ, tiêm phòng đầy đủ và thực hiện các biện pháp vệ sinh, cách ly và xử lý môi trường nuôi là rất quan trọng để ngăn ngừa bùng phát và bảo vệ an toàn chuồng trại.

2.3 Trách nhiệm của cơ quan quản lý nhà nước và người chăn nuôi trong việc phòng chống dịch bệnh

* Ở Trung ương a Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn

Chính phủ trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình quốc gia nhằm khống chế và quản lý bệnh qua các giai đoạn Đồng thời, chương trình được ban hành các chỉ đạo, hướng dẫn và kiểm tra để thực hiện trên phạm vi cả nước, đảm bảo sự thống nhất và hiệu quả của công tác triển khai.

- Chủ trì phối hợp với các Bộ, Ngành liên quan trình Thủ tướng Chính phủ ban hành các chính sách liên quan đến công tác phòng chống bệnh;

- Thành lập Ban chỉ đạo phòng chống bệnh của Bộ b Các Bộ, Ngành có liên quan

Thực hiện các nhiệm vụ được Thủ tướng Chính phủ giao và phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn nhằm tập trung nguồn lực phục vụ công tác phòng, chống bệnh, đồng thời tăng cường vai trò của Cục Thú y trong quản lý, giám sát và triển khai các biện pháp phòng chống dịch bệnh phù hợp với tình hình thực tế.

Tham mưu cho Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn trong việc xây dựng chương trình quốc gia khống chế và thanh toán bệnh, đồng thời đề xuất các chính sách liên quan Mục tiêu là thiết lập khung chiến lược và các biện pháp thực thi hiệu quả để kiểm soát dịch bệnh, giảm thiểu thiệt hại và tăng cường sự bền vững của ngành nông nghiệp Việt Nam.

- Xây dựng kế hoạch phòng chống bệnh hàng năm và triển khai tổ chức thực hiện, thanh tra, kiểm tra trên phạm vi toàn quốc;

- Hướng dẫn các biện pháp phòng chống dịch bệnh Ở địa phương a Cấp tỉnh: Uỷ ban nhân dân tỉnh

Ban chỉ đạo phòng chống dịch của tỉnh được thành lập, do Chủ tịch hoặc Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh làm Trưởng Ban, và lãnh đạo Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đảm nhận vai trò Phó Trưởng ban để điều phối, chỉ đạo các hoạt động phòng chống dịch.

Phê duyệt và chỉ đạo tổ chức thực hiện Chương trình khống chế và thanh toán bệnh của tỉnh, xây dựng kế hoạch hàng năm và giám sát, kiểm tra việc thực hiện của các cấp, ngành thuộc tỉnh nhằm đảm bảo sự đồng bộ và hiệu quả trong công tác phòng, chống và thanh toán bệnh trên địa bàn tỉnh.

- Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh công bố dịch, công bố hết dịch trên địa bàn của tỉnh;

- Cấp kinh phí cho công tác phòng chống dịch từ quỹ phòng chống thiên tai và ngân sách địa phương b Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn

Chúng tôi tham mưu cho Ủy ban nhân dân tỉnh trong việc xây dựng chương trình khống chế và thanh toán bệnh của tỉnh và kế hoạch hàng năm trên cơ sở Chương trình quốc gia Quá trình tham mưu tập trung xác định mục tiêu phòng, chống và chi trả bệnh tật, phân bổ nguồn lực hợp lý giữa các cấp và ngành, đồng thời đảm bảo sự đồng bộ với các hoạt động của Chương trình quốc gia Chúng tôi cũng xây dựng các cơ chế đánh giá tiến độ, đề xuất điều chỉnh kế hoạch theo thực tế địa phương để nâng cao hiệu quả và tính khả thi của chương trình tại tỉnh.

- Tổ chức thực hiện và kiểm tra công tác phòng chống bệnh của tỉnh c Chi cục Thú y

- Trực tiếp chỉ đạo tổ chức triển khai và kiểm tra công tác phòng chống bệnh trên địa bàn tỉnh;

- Hướng dẫn chuyên môn về các biện pháp phòng chống bệnh d Cấp huyện: Uỷ ban nhân dân huyện

Thực hành

* Thực hiện các nguyên tắc trong phòng chống dịch bệnh bao gồm: a Đảm bảo tiêm phòng đầy đủ các loại vaccine

Thực tiễn nhiều năm cho thấy đàn gia súc, gia cầm được tiêm chủng đầy đủ và đúng lịch theo yêu cầu, nhờ đó hình thành miễn dịch mạnh mẽ và chống lại các dịch bệnh; việc tiêm vắc xin đúng loại và đúng quy trình giúp giảm thiểu thiệt hại kinh tế, đồng thời nâng cao sức khỏe cộng đồng và an toàn thực phẩm.

Đối với đàn heo, tiêm vaccine phòng bệnh dịch tả heo, bệnh tụ huyết trùng, bệnh đóng dấu và bệnh phó thương hàn Đồng thời tiêm vaccine Lở mồm long móng để phòng cho đàn lợn nái, lợn đực giống và đàn trâu bò.

Đối với gia cầm, vịt và ngan cần tiêm phòng Dịch tả vịt, Viêm gan do vi rút, Cúm gia cầm và Tụ huyết trùng; gà cần tiêm phòng vắc xin Newcastle, Gumboro, Cúm gia cầm và Tụ huyết trùng để nâng cao sức đề kháng và giảm thiểu rủi ro dịch bệnh Bên cạnh tiêm phòng, vệ sinh chuồng trại là biện pháp đơn giản nhưng mang lại hiệu quả cao trong việc loại trừ và hạn chế mầm bệnh phát triển; hai công đoạn chính là vệ sinh cơ giới và phun thuốc sát trùng: vệ sinh cơ giới gồm quét dọn, rửa chuồng và khơi thông cống rãnh không để nước đọng, nên làm hàng ngày; sau khi vệ sinh cơ giới xong, tiến hành phun thuốc sát trùng với các loại an toàn và hiệu quả như Biocid, Benkocid, HanIodin Phun phòng nên được thực hiện định kỳ 01 lần/tuần trên diện tích rộng của khu chuồng nuôi và khu vực xung quanh Với các trang trại, cần có hố sát trùng và rắc vôi bột quanh khu vực chuồng; còn với hộ nuôi trong gia đình, cần lưu ý hệ thống thoát nước thải ra ngoài khu dân cư và nên cân nhắc hệ thống biogas để bảo vệ môi trường chăn nuôi cũng như môi trường công cộng.

Khi thời tiết thay đổi, cần chú ý che chắn chuồng trại và tránh gió lùa, đặc biệt trong những ngày có gió mùa Đông Bắc Những ngày mưa phùn và độ ẩm cao yêu cầu giữ ấm cho vật nuôi, nhất là gia súc và gia cầm non Đối với bê và nghé non khi thả chăn cần đi muộn, về sớm để đảm bảo an toàn và sức khỏe Trong chăm sóc và quản lý gia súc, gia cầm, cần theo dõi môi trường chuồng trại và áp dụng các biện pháp giữ ấm và che chắn phù hợp.

Đẩy mạnh chăm sóc, nuôi dưỡng đàn gia súc, gia cầm nhằm nâng cao sức đề kháng, giúp vật nuôi chống chịu các tác động của thời tiết và hạn chế sự phát sinh của dịch bệnh Thực hiện tốt kỹ thuật chăm sóc nuôi dưỡng phù hợp với giống, lứa tuổi và mục đích sản xuất của từng loại gia súc, gia cầm để tăng hiệu quả sản xuất và phòng ngừa dịch bệnh.

Bổ sung các loại vitamin, khoáng chất, men tiêu hóa vào thức ăn để tăng cường sức đề kháng và phòng, chống dịch bệnh cho vật nuôi

Đảm bảo cung cấp đầy đủ thức ăn và nước uống sạch cho vật nuôi, đồng thời duy trì vệ sinh thức ăn và nước uống để ngăn ngừa bệnh tật Đối với nguồn nước bị ô nhiễm, có thể sử dụng Chloramin-B, T để khử trùng nước và bảo đảm nước uống an toàn cho đàn vật nuôi Ngoài ra, giữ máng ăn và máng uống sạch sẽ cho đàn gia súc và gia cầm sẽ giảm nguy cơ lây nhiễm và tăng hiệu quả chăm sóc.

Để quản lý sức khỏe đàn gia súc và gia cầm hiệu quả, cần thường xuyên kiểm tra tình trạng của đàn và phát hiện sớm các dấu hiệu bất thường như uể oải, ủ rũ và kém ăn Việc kiểm tra lượng thức ăn và nước uống tiêu thụ hàng ngày giúp đánh giá tình trạng sức khỏe tổng thể và nhận diện sự biến động có thể báo hiệu vấn đề sức khỏe Theo dõi cả hành vi ăn uống, mức độ tiêu thụ và sự thay đổi trong khẩu phần sẽ là cơ sở để đưa ra các biện pháp chăm sóc và can thiệp kịp thời, từ đó giảm thiểu rủi ro dịch bệnh và nâng cao hiệu quả chăn nuôi.

Phải cách ly kịp thời những vật nuôi có biểu hiện bất thường, tiến hành chẩn đoán và điều trị nếu cần thiết; tuyệt đối không được bán hoặc thải ra môi trường xung quanh gia súc, gia cầm ốm, chết và chất thải của chúng Khai báo ngay với cán bộ thú y cơ sở, chính quyền địa phương hoặc Trạm Chăn nuôi và Thú y huyện khi nghi ngờ gia súc, gia cầm mắc các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm như cúm gia cầm, lở mồm long móng ở gia súc, tai xanh ở lợn để được hướng dẫn phòng, chống Đối với vật nuôi tái đàn, phải đảm bảo chỉ nhập giống rõ nguồn gốc, xuất xứ và có chứng nhận kiểm dịch của cơ quan thú y Nhập giống bổ sung nên được nuôi cách ly theo quy định.

3 tuần để theo dõi bệnh, đảm bảo giống khỏe mạnh mới cho nhập đàn

1 Khái niệm về dịch bệnh?

2 Các bệnh bắt buộc tiêm phòng vaccine trên đàn gia súc, gia cầm?

3 Các hướng dẫn tiêu độc, khử trùng, tiêu hủy xác động vật?

4 Thế nào là vùng, cơ sở an toàn dịch bệnh động vật?

Giới thiệu

Để phòng bệnh cho thú nuôi, việc tạo môi trường sống tốt và giảm các yếu tố bất lợi là cần thiết đồng thời nâng cao sức đề kháng và miễn dịch của vật nuôi Bên cạnh đó, nhà chăn nuôi nên giảm thiểu tối đa sự tiếp xúc của thú nuôi với các tác nhân gây bệnh nhằm hạn chế khả năng lây lan của dịch bệnh.

Chăm sóc nuôi dưỡng tốt và vệ sinh phòng bệnh là hai yếu tố hàng đầu giúp người chăn nuôi giảm thiểu thiệt hại kinh tế do dịch bệnh gây ra Việc duy trì dinh dưỡng cân đối cho vật nuôi và môi trường chuồng trại sạch sẽ tăng cường sức đề kháng, ngăn ngừa sự lây lan của mầm bệnh và giảm chi phí điều trị cũng như tổn thất sản lượng Đồng thời, quản lý chăn nuôi hiệu quả và vệ sinh định kỳ đóng vai trò then chốt trong việc kiểm soát dịch bệnh và tối ưu hóa lợi nhuận cho người chăn nuôi.

Dịch bệnh có thể lây truyền qua cả đường tiếp xúc trực tiếp và gián tiếp Đối với viêm phổi do Mycoplasma, lây chủ yếu qua tiếp xúc trực tiếp từ con vật bệnh sang con vật khỏe Trong khi đó, virus Lở mồm long móng có thể lây trực tiếp từ con vật bệnh sang con vật khỏe hoặc lây gián tiếp qua nhiều nguồn như thức ăn, nước uống, dụng cụ chăn nuôi, không khí và phương tiện vận chuyển, hoặc từ người chăn nuôi và cán bộ thú y mang mầm bệnh sang cho con vật khỏe.

Hiểu rõ tính chất lây lan của từng loại mầm bệnh giúp chúng ta chủ động hơn trong công tác vệ sinh phòng dịch và nâng cao hiệu quả phòng chống Làm vệ sinh và khử trùng đúng cách là giải pháp khống chế dịch bệnh hiệu quả, giúp loại bỏ mầm gây bệnh và ngăn ngừa sự lây lan trong cộng đồng.

Thời gian tồn tại và diễn biến của từng loại mầm bệnh ở heo khác nhau rất nhiều, tùy thuộc tình hình mang bệnh và các cơ chế lây truyền Vì vậy, công tác kiểm soát và phòng ngừa dịch bệnh cần được triển khai phù hợp với đặc điểm của mầm bệnh và đường lây truyền nhằm giảm thiểu nguy cơ bùng phát, bảo vệ sức khỏe đàn heo và tối ưu hiệu quả sản xuất.

Các bệnh dịch trên đàn heo

Bệnh dịch tả heo châu Phi (ASF) là bệnh truyền nhiễm ở loài heo do một virus DNA thuộc họ Asfarviridae, chi Asfivirus gây ra và có thể tác động đến cả heo nuôi lẫn heo rừng Bệnh có các thể lâm sàng cấp tính, bán cấp tính, mạn tính hoặc dạng không điển hình, và mức độ nghiêm trọng phụ thuộc vào độc lực của virus, tuổi của động vật và thời gian nhiễm bệnh Heo trưởng thành thường ít bị trầm trọng và có cơ hội phục hồi cao hơn so với heo con ASF lây lan rất nhanh và có thể gây tỷ lệ tử vong lên tới 90%, thường đi kèm với các bệnh nhiễm trùng đồng nhiễm như phó thương hàn, tụ huyết trùng và các biến chứng khác.

Bệnh dịch tả heo lần đầu được ghi nhận vào năm 1810 tại Tennessee (Mỹ); ổ dịch đầu tiên ở bang Ohio năm 1833 và đến nay đã xuất hiện ở nhiều nước trên thế giới Hiện nay, bệnh tả heo vẫn là mối đe dọa lớn đối với ngành chăn nuôi heo và hoạt động xuất khẩu ở nhiều quốc gia Ở Việt Nam, dịch tả heo được phát hiện từ những năm 1923–1924 và đến nay vẫn tồn tại ở một số nơi Từ những năm 1980, tiêm vaccine cho đàn heo đã giúp kiểm soát nhiều đợt dịch lớn; tuy nhiên bệnh vẫn tồn tại và xuất hiện rải rác ở những nơi heo chưa được tiêm phòng hoặc tiêm phòng không đầy đủ Vì vậy, quản lý và phòng dịch bằng tiêm chủng mở rộng cùng các biện pháp an toàn sinh học là rất cần thiết để bảo đảm an toàn cho chăn nuôi và thị trường xuất khẩu.

Bệnh dịch tả heo ở nước ta xảy ra quanh năm, nhưng diễn biến phụ thuộc thời tiết và đặc biệt ở miền Bắc, nơi sự thay đổi khí hậu làm tăng hoặc giảm nguy cơ bùng phát Bên cạnh đó, tần suất và cấu trúc đàn heo trong năm ảnh hưởng đến khả năng lây lan; các yếu tố như tỷ lệ tiêm phòng, miễn dịch của heo lớn đã bị giết mổ, và heo con thay đàn chưa kịp tiêm phòng làm tăng tỷ lệ heo mẫn cảm trong đàn Tiêm phòng theo mùa và bổ sung tiêm phòng thường xuyên giúp ổn định và hạn chế dịch tả heo rất nhiều, nhưng trong thực tế sản xuất vẫn có nhiều lý do khiến việc tiêm phòng chưa tuân thủ đúng quy định, dẫn đến dịch tả heo vẫn xuất hiện vào các tháng trong năm.

Tác nhân gây bệnh dịch tả heo (ASF) là một virus thuộc họ Asfarviridae, giống Asfivirus ASFV là virus DNA có kích thước lớn và không thuộc Flaviviridae hay Pestivirus, cũng không có quan hệ mật thiết với các tác nhân gây bệnh tiêu chảy ở bò hoặc vi khuẩn Bordetella ở cừu Cho tới nay, đã xác định được một serotype duy nhất của virus ASF, dù tại nhiều khu vực trên thế giới đã phát hiện nhiều genotype khác nhau.

Virus Dịch tả heo (CSFV) có sức đề kháng yếu trong các điều kiện tự nhiên, dễ bị bất hoạt khi tiếp xúc với nhiệt độ cao và tia UV Tuy nhiên, virus vẫn có khả năng tồn tại lâu ở ngoại cảnh, đặc biệt trong phân gia súc, nơi có thể sống sót vài ngày và thậm chí lâu hơn khi ở điều kiện lạnh hoặc đóng gói kín Sự tồn tại kéo dài này làm tăng nguy cơ lây lan nếu biện pháp vệ sinh chuồng trại, xử lý chất thải và quản lý vận chuyển động vật bị lơ là Vì vậy, công tác khử trùng, kiểm soát nguồn lây và tuân thủ các nguyên tắc an toàn sinh học được xem là những yếu tố then chốt để phòng ngừa dịch tả heo.

16 loại sản phẩm thịt, đặc biệt là thịt heo đông lạnh, là nguồn gieo rắc bệnh nguy hiểm về mặt dịch tễ học; tuy nhiên, virus dễ bị tiêu diệt bởi các chất sát khuẩn thông thường như NaOH 2% và nước vôi 5%, và ở nhiệt độ cao virus bị tiêu diệt nhanh.

Virus dịch tả heo có thể sống vài tháng đến vài năm trong thịt đông lạnh Qua đường thương mại và vận chuyển, virus có thể du nhập vào các nước hoặc các vùng đang an toàn dịch Heo mẫn cảm có thể nhiễm khi ăn phải thức ăn chứa virus, như phụ phẩm từ quá trình giết mổ hoặc thức ăn thừa, chất thải từ nhà bếp chưa được xử lý.

* Nguồn bệnh và quá trình truyền lây của dịch tả heo a) Loài mắc bệnh: Bệnh dịch tả heo có ở mọi lứa tuổi, loài heo, nhưng mắc mạnh nhất là heo con 2-3 tháng tuổi, ở heo dưới 2 tháng, kháng thể được truyền qua bào thai của mẹ, qua sữa đầu Vì vậy, thời kỳ này ít bị nhiễm bệnh hơn Trong phòng thí nghiệm dùng heo con làm động vật thí nghiệm b) Chất chứa virus: Các chất bài tiết, dịch tiết, máu, hạch lâm ba, lách heo bệnh có chứa virus Máu của những con vật nung bệnh, sau 24 giờ có khả năng gây bệnh Những con khỏi bệnh sau 2 tháng vẫn bài thải mầm bệnh ra ngoài c) Đường truyền lây: Virus xâm nhập chủ yếu qua đường tiêu hóa, qua niêm mạc, qua vết thương ở da và một phần qua hệ thống hô hấp Thường lây trực tiếp từ con ốm sang con khoẻ, qua thức ăn, nước uống, gián tiếp qua các chất bài tiết, dụng cụ chăn nuôi, phương tiện vận chuyển hay do các động vật khác mang mầm bệnh truyền lây

* Triệu chứng, bệnh tích của bệnh dịch tả heo a) Triệu chứng

Thời gian nung bệnh từ 3-7 ngày và có thể xuất hiện ở một trong 3 thể: Thể quá cấp tính (còn gọi là bệnh dịch tả heo trắng): Bệnh xuất hiện đột ngột, không có triệu chứng ban đầu (tiền chứng), con vật ủ rũ, bỏ ăn, sốt cao 41-42 0 C, con vật dẫy dụa rồi chết nhanh trong vòng 24-48 giờ Diễn biến trong vòng 1-2 ngày, tỷ lệ chết tới 100%

Trong giai đoạn cấp tính, heo ủ rũ, ăn kém rồi bỏ ăn, sốt cao 41–42°C kéo dài đến gần chết; mắt viêm đỏ có dử, chảy nước mũi; miệng có loét phủ nhựa vàng ở lợi, răng và hầu Heo hay nôn mửa, thở khó, nhịp thở rối loạn Ban đầu táo bón, sau đó tiêu chảy phân dết bết vào mông; đuôi có mùi thối, thỉnh thoảng có máu tươi Trên da xuất hiện nhiều điểm xuất huyết lấm tấm ở tai, mõm, bụng và bốn chân Vào cuối kỳ, heo bị bại hai chân sau, đi loạng choạng hoặc không đi được Nếu phối hợp với các bệnh khác, các triệu chứng sẽ trầm trọng hơn.

Thể mãn tính: Heo tiêu chảy gầy yếu, heo bệnh chết do kiệt sức, heo có thể khỏi bệnh nhưng vẫn mang virus b) Bệnh tích

Mổ khám bệnh tích ở thể cấp tính cho thấy bại huyết và xuất huyết nặng ở nhiều cơ quan nội tạng, từ amidan, niêm mạc miệng và lưỡi đến đường tiêu hóa với nốt loét và tụ huyết; dạ dày tụ huyết và xuất huyết; niêm mạc đường tiêu hóa có các loét và xuất huyết; vòng cong lớn và van hồi manh tràng có xuất huyết kèm loét, vết loét hình cúc áo và vòng đồng tâm; phổi bị xuất huyết và tụ huyết; tim có xuất huyết ở mỡ vành và ngoại tâm mạc; gan tụ huyết và xuất huyết, túi mật có điểm xuất huyết; lách nhồi huyết ở rìa gây hình răng cưa; thận có nhiều điểm xuất huyết ở vỏ và tủy, bể thận ứ máu hoặc có cục máu; niêm mạc bàng quang bị tụ huyết và xuất huyết.

Trong trường hợp bệnh mãn tính thường thấy ở ruột có những vết loét lõm sâu, bờ cao phủ nhựa vàng, phổi có thể bị viêm dính vào lồng ngực

Ở nước ta, thực tế cho thấy bệnh thường ghép với một số bệnh khác nên triệu chứng và tổn thương có thể thay đổi tùy theo bệnh ghép đi kèm Mặt khác, do đã tổ chức tiêm vaccine nhiều năm, nên nhiều trường hợp không phát hiện đầy đủ các bệnh tích điển hình nêu trên Bệnh Tai xanh (Hội chứng rối loại hô hấp và sinh sản) là một trong những bệnh cần được xem xét trong bối cảnh này.

* Đặc điểm dịch tễ học (Porcine Respirative and Reproductive Syndrome)

PRRS, hay Hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản ở heo, còn được gọi là bệnh Tai xanh, là một bệnh truyền nhiễm nguy hiểm ở heo có khả năng lây lan nhanh và dễ ghép với các mầm bệnh khác, gây ốm và chết nhiều ở đàn heo nhiễm bệnh; hội chứng được phát hiện lần đầu tại Mỹ vào năm 1987, sau đó xuất hiện ở châu Âu và châu Á vào thập niên 90, và đến nay chưa có nước nào trên thế giới khẳng định là đã thanh toán được bệnh.

PRRS có thể xảy ra ở mọi lứa tuổi của heo, nhưng tập trung chủ yếu ở heo nái mang thai và heo con theo mẹ Triệu chứng điển hình gồm sảy thai và thai chết lưu ở heo nái ở giai đoạn cuối thai; sốt cao trên 40-42°C và viêm phổi nặng ở heo bệnh, đặc biệt ở heo con sau cai sữa Bệnh có tốc độ lây lan nhanh, cả đàn có thể bị nhiễm trong vòng 3-5 ngày và thời gian ủ bệnh khoảng 5-20 ngày Heo mắc PRRS thường bị bội nhiễm bởi các bệnh kế phát như dịch tả heo, phó thương hàn, tụ huyết trùng, E coli, Streptococcus suis, Mycoplasma spp, Salmonella.

* Nguyên nhân gây ra PRRS

Nguyên nhân gây ra bệnh tai xanh là do loài virus PRRS thuộc giống

Arterivirus, họ Arteriviridae, bộ Nidovirales, có cấu trúc vỏ bọc dạng chuỗi đơn

* Nguồn bệnh và quá trình truyền tay của PRRS

Virus có mặt trong dịch mũi, nước bọt, phân và nước tiểu của heo mắc bệnh hoặc mang trùng và có thể phát tán ra môi trường Ở các loại heo mẫn cảm, thời gian tồn tại và bài xuất virus ra môi trường tương đối dài: ở heo mang trùng và không có triệu chứng lâm sàng, virus có thể được phát hiện trong nước tiểu 14 ngày, trong phân 28–35 ngày, trong huyết thanh 21–23 ngày, trong dịch hầu họng 56–157 ngày, và trong tinh dịch 92 ngày; đặc biệt ở heo mắc bệnh sau khi hồi phục virus vẫn có thể được phát hiện trong máu tới 210 ngày Ở heo bệnh hoặc heo mang trùng, virus tập trung chủ yếu ở phổi, hạch amidan, hạch lympho, lách, tuyến ức và ở huyết thanh Đây là những bệnh phẩm cần được lấy để gửi đi chẩn đoán, xét nghiệm trong phòng thí nghiệm Virus có thể phát tán, lây lan thông qua các hình thức.

Chiến lược quản lý dịch bệnh

3.1 Dinh dưỡng và thức ăn Để chăn nuôi thành công, ngoài con giống tốt, chuồng trại phù hợp, điều kiện dịch vụ chăn nuôi – thú y và tiêu thụ sản phẩm thuận lợi, cần có nguồn thức ăn nhất là thức ăn đủ và đều; và kỹ thuật nuôi dưỡng

Trên thị trường thức ăn chăn nuôi ngày nay có sự đa dạng về loại thức ăn và nhiều thương hiệu nổi tiếng; mỗi loại thức ăn cung cấp các chất dinh dưỡng khác nhau dựa trên loại vật nuôi, giai đoạn phát triển và mục đích nuôi nhằm đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng, sức khỏe và hiệu quả kinh tế cho người nuôi.

Ngoài các kỹ năng khác trong quá trình chăn nuôi, nắm vững kiến thức dinh dưỡng để chọn thức ăn phù hợp cho vật nuôi là rất quan trọng Trên thị trường hiện nay có nhiều loại thức ăn kém chất lượng và thức ăn tăng trọng tràn lan, do đó việc lựa chọn thức ăn không phù hợp có thể ảnh hưởng tới chất lượng sản phẩm và gia tăng rủi ro trong chăn nuôi.

3.2 Nguyên tắc cơ bản của các biện pháp kiểm soát bệnh

Trong chăn nuôi heo, việc áp dụng đồng bộ các biện pháp vệ sinh và quản lý chuồng trại là nền tảng để kiểm soát các bệnh cụ thể Biện pháp vệ sinh bao gồm vệ sinh chuồng trại, dụng cụ chăn nuôi và cá thể người chăm sóc; đảm bảo nguồn nước sạch, thức ăn được bảo quản kín, và lót nền được làm sạch thường xuyên Quản lý chuồng trại cần thiết kế khu vực nuôi tách biệt, lối đi thông thoáng, hệ thống thoát nước và khử khuẩn định kỳ, đồng thời thực hiện phun sát khuẩn và xử lý chất thải đúng quy trình Việc ghi chép và giám sát tình trạng sức khỏe đàn heo, tuân thủ lịch tiêm chủng và khám sức khỏe định kỳ, cùng với sự phối hợp với cơ quan thú y địa phương sẽ giúp nhận diện sớm, ngăn ngừa lây lan và kiểm soát dịch bệnh hiệu quả.

- Để trống chuồng sau mỗi đợt nuôi nhằm giúp phá vỡ chu kỳ dịch bệnh

+ Việc để trống chuồng khi kết hợp với làm vệ sinh và khử trùng sẽ giúp phòng bệnh rất hiệu quả

+ Nhiều loài vi sinh vật gây bệnh tìm thấy trong chuồng hoặc trên nền chuồng heo không thể tồn tại dài ngày ngoài cơ thể ký chủ

+ Khi chuyển hết heo đi, các mầm bệnh trong chuồng không bao lâu sẽ giảm số lượng

+ Sau khi xuất heo, quét dọn vệ sinh chuồng sạch sẽ, sát trùng toàn bộ chuồng rồi để trống chuồng trước khi nuôi đợt heo mới

+ Thời gian để chuồng trống từ 3 – 4 tuần hoặc lâu hơn sẽ cho kết quả tốt hơn

- Hố sát trùng có tác dụng ngăn ngừa việc truyền các mầm bệnh từ nơi này đến nơi khác, từ khu chăn nuôi này đến khu chăn nuôi khác

+ Hố sát trùng thường được đặt ở cửa đầu dãy chuồng, cổng trang trại

+ Các chất sát trùng thường được sử dụng là chlorhexidine, cresol, glutaraldehyde,…

- Vệ sinh cho nái trước khi chuyển lên chuồng nái đẻ: làm vệ sinh nái bằng xà phòng hoặc chất sát trùng nhẹ

- Thường xuyên theo dõi quan sát phát hiện heo bệnh

+ Khi phát hiện heo bệnh phải cách ly heo bệnh

+ Khi heo chết do bệnh hoặc không rõ nguyên nhân tuyệt đối phải mang tiêu hủy hoặc chôn sâu b Biện pháp quản lý

Chúng tôi mua heo giống khỏe mạnh từ các trang trại được chứng nhận an toàn dịch bệnh, sau đó vận chuyển bằng xe tải chuyên dụng đã khử trùng sạch sẽ và tiến hành nuôi cách ly 30 ngày để đảm bảo an toàn cho đàn heo.

- 60 ngày nếu an toàn mới được nhập trại

- Hạn chế, không cho khách tham quan chuồng trại

Để đảm bảo an toàn cho khu trại công nhân, khi ra vào trại phải thay quần áo bảo hộ lao động và mang ủng cao su Trước khi vào trại, người lao động còn phải đi qua phòng sát trùng và hố sát trùng để khử khuẩn và bảo vệ môi trường làm việc.

- Ngăn chặn, không cho động vật khác như chó, mèo, (gặm nhấm, chim, ) trong khu chăn nuôi

- Có kế hoạch định kỳ tẩy giun sán, phun thuốc diệt rận rệp., ghẻ lở, (ký sinh trùng ngoài da cho đàn heo

Nuôi heo theo cùng lứa tuổi, xếp heo thành nhóm nhỏ và dịch chuyển đàn trong quá trình sản xuất cho tới lúc bán, áp dụng phương thức “cùng vào – cùng ra” với thứ tự ưu tiên là cả khu => từng dãy => từng chuồng => từng ô heo, tùy điều kiện chăn nuôi để lựa chọn, nhằm hạn chế sự lây lan bệnh tật và nâng cao hiệu quả quản lý chuồng trại.

- Sử dụng thức ăn có thành phần dinh dưỡng phù hợp với từng giai đoạn sinh trưởng của heo

+ Thức ăn cho heo phải được đổi mới hàng ngày, thức ăn cũ dư thừa phải loại bỏ để đảm bảo thức ăn không bị ôi chua

Kho chứa thức ăn được trang bị biện pháp chống mối mọt, nấm mốc và chuột nhằm bảo vệ chất lượng thức ăn từ nguồn gốc đến khi đưa vào sử dụng Thức ăn được giám sát định kỳ về các nguy cơ sinh học, hóa học và vật lý để đảm bảo an toàn, vệ sinh và không gây ảnh hưởng đến sức khỏe của vật nuôi.

Nguồn nước uống phải được cung cấp đầy đủ, sạch sẽ và không bị nhiễm khuẩn, đồng thời đáp ứng chuẩn theo quy định tiêu chuẩn Việt Nam Lựa chọn nguồn nước an toàn bao gồm nước máy hoặc nước giếng, và tuyệt đối không được sử dụng nước từ ao hồ bị nhiễm khuẩn cho sinh hoạt và ăn uống.

Mỗi ngày quét dọn chuồng để giữ chuồng luôn khô ráo và sạch sẽ Khu vực xung quanh chuồng cũng cần được phát quang vệ sinh thường xuyên để duy trì môi trường nuôi nhốt sạch sẽ và an toàn Đồng thời, phun thuốc diệt ruồi và muỗi mỗi tháng một lần để kiểm soát côn trùng gây hại, tăng cường vệ sinh chuồng trại và sức khỏe cho vật nuôi.

Định kỳ hàng tuần phun thuốc tiêu độc sát trùng chuồng nuôi nhằm đảm bảo vệ sinh chuồng trại và ngăn ngừa sự lây lan của mầm bệnh Quá trình phun còn bao gồm máng ăn, hệ thống uống nước và các dụng cụ chăn nuôi khác như cuốc, xẻng, ủng, quần áo bảo hộ để khử trùng toàn diện cho môi trường chăn nuôi và các dụng cụ tiếp xúc với vật nuôi.

- Tiêm phòng đầy đủ những bệnh đe dọa đàn heo

Tiêm phòng các bệnh chính theo quy định hiện hành (dịch tả, tụ huyết trùng, lở mồm long móng) nhằm bảo vệ sức khỏe đàn vật nuôi và giảm rủi ro dịch bệnh Các bệnh khác sẽ được tiêm phòng tùy theo tình hình dịch tễ của khu vực đang chăn nuôi (ví dụ giả dại, viêm phổi…) để bảo đảm phòng ngừa phù hợp Việc tuân thủ lịch tiêm và hướng dẫn của cơ quan thú y giúp duy trì an toàn sinh học cho chuỗi cung ứng và giảm thiểu thiệt hại kinh tế từ các dịch bệnh.

+ Khi sử dụng kháng sinh phải tuân thủ đúng quy định về chủng loại, liều lượng, thời gian dùng thuốc

+ Phải tuân thủ tuyệt đối thời gian ngừng sử dụng kháng sinh trước khi giết thịt

Mật độ nuôi là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến năng suất và sức đề kháng của vật nuôi Nuôi ở mật độ cao khiến chuồng trại trở nên chật hẹp và thiếu thông thoáng, từ đó làm tăng nguy cơ dịch bệnh Vì vậy, mật độ nuôi phải được xác định và tuân thủ theo mức diện tích tối thiểu cho vật nuôi để đảm bảo sự sinh trưởng của heo đạt hiệu quả tối ưu và giảm thiểu rủi ro bệnh tật.

- Có biện pháp xử lý chất thải như xây Biogas,… để tránh gây ô nhiễm môi trường làm ảnh hưởng đến sức khỏe vật nuôi và cộng đồng

Quản lý chuồng trại và nuôi dưỡng đúng cách tăng sức đề kháng của đàn heo, giảm stress và ngăn ngừa sự lây lan của dịch bệnh Việc duy trì vệ sinh chuồng trại và chăm sóc sức khỏe heo định kỳ giúp bảo vệ sức khỏe đàn, nâng cao chất lượng chăn nuôi và hiệu quả kinh tế của ngành chăn nuôi heo Nhờ đó, chi phí vận hành được tối ưu và lợi nhuận từ nuôi heo được cải thiện.

3.3 Quản lý đàn heo để chăn nuôi đạt hiệu quả

* Chương trình sức khoẻ đàn

Quản lý sức khỏe đàn heo là yêu cầu bắt buộc đối với người chăn nuôi nhằm duy trì heo khỏe mạnh Để đảm bảo sức khỏe tốt và giảm sự lan truyền mầm bệnh trong trại, người chăn nuôi áp dụng nhiều biện pháp như tiêm phòng đầy đủ, vệ sinh chuồng trại, quản lý thức ăn và nước uống, kiểm soát nguồn động vật và nhập khẩu, cũng như thực hiện các biện pháp biosecurity và giám sát sức khỏe đàn để ngăn ngừa dịch bệnh.

- Cần thực hiện "đầy chuồng - trống chuồng" trong dãy chuồng heo nái đẻ, heo con và heo nuôi thịt

Thực hành

Kiến tập trại chăn nuôi heo: thực hiện công tác vệ sinh phòng bệnh và tiêm vaccine cho heo,… a Vệ sinh phòng bệnh

- Vệ sinh chuồng trại và thiết bị chăn nuôi;

- Vệ sinh dụng cụ trang thiết bị;

- Cách ly heo mới mua về;

27 b Tiêm phòng: cần lập kế hoạch tiêm phòng cho thú

Trong khuôn khổ chương trình thực tập, sinh viên sẽ tham gia kiến tập tại trại chăn nuôi và chủ động lên kế hoạch thực hiện công tác vệ sinh phòng bệnh cũng như tiêm vaccine cho heo, nhằm nâng cao kỹ năng thực hành và hiểu biết về quản lý sức khỏe vật nuôi Quá trình làm việc được thực hiện theo đúng hướng dẫn của kỹ thuật viên trại, bảo đảm tuân thủ các quy trình vệ sinh, an toàn thú y và kiểm soát dịch bệnh Việc kết hợp vệ sinh chuồng trại, kiểm tra điều kiện môi trường và tiêm chủng cho đàn heo giúp sinh viên nắm vững quy trình phòng bệnh, tăng cường nhận thức về quản lý dịch bệnh và góp phần nâng cao chất lượng chăn nuôi.

1 Các dịch bệnh trên đàn heo?

2 Những nguyên tắc cơ bản trong kiểm soát bệnh?

3 Làm thế nào để chăn nuôi đạt hiệu quả?

4 Sách lược quản lý dịch bệnh trên heo?

Ngày đăng: 10/08/2022, 14:23

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w