1. Trang chủ
  2. » Nông - Lâm - Ngư

Giáo trình Cơ thể học động vật (Nghề: Dịch vụ thú y - Cao đẳng): Phần 1 - Trường Cao đẳng Cộng đồng Đồng Tháp

61 15 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 61
Dung lượng 1,41 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Giáo trình Cơ thể học động vật cung cấp cho sinh viên kiến thức cơ bản về cấu tạo của từng cơ quan, hệ thống và từng vùng trên cơ thể vật nuôi (như trâu, bò, dê, cừu, heo, chó, mèo, gà, vịt). Biết được hoạt động bình thường của các hệ thống trên cơ thể. Mời các bạn cùng tham khảo nội dung phần 1 giáo trình!

Trang 1

UỶ BAN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP

(Ban hành kèm theo Quyết định Số:…./QĐ-CĐCĐ-ĐT ngày… tháng… năm

2017 của Hiệu trưởng Trường Cao đẳng Cộng đồng Đồng Tháp)

Đồng Tháp, năm 2017

Trang 2

i

TUYÊN BỐ BẢN QUYỀN

Đây là giáo trình nội bộ của Trường Cao đẳng Cộng Đồng Đồng Tháp nên các nguồn thông tin có thể được phép dùng nguyên bản hoặc trích dùng cho các mục đích về đào tạo và tham khảo Nội dung của giáo trình đã được xây dựng trên

cơ sở thừa kế những nội dung bài giảng đang giảng dạy ở nhà trường, kết hợp với những nội dung mới nhằm đáp ứng yêu cầu nâng cao chất lượng đào tạo phục vụ cho đội ngũ giáo viên và học sinh – sinh viên trong nhà trường

Mọi mục đích lệch lạc hoặc sử dụng với ý đồ kinh doanh thiếu lành mạnh

sẽ bị nghiêm cấm

Trang 3

ii

LỜI GIỚI THIỆU

Để nâng cao nhu cầu đào tạo, nâng cao chất lượng giảng dạy và học tập, việc biên soạn giáo trình cho các môn học là một yêu cầu cấp thiết Trên cơ sở chương trình khung của Bộ Lao Động Thương Binh và Xã Hội đã ban hành và những kinh nghiệm đã rút ra từ thực tế đào tạo, Trường Cao Đẳng Cộng Đồng Đồng Tháp tổ chức biên soạn chương trình, giáo trình một cách khoa học, hệ thống và cập nhập những kiến thức thực tiễn phù với đối tượng ngành nghề đào tạo Giáo trình “Cơ thể học động vật”(Anatomy of Domestic Animals) được biên soạn nhằm mục đích cung cấp kiến thức cơ bản về cấu tạo hệ thống cơ thể của động vật làm tài liệu để giảng dạy và cập nhật những kiến thức cho người học Nội dung chương trình biên soạn gồm có 10 chương

1 Đại cương về sự tổ chức cơ thể học

Cảm ơn Sở Lao Động Thương Binh và Xã Hội, Trường CĐCĐ Đồng Tháp cùng khoa Nông Nghiệp Thủy Sản, Bộ môn CNTY đã hướng dẫn, giúp đỡ để chúng tôi hoàn thành nhiệm vụ.

Đồng Tháp, ngày… tháng năm 2017

Chủ biên Nguyễn Thị Mỹ Linh

Trang 4

iii

MỤC LỤC

TUYÊN BỐ BẢN QUYỀN i

LỜI GIỚI THIỆU ii

CHƯƠNG 1: ĐẠI CƯƠNG VỀ SỰ TỔ CHỨC CƠ THỂ HỌC 1

1 Giới thiệu môn học 1

2 Sơ lược về các đơn vị tổ chức cơ thể 2

2.1 Tế bào (Cell) 2

2.2 Khái niệm chung về mô (Tissue) 3

2.3 Cơ quan (Organ) 4

2.4 Hệ thống hay bộ máy (System) 4

3 Các quy ước để mô tả 6

3.1 Về chiều hướng 6

3.2 Về mặt phẳng 6

3.3 Các xoang cơ thể 7

3.4 Sự phân chia các vùng trên cơ thể thú 7

CHƯƠNG 2: HỆ XƯƠNG 9

1 Chức năng của xương 9

2 Cấu tạo và phân loại xương 9

2.1 Cấu tạo của xương 9

2.2 Phân loại của xương 11

3 Thành phần hóa học và số lượng của xương 13

3.1 Thành phần hoá học của xương 13

3.2 Số lượng xương trong cơ thể 13

3.3 Sự hình thành và phát triển xương 14

3.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình phát triển của xương 14

4 Cấu trúc tổng quát của bộ xương 15

4.1 Các xương thuộc phần trục (Axial skeleton) 15

4.2 Các xương thuộc phần bên 16

5 Thực hành: Khảo sát bộ xương gia súc 20

CHƯƠNG 3: HỆ KHỚP 22

1 Đại cương về khớp 22

2 Khớp bất động (Synarthroses) 22

2.1 Phân loại các khớp bất động theo hình thể đường khớp 23

Trang 5

iv

2.2 Phân loại các khớp tính chất của tổ chức nối giữa hai xương 23

3 Khớp bán động (Ampiarthrosis) 24

4 Khớp di động hay toàn động (Diarthrosis) 24

4.1 Cấu tạo khớp di động 25

4.2 Các loại chuyển động của một khớp di động 26

4.3 Các loại mặt khớp di động 26

5 Thực hành: 27

CHƯƠNG 4: HỆ CƠ 35

1 Khái niệm về hệ cơ 35

2 Thành phần hoá học của cơ 36

3 Phân loại cơ 36

4 Cấu tạo hình dạng và cách đặt tên cơ (danh pháp tên cơ) 37

4.1 Cấu tạo và hình dạng cơ 37

4.2 Cách đặt tên cơ 38

4.3 Các cấu tạo phụ trợ cho cơ 39

5 Thực hành: 40

CHƯƠNG 5: HỆ TIM MẠCH 51

1 Hệ thống máu đỏ 52

1.1 Vai trò của máu trong cơ thể 52

1.2 Tim (heat) 52

1.3 Các động mạch ( Artenria ) hay “phát quản” 54

1.4 Các tĩnh mạch ( Vena ) hay “ hồi quản” 54

1.5 Các vòng tuần hoàn của cơ thể 55

1.6 Các mạch máu chính trong cơ thể 55

2 Hệ bạch huyết (Apparatus lymphaticeis ) 56

2.1 Các mao mạch bạch huyết 56

2.2 Các mạch bạch huyết 57

2.3 Các hạch bạch huyết 57

3 Thực hành: 60

CHƯƠNG 6: HỆ HÔ HẤP 62

1 Chức năng 62

2 Cấu tạo xoang mũi và xoang đầu mặt 62

2.1 Xoang mũi (Cavum nasi) 62

2.2 Các xoang đầu mặt 63

Trang 6

v

3 Thanh quản (larynx) 64

4 Khí quản (Trachea) 64

5 Phế quản (Bronchus) 64

6 Xoang ngực và phế mạc (Cavum thoracis and Pleura) 65

6.1 Xoang ngực 65

6.2 Màng phổi hay phế mạc 65

7 Phổi (lung) 65

7.1 Hình thái ngoài 66

7.2 Cấu tạo 66

8 Cơ hoành (Musculus diaphragrmatica) 66

CHƯƠNG 7: HỆ TIÊU HÓA 68

1 Xoang miệng (Cavumozis) 68

1.1 Môi (Labia oris) 68

1.2 Má (Buccae) 68

1.3 Khẩu cái (Palatum) 69

1.4 Lưỡi (Lingua) 69

1.5 Răng (Dentes) 69

2 Hầu (Pharynx) 71

3 Thực quản (oesophagus) 71

4 Dạ dày (Ventriculus hay gaster) 72

4.1 Dạ dày đơn 72

4.2 Dạ dày kép 72

5 Ruột non (intestinum tenue) 73

6 Ruột già (Intestinum crasium) 73

7 Các tuyến tiêu hoá 74

7.1 Tuyến nước bọt 75

7.2 Gan (Hepas) 76

7.3 Tụy tạng (Panererras) 77

8 Thực hành: 77

CHƯƠNG 8: HỆ SINH DỤC – TIẾT NIỆU 79

1 Hệ sinh dục đực 79

1.1 Dịch hoàn (Tinh hoàn) 79

1.2 Ống dẫn tinh 81

1.3 Các tuyến sinh dục phụ 81

Trang 7

vi

1.4 Cơ quan giao hợp và dương vật 82

1.5 Ống thoát tiểu ở thú đực 83

2 Hệ thống sinh dục cái 83

2.1 Buồng trứng (Ovaria) hay Noãn sào 83

2.2 Ống dẫn trứng (Oviductus) 84

2.3 Tử cung (Uterus) 84

2.4 Âm đạo (Vaginal) 85

2.5 Âm hộ hay âm môn (Vulva) 85

2.6 Nhũ tuyến (Namma) 86

3 Cơ quan tiết niệu 87

3.1 Thận (Renes) 87

3.2 Ống dẫn tiểu (Ureter) 89

3.3 Bàng quang (Vesica urinarria) 89

3.4 Ống thoát tiểu (Urethra) 89

4 Thực hành: 90

CHƯƠNG 9: HỆ NỘI TIẾT 92

1 Tuyến yên (Glandula pituitaria) 92

1.1 Thùy trước 92

1.2 Thùy giữa 92

1.3 Thùy sau 92

2 Tuyến giáp (glandula thyreoidea) 93

3 Tuyến phó giáp trạng (Glandula parathyreoidea) 93

4 Tuyến thượng thận (Glandulae suprarenales) 93

5 Tuyến ức (Thymus) 94

6 Tuyến tụy (Pancreas) 94

7 Tuyến sinh dục 95

7.1 Dịch hoàn (testis) 95

7.2 Buồng trứng (ovarium) tiết ra hormon oestrogen 95

CHƯƠNG 10: CƠ THỂ HỌC GIA CẦM 97

1 Hệ xương và khớp gia cầm 97

2 Hệ cơ 100

3 Các khí quan nội tạng 100

3.1 Hệ tiêu hóa 101

3.2 Bộ máy hô hấp 103

Trang 9

viii

GIÁO TRÌNH MÔN HỌC Tên môn học: CƠ THỂ HỌC ĐỘNG VẬT

Mã môn học: CNN262

Vị trí, tính chất, ý nghĩa và vai trò của môn học

- Vị trí: Được bố trí cho sinh viên trong chương trình các học phần cơ sở Học phần cung cấp cho sinh viên ngành Dịch vụ thú y, Chăn nuôi, kiến thức cơ bản về cấu trúc của cơ thể gia súc và gia cầm ở khía cạnh đại thể, thực hiện được thao tác tiêm chích, mổ khảo sát cơ thể

- Tính chất: Môn Cơ thể học động vật là môn học quan trọng, tạo nền tảng

cơ sở cho sinh viên ngành Chăn nuôi, Thú y để tiếp thu các kiến thức chuyên khoa theo hướng điều khiển sự sinh trưởng, sinh sản, phát triển tốt nhất của các vật nuôi nhằm phục vụ nhu cầu con người Yêu cầu sinh viên cần phải đảm bảo đủ số giờ

lý thuyết và thực hành

- Ý nghĩa và vai trò của môn học: Giáo trình rất có ý nghĩa trong giảng dạy

và học tập Cung cấp cho sinh viên những kiến thức về vị trí, hình thái, hoạt động trên cơ thể học trên động vật, góp phần quan trọng trong chương trình ngành nghề

+ Hiểu rõ vai trò, chức năng và hoạt động của các hệ thống trên cơ thể từng loài động vật

+ So sánh sự giống nhau và khác nhau trên cơ thể giữa các loài động vật

Trang 10

+ Xác định được vị trí, tên gọi, hoạt động của cơ thể gia cầm Đánh giá được

sự khác nhau giữa gia cầm và gia súc

- Về năng lực tự chủ và trách nhiệm: Sau khi kết thúc học phần sẽ có đủ trình độ

tự giải quyết các vấn đề có liên quan đến cơ thể học của các loài động vật

Nội dung của môn học:

Số TT Tên chương, mục

Thời gian (giờ)

Tổng số thuyết Lý

Thực hành, thí nghiệm, thảo luận, bài tập

8 Chương 8 Hệ sinh dục - tiết niệu 5 1 4

Trang 11

1

CHƯƠNG 1 ĐẠI CƯƠNG VỀ SỰ TỔ CHỨC CƠ THỂ HỌC

MH12-01 Giới thiệu: Môn cơ thể học (Anatomie – Anatomy) giới thiệu cho người học

các kiến thức cơ bản về cơ thể, sự tổ chức, cấu tạo cơ thể gia súc một cách toàn

thể và chi tiết của các hệ thống các cơ quan của cơ thể

1 Giới thiệu môn học

Theo ngữ nguyên học, từ ngữ “Cơ thể học” có nghĩa là cắt rời từng phần của

cơ thể Trong giai đoạn sơ khai, môn cơ thể học là môn khoa học mô tả, đặt căn bản trên những quan sát bằng mắt thường và những dụng cụ giải phẫu đơn giản như kéo, kìm…

Khoa học càng phát triển, kiến thức về cơ thể học càng nhiều, các ngành phụ trở nên thiết yếu Với sự phát triển của kính hiển vi, có thể nghiên cứu những chi tiết nhỏ hơn nên còn gọi là vi cơ thể học hay mô học để phân biệt với môn cơ thể học thông thường, dùng mắt thường quan sát, mô tả các cấu tạo lớn của cơ thể Môn cơ thể học chia làm hai nhóm lớn: thứ nhất là nghiên cứu về hình thể

và cấu tạo của loài sinh vật, thứ hai là nghiên cứu các chức phận của cơ thể vì vậy

cơ thể học chính là giải phẫu học, giải phẫu các chức phận bên trong cơ thể

Cơ thể học gồm ba phần: cơ thể học đại thể (quan sát và mô tả các cấu tạo dưới mắt thường), cơ thể học vi thể nghiên cứu các cấu tạo ở khía cạnh vi thể dưới kính hiển vi và môn phôi học nghiên cứu sự phát triển của cơ thể ban đầu Cơ thể

học (Anatomy) mà chúng ta học là ngành khoa học thông thường, quan sát mô tả trên cơ thể chết hay ngừng hoạt động (gọi là môn giải phẫu học)

Ngày nay do sự phát triển mạnh mẽ của khối lượng nghiên cứu và các kiến thức, các môn vừa nêu trên được tách ra thành các môn riêng biệt Và môn cơ thể học chính là cơ thể học đại thể nay là cơ thể học thông thường Môn cơ thể học thông thường lại chia thành các nhánh sau:

Trang 12

2

- Cơ thể học so sánh (Anatomy comparative): So sánh sự khác biệt về cấu tạo cơ thể học giữa các loài hoặc từ thấp đến cao

- Cơ thể học mỹ thuật: Dùng trong giải phẫu thẩm mỹ

Ngoài ra, còn một môn học khác gần tương tự như môn cơ thể học nhưng khảo sát cơ thể ở một khía cạnh khác: Sự biến dạng, biến đổi của các cơ quan khi con thú mắc bệnh gọi là cơ thể học bệnh lý (Anatomy – pathologie)

Hiện nay môn cơ thể học đại thể, tùy mục đích và điều kiện nghiên cứu, người ta chia như sau:

Cơ thể học hệ thống (Anatomy system): Khảo sát từng hệ thống tổ chức

trong cơ thể (thường dùng trong phần học lý thuyết của môn học)

Cơ thể học định khu (Anatomy topographique): diễn tả phương pháp xác

định vị trí liên hệ của những phần khác nhau trong cơ thể Thí dụ các cơ quan của vùng đầu, cổ, các cơ quan trong xoang bụng, xoang ngực…, (nó liên hệ đến các môn giải phẫu bệnh, ngoại khoa, chẩn đoán và những ngành học thực hành khác gọi là cơ thể học ứng dụng)

2 Sơ lược về các đơn vị tổ chức cơ thể

Cơ thể học động vật được coi là 1 tập hợp các đơn vị sống rất nhỏ, gọi là tế bào, các tế bào tập hợp lại thành mô, rồi thành cơ quan, các cơ quan hợp lại thành

hệ thống Cuối cùng các hệ thống phối hợp 1 cách phức tạp để tạo ra các hoạt động dưới sự điều khiển của hệ thần kinh thể dịch

Sống là quá trình tự điều chỉnh để thích nghi, tồn tại và phát triển ở các mức

độ khác nhau: tế bào  mô  cơ quan  hệ cơ quan  cơ thể

Tế bào là đơn vị cấu trúc ở mức độ hiển vi của sự sống Tế bào còn là đơn vị chức năng của cơ thể Chúng có khả năng đồng hóa thức ăn, hô hấp, bài xuất, chế tiết, trả lời các kích thích, sinh trưởng và sinh sản

- Những tế bào có hình dạng, kích thước tương đối giống nhau, cùng thực hiện chức năng kết hợp tạo thành những loại mô chuyên biệt: mô cơ, mô liên kết,

mô thần kinh…

- Một tập hợp các loại mô có liên quan với nhau hình thành một cơ quan

- Nhiều cơ quan hợp lại tạo thành hệ cơ quan

- Nhiều hệ cơ quan hợp lại tạo thành cơ thể

2.1 Tế bào (Cell)

- Tế bào là đơn vị sống nhỏ nhất của cơ thể, có khả năng tự tồn tại một cách độc lập trong môi trường thích hợp Cấu tạo gồm tế bào chất và nhân giới hạn với

Trang 13

3

bên ngoài bằng màng tế bào Do chức năng khác nhau nên tế bào có cấu tạo, hình thái, kích thước, số lượng khác nhau

2.2 Khái niệm chung về mô (Tissue)

Mô là một tập hợp yếu tố có cấu trúc tế bào và yếu tố không có cấu trúc tế bào, hình thành trong quá trình tiến hóa của sinh vật, phát triển trong cơ thể những

lá phôi nhất định và đảm bảo thực hiện những chức năng nhất định Do có cùng một nguồn gốc, cùng một chức năng nên mô cũng có cùng một cấu tạo chung Phân biệt bốn loại mô trong cơ thể là:

- Biểu mô (Epithelial tissue): gồm có biểu mô phủ và biểu mô tuyến Tùy theo loại có các chức năng

+ Bảo vệ: chống lại các tác nhân vật lý, hóa học và chống nhiễm khuẩn + Hấp thụ: biểu mô phủ lót mặt trong ruột và các ống thận

+ Chế tiết: biểu mô của các tuyến nội tiết và ngoại tiết có khả năng chế tiết các hormone và enzyme

+ Thu nhận kích thích: tế bào biểu mô cảm giác của chồi vị giác trên mặt lưỡi, tế bào thính giác của cơ quan Corti ở tai trong

- Mô liên kết (Connective tissue):

Dựa vào thành phần cấu tạo, mô liên kết được chia thành 4 nhóm:

+ Bảo vệ: tạo nên các màng bọc quanh các nội quan, mạch máu, các bó cơ

và dây thần kinh, tạo điều kiện cho các cơ quan hoạt động tương đối độc lập nhau + Nâng đỡ: tạo thành bộ khung cho cơ thể đảm nhiệm chức năng chống đỡ

và vận động: gân, dây chằng, xương…

+ Trao đổi chất: máu và bạch huyết mang chất dinh dưỡng đến tế bào và mang những chất bã từ tế bào thải ra ngoài

+ Dự trữ: nước, mỡ, các chất khoáng (Ca, P…)

+ Tái sinh và miễn dịch

Trang 14

4

- Mô cơ (Muscle tissue): Là loại mô đã được biệt hóa rất cao để thực hiện

chức năng vận động Có nguồn gốc từ lá phôi giữa, riêng cơ bì có nguồn gốc từ

lá phôi ngoài Đơn vị cấu tạo có thể là tế bào (cơ trơn, cơ tim) hoặc hợp bào (cơ vân)

- Mô thần kinh (Nerve tissue): Gồm những tế bào biệt hóa cao để: thu nhận kích thích, tạo xung động và dẫn truyền xung động đó Mô thần kinh gồm hai loại

tế bào:

+ Tế bào thần kinh (Neuron)

+ Tế bào thần kinh đệm (Neuroglia)

Trong những mô này thì biểu mô và mô liên kết có tính chất nguyên thủy hơn vì xuất hiện sớm; mô cơ và mô thần kinh xuất hiện về sau này do quá trình phân hóa cao của chất hữu cơ thích nghi với điều kiện sống Các cơ quan hoặc hệ thống các cơ quan trong cơ thể là do bốn loại mô trên cấu tạo nên

2.3 Cơ quan (Organ)

Một cơ quan có nhiều nhóm tế bào thuộc nhiều loại mô khác nhau Các nhóm

tế bào này liên hệ chặt chẽ với nhau để đảm nhận một công việc nào đó Thí dụ như tim, gan, phổi, dạ dày…

2.4 Hệ thống hay bộ máy (System)

Một nhóm các cơ quan tạo thành hệ thống Trong cơ thể có các hệ thống sau:

Hình 1.1: Tế bào mô cơ

Trang 15

5

- Hệ xương gồm: Các bộ xương, sụn và các cấu tạo phụ thuộc khác có nhiệm

vụ che chở và năng đỡ các phần mềm của cơ thể và nhất là góp phần vào sự vận động

- Hệ cơ: Bao gồm các bắp cơ (musculus), các dây gân (tendon), các cân mạc

(fascia)

+ Cấu tạo: Chứa 3 loại cơ khác nhau về hình dạng và chức năng

+ Chức năng: Phối hợp cùng với hệ xương và hệ thần kinh để tạo ra những động tác Sinh nhiệt

- Hệ hô hấp: Phổi, các phế nang, các phế quản, khí quản, thanh quản và mũi

(túi khí trên loài gia cầm) Trao đổi khí với môi trường Điều hòa pH của máu

- Hệ tiêu hóa: Gồm ống tiêu hóa từ miệng đến hậu môn và các phần phụ

thuộc như răng, lưỡi, các tuyến tiêu hóa như gan, tụy tạng, tuyến nước bọt

Chức năng: há vỡ thức ăn thành những phần nhỏ hơn để dễ hấp thụ

- Hệ tiết niệu: Thận, ống dẫn tiểu, bàng quan và các ống thoát tiểu

- Hệ sinh dục: Bao gồm buồng trứng, ống dẫn trứng, tử cung, âm đạo, âm

hộ nếu là thú cái Hoặc dịch hoàn, ống dẫn tinh, dương vật và các tuyến sinh dục phụ nếu là thú đực

- Hệ tuần hoàn: Gồm tim, các động mạch, tĩnh mạch, mao mạch, hệ thống

bạch huyết

Chức năng: Tim bơm máu đến các mao mạch Máu giúp quá trình vận chuyển oxy đến mô, đồng thời loại bỏ các chất thải ra khỏi tế bào

- Hệ thần kinh: Gồm não, tủy sống, các dây thần kinh, các bạch thần kinh,

các điểm tận cùng hay các đầu cảm thụ

+ Cấu tạo: Hệ thần kinh trung ương (não bộ, tủy sống) và hệ thần kinh ngoại biên

+ Chức năng: Dẫn truyền thông tin và xung động thần kinh từ nơi này đến nơi khác

- Hệ thống nội tiết: Tuyến não thùy, tuyến giáp, nang thượng thận, một phần

tuyến tụy, dịch hoàn và buồng trứng (có chức năng tiết hormon)

Chức năng: Chế tiết hormon để điều hòa quá trình trao đổi chất, tăng trưởng, phát triển và sinh sản của cơ thể

Trang 16

6

- Hệ thống các giác quan: Thị giác, thính giác, khứu giác và xúc giác Tiếp

thu mọi tín hiệu từ môi trường

3 Các quy ước để mô tả

Để có thể diễn tả các chi tiết trên một cơ quan hay cấu tạo, một số qui ước được dùng là

3.1 Về chiều hướng

 Trên - dưới (Dorsal – ventral):

 Trước - sau (cranial – caudal) hay đầu - đuôi: Ở thú phía “đầu” nghĩa là

“trước”, “đuôi” nghĩa là “sau”

 Trong - ngoài (medial – lateral): Từ “Trong” dùng cho một vị trí gần mặt phẳng giữa nhất, đối nghịch với nó là “ngoài”

 Gần - xa (proximal – distal): “Gần” và “xa” thường dùng cho tứ chi

“Gần” chỉ vị trí ở gần với thân mình hơn, và ngược lại là “xa”

 Thành - tạng (parietal – visceral): “Thành” và “tạng” dùng cho các màng tương dịch và các xoang, lá thành là màng sát thành xoang cơ thể, còn tạng là màng sát cơ quan Ví dụ đầu gần của xương cánh tay là đầu nó khớp với xương

Trang 17

7

Hình 1.1: Từ ngữ chỉ chiều hướng

3.3 Các xoang cơ thể

Cơ thể thú có hai xoang chính, mỗi xoang chính có các xoang phụ khác

a/ Xoang trên

- Xoang sọ đầu chứa não

- Xoang của tủy sống chứa tủy sống

b/ Xoang dưới

- Xoang ngực: Chứa phần lớn các cấu tạo của hệ thống tuần hoàn và hô hấp Trong xoang ngực còn chứa các xoang phụ khác là: Xoang phế mạc, xoang trung thất và xoang bao tim

- Xoang bụng: Chứa đựng phần lớn các cơ quan của hệ tiêu hóa, một phần của các cơ quan hệ niệu – dục Trong xoang bụng cũng chứa các xoang phụ khác như xoang phúc mạc, xoang màng mỡ sa

- Xoang chậu: Ở sau cùng của thân thú, chứa đựng các cơ quan của hệ tiêu hóa và niệu dục

3.4 Sự phân chia các vùng trên cơ thể thú

- Vùng đầu: Được phân chia các vùng nhỏ như sau:vùng mũi, vùng miệng, vùng mặt, vùng trán, vùng má, vùng hầu

- Vùng cổ: Bao gồm vùng trên cổ, vùng giữa cổ và vùng dưới cổ

- Vùng ngực: Vùng vai, vùng liên vai, vùng lưng, vùng sườn, vùng ức, vùng nách

Hình 1.2: Mặt phẳng ngang

Trang 18

8

- Vùng bụng: Vùng cung sườn, vùng thận, vùng hông, vùng thượng vị, vùng rốn, vùng bẹn

- Vùng mông

- Vùng đáy chậu: Giữa hậu môn và cơ quan sinh dục

- Vùng chi trước: Vùng cánh tay, vùng cẳng tay, vùng cổ tay, vùng bàn tay, vùng ngón tay

- Vùng chi sau: Vùng đùi, vùng nhượng, vùng cẳng chân, vùng bàn chân, vùng ngón chân

Câu hỏi ôn tập

1) Đặc điểm và vị trí của môn cơ thể học động vật?

2) Trình bày sự tổ chức của cơ thể học

3) Cho biết sự phân bố các vùng trên cơ thể thú

4) Những quy ước mô tả chiều hướng của thú

Trang 19

9

CHƯƠNG 2

HỆ XƯƠNG MH12-02 Giới thiệu:

Xương cùng với khớp xương, dây chằng và các cơ làm thành cơ quan vận động Chúng đều phát sinh từ trung phôi bì và tạo thành khối lượng chủ yếu của

cơ thể Mỗi thành phần của hệ cơ quan vận động có một ngành chuyên môn nghiên cứu khoa học riêng Bộ xương thú là cái sườn cấu tạo bởi tập hợp các xương lẻ (osssa), làm thú có hình dạng và kích thước khác biệt Sự hiện diện của bộ xương

là một đặc điểm chính của các loài có xương sống (vetebrata)

1 Chức năng của xương

Các xương trong cơ thể có các nhiệm vụ sau đây:

- Chức năng vận động của xương: là các phần tử cứng rắn nhưng thụ động

Sự vận động của nó nhờ vào các cơ (bắp thịt) tác động lên nguyên tắc đòn bẩy

- Làm thành bộ khung hoặc các xoang che chở các cơ quan có vai trò quan trọng hoặc dễ bị tổn thương như não, tủy sống, các cơ quan của bộ máy tuần hoàn, bộ máy hô hấp…

- Giữ vai trò quan trọng trong sự dự trữ các chất khoáng nhất là Ca, P cho cơ thể

- Tủy xương tham gia vào việc tạo huyết

2 Cấu tạo và phân loại xương

2.1 Cấu tạo của xương

Nếu cưa dọc hay cưa ngang một xương nói chung ta thấy xương có hai phần chính: xương đặc (substantia compacta) và xương xốp (substantia spongiosa) Ở

Trang 20

2.1.2 Tổ chức xương

Gồm có hai loại là mô xương đặc và mô xương xốp

- Mô xương đặc (substantia compacta) Là lớp xương mịn, rắn chắc, màu

vàng nhạt, xương sắp xếp thành từng lớp mỏng gọi là các phiến xương (tấm xương: lamelles osseuses) Các phiến xương này sắp xếp bao quanh các hệ thống ống đặc biệt chạy theo chiều dài xương gọi là các ống Havers Trong những ống

đó có chứa các mạch máu và thần kinh rất nhỏ Có các ống ngang nối các ống Havers với nhau gọi là ống Volmann

- Mô xương xốp (substantia spongissa) do nhiều bè xương bắt chéo nhau

chằng chịt để hở những hốc nhỏ trông như bọt bể Có nghĩa là ở mô xương này

có các ống Havers và ống Volmann không còn chạy dọc và ngang nữa mà hòa lẫn vào nhau và chúng tăng số lượng rất nhiều, làm cho xương có nhiều hốc rất nhỏ như bọt bể, do đó xương có độ xốp

Mô xương đặc hay xốp thực ra chỉ là các hình thức kiến trúc khác nhau của chất xương, về phương diện tổ chức học cơ bản thì chỉ là một

Đầu trên

Đầu dưới

Thân xương

Mạch máu Tuỷ xương Màng xương

Mô xương cứng

Hình 2.1: Cấu tạo của một xương

dài

Trang 21

11

2.1.3 Tủy xương (medulla ostium)

Chứa trong ống tuỷ và các hốc trong các xương xốp tuỷ xương thường chỉ hiện diện trên xương dài: Tủy xương là một chất dịch lỏng nằm trong xoang tủy hoặc trong các hốc của mô xương xốp, chứa rất nhiều chất béo

Trên thú có sức khỏe bình thường người ta tìm thấy hai loại tủy là tủy đỏ và tủy vàng Trên thú già yếu hay bệnh tật còn thấy thêm loại tủy xám Tuỷ đỏ có ở bào thai và gia súc non, ở gia súc trưởng thành, tuỷ ở thân xương dài đã biến thành vàng và tuỷ đỏ chỉ còn trong các hốc xương xốp

Tủy đỏ (medulla ostium rubra): có màu đỏ do chứa nhiều mạch máu, cơ bản

là tổ chức lưới và ở các nút tổ chức này có các tế bào máu đã trưởng thành và cả các thể còn non Tuỷ đỏ đóng vai trò quan trọng vì:

+ Là một trong các cơ quan tạo huyết

+ Đem mạch máu của nó đến nuôi mạch trong xương và giúp xương lớn mạnh

và phát triển

Tủy vàng (medulla ostium flava): xốp và nhẹ hiện diện trong các ống tủy của

xương dài Chủ yếu có nhiều tế bào mỡ, là nơi dự trữ chất dinh dưỡng

Tủy xám: Rất loãng, rất ít mô mỡ Loại tủy này chỉ thấy trên thú già yếu, bệnh

mãn tính hay bị suy dinh dưỡng

2.1.4 Mạch quản của xương

Gồm có hai loại chính, mạch dưỡng cốt và mạch cốt mạc

- Mạch dưỡng cốt chui vào xương với lỗ dưỡng cốt chạy vào một ống xiên chếch vào ống tủy xương Trong tủy, động mạch chia thành hai nhánh chạy dọc theo chiều dài của tủy và phân dần thành các nhánh nhỏ cho xương Các nhánh chui vào các ống Havers và nối tiếp với các nhánh của mạch cốt mạc

- Mạch cốt mạc (mạch quản nuôi màng xương): ở thân xương, đầu xương và chung quanh các diện khớp tới nuôi phần ngoài và nối tiếp với các nhánh của động mạch dưỡng cốt

2.2 Phân loại của xương

Bộ xương gia súc gồm khoảng trên 200 xương riêng biệt, các xương này thường

có đôi và đối xứng qua mặt phẳng đứng của cơ thể (trong đó đa số là những xương chẳn) Một số xương không có đôi (xương lẻ) ở cột sống hay nền hộp sọ Căn cứ vào hình dáng của xương, người ta có thể phân loại:

Trang 22

12

2.2.1 Xương dài (ossa longum)

Là loại xương hình trụ trong có ống Xương này chia làm ba phần: giữa là cán xương (dyaphysis) và hai đầu là đầu xương (Epiphysis)

Nhìn chung xương dài là những xương có tỷ lệ chiều dài lớn so với các

chiều khác, xương dài thường có hình trụ, 2 đầu phình to Đặc biệt của nhóm này

là có sự hiện diện của xoang tủy (cavum medulla) nằm ở trung tâm và kéo dài

theo chiều dài xương Xương dài có tác dụng làm cán vận động, đồng thời có tác dụng chống đỡ toàn thân

Các xương dài thường thấy trên các chi như xương cánh tay, xương cẳng tay, bàn tay, xương đùi…Ngoài ta trong nhóm này có loại xương dài hình cung, hơi cong hình bán nguyệt và không có ống tuỷ như xương dài người ta gọi là xương nối dài, có tác dụng làm đòn vận động đồng thời làm sườn bảo vệ thể tạng (như các xương sườn, xương trâm cài…)

2.2.2 Xương ngắn (ossa breria)

Không lớn, thường là khối hơi vuông có nhiều cạnh, có tỷ lệ 3 chiều gần bằng nhau Mặt ngoài của xương ngắn thường là lớp xương rất chắc bên trong là

lớp xốp Xương cũng có tác dụng làm cán vận động chống đỡ

Nhìn chung các xương này có kích thước các chiều đo gần tương đương nhau Các xương ngắn thường nhỏ nhưng có sức chịu đựng áp lực rất lớn, thường hiện diện ở các vùng cổ tay, cổ chân, các ngón (xương cườm, xương gót)

2.2.3 Xương dẹp (ossa plana)

Có một chiều hướng rất nhỏ so với các chiều còn lại Có tỷ lệ chiều dài và chiều rộng lớn so với bề dầy Các xương này mỏng, thường ghép lại với nhau thành các xoang để che chở một số nội quan khác, như tạo thành xoang sọ (cavum cranii), xoang chậu (cavum pelvis), xương bả vai Xương hộp sọ, do hai phiến xương chắc kết hợp lại, giữa hai miếng xương chắc có một lớp mỏng xương xốp

Nhiệm vụ che chỡ cho các cơ quan mềm, các cơ quan thuộc vùng chậu và

là nơi bám rộng cho các cơ

2.2.4 Xương phức tạp/đa dạng (os Irregularia)

Không có một hình dáng nhất định, như xương đốt sống, xương hàm trên, xương sàng, xương bướm Ngoài ra có một số xương nhỏ hình đĩa, hình hạt đậu như xương bánh chè, xương vừng Đặc điểm cấu tạo của những xương nhỏ là không có màng xương Các xương phức tạp chỉ hiện diện trên đầu và trục sống của thú

Trang 23

13

Nhiệm vụ: không có nhiệm vụ nhất định nào, dung làm trụ đỡ, bảo vệ và là nơi bám móc cho các cơ, dây chằng

3 Thành phần hóa học và số lượng của xương

3.1 Thành phần hoá học của xương

Thành phần hóa học đảm bảo cho xương một độ bền đặc biệt với hai tính chất rắn và đàn hồi Tính rắn do các chất vô cơ và tính đàn hồi do các chất hữu cơ:

+ Trên xương tươi (chưa lấy tủy xương): Nước 50%; Lipid 16%; Protein 12%; các muối khoáng 22%

+ Trên xương khô (lấy tủy và sấy khô) có 1/3 chất hữu cơ (cốt giao, gelatine chứa 33,30%) là các proteine có cấu trúc phân tử khá bền phần còn lại khoảng 2/3 chất vô cơ bao gồm các loại muối khoáng như Phosphate Ca (57,35%), Carbonate Ca (3,85%), Phosphate Mg (2,05%), Cloride Na, Clorde Ca (3,45%)…

- Nếu tách phần hữu cơ không làm biến đổi hình dạng của xương, thấy xương rất giòn, dễ gẫy nên có thể suy ra rằng chất hữu cơ làm xương có tính dẻo dai

- Nếu lấy đi phần muối khoáng bằng cách hòa tan, sẽ thấy xương trở nên mềm, dễ uốn cong Vậy chất khoáng tạo nên độ cứng rắn cho xương

Tuy nhiên, thành phần hóa học của xương thay đổi tùy theo tuổi, tình trạng sức khỏe và theo các chu kỳ sinh lý của cơ thể, dinh dưỡng thức ăn và một số vitamin (A,D,C) Trên các thú non, ít chất vô cơ nhiều hữu cơ nên xương mềm dẽo Ở gia súc già chất hữu cơ giảm nhiều và vô cơ tăng cho nên xương giòn, dễ gãy

3.2 Số lượng xương trong cơ thể

Số lượng xương trong cơ thể của các loài thú là hoàn toàn khác nhau, tuỳ theo loài thú Sự khác nhau này có thể là do sự thay đổi về số lượng các đốt sống, các xương sườn, các ngón Ngoài ra, trong cùng một loài cũng có thay đổi về số lượng bởi các yếu tố sau:

- Sự biến dị của từng cá thể, các cá thể có thể khác nhau về số lượng các đốt ngón tay, ngón chân

- Sự khác biệt về giới tính Thí dụ, trên loài chó, chó đực có 311 xương nhưng trên chó cái chỉ có 310 xương Vì trên thú đực có thêm xương dương vật (ossa penis)

Do các lý do trên nên không thể nói chính xác số lượng ngay cả trên loài nhất định Thí dụ sự phân bố các xương trên cơ thể gia súc của một số loài sau:

Trang 24

14

3.3 Sự hình thành và phát triển xương

Phần lớn các xương được hình thành và phát triển qua 3 giai đoạn: giai đoạn màng, giai đoạn sụn và giai đoạn xương Giai đoạn màng bắt đầu từ tuần thứ 6 –

7 trong quá trình phát triển bào thai Đầu tiên xuất hiện những đám tế bào màng

có nguồn gốc từ trung mô Sang tháng thứ hai, phần lớn các cấu tạo màng thay thế bằng mô sụn, sau đó mô sụn hóa thành xương (xương thứ cấp) Có một phần nhỏ bỏ qua giai đoạn sụn mà biến đổi ngay thành xương, đó là trường hợp của một sồ xương sọ và các xương mặt (xương sơ cấp) Bộ xương được phát triển từ trung mô, phần lớn là các mô liên kết

Sự biến đổi từ màng thành xương tương đối đơn giản do sự xuất hiện những điểm hóa xương Điểm hóa xương lúc đầu chỉ gồm một số tế bào sinh xương (Osteoblates) với chất gian bào, về sau nhiễm dần chất muối vôi, lớn lên và lan ra xung quanh hình thành tia tạo ra những nang xương đầu tiên rồi hình thành tấm xương Cuối cùng từ tấm liên kết màng chỉ còn lại một lớp phủ ngoài biến thành màng xương (periosteum)

Trong giai đoạn đầu bộ xương của phôi gồm một dây sống Ở một số động vật có xương cấp thấp, dây sống tồn tại suốt đời, sau đó xung quanh dây sống biến thành nhu mô và về sau biến thành cột sống, cũng vào thời điểm này, chất nhu mô được xuất hiện ở nhiều nơi khác trong phôi để tạo nên bộ xương nguyên thủy gọi

là xương màng Kế tiếp màng biến thành sụn, rồi sụn được hóa cốt để thành xương

Các xương hình thành và phát triển qua 3 giai đoạn gọi là sự hình thành

xương thứ cấp Tuy nhiên một số xương đầu hầu như chỉ trải qua 2 giai đoạn từ màng xương gọi là sự hình thành xương sơ cấp

3.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình phát triển của xương

Quá trình hình thành và phát triển của xương là sự nhân lên và biệt hóa của

tế bào xương và chất xương Vì vậy dinh dưỡng phải đảm bảo cung cấp đủ nguyên

Trang 25

- Vitamin C: cần thiết cho sự tổng hợp sợi collagen thay thế các sợi cũ Thú non không được cung cấp đầy đủ vitamin C sẽ chậm lớn Trẻ con và người lớn thiếu vitamin C sẽ dễ mắc chứng loét và xuất huyết do thiếu hụt sợi collagne trong các tổ chức liên kết

- Hormon: Các hormon sinh trưởng, hormon tuyến ức, hormon sinh dục ảnh hưởng đến quá trình hình thành và phát triển của xương

4 Cấu trúc tổng quát của bộ xương

4.1 Các xương thuộc phần trục (Axial skeleton)

Gồm bộ xương đầu, trục sống, các xương sườn và xương ức

a) Xương đầu (tige axialie): gồm các xương vùng sọ và các xương mặt

- Xương sọ (Cranium cerebrale): Gồm các xương ở phía sau đầu, hợp với

nhau thành hốc sọ để chứa não như xương chẩm (ót), xương bướm, xương sàn, xương trán, xương đỉnh, xương thái dương, xương gò má, xương lệ

- Xương mặt (Cranium faciale): Ở phía trước của đầu, hợp thành xoang

mũi và xoang miệng gồm các xương như: Xương hàm trên, xương liên hàm, xương khẩu cái, xương mũi, xương hàm dưới, xương lưỡi

b) Trục sống (colummna vertebralis)

Đây là phần căn bản cho bộ xương của các loài động vật có xương sống Cấu tạo

bởi các xương lẻ nối tiếp nhau gọi là các đốt sống (vertebralis), bên trong trục sống có một ống rỗng kéo dài để chứa tủy sống gọi là kênh sống (canal vertebralis) Cột sống chạy dài từ đầu đến đuôi làm chỗ dựa cho các khí quan

Toàn bộ trục sống chia làm 5 phần: Phần cổ hay các đốt sống cổ (cervical vertebrae), phần ngực (Thoracic vertabrae), phần thắt lưng (Lumbar vertebrae, hông), phần thiêng (Sacrum vertebrae, khum) và phần đuôi (Caudal vertebrae)

Số lượng các đốt sống trên từng phần gọi là công thức cột sống Các đốt sống của mỗi vùng có đặc điểm khác nhau, tuy nhiên chúng cũng có một số tính chất chung của đốt sống

Bảng 2.1: Công thức cột sống một số loài Ví dụ: C 7 T 13 L 6 S 5 Ca 18-21

Trang 26

c) Xương sườn (ossa costa, ribs)

Là các xương nối dài tạo thành xoang trục để chứa đựng phần lớn các cơ quan của hệ thống hô hấp, hệ thống tuần hoàn Xương sườn gồm 18 đôi: 8 đôi trước gọi là xương sườn thật, 10 đôi sau là xương sườn giả Mỗi xương sườn gồm

3 phần: một thân và hai đầu, đầu trên (đầu sống lưng), đầu dưới (đầu ức)

d) Xương ức (sternum): Hợp với các xương sườn để tạo nên xoang trục

- Mỏm kiếm (xương ức sau): dẹt từ trên xuống dưới, gần như hình tròn

4.2 Các xương thuộc phần bên

a) Đai ngực (extremitas thoracalis): Trên các loài thú rất thay đổi, nếu các

loài thú có đủ 3 xương đai ngực sẽ gồm: xương vai (os Scapula), xương đòn gánh (os Clavicula) và xương mỏ quạ (os Coracoideum)

Trên các loài gia súc như: ngựa, bò, heo, dê, chó…xương đòn gánh và xương mỏ quạ thoái hóa, chỉ còn duy nhất là xương vai Xương vai không dính trực tiếp với các xương phần trục

Trang 27

17

b) Đai hông (extremitas pelvina): Trên tất cả các loài thú đều hiện diện 3

xương: xương hông (os Ilium), xương tọa (os Ischii) và xương mu (os Pubis)

Cả 3 xương này dính chặt với nhau thành một xương lớn gọi là xương chậu (os Coxae) Hai xương chậu phải và trái hợp với nhau thành xương bồn (os Pelvis) Xương bồn là thành phần chính tạo nên xoang chậu (cavum pelvis)

c) Xương chi trước (ossa membri supeioris): Gồm 1 chuỗi các xương nối

với nhau, thứ tự từ gần ra xa như xương cánh tay (humerus), xương cẳng tay gồm hai xương là xương quay (radius) và xương trụ (ulna), xương cổ tay (os carpus) gồm khoảng 8 xương ngắn, xếp thành hai hàng hàng 1 và hàng 2 Xương bàn tay (số lượng rất thay đổi theo loài) Trên các loài có đầy đủ xương bàn tay, người ta đánh dấu từ trong ra ngoài theo thứ tự từ 1 – 5

Một số xương bàn có hiện diện nhưng rất nhỏ gọi là các xương bàn phụ, các xương bàn hoàn chỉnh gọi là các xương bàn chính

Các xương ngón (os Phalanx)

Tên của các ngón được lấy theo tên của xương bàn mà nó liên hệ chỉ có các xương bàn chính mới có các ngón, các xương bàn phụ, đầu xa (dưới) tự do Mỗi ngón có

từ 2 đến 3 đốt Tên của các đốt được đánh số từ gần ra xa, thí dụ: có 3 đốt thì sẽ

d) Xương chi sau (ossa membri inferioris): Cũng tương tự như các xương

chi trước, đây là một chuỗi các xương được sắp xếp nối tiếp nhau:

Xương chậu (ossa innominatumes coxae): gồm xương cánh chậu, xương

háng, xương ngồi dính lại với nhau và khớp với xương khum, tạo thành khung xoang chậu

- Xương cánh chậu (os ilium): hình tam giác, có 3 cạnh, hai mặt ba góc

- Xương háng (os pubis): ở phía trước rầm hạ xương chậu, cùng với xương ngồi bao vây lỗ bịt

Trang 28

18

- Xương ngồi (os ischii): phần sau cùng của xương chậu, tạo nên phần sau rầm hạ xương chậu

 Xương đùi (Os Humerus, ffemoris): là xương dài, nằm chéo từ trên

xuống dưới từ trước và hơi ra ngoài, gồm một thân và hai đầu

Xương bánh chè (os patella): ngắn, rất chắc, gần giống hình tháp

 Xương cẳng chân: gồm hai xương xương chày và xương mác

- Xương chày (os Tibia): dài, hình tháp, trên to hơn dưới, gồm một thân và hai đầu

- Xương mác (os Fibula): là một xương dài, dẹp, nhỏ, ở phía ngoài xương chày, đầu dưới nhỏ dần đến 1/3 thân xương chày thì hết

 Xương cổ chân (tarsus): Xếp thành hai hàng song song nhau, song có

điểm khác biệt là hàng số 1 có 3 xương và không thay đổi dù bất cứ loài nào là xương ngón và xương bên

 Xương bàn (Metatarsus): gồm một bàn chính và hai bàn phụ như ở chi

trước nhưng dài hơn

Xương ngón (phalanx) Số lượng và cách sắp xếp tương tự các xương bàn

và ngón tay Tùy theo cách tiếp xúc của các xương chi với mặt đất người ta chia

Hình 2.1: Bộ xương bò (Nguyễn Bá Thử)

1,2 xương mặt 3,4,5,6 đốt sống cổ

7 đốt sống ngực 8,9 đốt thắt lưng

Trang 30

X.bánh chè

Các đốt sống thiêng

Các x cổ tay Các x bàn tay

Các x ngón

tay

X đùi

X ống quyển

X trâm cài

Các x ngón chân Các x bàn chân X cổ chân Xương

chậu

Ngày đăng: 10/08/2022, 14:07

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm