1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

PHÂN TÍCH và CHỨNG MINH NHẬN ĐỊNH văn hóa CHÍNH là PHỔ RỘNG lớn NHẤT của PHÁP LUẬT và PHÁP LUẬT được xây DỰNG dựa TRÊN NHỮNG KINH NGHIỆM văn hóa

21 18 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phân Tích và Chứng Minh Nhận Định Văn Hoá Chính Là Phổ Rộng Lớn Nhất Của Pháp Luật Và Pháp Luật Được Xây Dựng Dựa Trên Những Kinh Nghiệm Văn Hoá
Người hướng dẫn P.T.S. Nguyễn Văn A
Trường học Trường Đại Học Ngoại Thương
Chuyên ngành Văn hoá đại cương
Thể loại Tiểu luận cuối kỳ
Năm xuất bản 2021-2022
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 21
Dung lượng 494,79 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đây là mối quan hệ có sức ảnh hưởng và tác động to lớn tới đời sống mỗi chúng ta.Trên thực tế hiện nay, trong bối cảnh xã hội ngày càng phát triển, kinh tế thị trường và hội nhập toàn cầ

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG

“VĂN HÓA CHÍNH LÀ PHỔ RỘNG LỚN NHẤT CỦA PHÁP LUẬT

VÀ PHÁP LUẬT ĐƯỢC XÂY DỰNG DỰA TRÊN NHỮNG

KINH NGHIỆM VĂN HÓA”

Họ và tên sinh viên :

Mã sinh viên :Lớp tín chỉ :Khoá :Giáo viên hướng dẫn :

Hà Nội, tháng

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG

BÀI THI KẾT THÚC HỌC PHẦN Tên học phần : Văn hoá đại cương

Trang 3

2.2.1 Văn hóa chính là phổ rộng lớn nhất của pháp luật 112.2.1.1 Trước hết, văn hoá là một sản phẩm của tự do và có tính bao quát lớn nhất.

112.2.1.2 Văn hoá đi ra từ cuộc sống, có sức ảnh hưởng to lớn đến con người 12

2.2.2 Pháp luật được xây dựng dựa trên những kinh nghiệm văn hóa 132.2.2.1 Văn hoá là nguồn của pháp luật 13

Trang 4

“CON NGƯỜI”- hai tiếng ấy vang lên kiêu hãnh làm sao!”

Nhà văn người Nga vĩ đại Maksim Gorky đã viết nên một câu văn đầy khái quát như vậy,sau những trải nghiệm đắng cay của đời riêng và cuộc đời sáng tạo văn chương Trên bìnhdiện triết học, chúng ta thấu hiểu sự vĩ đại của con người – sản phẩm tiến hoá của lịch sử.Con người được hình thành từ con vượn sau hàng triệu năm chuyên sống bằng săn bắt vàhái lượm Chính trong quá trình lao động dài lâu, con người ngày càng phát triển, hoànthiện về bộ não và cơ thể Lao động đã tạo ra lịch sử con người; và đến lượt nó, con người

lại tạo ra lịch sử xã hội Ông cũng từng nhấn mạnh rằng: Con người là kẻ mang trong mình năng lực tổ chức thế giới, kẻ sáng tạo ra thiên niên kỷ thứ hai, sáng tạo ra văn minh Những sự sáng tạo ấy, văn minh ấy bao gồm cả văn hoá và cả pháp luật, những

thành quả tất yếu của con người; những điều ấy song hành và gắn bó cùng thời gian, tạonên lịch sử xã hội Và trong đó, văn hoá đã góp phần tạo nên một nền văn minh vĩ đại,nâng cao trí thức và tư duy cho con người Nhờ thế mà con người ít dần đi sự phụ thuộc

và nô lệ lẫn nhau Còn pháp luật sinh ra để mang đến công bằng và trật tự xã hội Haiphạm trù này luôn song hành, gắn bó chặt chẽ, tạo thành mối liên kết không thể bị đứtgãy Đây là mối quan hệ có sức ảnh hưởng và tác động to lớn tới đời sống mỗi chúng ta.Trên thực tế hiện nay, trong bối cảnh xã hội ngày càng phát triển, kinh tế thị trường

và hội nhập toàn cầu đang trở thành xu thế mới của thời đại, đem lại những lợi ích to lớnnhưng cũng để lại những tác động tiêu cực không hề nhỏ với các vấn đề nghiêm trọng vềmặt xã hội như ô nhiễm môi trường, tệ nạn xã hội, phân hoá giàu – nghèo, nguy cơ đảolộn và biến dạng thang giá trị truyền thống một cách gay gắt, lại càng đặt ra yêu cầu chodân tộc Việt Nam một thách thức: Làm sao để hoà nhập nhưng không hoà tan và yêu cầubức bách phải đấu tranh gìn giữ những giá trị văn hoá truyền thống tốt đẹp của dân tộc đãtồn tại qua bao thế hệ Để làm được điều đó trước hết phải xuất phát từ việc xây dựngđược một hệ thống pháp luật nghiêm minh trong quản lí, phù hợp với xã hội, thích nghivới thời cuộc và đặc biệt là phải có những nét đặc trưng của đất nước, con người ViệtNam, đậm đà bản sắc văn hoá dân tộc, hướng tới việc xây dựng con người Việt Nam pháttriển toàn diện

Trước những nhận định trên cho thấy việc nhận thức được tầm quan trọng của vănhoá và pháp luật là hết sức cần thiết Chính vì thế bài tiểu luận này sẽ đi sâu và tập trung

làm rõ mối quan hệ giữa văn hoá và pháp luật, phân tích và chứng minh nhận định Văn hóa chính là phổ rộng lớn nhất của pháp luật và pháp luật được xây dựng dựa trên những kinh nghiệm văn hóa nhằm làm sáng tỏ vấn đề cần nghiên cứu, đồng thời cung cấp

những góc nhìn, quan điểm đa chiều, đa dạng về văn hoá và pháp luật Đó chính là cơ sở

để mỗi người nói chung, mỗi sinh viên nói riêng có cái nhìn bao quát về văn hoá, về phápluật, thêm hiểu về vai trò của văn hoá pháp luật đối với đời sống và có thái độ đúng đắn

3

Trang 5

và ý thức nghiêm túc trong việc bảo vệ nền văn hoá dân tộc và phát triển pháp luật ngàycàng hoàn thiện và toàn diện hơn.

1.2 Mục đích và nhiệm vụ

Nghiên cứu và phân tích những vấn đề lí luận cơ bản về văn hoá và pháp luật Trên

cơ sở đó xác định và làm rõ mối quan hệ giữa hai phạm trù này Đồng thời tập trung đánh

giá và chứng minh nhận định Văn hóa chính là phổ rộng lớn nhất của pháp luật và pháp luật được xây dựng dựa trên những kinh nghiệm văn hóa Và cuối cùng kết luận, đánh giá

tính chất của vấn đề và tác động của vấn đề đã đưa ra

1.3 Phạm vi nghiên cứu

Về thời gian: kể từ khi văn hoá xuất hiện

Về không gian: Mọi địa điểm, khu vực có liên quan đến đề tài, chủ yếu tập trungvào Việt Nam

Về nội dung: Mối quan hệ giữa văn hoá và pháp luật và cơ sở để xây dựng phápluật

1.4 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu cụ thể: phương pháp thu thập và xử lý thông tin, phântích tài liệu, các phương pháp khái quát, phân tích, tổng hợp,…

2.NỘI DUNG

2.1 Cơ sở lý luận

2.1.1 Văn hoá

2.1.1.1. Định nghĩa văn hoá

Mặc dù ra đời cùng sự hình thành và phát triển của loài người, tuy nhiên văn hoávẫn chưa có thể có cho riêng mình một định nghĩa riêng biệt và cụ thể Bởi đây là mộtphạm trù rất rộng lớn, mang tính trừu tượng và mức độ khái quát hoá vô cùng sâu sắc Dovậy mà mà việc cụ thể hoá văn hoá như một khái niệm cụ thể, phản ánh toàn bộ chủ thể làkhó có thể thành hiện thực Một số cá nhân và tổ chức có kinh nghiệm và trình độ am hiểunhất định về ngôn ngữ và đặc thù của lĩnh vực này đã định nghĩa văn hoá theo nhiều cáchkhác nhau, mỗi định nghĩa phản ánh cách nhìn nhận và đánh giá khác nhau Tạo nên mộtkhái niệm đa chiều, đa sắc

Edward Burnett Tylor (1832-1917), nhà nhân chủng học nổi tiếng người Anh đượccoi là một trong số những lớp tiên phong định nghĩa về văn hoá Trong công trình nghiêncứu Văn hoá nguyên thuỷ (1871), ông đã đề cập:

4

Trang 6

Văn hóa hay văn minh hiểu theo nghĩa rộng trong dân tộc học là một tổng thể phức hợp gồm kiến thức, đức tin, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, phong tục, và bất cứ những khả năng, tập quán nào mà con người thu nhận được với tư cách là một thành viên của xã hội 1

Định nghĩa này đã được nhiều thế hệ các nhà nghiên cứu khoa học viện dẫn như mộttrong những định nghĩa mang tính kinh điển về chủ đề văn hoá, lý giải văn hoá là sự tổnghoà của một tập hợp những thành quả sáng tạo của con người Trong định nghĩa này, quanniệm văn hoá đề cao vai trò của con người

Từ sau công trình nghiên cứu mang tính “mở đường” cho việc lý giải quan niệm văn hoá

của E.B.Tylor, văn hoá ngày càng trở thành một vấn đề có tính chất hàn lâm cần được đàosâu và nghiên cứu một cách hệ thống, bài bản Cùng với đó là sự ra đời của một loạt cácđịnh nghĩa khác nhau dựa trên những cơ sở, phương diện khác nhau như tính miêu tả, tínhlịch sử, tính chuẩn mực, tính chất tâm lý học, tính cấu trúc, tính nguồn gốc,… từ rất nhiềucác nhà nghiên cứu khoa học khác nhau Kể từ năm 1952, hai nhà nhân loại học người Mĩ

là Alfred Kroeber và Clyde Kluckhohn đã thống kê được tới 164 định nghĩa khác nhau vềvăn hoá trong các công trình nổi tiếng thế giới.2

Năm 2002, Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên Hợp Quốc (UNESCO) cũng đãđưa ra định nghĩa về văn hoá như sau:

Văn hóa nên được đề cập đến như là một tập hợp của những đặc trưng về tâm hồn, vật chất, tri thức và xúc cảm của một xã hội hay một nhóm người trong xã hội và nó chứa đựng, ngoài văn học và nghệ thuật, cả cách sống, phương thức chung sống, hệ thống giá trị, truyền thống và đức tin 3

Bên cạnh đó, ở nước ta cũng đã và đang tồn tại không ít định nghĩa về văn hoá, tiêu biểutrong số đó có thể đề cập đến định nghĩa của Chủ tịch Hồ Chí Minh:

Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về mặt ăn, ở và các phương thức sử dụng Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa Văn hóa là tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn 4

Hay như nhà nghiên cứu Trần Ngọc Thêm lý giải quan niệm văn hoá dựa trên 4 đặc trưng

cơ bản:

1 E.B.Tylor, Văn hóa nguyên thủy, NXB Văn hóa Thông tin, 2000

2 Lương Văn Kế, Thế giới đa chiều, NXB Thế giới, 2007, tr.313

3 Tuyên bố chung của UNESCO về tính đa dạng văn hoá

4Hồ Chí Minh toàn tập (tập III), NXB Chính trị Quốc gia, 1995

5

Trang 7

Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo

và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội 5

Mặc dù hiện hữu sự khác biệt về mặt ngôn từ, quan điểm và phương thức lý giảicủa các định nghĩa về văn hoá; tuy nhiên, điểm chung có thể khái quát được về các kháiniệm văn hoá đó là sự phản ánh một cách phong phú và toàn diện mọi mặt đời sống vậtchất và tinh thần con người Văn hoá là sản phẩm tất yếu của của xã hội, là hệ quả của quátrình tương tác giữa con người và môi trường tự nhiên và hiện diện trong mọi hành visáng tạo của nhân loại nhằm mục đích phục vụ đời sống con người Văn hoá hình thànhtrong cộng đồng, tích luỹ và tồn tại theo thời gian, cũng đồng thời phản ánh phương thứcsống của cộng đồng đó Tuy có thể tồn tại một số điểm tương đồng nhưng vẫn có nhữngnét riêng biệt không thể trộn lẫn, tạo nên những bản sắc, đặc trưng riêng giữa cộng đồngnày với cộng đồng khác, giữa dân tộc này với dân tộc khác; làm nên sự đa dạng và khácbiệt quý giá, đáng được tôn trọng, đáng được gìn giữ

2.1.1.2 Đặc trưng và chức năng của văn hoá

Có thể xem văn hoá như một hình thái ý thức xã hội Hình thái ý thức xã hội ấycũng là sản phẩm của một xã hội và có khả năng tác động vào thực tiễn của xã hội ấy.Trong văn hoá, người ta xác định đó là một hình thái ý thức xã hội đặc biệt, và hình thái

ấy tồn tại những đặc trưng tiêu biểu Trong bài tiểu luận này, em xin được nêu ra các đặctrưng và chức năng của văn hoá dựa trên nghiên cứu của PGS.VS Trần Ngọc Thêm trong

công trình Cơ sở văn hoá Việt Nam (1999).

Trước hết, văn hoá có tính hệ thống Có thể hiểu, văn hoá chính là gốc rễ, là một

“chiếc khung” tổng thể có vai trò kết nối các thành tố với nhau Các thành tố ấy có thể làmột loạt các sự kiện, các hiện tượng xảy ra tiếp nối, hoặc diễn tiến thành một quá trìnhphát triển tạo thành quy luật, chúng có mối liên kết và gắn bó chặt chẽ với nhau tạo thànhmột hệ thống giúp văn hoá có tầng lớp, đan cài, xâu chuỗi và tiếp nối nhau Đó chính là

sự khác biệt với tập hợp (mang tính liệt kê và không có sự kết nối) Tính hệ thống giúpvăn hoá thực hiện được chức năng tổ chức xã hội Bởi văn hoá bao trùm lên mọi mặt củađời sống xã hội, trên tất cả các lĩnh vực Chức năng thực hiện việc cấu tạo xã hội, từ đólàm tăng độ ổn định của xã hội, cung cấp và trang bị cho xã hội những phương tiện và kỹnăng cần thiết để ứng biến với môi trường tự nhiên Chính vì thế, không thể tách biệt cácthành tố của hệ thống văn hoá bởi chúng tồn tại trong sự gắn bó hữu cơ, cấu tạo thành nềntảng của xã hội

Đặc trưng cơ bản thứ hai của văn hoá chính là tính giá trị Cụm từ văn hoá thường

được hiểu theo khía cạnh là những điều tốt đẹp, có giá trị và bền vững Người có văn hoá

5 PGS.VS Trần Ngọc Thêm (chủ biên), Cơ sở văn hoá Việt Nam, NXB Giáo dục, 1999

6

Trang 8

cũng chính là người có giá trị Chính vì thế văn hoá thường được coi là chuẩn mực, làthước đo giá trị vẻ đẹp của mỗi con người Về cơ bản, bản thân chủ thể văn hoá cũngmang trong mình những giá trị vật chất và cả những giá trị tinh thần Đứng trên nhiều góc

độ và quan điểm có thể xét tính giá trị của văn hoá trên nhiều bình diện khác nhau Về ýnghĩa, văn hoá có thể bao gồm giá trị sử dụng, giá trị đạo đức và giá trị thẩm mỹ Trênbình diện thời gian, văn hoá có thể phân chia thành giá trị nhất thời hay giá trị vĩnh cửu.Nhờ thế mà, văn hoá thực hiện được chức năng điều chỉnh xã hội Văn hoá duy trì trạngthái cân bằng động, luôn có khả năng thay đổi và vận động, linh hoạt trong thích ứng với

sự biến đổi của môi trường một cách phù hợp, không ngừng tự hoàn thiện, giúp địnhhướng các chuẩn mực, làm bàn đạp cho sự phát triển của xã hội

Văn hoá còn tồn tại tính nhân sinh Văn hoá là sản phẩm tự nhiên do con ngườisáng tạo ra, là thành quả tất yếu của xã hội Chính vì thế, tính nhân sinh của văn hoá lýgiải rằng văn hoá được coi như là một hiện tượng của xã hội Văn hoá chịu tác động vậtchất của con người được biểu hiện qua việc con người tác động vào tự nhiên (đẽo gỗ,luyện quặng, làm muối,…) hoặc tác động tinh thần (như việc đặt tên, sáng tạo truyềnthuyết cho cảnh quan thiên nhiên,…) Từ đó, văn hoá thực hiện chức năng tiếp theo, đó là

chức năng giao tiếp Văn hoá trở thành sự kết nối quan trọng giữa con người – con người

và ngôn ngữ chính là phương tiện để biểu đạt nội dung văn hoá (thể hiện qua hình thứctruyền miệng các truyền thuyết về cảnh quan thiên nhiên…)

Đặc trưng còn lại của văn hoá chính là tính lịch sử Bởi văn hoá phản ánh quátrình sáng tạo của con người trong một không gian và thời gian nhất định, tạo thành cảmột quá trình và tích luỹ qua nhiều thế hệ với văn minh như một sản phẩm cuối cùng.Chính vì thế mà có thể coi văn hoá có mối gắn bó chặt chẽ và mật thiết với thời gian, vớilịch sử và thậm chí văn hoá có thể chứa đựng, bao hàm lịch sử Đặc trưng đó tạo thànhnền văn hoá có bề dày và có chiều sâu, có độ ổn định, tồn tại hệ giá trị Và khi tính lịch sửđược duy trì trong văn hoá thì khiến văn hoá trở thành truyền thống văn hoá Những giátrị được tích luỹ và tái tạo trong cộng đồng người, trải qua không gian và thời gian, đượcđúc kết thành khuôn mẫu xã hội và được cố định hoá dưới nhiều hình thức khác nhau.Tính lịch sử của văn hoá cũng chính là cơ sở để văn hoá thực hiện chức năng giáo dục.Văn hoá đóng vai trò quyết định trong việc hình thành nhân cách con người và địnhhướng con người theo những giá trị tốt đẹp và có đạo đức thông qua việc thực hiện hệthống chuẩn mực đạo đức dựa trên những giá trị truyền thống, có tính ổn định và cảnhững giá trị mới hình thành

Những đặc trưng và những chức năng trên của văn hoá một cách cơ bản đã gópphần làm rõ thêm khái niệm về văn hoá, giúp chúng ta có cái nhìn khái quát nhất về mộthình thái ý thức xã hội có vai trò vô cùng quan trọng trong xã hội và đời sống con người

7

Trang 9

Văn hoá cũng chính là cơ sở để hình thành nên pháp luật, thiết chế có vai trò thiết yếutrong việc quản lí và điều hành mỗi quốc gia, mỗi dân tộc.

2.1.2 Pháp luật

2.1.2.1. Định nghĩa pháp luật

Bên cạnh văn hoá thì pháp luật cũng không phải là một khái niệm mà có thể dễdàng định nghĩa Pháp luật cũng chính là thành quả của tư duy con người, hình thành từkhi mô hình nhà nước xuất hiện Đây là một khái niệm phức tạp, cũng đồng thời thườngđược đánh giá, quan sát dựa trên nhiều góc độ và bình diện khác nhau Ở mỗi thời đạikhác nhau, mỗi khu vực khác nhau trên thế giới, pháp luật lại được nhận thức một cáchkhác nhau, những vấn đề liên quan từ bản chất, nguồn gốc, vai trò,… cho đến phạm viđiều chỉnh của pháp luật cũng có những sự khác biệt nhất định

Theo quan điểm của Chủ nghĩa Mác – Lênin về nhà nước và pháp luật, có thể xácđịnh pháp luật đã xuất hiện từ thời kỳ cộng sản nguyên thuỷ - hình thái xã hội đầu tiêntrong lịch sử loài người, khi con người sống thành tập thể, thành cộng đồng Mặc dù từthuở sơ khai và nguyên thủy, chế độ này chưa cho thấy những dấu hiệu về sự tồn tại củathiết chế nhà nước, sự phân chia các giai cấp tầng lớp hay pháp luật nhưng mô hình xã hộinày chính là tiền đề, là cơ sở căn bản cho sự hình thành của pháp luật Do nhu cầu chung,các mối quan hệ xã hội giữa người với người bắt đầu được điều chỉnh bằng các quy tắcđạo đức, các phong tục, và quy tắc tôn giáo

Khi sở hữu tư nhân xuất hiện trong xã hội, các mối quan hệ xã hội dần thay đổi,bắt đầu ra đời các tầng lớp và phân chia giai cấp, sự phân chia giàu – nghèo, những mâuthuẫn đối kháng dần nảy sinh, thì đó cũng là lúc hình thái xã hội bắt đầu thay đổi, đạt đếnmột giai đoạn phát triển nhất định Những tập quán, tín điều, tôn giáo,… không còn khảnăng để duy trì trật tự và quản lí xã hội bởi sự bất đồng về ý chí, lợi ích giữa các thànhviên trong xã hội, giữa các tầng lớp, giai cấp với nhau Xã hội ấy đòi hỏi việc thực hiệncác quy tắc xử sự chung có tính bắt buộc và được bảo đảm thực hiện bằng quyền lực và

có tính cưỡng chế đối với các thành viên trong xã hội; đòi hỏi sự xuất hiện của một tổchức chính trị quyền lực đặc biệt có bộ máy cưỡng chế để có thể đảm bảo cho các quy tắc

xử sự đó được thực hiện

Đó là những dẫn chứng để có thể khẳng định rằng, sự ra đời và phát triển của phápluật cũng gắn bó và song hành cùng sự ra đời và phát triển của các kiểu nhà nước Và nhànước quyết định sự tồn tại của pháp luật

Ở phương Đông, mà tiêu biểu là Trung Quốc, xã hội chiếm hữu nô lệ thời cổ đại đãtồn tại nhiều cuộc tranh đấu rất quyết liệt về cách thức trị nước, an dân giữa các trườngphái chính trị - xã hội khác nhau Nhiều phương thức cai trị xã hội, quản lí nhà nước đượccác nhà tư tưởng theo đuổi Phổ biến và nổi bật hơn cả là tư tưởng Nho giáo của Khổng

8

Trang 10

Tử sáng lập với chủ trương nhân trị, lễ trị, lễ, nhạc,… Thuyết giáo của Khổng Tử có tácdụng vô cùng sâu sắc và có tính khái quát cao, vừa có tính cụ thể hoá, vừa là công cụ, cótính chính danh, là biện pháp hữu hiệu để rèn đạo đức và nhân văn con người, tạo ra trật

tự trong các quan hệ giữa gia đình và xã hội Là một học thuyết được xây dựng từ thời kìđầu của đất nước Trung Hoa nhưng Nho giáo đã được coi là một hệ tư tưởng kéo dài suốthơn 2000 năm lịch sử cai trị của giai cấp thống trị nhằm củng cố quyền lực và địa vị củamình

Hàn Phi Tử, một đại biểu của trường phái Pháp gia, đại diện cho lợi ích của giaicấp địa chủ mới lên trong thời Xuân Thu - Chiến Quốc đã phát triển tư tưởng Pháp trị lênđến đỉnh cao Ông coi pháp luật là cơ sở duy nhất để quản lí xã hội, tư tưởng này cũngđánh dấu sự hình thành của pháp luật một cách thực nghĩa trong xã hội Trung Quốc thờiđiểm đó

“Lễ cái biên soạn thành sách đặt ở nơi công đường và nói rõ cùng trăm họ cho nên bậc minh chúa nói pháp luật thì mọi kẻ hèn kém trong nước, không ai không nghe thấy”.

Theo Hàn Phi Tử, pháp luật phải thành văn, phải có tính công khai, minh bạch và tất cảmọi người đều có thể tiếp cận được và chấp hành, tuân thủ Người cầm quyền phải ưu tiên

sử dụng pháp luật, không thể cứ mãi dựa vào lễ, nhạc để quản lí và điều hành xã hội.Còn ở Phương Tây, quan niệm về pháp luật được đánh giá là tương đối phức tạp,

có phần sâu sắc hơn vì dựa trên cơ sở của tư duy triết học, tính khách quan, duy lý được

ưu tiên trong bầu không khí dân chủ tương đối cao Pháp luật phương Tây chủ yếu gắnliền với sự phát triển của nền dân chủ Hy Lạp và La Mã Tính tối cao của đạo luật, tínhhợp lí trong tổ chức bộ máy nhà nước được coi trọng và coi là tối cao Platon, nhà triếthọc người Hy Lạp cổ đại cho rằng: Nếu pháp luật không có sức mạnh, bị đặt dưới quyềnlực của ai đó thì nhà nước sẽ diệt vong Còn với Aristoteles, nhà bác học vĩ đại thời cổ đạikhẳng định: Bất kỳ Nhà nước nào cũng phải có ba bộ phận: cơ quan làm luật, cơ quanthực hành pháp luật, cơ quan toà án xét xử

Hiện nay, có không ít những định nghĩa về pháp luật dưới góc độ là pháp luật thựcđịnh Tuy nhiên, điểm chung của những định nghĩa đó đều thể hiện quan niệm về phápluật cơ bản là một loại quy tắc xử sự của con người, một loại chuẩn mực xã hội , tồn tạinhững điểm khác biệt so với các loại chuẩn mực xã hội khác như phong tục tập quán hayđạo đức,… Nhìn chung, có thể khái quát quan niệm về pháp luật thành một khái niệm:

Pháp luật là hệ thống quy tắc xử sự chung do nhà nước đặt ra hoặc thừa nhận và bảo đảm thực hiện để điều chỉnh các quan hệ xã hội theo mục đích, định hướng của nhà nước 6

2.1.2.2 Những đặc trưng cơ bản và vai trò của pháp luật

6 Nguyễn Minh Đoan (Chủ biên), Giáo trình Lý luận chung về nhà nước và pháp luật, NXB Tư pháp, 2020, tr.212

9

Ngày đăng: 10/08/2022, 10:43

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. PGS.VS Trần Ngọc Thêm (chủ biên), Cơ sở văn hoá Việt Nam, NXB Giáo dục, 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở văn hoá Việt Nam
Nhà XB: NXB Giáo dục
2. Nguyễn Minh Đoan (Chủ biên), Giáo trình Lý luận chung về nhà nước và pháp luật, NXB Tư pháp, 2020 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Lý luận chung về nhà nước và phápluật
Nhà XB: NXB Tư pháp
4. TS. Hoàng Thị Kim Quế, Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội, Tư tưởng Đông, Tây về nhà nước và pháp luật - Những nhân tố Nhà nước pháp quyền, 01/03/2002,tại địa chỉ: http://www.lapphap.vn/Pages/tintuc/tinchitiet.aspx?tintucid=208735truy cập ngày 27/06/2022 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư tưởngĐông, Tây về nhà nước và pháp luật - Những nhân tố Nhà nước pháp quyền
5. E.B.Tylor, Văn hóa nguyên thủy , NXB Văn hóa Thông tin, 2000 6. Lương Văn Kế, Thế giới đa chiều , NXB Thế giới, 2007, tr.313 7. Luật Hôn nhân và Gia đình (2014) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa nguyên thủy", NXB Văn hóa Thông tin, 20006. Lương Văn Kế, "Thế giới đa chiều
Nhà XB: NXB Văn hóa Thông tin
3. PGS.TS. Lê Minh Thông, Ban Tổ chức Trung ương, Luật nước và hương ước lệ làng trong đời sống pháp lý của các cộng đồng làng xã Việt Nam Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w