Giáo trình Chăn nuôi chó mèo với mục tiêu giúp các bạn có thể hiểu về kiến thức cơ bản về sinh lý, sinh học; Biết được kỹ thuật chăn nuôi chó mèo một cách cơ bản nhất. Mời các bạn cùng tham khảo!
Vài nét về cơ thể học của chó, mèo
1.1 Cơ thể học của chó
Bộ xương của chó cũng như của các loại động vật có vú khác, là đòn bẩy của chuyển động, là chỗ tựa của những phần mềm trong cơ thể, là cơ quan bảo vệ, là chỗ để phát triển những cơ quan tạo máu (tủy xương đỏ), là kho dự trữ của những chất vô cơ cũng như hữu cơ, tham gia vào những quá trình trao đổi chất và sinh học trong cơ thể
Bộ xương chó cấu trúc từ 247 xương và 262 khớp Cột sống bao gồm 7 đốt sống cổ, 13 đốt sống ngực, 7 đốt sống thắt lưng, 3 đốt sống khum, 20 - 23 đốt sống đuôi (một vài loài chỉ có 5 - 6 đốt sống đuôi, thường được gọi là chó cộc
2 đuôi) Chó có 13 đôi xương sườn
Chân trước bắt đầu từ xương bả vai, xương cánh tay, xương cẳng tay (xương trụ và xương quay), xương cổ tay (có 7 xương nhỏ), xương bàn tay (có 5 xương), xương ngón tay (có 4 ngón 3 đốt, 1 ngón 2 đốt) Ở cuối những ngón chân là móng vuốt Xương chân trước liên kết với các đốt sống không phải là khớp mà bằng những cơ chắc chắn Phía trên xương bả vai là vây (u vai)
Chiều cao vây là chiều cao của chó và là một chỉ tiêu xác định giá trị giống của nó Sự lệch với tiêu chuẩn: Cao hơn giới hạn trên và thấp hơn giới hạn dưới được coi là khuyết tật (là 1 trong những căn cứ để chấm điểm trong các cuộc thi, triển lãm về chó)
Xương chân sau bắt đầu từ xương chậu, xương đùi, xương cẳng chân, xương cổ chân (có 7 xương nhỏ), xương bàn chân có 4 hoặc 5 xương, xương ngón chân có 4 xương, đôi khi mặt trong từ nửa trên xương bàn có 1 ngón bất toàn (huyền đề) - không phải ở cá thể nào cũng liên kết với khối xương bàn chân Ở nước ngoài, người ta coi nó như một hiện tượng không mong muốn, có thể cắt bỏ nó khi chó còn non Ở nước ta, một số người quan niệm những ngón bất toàn ở chó có khả năng mang lại những cơ hội may mắn cho chủ nhân của những con chó đó Trong dân gian còn lưu truyền câu ca dao: Dù ai buôn bán trăm nghề, không bằng nuôi chó huyền đề 4 chân
Xương chân sau có một khớp nối với xương chậu (ổ cối), được cố định bằng các cơ của nhóm cơ chậu đùi
Hệ thống cơ đóng vai trò quan trọng trong ngoại hình và mô hình hóa một cách nổi bật cơ thể chó Trong các tiêu chuẩn đánh giá vẻ đẹp của chó, hệ cơ đóng vai trò chủ yếu Để chó có thân hình cân đối, hệ cơ cần được phát triển tốt, không có những dấu hiệu của sự quá béo hay quá gầy Các cơ của chó rất ít gân
Sự linh động của các nhóm cơ và những khúc cong của cơ thể là những nét đặc biệt để phân biệt, chấm điểm chó khi chọn giống hay trong các cuộc thi Với mục đích bảo toàn năng lượng của cơ, chó thường ít đứng mà thích nằm nhiều hơn, chúng sẵn sàng nằm và chờ đợi khi chẳng có việc gì bắt buộc phải đứng
Hệ thống da có 3 lớp: Biểu bì (epiderme), chân bì (derme),mô liên kết dưới da (hypoderme) Ở chân bì có nang lông, tuyến mồ hôi, tuyến nhờn, tuyến thơm, mao quản, đầu mút thần kinh Từ da đi ra những bó lông, cùng chung một bao lông Mỗi bó riêng biệt có 3 (hay nhiều hơn) lông dài và to, 6 - 12 lông nhỏ và mềm, tất cả tạo thành lớp che phủ dầy và ấm cho chó về mùa đông, nhưng
3 cũng thật sự phiền toái cho chúng khi mùa hè đến Ở nước ta, những giống chó nhiều lông ngoại nhập thường trở nên cáu bẳn, bức xúc vào những ngày nóng nực, cần có chế độ tắm chải hợp lý hay cắt lông vào mùa hè cho chúng
Vào mùa đông, người ta ít quan sát thấy chó thay lông Mùa xuân đến chó thường thay lông Mùa hè sự thay lông của chó thường kết thúc, không quan sát thấy lông con ở chúng Mùa thu lông bắt đầu mọc nhiều hơn Hầu như tất cả cơ thể của chó được bao bọc bởi lớp lông dầy (ngoại trừ gương mũi, đệm ngón chân, bao dịch hoàn của con đực, âm hộ của con cái) Phía trên mắt, trên gò má, thái dương và ở môi trên phân bố một số lông dài hơn và rất cứng
Tuyến mồ hôi của chó chỉ có ở phía cuối của 4 chân, từ đó tiết ra mồ hôi
Sự tiết mồ hôi của chó không có ở trên tất cả bề mặt da Vì vậy, sự chênh lệch nhiệt độ cơ thể được điều chỉnh bằng đường hô hấp (phổi) là chính và nhờ vào sự bốc hơi của dịch niêm mạc và nước bọt Những ngày oi bức, chúng ta quan sát thấy chó thường há miệng, thè lưỡi ra và thở rất nhiều để tăng cường sự thải nhiệt cho cơ thể Lúc này cần thiết phải cho chó ăn thức ăn loãng và uống nước đầy đủ
1.2 Cơ thể học của mèo
Giống như người, mèo là động vật có vú, nhưng thuộc loài săn mồi nên mèo có một số đặc điểm cấu tạo cơ thể khác biệt với người và chó để thích nghi với cuộc sống bản năng của mình
Các tín hiệu thu và được xử lý nhanh, hiệu quả từ bộ não đã thật lợi hại để săn mồi nhờ sự sắp xếp não bộ thông minh trong hộp sọ gọn nhẹ, não nằm phần lớn phía trước
1.2.2 Bộ xương Được thiết kế và sắp xếp cực kỳ lợi hại mặc dù về cơ bản không khác mấy cấu tạo xương người Để vận động dễ dàng, uyển chuyển tránh tổn thương, xương sống của mèo có nhiều đốt hơn chúng ta, không kể phần xương đuôi dài luôn giữ thăng bằng khi chạy đuổi Toàn bộ gồm 7 đốt sống cổ, 13 đốt sống ngực, 7 lưng 3 hông và 14-28 đốt sống đuôi, mèo có thể cuộn tròn cơ thể hoặc
"giảm sóc, giảm nhẹ sang chấn" khi rơi từ độ cao nguy hiểm
Bộ Răng và hàm của mèo đầy mãnh lực cắn xé mồi Ai đã từng bị mèo cắn sẽ cảm giác độ đau buốt đặc biệt như thế nào
Mèo là loài vật có cơ bắp cực khỏe, dai và đàn hồi tốt nên hoạt động dường như không biết mệt mỏi
Về cơ bản không khác gì các loài có vú khác, nhưng ống tiêu hóa đơn giản và ngắn hơn ( về tỷ lệ cơ thể ) so với các loài khác để thích nghi săn bắt mồi và tiêu hóa thịt Tuy nhiên mèo nhà thuần hóa thì ruột dài hơn mèo hoang dã
1.2.5 Kích thước và trọng lượng cơ thể
Các hằng số sinh lý
2.1 Các chỉ tiêu sinh hóa máu
Thời gian đông máu (phút): 4 – 8
Khối lượng máu (%/ khối lượng cơ thể): 5,6 – 13,0
Sức kháng của hồng cầu trong dung dịch NaCl (%)
Tốc độ huyết trầm (mm)
Hàm lượng đường tổng số (%): 0,09 – 0,11
Hàm lượng đường trong 100ml máu (mg): 60 – 87
- Thành phần tế bào máu
Hàm lượng hemoglobin (đơn vị Sali): 60 – 80
Bạch cầu (nghìn/mm 3 ): 8 – 18 (trung bình 12) Công thức bạch cầu (%)
+ BC đa nhân trung tính 74 (60 - 82)
- Những thành phần khác của máu (mg%)
2.2 Các chỉ tiêu sinh lý
Mạch đập trong trạng thái yên tĩnh (số lần/1 phút)
Nhịp thở của chó trong trạng thái yên tĩnh (số lần/1 phút)
Tương quan giữa hít vào và thở ra: 1/1,6.
Sinh lý sinh sản
Chức năng ngoại tiết là sản sinh ra tinh trùng tham gia giao phối và thụ tinh
Chức năng nội tiết: tiết ra hoocmon sinh dục đực Androgen, tạo ra đặc tính sinh dục phụ ở con đực
Là nơi tinh trùng hoàn chỉnh về cấu trúc và hình thái trước khi xuất tinh
Dự trữ và cung cấp chất dinh dưỡng cho tinh trùng hoạt động, thời gian tinh trùng ở lại trong phụ dịch hoàn là 2 tháng, nếu quá tinh trùng sẽ kỳ hình không
7 còn khả năng thụ tinh
- Ống dẫn tinh: Là nơi dẫn tinh trùng từ dịch hoàn đi ra đổ vào lòng niệu đạo
- Niệu đạo và dương vật: Dẫn tinh dịch, nước tiểu và là cơ quan giao phối
- Buồng trứng: có 2 chức năng:
Ngoại tiết: sinh ra nang trứng tham gia vào quá trình giao phối, thụ tinh
Nội tiết: tiết ra hoocmon sinh dục cái estrogen và Progesteron (hoocmon thể vàng) Cả hai hoocmon này tạo ra đặc tính sinh dục ở con cái
- Ống dẫn trứng: Là nơi gặp nhau của trứng và tinh trùng xảy ra quá trình thụ tinh khi con vật giao phối
Chức năng vận chuyển trứng và hợp tử về tử cung
- Tử cung: là nơi làm tổ của thai khi con vật chửa Động vật đơn thai, thai làm tổ ở thân tử cung Động vật đa thai, thai làm tổ ở sừng tử cung
- Âm đạo: Là nơi tiếp nhận dương vật con đực khi giao phối và vận chuyển thai ra ngoài khi con vật đẻ
- Âm hộ: Trong âm hộ có âm vật tương tự như dương vật thu nhỏ là nơi tiếp nhận kích thích khi giao phối
- Tuyến vú: Là nơi sinh sữa và thải sữa
Một số chỉ tiêu về sinh sản
Loài Tuổi thành thục Thời gian Mùa lên giống Thời gian mang thai lên giống
Chó 5-24 tháng 63 ngày Quanh năm 2-21 ngày
Mèo 4-12 tháng 63 ngày Quanh năm 6-7 ngày
Tuổi thành thục tùy theo giống: lớn con thành thục chậm, nhỏ con thành thục sớm
Sinh lý sinh dục chó cái
Chó cái trưởng thành về thể chất và thành thục về tính dục lứa tuổi 8 - 10 tháng Ở tuổi này, buồng trứng của chó bắt đầu hoạt động : trứng phát triển, chín và rụng vào ống dẫn trứng, chuyển xuống tử cung Khi giao phối, trứng gặp tinh trùng ở tử cung và thụ tinh Con vật mang thai 60 ngày, có thể cộng trừ 2 ngày, rồi đẻ
Sự hoạt động rụng trứng có chu kỳ 180 ngày Như vậy là 2 lần trong 1 năm
Sự hoạt động của chu kỳ sinh sản chó cái diễn ra như sau: chó cái sau khi thay lông, thân thể béo khỏe thì bắt đầu có hoạt động sinh dục, chó có kinh nguyệt, kinh nguyệt kéo dài từ 9 - 16 ngày đối với giống chó xù Nhật
Thời kỳ phối giống thích hợp từ ngày thứ 10 đến ngày thứ 13 Kể từ ngày thấy kinh đầu tiên, tùy thuộc vào trạng thái sinh lý của từng con chó cái
Thông thường chó đến ngày rụng trứng, thì sự hưng phấn về sinh dục đến đỉnh cao nhất Chó ăn ít, thích gần chó đực Khi gần chó đực thì đứng im, cong đuôi lên và chịu phối giống
Khi phối giống thì nên phối 2 lần, cách nhau 1 ngày để đảm bảo sự thụ tinh chắc chắn
Các giai đoạn của chu kỳ động dục
Tiền động dục: 3-15 ngày Động dục: 6-12 ngày
Không động dục: 150-250 ngày tùy theo giống
Một chó cái có thể có giai đoạn giữa 2 chu kỳ động dục thay đổi từ 5-10 tháng mà không có một lý do gì, cũng không phải là hậu quả của bệnh lý Ngoài ra, độ dài giữa 2 chu kỳ kéo dài hơn trong trường hợp mang thai Ngược lại việc giao phối không đậu thai không làm rối loạn chu kỳ sau
Thời kỳ lên giống thể hiện nhiều thay đổi về tâm tính và tập trung vào sự phát triển buồng trứng Đó là kết quả của việc giải phóng oestrogen từ tuyến yên vào máu Sự rụng trứng xảy ra trong khi động dục nhưng ở những thời điểm khác nhau tùy theo chó cái
Việc đóng ổ là bước đầu tiên của giai đoạn mang thai, đã trãi qua tối thiểu 17 –
18 ngày từ lúc giao phối Có một quan hệ hữu cơ giữa phôi và cấu trúc tử cung nhằm đảm bảo chức năng hô hấp, dinh dưỡng, bài tiết của thai và sự phát triển: đó là phần phụ của phôi và cấu trúc nhau Phôi gắn vào tử cung nhờ một dãy tế bào dạng ống Các phôi có khuynh hướng định vị đều ở 2 sừng tử cung Dến ngày thứ 16 khối tế bào dài ra hình thành dạng phôi Thời kỳ này dinh dưỡng của phôi được thể hiện qua việc hấp thu ô sữa nội tạng ằ
Nhau thai có dạng như một dây nịt rộng bản bao xung quanh phôi và các phần phụ Nó có màu xanh của uteroverdine, một sản phẩm phân huỷ của hemoglobin Các nhung mao của nhau tiếp xúc trực tiếp với biểu mô của các mạch máu tử cung Khi nhau bị tống ra ngoài, một phần mạch máu tử cung bị vỡ nên việc xuất huyết nhẹ khi đẻ là chuyện bình thường
Nhau thai là cơ quan biến dưỡng chất chức năng động và còn nhiệm vụ sản sinh progesteron thay cho thể vàng trên buồng trứng dần dần suy thoái theo thời gian
Thời gian mang thai rất thay đổi Những chó cái được giao phối sớm trong thời kỳ động dục mang thai dài hơn Những chó được giao phối vào cuối thời kỳ động dục mang thai ngắn hơn Lứa đẻ có nhiều con thời gian mang thai ngắn lại chút ít và ngược lại lứa ít con thời gian mang thai có thể dài hơn
Những biểu hiện khi mang thai
Trong tháng mang thai đầu tiên sự thay đổi bên ngoài rất ít Tuỳ theo giai đoạn mang thai ta có thấy các dấu hiệu sau:
Chó có thể gia tăng sự ngon miệng, lên cân nhẹ trong tháng đầu tiên Âm hộ nở lớn
Cảm giác sự nở lớn của vòng ngoài của sừng tử cung khi sờ nắn kể từ sau ngày mang thai 24
Ngày 28 – 30 òng ngoài tử cung nở lớn
Gần đến ngày 35, tử cung xoay nhẹ và tự gấp lên, có thể dẫn đến hiện tượng nôn
Ngày 30 – 45 tử cung nở lớn và dạng như sưng phòng lên
Sau ngày 35 chó tăng trọng nhanh hơn
Trên 45 ngày có thể sờ nắn chó non bên trong
Hành vi hoạt động của chó
- Hành vi hoạt động của chó lớn
Có ít điểm khác biệt trong động thái giữa chó và chó sói Chó sói trên đường đi ngang qua những chỗ săn mồi thường tiêu tiểu và chà lại trên đất để lại những ‘ chỗ có mùi’ hoặc ‘ chỗ đánh dấu’ Giống như chó sói, những chó chạy rong vô chủ thường di chuyển trên những lộ trình nhất định bằng cách đánh hơi những mùi này Trong thời gian lên giống nước tiểu và dịch âm đạo chó cái có mùi đặc biệt kích thích chó đực
Cha mẹ sói cùng nuôi con (bằng cách nôn ra thức ăn) khi sói con bắt đầu ăn vào 3 tuần tuổi Kể từ 7 – 10 tuần tuổi sói con cai sữa và có thể săn mồi vào
10 lúc 4 tháng tuổi Các tàn tích của động thái hoang dã từ tổ tiên có thể quan sát được trên chó cái là có khuynh hướng nôn thức ăn cho chó con ăn
Cũng như sói, chó có nhu cầu hợp đàn với những chó khác Những giai đoạn cách ly là một hình phạt đối với chó Việc này có ít trong một vài trường hợp huấn luyện Các chú sống bằng cách săn mồi có mối quan hệ ưu thế - lệ thuộc cho phép chúng sống trong những quần thể ổn định Điều này cho phép ngăn trở đánh nhau trong những hoàn cảnh cạnh tranh Tầm vóc, sức mạnh, giới tính quyết định tính ưu thế trong quần thể Các mối quan hệ này được thiết lập trong số chó con đang trưởng thành Những chó lạ cùng giống thường bị tấn công và loại ra khỏi quần thể khép kín hơn là những chó giống khác mặc dù chúng có những khác biệt lớn về giống Động thái bảo vệ
Chó trưởng thành của một vài giống thường canh giữ vùng đất xung quanh nhà và giữ khoảng cách với người lạ bằng cách đe dọa hoặc tấn công Càng xa khu vực của mình chúng hiếm khi hung dữ Khi chuyển qua nhà mới nó cần một giai đoạn (có khi đến 10 ngày) để thiết lập khu vực mới Chó cũng có thể tấn công khi những thành viên trong nhóm (hoặc người trong gia đình) bị đe dọa Hành vi này không được khuyến khích vì đôi khi chủ không kiểm soát được chó Một khi con chó được huấn luyện tốt, kiểm soát tốt thì ta ít gặp rắc rối Động thái xã hội bất thường
Cho dù người chủ có thể khống chế chó mình nhưng một người lạ qua lại không thể làm được và có thể bị tấn công Một con chó được phép cắn một con chó khác hay tấn công người có thể phát triển nhanh chóng các thói quen này làm cho chúng trở nên nguy hiểm
Mối quan hệ giữa người và chó
Tác động lẫn nhau ít nhất trên 3 mặt:
Sự lệ thuộc được khởi đầu sớm trên chó con, chó trở nên vật lệ thuộc vĩnh viễn
Sự lệ thuộc về mặt xã hội: con người phải chế ngự hay có nguy cơ bị đe dọa, tấn công trong những tình huống cạnh tranh Việc chế ngự không đạt được bằng những hình phạt nghiêm khắc Đa số chó bị khuất phục khi chúng bị nắm da cổ nâng lên hay giữ ở tư thế nằm một bên Người chủ phải biết những cách thức này để bảo vệ khi chó đặc biệt hung dữ
Việc tập luyện mối quan hệ ưu thế - lệ thuộc là rất cần thiết để tạo ra mối quan hệ này trên chó
-Hành vi hoạt động của chó con
Tập cho chó thói quen sạch sẽ
Cho đến khi chó con bắt đầu ăn thức ăn đặc từ sau 3 tuần tuổi, chó mẹ thường giữ cho con sạch bằng cách liếm và nuốt phân Sau đó chó con sẽ tránh làm dơ chỗ nằm Nó sẽ ra xa để đi phân và tiểu nhưng sẽ sử dụng những vùng riêng biệt khi đến 8 tuần tuổi Các chó con từ 7 tuần tuổi phải được trông nom để tránh tiểu tiện lộn xộn Chúng phải được đi đến những vùng vệ sinh qui định sau khi thức dậy, sau khi ăn hoặc khi chúng trở nên linh hoạt Nếu muốn chó con đi bên ngoài như chó lớn thì cần phải huấn luyện Đa phần chó không phân biệt giữa giấy và cỏ
Phát triển về mặt xã hội Động thái của nhiều giống, dòng chó khác nhau thay đổi một cách đáng kể Đặc tính và ‘ khả năng huấn luyện’được xem như những yếu tố quan trọng khi người ta lựa chọn chó con, nhưng không dễ đánh giá sớm Tuổi thuận lợi nhất để phát triển mối quan hệ tốt giữa người và chó là 3-12 tuần tuổi Chó phải được lựa chọn từ lúc 6 tuần tuổi và đưa về nhà càng sớm càng tốt Chó nhốt trong cũi, xa sự tiếp xúc với con người có thể không bao giờ thích nghi với mối quan hệ người – chó nếu nó được nuôi từ ngoài 12 tuần tuổi Sự kiên nhẫn và huấn luyện kỹ lưỡng có thể giúp chó gần gũi với một số người nào đó và điều này có thể là có lợi Những chó này thường phát triển một hội chứng ‘chó nhốt cũi’ chúng mất đi sự tin tưởng và có thể trở nên hung dữ vì sợ hay là phục tùng thái quá Những hiện tượng này có thể mất đi nếu chúng trở lại chuồng cũ Chó nuôi chuồng có thể thiết lập mối quan hệ tốt với những chó khác, xem chuồng như
‘nhà’ và như vậy có thể không là người bạn đồng hành tốt với con người
Ngược lại, những chó hoàn toàn chỉ được nuôi và ở chung với người có thể có những khó khăn khi giao phối bởi vì chúng xem người như những cá thể chung loài với chúng và không nhận ra những chó khác
Một số hành vi khác
Chó vẫy đuôi: Chó vẫy đuôi về trước ra sau để thể hiện hành vi đang hạnh phúc
Khoe bụng: Chó đưa bụng ra như là dấu hiệu của sự phục tùng, và có thể đang đòi được chà bụng
Nhe răng cửa: Môi cong lên phô ra bộ răng là cách chó cười
Nhìn trân trối: Một cái nhìn trực diện, căng thẳng là một mối đe dọa Lùi lại một cách chầm chậm là một giải pháp khôn ngoan
Các tai ở những vị trí khác nhau: Chó để tai ở các hướng khác nhau tùy thuộc theo tâm trạng Vểnh lên là cảnh giác, cụp là sợ hãi và về sau là đang rất hung hăng Để đuôi giữa 2 chân: để đuôi giữa 2 chân nghĩa là chó đang sợ hãi, lo lắng, và căng thẳng
Chơi trò cắn: Cắn yêu là một hành vi rất bình thường của chó, Hãy coi đó như hành động nô đùa Ăn thịt động vật đã thối rữa: Chó là loài vật ăn thịt và bản năng của chúng là ăn thịt
Nghiêng đầu sang một bên một cách giễu cợt: Chó nghiêng đầu khi một vài thứ khêu gợi sự quan tâm của chúng và chúng muốn nghe rõ hơn
Làm điệu bộ “Đôi mắt đáng yêu”: Chó thông minh hơn chúng ta nghĩ, và biết làm thế nào để có được chúng muốn “Đôi mắt đáng yêu” na ná như việc đang cầu xin – một mưu đồ để được thết đãi món gì đó hoặc để được đi dạo
Hú lên mặt trăng: Chó hú để thông báo với các con chó khác sự có mặt của mình Sự kết hợp với mặt trăng hầu hết dựa trên những huyền thoại cổ xưa Đào các hố ở nơi nào đó: Chó đào để chôn những thứ quý giá, ví dụ như xương hay đồ chơi
Gầm gừ người đưa thư/ người vận chuyển/ đơn giản là bất kì ai: Chó sủa người lạ vì đó là lãnh thổ của chúng và chúng muốn bảo vệ
Sủa bởi vì nó nghe thấy chó khác sủa: Chó sủa để giao tiếp Chúng chỉ nói chào nhau.
Hành vi hoạt động của mèo
Mèo là loài không sống thành đàn và có khuynh hướng sống đơn độc Đôi khi chúng cũng thể hiện một tình thân hữu rõ ràng nhưng trải qua phần lớn thời gian sống riêng lẻ Cách sống này được thể hiện trong động thái quần thể, lấy thức ăn và sinh sản Chúng không có tính ưu thế trong đàn Trong nhóm chỉ có 1 mèo là ‘có lãnh địa’, 1-2 con có thứ hạng rất thấp và những con còn lại chia nhau vị trí quần thể trung tâm Trật tự này thay đổi với cùng những cá thể nếu chúng được tìm thấy trong những vùng khác Các con mèo phân chia vị trí thường có khuynh hướng cắn nhau Để việc giao phối đạt kết quả con đực phải hiện diện vào những thời điểm thích hợp
Sự phát triển về mặt xã hội của mèo con
Mèo con sống thành quần thể vì chúng lệ thuộc mẹ chúng về hơi ấm và thức ăn, lệ thuộc các thành viên khác vì hơi ấm và về sau là bởi việc chơi đùa
Sự chơi đùa này phát triển dần dần đến 3 tuần tuổi Các tác động tương hỗ giúp mèo phát triển sự điều chỉnh, học cách săn mồi của mèo trưởng thành, cách sống còn và kết thúc sự trưởng thành về hành vi và sinh lý
Khi mèo con đạt 6-8 tuần tuổi, chúng có thể sống riêng lẻ Các giai đoạn nô đùa trở nên ngắn hơn và chấm dứt sau những cơn hung dữ ngày càng mạnh và dài Ở những khoảnh khắc này mèo có khuynh hướng tách rời đàn và dẫn đến cuộc sống riêng lẻ Các người chủ thường ghi nhận những thay đổi về tính cách và không hài lòng vì chúng ngày càng trở nên kém thân thiện và có thể hung dữ hơn
Một số hành vi khác
Hành vi của mèo khi dụi đầu vào chân người: Khi mèo dùng mặt hoặc cơ thể dựa vào chân của chủ nhân, nó đang muốn được cho ăn Đây vốn là động tác khi mèo con muốn mèo mẹ cho ăn Ngoài ra việc mèo dựa vào chân chủ nhân cũng là để đánh dấu lãnh thổ Chúng muốn để mùi hương của mình dính người chủ nhân Thể hiện với những con mèo khác rằng: “người này của của nó”
Mèo cũng thường xuyên cọ xát lên cả ghế, cánh cửa, đồ chơi và tất cả mọi thứ trong tầm ngắm Mèo muốn nói cho mọi người biết rằng đây là những thứ thuộc về mình
Hành vi của mèo dụi đầu và mặt vào chủ dường như để bày tỏ cảm xúc và thu hút sự quan tâm của chủ Nhưng chúng cũng dụi đầu và mặt vào đồ đạc trong nhà Nhưng ngoài ra, mèo còn dụi đầu vào nhau để thể hiện sự thân thiện
Hành vi của mèo thể hiện sự nhắc nhở: Một số con mèo dễ dàng để con người vuốt ve, âu yếm Trong khi nhiều con khác dễ bị kích thích quá mức bằng cách cắn hoặc cào vào người khác trong khi con người vuốt ve chúng Mèo làm vậy không phải vì nó ghét con người hay muốn gây chiến Đấy là sự nhắc nhở nhẹ nhàng rằng vuốt ve như vậy là đủ rồi
Vuốt ve liên tục cho mèo có thể khiến nó cảm thấy không thoải mái Thậm chí đôi khi sinh ra tĩnh điện Một vài hành động của mèo sẽ thể hiện cho con người biết chúng đang bực mình, hoặc khó chịu khi bị vuốt ve
Hãy chú ý đến những dấu hiệu, hành vi của mèo không mấy hứng thú: tai cụp xuống, đuôi bắt đầu đập hoặc mèo thể thể hiện sự căng thẳng Nhiều con mèo không thích được vuốt ve ở lưng Chúng có thể thích được vuốt ve ở cằm hoặc đằng sau tai
Hành vi của mèo ăn linh tinh: Việc ăn cỏ, thực vật là hoàn toàn bình thường đối với mèo Nhưng nếu hành vi của mèo này lặp lại quá nhiều có thể khiến mèo đau dạ dày Mèo ăn cỏ với mục đích cung cấp chất xơ và giúp làm
14 sạch các cục lông trong dạ dày Vì vậy không phải lo lắng trừ khi mèo ăn quá nhiều và dẫn đến nôn mửa Cần đảm bảo rằng mèo không tiếp cận với những cây hoa hoặc cỏ trang trí trong nhà Những thứ có thể nguy hiểm cho chúng
Hành vi của mèo khi dậm chân lên người chủ: Một vài con mèo lại thích thể hiện tình cảm bằng cách “giậm chân” trên người chủ Điều này có mối liên hệ với việc khi còn bé, chúng cũng sử dụng cách này để giúp tiết sữa từ bầu ngực của mẹ khi được cho ăn Vì vậy nếu bắt gặp hành động của mèo này, ta có thể hiểu đó là cách nó thể hiện tình yêu và tình cảm dành cho người “mẹ” là con người
Hành vi của mèo khi đi vệ sinh không đúng chỗ: Đây là một hành vi của mèo không bình thường Hãy nghĩ đến việc đưa mèo đi khám bác sĩ thú y Nó thể hiện sự căng thẳng về mặt tinh thần hoặc vấn đề về sức khỏe nào đó Mèo có thể bị nhiễm khuẩn hoặc bị tắc ống dẫn nước tiểu
Hành vi của mèo thích cắn xé đồ đạc: Mèo không cắn đồ đạc vì vui thích mà vì chúng cần thường xuyên cào móng để giữ cho móng vuốt của mình được sắc và khỏe Ta có thể giải quyết bằng cách cung cấp một chiếc trụ cào móng cho mèo , nhà cây cho mèo Mặc dù có thể khá tốn thời gian để mèo quen với điều đó Ta có thể ngăn chặn hành vi của mèo cào xé đồ đạc bằng cách di chuyển đi các vật chúng có thể cào Che phủ đồ đạc, hoặc thậm chí dán hai lớp băng keo hoặc giấy nhám/giấy ráp lên nền nhà nơi mèo cưng thường đứng cào Nếu ta không thể dễ dàng ngăn chặn việc mèo cào móng, thì ta có thể tỉa bớt móng của mèo theo định kì Hoặc lắp thêm móng nhựa lên trên móng của mèo để khiến chúng không thể phá hoại đồ đạc trong nhà
Thực hành
Seminar và thảo luận nhóm
6.1 Chuẩn bị dụng cụ và mẫu vật
Máy tính, hình ảnh, các video về ngôn ngữ giao tiếp và biểu hiện ngôn ngữ cơ thể của chó mèo
Giáo viên hướng dẫn cho sinh viên cách phân biệt về ngôn ngữ cơ thể của chó mèo
Theo sự hướng dẫn của giáo viên về ngôn ngữ cơ thể của chó mèo
Tầm quan trọng của ngôn ngữ
Các ngôn ngữ giao tiếp
Các biểu hiện ngôn ngữ cơ thể của chó mèo
6.4 Tổng kết nhận xét và đánh giá Đánh giá kết quả thực hành dựa vào việc kiểm tra lại kiến thức sinh viên ghi nhận trong buổi thực hành
Ghi chép đầy đủ, chính xác những thông tin cần thiết
Sinh viên tham gia đầy đủ
Tinh thần thái độ học tập nghiêm túc
1 Vài nét về cơ thể học của chó, mèo?
2 Liệt kê các hằng số sinh lý của chó mèo?
3 Sinh lý sinh sản của chó mèo?
4 Các hành vi hoạt động của chó được thể hiện như thế nào?
5 Các hành vi hoạt động của mèo được thể hiện như thế nào?
Đặc điểm về dinh dưỡng chó và mèo
1.1 Nhu cầu duy trì cho chó lớn
Nhu cầu duy trì ( Kcal biến dưỡng) = 132 x TS 0,75
Nhu cầu cho chó nặng 8kg= 132 x 8 0,75 = 628 Kcal
Nhu cầu cho chó nặng 12kg= 132 x 12 0,75 = 851 Kcal
Nhu cầu năng lượng cho chó trưởng thành
Trọng lượng Năng lượng biến dưỡng (Kcal/ngày)
Tương đương gấp đôi nhu cầu trưởng thành đối với thể trọng tương ứng cho đến khi chó đạt được 40% thể trọng so với chó trưởng thành
Gấp 1,5 nhu cầu trưởng thành khi thể trọng đạt từ 40-80% so với chó trưởng thành
Gấp 1,2 nhu cầu trưởng thành khi thể trọng đạt từ 80% cho đến khi trưởng thành Để hiểu rõ hơn, ta hãy lấy ví dụ trên một giống chó có trọng lượng trưởng thành là 40 kg
-Từ lúc nhỏ đến khi đạt 16 kg: nhu cầu năng lượng cần gấp đôi nhu cầu duy trì
- Từ khi 16 kg cho đến khi đạt 32 kg: nhu cầu năng lượng cần gấp 1,5 nhu cầu duy trì
-Từ 32 kg cho đến khi trưởng thành: nhu cầu năng lượng cần gấp 1,2 nhu cầu duy trì
Tùy theo mức độ nặng nhọc nhu cầu sẽ thay đổi (huấn luyện, đi săn, tập thể dục, )
Làm việc vừa phải: 1,1 – 1,5 lần nhu cầu duy trì
Làm việc nặng: 1,5 – 4 lần nhu cầu duy trì
Trong 5 tuần đầu mang thai không có thay đổi lớn so với nhu cầu duy trì, chỉ tăng hơn chút ít Trong giai đoạn này cần lưu ý cân đối khẩu phần
Giai đoạn sau đó đến khi đẻ: nhu cầu gấp 1,3 – 1,5 lần nhu cầu duy trì
Gấp 2 lần nhu cầu duy trì vào thời điểm cho sữa cao nhất, tùy theo số lượng bầy con
Tuần 1 giai đoạn cho sữa: 150% so với nhu cầu duy trì
Tuần 2 giai đoạn cho sữa: 200% so với nhu cầu duy trì
Tuần 3 cho đến khi cai sữa: 300% so với nhu cầu duy trì
Cần 1,25 – 1,75 so với nhu cầu duy trì để giúp hồi phục cơ thể.
Dưỡng chất cho chó, mèo
Protein là chất dinh dưỡng quan trọng trong quá trình bổ sung và tái tạo đạm cho cơ thể Protein có chức năng chủ yếu là nguồn hỗ trợ đạm và axit amin thiết yếu cho việc tổng hợp các axit amin không thiết yếu Axit amin cung cấp đạm cho quá trình tổng hợp các hợp chất đạm và năng lượng cho quá trình phân giải Có 10 loại axit amin không thể thiếu trong khẩu phần ăn của chó: arginine, histidine, isoleucine, leucine, lysine, methionine, phenylalanine, threonine, tryptophan, and valine Khác với chó, ngoài những axit amin trên, mèo còn cần thêm axit amin taurine
Mỗi ngày, chó trưởng thành khỏe mạnh cần tối thiểu 2.62 g protein có giá trị sinh học cao trên 1kg trọng lượng chuyển hóa của cơ thể (BWkg 0.75) (theo NRC) Lượng protein có giá trị sinh học cao tối thiểu mỗi ngày cho cún con từ 4
- 14 tuần tuổi và trên 14 tuần tuổi lần lượt là 9.7 g và 12.5 g trên 1 kg trọng lượng chuyển hóa cơ thể
Mèo có nhu cầu protein cao hơn; mỗi ngày, mèo trưởng thành cần ít nhất 2.97 g và mèo con cần ít nhất 9.4 g protein có giá trị sinh học cao trên 1kg trọng lượng cơ thể Giá trị sinh học của protein liên quan tới số lượng và chủng loại axit amin thiết yếu, mức tiêu hóa và chuyển hóa của protein
2.2 Nhu cầu chất bột đường
Carbohydrate trong thực phẩm cho chó mèo bao gồm các loại đường có trọng lượng phân tử thấp và cao, tinh bột, các loại phân tử đường đa không chứa tinh bột hoặc chất xơ Dựa trên chức năng, carbohydrate được chia thành 4 nhóm: hấp thụ được (đường đơn như glucose, galactose và fructose); tiêu hóa được (đường đôi, những hợp chất oligosaccharide), lên men được (đường lactose, những hợp chất oligosaccharide) và lên men kém (các loại chất xơ như cellulose, một loại chất xơ không hòa tan)
Chó và mèo không có nhu cầu tối thiểu về tinh bột và các carbohydrate đơn, tuy nhiên một số loại mô, chẳng hạn như ở não bộ hoặc hồng cầu (RBCs) cần glucose để có năng lượng Nếu không được cung cấp đủ carbohydrate từ thức ăn, cơ thể sẽ tự tổng hợp glucose từ axit amin glucogenic và glycerol Mèo tổng hợp glucose từ axit amin glucogenic và glycerol nên chúng được xếp vào nhóm động vật ăn thịt Ngược lại, chó thường tổng hợp glucose từ carbohydrate trong thức ăn Việc sử dụng protein để sản sinh ra năng lượng ở chó khiến axit amin không phát huy được những chức năng như tổng hợp các axit amin không thiết yếu và tăng cường cơ bắp Carbohydrate trở nên thiết yếu trong trường hợp chó, mèo có nhu cầu năng lượng cao như ở giai đoạn tăng trưởng, thai nghén và cho con bú Những carbohydrate có nguồn gốc khác nhau sẽ có những tác động sinh lý khác nhau Với mèo, carbohydrate hoàn toàn không cần thiết trong thực đơn của chúng bởi protein và chất béo đã có thể cung cấp đủ axit amin glucogenic Tuy nhiên, carbohydrate không xơ được chế biến đúng cách rất tốt cho sức khỏe chó, mèo Tinh bột không được nấu chín rất khó tiêu hóa, có thể gây đầy bụng và tiêu chảy cho chó mèo
2.3 Nhu cầu chất béo và chất xơ
Nhu cầu chất béo ở chó, mèo là khác nhau, tùy thuộc vào độ tuổi và giống loài Chế độ ăn hàng ngày tối ưu cho chó đang lớn nên chứa tối thiểu 8% chất béo trong lượng chất khô (theo AAFCO) hoặc 5.9 g chất béo/1 kg trọng lượng chuyển hóa cơ thể, hay tương đương 21.3 g chất béo/1000 kcal năng lượng chuyển hóa (ME) (theo NRC) Chó đang lớn mỗi ngày cần ít nhất 5% chất béo trong lượng chất khô (theo AAFCO) hoặc 1.3 g chất béo/1 kg trọng lượng chuyển hóa cơ thể, hay bằng 10 g chất béo/1000 kcal ME (theo NRC) Khẩu phần ăn cho mèo đang lớn và mèo trưởng thành phải chứa tối thiểu 9% chất béo trong lượng chất khô (theo AAFCO), hoặc 22.5 g chất béo/1000 kcal ME, tương đương 4.7 g chất béo đối với mèo đang lớn và 2.2 g chất béo đối với mèo trưởng thành trên 1 kg trọng lượng chuyển hóa cơ thể (theo NRC)
Chó và mèo có nhu cầu riêng với từng axit béo thiết yếu (EFA) cụ thể, bao gồm axit linoleic, một loại EFA có nhiều trong ngô và dầu đậu nành Ngoài ra, mèo còn cần thêm axit arachidonic Khác với chó, mèo không thể tự chuyển hóa axit linoleic thành axit arachidonic mà phải hấp thụ chúng từ thức ăn có nguồn gốc động vật Cả axit linoleic và axit arachidonic đều là axit béo omega-
6 Mèo con và mèo trưởng thành cần lần lượt 5 g và 0.2 g hai loại axit này trên 1kg thực đơn hàng ngày
Chất xơ được định nghĩa là phần ăn được của thực vật và những carbohydrate tương tự, không bị tiêu hóa cũng như hấp thụ trong ruột non và lên men một phần hoặc toàn bộ trong ruột già Mặc dù không phải thành phần thiết yếu trong khẩu phần ăn, nhưng một lượng chất xơ vừa phải rất có lợi cho sức khỏe chó, mèo Chất xơ tuy không bị thủy phân bởi hệ bài tiết của động vật có vú, nhưng lại có những tác động nhất định lên đường ruột Tăng hàm lượng chất xơ trong bữa ăn có thể làm tăng lượng chất thải rắn, bình thường hóa thời gian vận chuyển, biến đổi vi khuẩn trong ruột, quá trình lên men, quá trình hấp thụ glucose cũng như động học insulin, tuy nhiên quá nhiều chất xơ sẽ giảm khả năng tiêu hóa thức ăn
Lượng vitamin trong hầu hết thức ăn công nghiệp đều cao hơn mức nhu cầu của chó, mèo Hiệp Hội Kiểm Soát Thức Ăn Cho Chó, mèo (AAFCO) không có số liệu về lượng vitamin C cần thiết trong thực đơn cho chó mèo, bởi chúng có thể tự tổng hợp trong gan Dù vậy, bổ sung vitamin C từ thức ăn rất có lợi cho sức khỏe bởi chúng giúp cơ thể loại bỏ chất cặn bã và chống oxi hóa
AAFCO cũng không xác định yêu cầu về lượng vitamin K trong khẩu phần ăn cho chó, mèo, vì vitamin K có thể được tổng hợp bởi những vi khuẩn đường ruột Tuy nhiên, bất cứ điều kiện nào tạo ra biến đổi ở những vi khuẩn này có thể gây thiếu vitamin K Vì vậy, Hội đồng Nghiên Cứu Quốc Gia Mỹ (NRC) khuyến khích hàm lượng vitamin K nên ở mức 0.33 mg/1000 kcal ME (năng lượng chuyển hóa) đối với cún con, 0.45 mg/1000 kcal ME ở chó trưởng thành, và 0.25 mg/1000 kcal ME ở mèo
Chất khoáng được chia làm ba loại chính: khoáng đa lượng (natri, kali, canxi, photpho, magie) là khoáng chất cơ thể cần với lượng lớn, khoáng vi lượng thiết yếu (sắt, kẽm, đồng, iot, flo, selen, crom) là khoáng chất cơ thể chỉ cần với một lượng nhỏ, và những khoáng chất vi lượng khác rất quan trọng với động vật dùng trong phòng thí nghiệm, nhưng lại có vai trò không rõ ràng trong dinh dưỡng của chó, mèo (coban, molypđen, catmi, asen, silicon, vanađi, kền, chì, thiếc) Chế độ dinh dưỡng của chó, mèo cần phải đáp ứng được lượng chất khoáng cần thiết tương ứng với mật độ năng lượng Nếu nạp quá nhiều chất khoáng vào cơ thể, lượng chất khoáng thừa sẽ ảnh hưởng tiêu cực tới khả năng hấp thụ chất khoáng của ruột Tránh bổ sung chất khoáng một cách bừa bãi bởi có thể gây mất cân bằng khoáng chất trong cơ thể
Thiếu chất khoáng thường rất hiếm gặp ở chó, mèo có chế độ dinh dưỡng cân bằng Việc hấp thụ các chất canxi, photpho, natri, magie (ở cả chó và mèo) và đồng (ở chó) từ thức ăn với mục đích chữa bệnh khá phổ biến
Tình trạng thiếu canxi và photpho thường không phổ biến ở những thú nuôi được chăm sóc bằng khẩu phần ăn hợp lý và cân bằng Những trường hợp ngoại lệ bao gồm các thực đơn chứa nhiều thịt (nhiều photpho nhưng ít canxi) và thực đơn giàu phytate, một chất có khả năng ức chế khoáng vi lượng Ở chó và mèo, nhu cầu canxi và photpho tăng lên trong quá trình tăng trưởng, mang thai và cho con bú Ở chó, tỷ lệ tối ưu của canxi/photpho nên từ xấp xỉ 1.2 – 1.4/1; tuy nhiên, theo Hiệp Hội Kiểm Soát Thức Ăn Cho Chó, mèo (AAFCO) tỷ lệ tối thiểu là 1/1 và tối đa là 2.1/1 Tỷ lệ càng cao thì lượng photpho càng ít, vì vậy việc cân bằng tỷ lệ hấp thụ hai loại chất khoáng này là rất cần thiết Tương tự, thiếu canxi và thừa photpho sẽ làm giảm khả năng hấp thụ canxi và dẫn tới tình trạng dễ bị kích thích, chứng tăng cảm, giảm trương lực cơ với triệu chứng tê liệt tạm thời hoặc vĩnh viễn kèm theo bệnh cường cận giáp thứ cấp (quá nhiều hooc môn tuyến giáp trong máu) Khử khoáng xương, nhất là ở xương chậu và thân đốt sống, cũng là hậu quả của thiếu canxi Cho tới khi kết quả chụp X- quang xác định được các tổn thương ở xương thì khử khoáng xương đã trở nên vô cùng trầm trọng Thường thì đây là hậu quả của việc thực đơn cho chó, mèo chứa chủ yếu là thịt, gan, cá và gia cầm
Nạp quá nhiều canxi làm tăng nguy cơ xảy ra các vấn đề sức khỏe trong quá trình tăng trưởng (từ khi cai sữa cho tới một năm tuổi) ở những giống chó lớn Khẩu phần ăn thừa canxi (>3% lượng chất khô) gây ra cho chúng những triệu chứng trầm trọng như hỏng xương sụn và giảm tái tạo xương, so với thực đơn có hàm lượng canxi thấp (1 – 3% chất khô) Không có ghi nhận về các dấu hiệu đau thức, tổn thương xương và di chuyển khó khăn ở những giống chó nhỏ và lớn chậm khi chúng có chế độ ăn giàu canxi
Magie là đồng nhân tố thiết yếu của các con đường enzim chuyển hóa gian bào và hiếm khi thiếu trong một chế độ dinh dưỡng hoàn chỉnh và cân bằng Tuy nhiên, khi bị thừa canxi và photpho, những hợp chất khoáng không tan và không tiêu hóa sẽ hình thành trong ruột và làm giảm khả năng hấp thụ magie Biểu hiện thiếu magie ở cún con là suy nhược cơ thể, hôn mê và yếu cơ Magie thừa bị bài tiết ra ngoài qua nước tiểu Ở mèo, có bằng chứng chứng minh rằng nồng độ magie >0.3% (trong lượng chất khô) sẽ có hại cho cơ thể nếu thực đơn của chúng có tính kiềm cao
Những đặc điểm lưu ý khi cho chó ăn
1.1 Chọn thức ăn dựa vào độ tuổi, giống chó và trạng thái sinh sản
Mỗi loài chó có đặc trưng riêng như: thể trạng vật lý, hành vi và sức khỏe tổng quát Các giống chó nhỏ thức ăn của chúng cần hàm lượng protein, chất béo và khoáng chất cao hơn Lượng thức ăn cho chó con trong một bữa nhiều hơn so với giống chó trưởng thành (trên trọng lượng cơ thể), nhưng cần lượng calo lớn hơn
Chó con hoặc chó mẹ đang trong thời kỳ sinh sản và cho con bú cần lượng calo mỗi ngày nhiều hơn chó trưởng thành
1.2 Hiểu rõ các “từ khóa” trên bao bì thức ăn
Trên bao bì thức ăn công nghiệp luôn ghi sẵn thông tin về hàm lượng protein của chính sản phẩm đó Ví dụ, tên một loại thức ăn: “Thịt bò cho chó với phô mai” (Beef for dog with cheese) thì lượng protein có trong thức ăn chiếm khoảng 70% và lượng phô mai chiếm khoảng 3% Hoặc nếu tên loại thức ăn đó chỉ ghi là “hương vị thịt bò” hay “hương vị thịt heo” thì hàm lượng những thành phần này trong thức ăn chỉ vừa đủ để chó nhận ra mùi vị
Những thành phần dinh dưỡng cần thiết cho chó trong thức ăn bao gồm: nước, protein, chất béo và carbohydrate, vitamin và muối vô cơ
Nên tìm hiểu rõ hơn về chế độ dinh dưỡng cho chó khoa học trước khi chọn mua thức ăn cho chó để chó phát triển tốt nhất
1.4 Thành phần ngũ cốc vô cùng quan trọng
Ngũ cốc và hạt là phần không thể thiếu trong các sản phẩm thức ăn cho chó Một vài dấu hiệu để nhận biết khi chó bị dị ứng như thường xuyên: liếm bàn chân, gãi bàn chân, nôn hoặc tiêu chảy
1.5 Đọc hiểu thành phần trên bao bì thức ăn
Kiểm tra thành phần trên bao bì để xác định được lượng đạm, chất béo và chất xơ trong thức ăn Có thể tìm thấy lượng chất khuyến nghị cho chó dựa vào cân nặng của chúng trên mỗi bao bì
1.6 Tìm hiểu kỹ hơn về nhãn hiệu uy tín
Tìm hiểu về nhà sản xuất để đảm bảo kiểm soát chất lượng và tìm nguồn cung ứng thức ăn phù hợp.
Các dạng thức ăn cho chó mèo
Thịt, mỡ động vật, lúa, khoai tây, rau… là những thực phẩm tốt nhất để nuôi chó Những thức ăn lấy từ mỡ động vật (thịt, mỡ, sữa) có nhiều chất đạm, mỡ, cơ thể chó dễ hấp thụ, nhưng việc cân đối nó không phải là điều đơn giản Mặt khác, nếu chỉ dùng thức ăn có nguồn gốc động vật còn dẫn đến tình trạng không đủ chất (thiếu vitamin) Giá thành của những loại thức ăn này lại tương đối cao
Những thức ăn lấy từ nguồn thực vật (gạo, hạt cốc, khoai tây, rau) giàu glucôxit, muối khoáng và sau khi đã nấu chín, cơ thể chó dễ hấp thụ Ngoài ra, những thức ăn này là nguồn vitamin chính cung cấp dinh dưỡng cho cơ thể chó
Thịt là loại thực phẩm có giá trị cao nhất dùng để nuôi chó nghiệp vụ Trong thịt có chứa nhiều chất đạm (trung bình 18-20%), mỡ (2-5%) và cơ thể dễ hấp thụ Thịt ngựa, thịt bò (loại ít ngon) hoặc thịt cừu cũng được dùng để nuôi chó Thịt lợn và các loại thịt khác ít được dùng hơn do luợng đạm chứa trong nó ít hơn Cũng có thể dùng thịt của các loài cá biển để nuôi chó
Nhiều nơi, thực phẩm loại kém chất lượng thu nhặt sau khi giết thịt các động vật nông nghiệp tận dụng (đầu, chân, dạ dày…) để làm thức ăn thay thịt nuôi chó Cho phép nuôi chó bằng thịt những động vật bị chết, nhưng phải là những loại thịt không nhiễm bệnh truyền nhiễm và được chứng nhận của bác sĩ
Dạng thức ăn khô tiêu chuẩn chứa khoảng 10% nước và các chất dinh dưỡng như đậu nành, thịt, ngũ cốc, rau, mỡ động vật, vitamin và các chất khoáng Các nhà sản xuất còn tẩm vào đó hương vị thịt để tăng tính thèm ăn của con vật Ưu điểm nữa của loại thức ăn này là chúng được làm ra dạng thô để giúp răng và nướu của chó luôn sạch sẽ, khoẻ mạnh
Thức ăn đóng hộp: Loại thức ăn này là lọai thức ăn chỉ để ăn kèm với thực phẩm khác chứ không để ăn riêng Nó có mùi vị tuyệt hảo mà con chó nào cũng thích nên chúng có thể ăn nhiều đến bội thực laọi thức ăn này
Loại này được làm từ đậu nành, ngũ cốc và thịt Lượng nước trong đó là khoảng 25-30% nên khó bảo quản hơn thức ăn khô Vứi lượng protein cao, loại thức ăn này cũng phù hợp để bổ sung vào khẩu phần của chó ăn kiêng
- Được sản xuất bằng nguyên liệu chất lượng cao với dinh dưỡng phù hợp cho chó ở môi trường và khí hậu Việt Nam bao gồm: ngũ cốc, thịt và cá, mỡ động vật hoặc dầu thực vật, muối khoáng và vitamin tổng hợp không dùng màu và hóa chất hỗn hợp Thức ăn được sản xuất dựa trên các nhu cầu về năng lượng cần dùng, các nhu cầu về dinh dưỡng cho từng loại chó Có thể chỉ dùng riêng thức ăn loại này hoặc trộn lẫn với các thức ăn khác hàng ngày để bổ sung nhu cầu về vitamin, đạm, đường, bột,….Với các loại chó ở Việt nam, nhu cầu hàng ngày chỉ khoảng 450g là đủ
- Lợi ích: giảm công chăm sóc, giảm chi phí nấu nướng, an toàn vệ sinh thực phẩm, giảm chi phí thú y, cân đối đầy đủ vitamin cần thiết khoáng vi luợng không có trong thực phẩm tươi sống.
Khẩu phần ăn cho chó mèo
Theo tính chất có 3 dạng thức ăn chính:
Thức ăn khô có mức năng lượng: 3.500 Kcal/kg thức ăn
Thức ăn ướt đóng hộp: 1.300 Kcal/kg thức ăn
Thức ăn nửa khô nửa ướt đóng hộp hay trong bao plastic: 3.000 Kcal/kg thức ăn
Theo hình thức của thức ăn
Thức ăn dạng khối: có dạng đồng nhất, có cấu trúc từ sệt tới xốp Thức ăn dạng lát miếng: được sản xuất từ thịt, gan, thận thành những lát mỏng, khối và đóng hộp
Thức ăn dạng hỗn hộp trộn lẫn: gồm thịt dạng viên, thịt cắt nhỏ được nhồi chung với ngủ cốc, rau đậu nấu trong nước.
Thực hành
Seminar và thảo luận nhóm
4.1 Chuẩn bị dụng cụ và mẫu vật
Máy tính, hình ảnh, các dạng thức ăn (khô, ướt, đóng gói, đóng hộp) cho chó mèo
Giáo viên hướng dẫn cho sinh viên cách đánh giá cảm quan, đánh giá giá trị dinh dưỡng của thức ăn cho chó mèo như đã nêu ở phần lý thuyết
Theo sự hướng dẫn của giáo viên về cách đánh giá các khẩu phần thức ăn cho chó mèo Đánh giá cảm quan Đánh giá giá trị dinh dưỡng của thức ăn
4.4 Kết luận thực hành Đánh giá kết quả thực hành dựa vào việc kiểm tra lại kiến thức sinh viên ghi nhận trong buổi thực hành
Ghi chép đầy đủ, chính xác những thông tin cần thiết
Sinh viên tham gia đầy đủ
Tinh thần thái độ học tập nghiêm túc
1 Những đặc điểm lưu ý khi cho chó ăn?
2 Kể tên các dạng thức ăn cho chó mèo?
3 Khi cho chó mèo ăn thì khẩu phần ăn như thế nào? Ví dụ khẩu phần cho chó cụ thể trong ngày?
Lựa chó để nuôi
Lựa chọn giống chó, mèo để nuôi: Tùy thuộc vào mục đích nuôi chó, mèo như để làm cảnh, để giữ nhà hay để phục vụ quốc phòng an ninh… mà có những lựa chọn giống chó nuôi cho phù hợp
Không gian sống cho chó, mèo: Trước khi quyết định nuôi chó, mèo người chăn nuôi cần phải chuẩn bị trước nơi nuôi nhốt và không gian sống cho chó, mèo
Vấn đề về chi phí: Người chăn nuôi cần có những chuẩn bị trước về tài chính khi quyết định nuôi chó, mèo
Các bệnh liên quan đến chó, mèo: Ngoài những căn bệnh thường gặp trực tiếp gây hại cho chó, mèo còn có những căn bệnh nguy hiểm từ chó mèo lây sang cho người như bệnh giun đũa, bệnh giun móc, ve, rận… Do vậy yêu cầu người chăn nuôi cần có những biện pháp phòng và điều trị bệnh cho chó, mèo.
Chuẩn bị nơi ở cho chó
Khi xây dựng nhà ở cho chó, cần phải nhớ rằng chó sẽ ở đấy lâu dài Vì vậy, nhà ở phải đáp ứng nhu cầu về vệ sinh về sinh lý học như: chống mưa, chống nắng, gió, bụi, lạnh về mùa đông, nóng về mùa hè cho chó, ngoài ra còn có tường (hàng rào) ngăn cách không để người lạ, thú hoang thả rong lọt vào, tránh ồn ào
Nên xây dựng chuồng chó ở nơi đất cao ráo, cách xa nhà ở của người, cách xa những khu chăn nuôi và sản xuất khác Vế hướng nhà ở miền bắc tốt nhất là làm nhà quay về hướng nam, còn ở miền nam làm nhà quay về hướng đông bắc, nhà ở của chó phải cao ráo sạch sẽ, sáng sủa, mát mẻ Xung quanh nhà nên có hàng rào cây xanh để chắn gió, bụi và che nắng vào mùa hè Tốt nhất là ở miền nam nên trồng những cây có tán rộng, còn miền bắc nên trồng những bụi cây dày vì nó chống bụi và chống gió rất tốt nhưng không che mất ánh sáng mặt trời.
Chăm sóc chó
Trước khi mang chó về nhà, cần tìm hiểu rõ cách chăm sóc loài vật này Chúng cần được đáp ứng nhu cầu cả về thể chất lẫn tinh thần Thực phẩm dinh dưỡng, nước sạch, nơi ở, môi trường an toàn là những yếu tố mà chú chó cần khi chuẩn bị gia nhập vào hộ gia đình mới, kể cả việc có nhiều thời gian chơi đùa, rèn luyện và kích thích tinh thần Chăm sóc chó là một nhiệm vụ khá lớn và không nên xem nhẹ việc nuôi loài vật này Dẫu vậy, nhiệm vụ này sẽ giúp xây dựng thành công mối quan hệ gần gũi và tin tưởng với thành viên mới của gia đình.
Chăm sóc chó theo giai đoạn tuổi của chó
4.1 Chó sau khi tách mẹ đến trưởng thành sinh dục
Chó con sau khi mua về lúc mới hai tháng tuổi cần cho ăn một ngày ba bữa, bốn tháng tuổi đến 10 tháng tuổi cho ăn hai bữa trong ngày, từ mười tháng tuổi có thể cho ăn một bữa thật no trong ngày Giờ ăn ta nên cho ăn vào một giờ cụ thể Thức ăn thì cần nhiều thịt, gan, trứng, rau, cơm, sữa, cà chua, khoai tây, xương (chó nhỏ dưới 7 tháng tuổi không nên cho ăn xương ống chân gà và cá có thể làm chó hóc hoặc hỏng đường ruột Tuy nhiên nhữn giống chó to trưởng thành như béc giê, Rottweiler thì việc cho ăn xương gà và cá thì càng bổ và tốt chó bộ phận tiêu hoá) Cho ăn nhiều chất bột sẽ làm chó béo phì nên ta cho ăn chất bột một cách vừa phải Một số giống chó to ăn rất khẻo mà nhiều nên ta có thể mua những loại thực phẩm rẻ hoặc xin hoặc mua xương hoặc đồ ăn thừa từ một số các nhà hàng, hàng cơm, hàng phở Tuy nhiên không nên cho chó ăn những thực phẩm ôi thiu, mất vệ sinh
Sau khi cho giao phối, dự đoán chó có thể có chửa, phải nuôi dưỡng tốt Ngoài khẩu phần ăn bình thường, cần bồi dưỡng thêm Mỗi ngày có thể cho ăn thêm từ 50 - 60 gam thịt nạc, hoặc 1 quả trứng và sữa tươi
Trong 30 ngày đầu, thai chưa rõ chỉ từ tháng thứ 2 trở đi mới thấy rõ các hiện tượng ở con cái như: trọng lượng tăng nhanh, thân hình to ra, bầu vú căng dần
Thời gian mang thai trung bình của chó là 60 - 62 ngày, có thể sớm hơn hoặc kéo dài đến 65 ngày
Trong nửa thời kỳ đầu mang thai cho chó ăn mỗi ngày 3 bữa, thời kỳ sau mỗi ngày 4 bữa, nhưng mỗi bữa giảm khối lượng nhưng phải đảm bảo chất lượng
Thức ăn chủ yếu của chó con là sữa mẹ, nên thời gian nuôi con cần phải nuôi dưỡng, chăm sóc chó mẹ chu đáo Cho chó mẹ ăn 3 - 4 bữa/ngày bằng thức ăn giàu dinh dưỡng Nếu thấy chó mẹ ít sữa, chó con đói luôn mồm kêu hãy dùng thêm sữa nhân taọ
Do có sự khác nhau giữa sữa mẹ và sữa bò nên trên thực tế không dùng sữa bò thay thế hoàn toàn sữa mẹ
6gr bột, 4gr acid citric
Chó mèo con mới đẻ hoàn toàn nhắm mắt và chúng có thể tự tìm vú mẹ để bú Chó mèo mẹ sẽ dọn vệ sinh cho chó mèo con trong suốt thời gian cho con bú sữa
Khoảng ngày thứ 13 từ lúc sinh ra mèo con bắt đầu mở mắt
Khoảng ngày thứ 35 tập cho mèo con ăn bằng bột hoặc bằng cơm nhão Sau 45 ngày tuổi mèo con đã tự ăn cơm là có thể tách khỏi mẹ
Khi tuyển chọn chó đực giống theo yêu cầu, cần phải xác định ngay từ lúc mới được một tuần tuổi, lúc này đã có thể chọn những con đực có ngoại hình và thể chất tốt
Những chó con sau khi được chọn sơ bộ, sẽ đánh dấu chăm sóc chu đáo hơn Khẩu phần ăn trong chăn nuôi chó đực giống cần có tỷ lệ đạm cao hơn, bổ sung thêm các loại vitamin A, D, E nhưng không nên cho chó đực ăn nhiều mỡ ( chỉ nên cho ăn thịt nạc, tim, gan,… và cá bỏ xương nấu chín), giảm bớt chất bột để đề phòng chó béo quá Ngoài ra, cần bổ sung vào khẩu phần ăn của chó đực các chất khoáng như canxi, đặc biệt là kẽm, mangan là 2 nguyên tố ảnh hưởng đến sự phát triển sinh dục của chó đực
Trước khi cho phối giống 7-10 ngày cần bồi dưỡng thêm 1 quả trứng/ ngày và sữa bò tươi để tỷ lệ thụ thai cao
Trước khi cho nhảy giống lần đầu phải biết cách giúp đỡ chó nhảy đúng, tránh va chạm nhiều, tránh “vờn” nhau kéo dài làm chó đực mệt quá hại đến sức khỏe
Tuổi giao phối tốt nhất của chó đực là 24 tháng tuổi và thời gian khai thác chó đực khoảng 9-10 năm Chó đực có thể phối giống vào các mùa trong năm Nên cho chó nhảy cách 7-10 ngày 1 lần
Thời gian phối giống tốt nhất vào sáng sớm hoặc gần tối khi thời tiết dịu mát Nơi giao phối phải đảm vảo sạch sẽ, khô ráo và yên tĩnh Sauk hi ăn no hoặc đi vận động 30 phút đến 1 giờ thì mới cho nhảy cái
Thường xuyên cho chó đực giống dạo chơi, vận động ở sân bãi cỏ có cây xanh bóng mát, có không khí trong lành, luôn luôn tắm chải cho chó sạch sẽ,bảo vệ cơ quan sinh dục để tránh xây xát, viêm nhiễm.
Thực hành
Seminar và thảo luận nhóm
5.1 Chuẩn bị dụng cụ và mẫu vật
Máy tính, hình ảnh các giống chó, thức ăn cho chó
Giáo viên hướng dẫn cho sinh viên lựa chọn các giống chó, thức ăn cho chó phù hợp điều kiện hiện tại của chủ nuôi
Theo sự hướng dẫn của giáo viên về cách nuôi dưỡng và chăm sóc cho chó Lựa chọn giống chó nuôi
Lựa chọn thức ăn cho chó
Nuôi dưỡng chăm sóc chó theo giai đoạn
5.4 Kết luận thực hành Đánh giá kết quả thực hành dựa vào việc kiểm tra lại kiến thức sinh viên ghi nhận trong buổi thực hành
Ghi chép đầy đủ, chính xác những thông tin cần thiết
Sinh viên tham gia đầy đủ
Tinh thần thái độ học tập nghiêm túc
1 Khi nuôi chó cần dựa vào những yếu tố nào?
2 Chuẩn bị nơi ở cho chó như thế nào?
3 Khi chăm sóc chó cần chú ý những gì?
4 Chăm sóc chó theo giai đoạn tuổi của chó?