SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TÌM HIỂU THẾ GIỚI TỰ NHIÊN DƯỚI GÓC ĐỘ HÓA HỌC CHO HỌC SINH THÔNG QUA DẠY HỌC MÔN KHOA HỌC TỰ NHIÊN. Hiện nay, các công trình, tài liệu nghiên cứu chuyên sâu về dạy học phát triển NL THTGTN còn khá mới, số lượng chưa nhiều, nhất là với đối tượng HS THCS, môn KHTN 6. Từ những cơ sở lí luận và thực tiễn nêu trên, tôi lựa chọn nghiên cứu đề tài “Phát triển năng lực tìm hiểu thế giới tự nhiên cho học sinh thông qua dạy học chủ đề STEM phần chất và sự biến đổi của chất môn Khoa học Tự nhiên 6”.
Trang 1PHÒNG GIÁO DỤC ĐÀO TẠO HÀ NỘI
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
PHƯƠNG PHÁP GIẢI BÀI TẬP OXIT AXIT PHẢN ỨNG VỚI DUNG DỊCH KIỀM
Lĩnh vực : Hóa học
Cấp học : Trung học cơ sở
Tên tác giả : Đào Thị Quyên
Đơn vị công tác : Trường THCS Phượng Cách
Chức vụ : Giáo viên
PHÒNG GIÁO DỤC ĐÀO TẠO HÀ NỘI
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TÌM HIỂU THẾ GIỚI TỰ NHIÊN DƯỚI GÓC ĐỘ HÓA HỌC CHO HỌC SINH THÔNG QUA DẠY HỌC MÔN KHOA HỌC TỰ NHIÊN LỚP 6 THEO ĐỊNH HƯỚNG STEM
Lĩnh vực : Hóa học Cấp học : Trung học cơ sở Tên tác giả : Đào Thị Quyên Đơn vị công tác : Trường THCS Phượng Cách Chức vụ : Giáo viên
Trang 2A ĐẶT VẤN ĐỀ
I Lí do chọn đề tài
Đất nước đang bước sang thời kì đổi mới, với sự phát triển nhanh chóng
và biến đổi liên tục của xã hội Sự bùng nổ của khoa học kỹ thuật, sự thành côngcủa cách mạng khoa học 4.0, tiến tới là cuộc cách mạng 5.0 đã tạo ra cho conngười nhiều cơ hội và thách thức mới Để bắt kịp với đà phát triển đấy, ngànhGiáo dục của các quốc gia trên khắp thế giới ngày càng được chú trọng và quantâm Sự thay đổi, cải cách được nhiều nước tiến hành để hiện đại hóa chươngtrình (CT) Giáo dục mà trọng tâm là hướng vào chuẩn bị các năng lực nhằm đápứng những đòi hỏi của cuộc sống và nguồn nhân lực trong bối cảnh mới
Để theo kịp với sự phát triển của thế giới, đòi hỏi nguồn nhân lực cần phải
có chất lượng tốt, có khả năng vận dụng kiến thức kĩ năng, những thành tựukhoa học của nhân loại vào bối cảnh thực tế của đất nước để làm cho đất nướcngày càng phát triển hơn Tạo ra nguồn nhân lực như vậy thì đó vừa là nhiệm
vụ, vừa là thách thức đối với ngành giáo dục Trong một vài năm trở lại đây,ngành giáo dục đã và đang tích cực triển khai đổi mới một cách mạnh mẽ, toàndiện, đồng bộ cả về mục tiêu, nội dung, phương pháp và phương tiện dạy học.Tại hội nghị Trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và
đào tạo đã chỉ rõ: “Phát triển giáo dục và đào tạo là nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài Chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu truyền thụ kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học Học đi đôi với hành, lý thuyết gắn với thực tiễn; giáo dục nhà trường kết hợp với giáo dục gia đình và giáo dục xã hội” hay là “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ và đồng bộ các yếu tố cơ bản của giáo dục, đào tạo theo hướng coi trọng phát triển phẩm chất, năng lực người học”
Để đáp ứng những yêu cầu trên hiện nay cả thế giới và Việt Nam đềuđang quan tâm đến giáo dục STEM Khởi nguồn từ Mỹ, giáo dục STEM đượcquan tâm và nghiên cứu trong nhiều năm qua, ở khắp các quốc gia trên thế giới,trong đó có Việt Nam STEM là cụm từ viết tắt của các từ Science (khoa học),Technology (công nghệ), Engineering (kĩ thuật) và Mathematics (toán học).Giáo dục STEM trang bị cho người học những kiến thức và kĩ năng cần thiếtliên quan đến các lĩnh vực khoa học, công nghệ, kỹ thuật, và toán học Mục tiêuchung của giáo dục STEM là tạo ra sự hiểu biết về STEM và năng lực phẩm
Trang 3chất của thế hệ trẻ, phát triển nguồn nhân lực trong lĩnh vực STEM, đồng thờitạo ra sự hứng thú và tham gia tích cực của người học vào lĩnh vực này Bằngviệc đặt người học vào những tình huống học tập, liên quan mật thiết với môitrường sống và có tính thực tiễn cao, giáo dục STEM đã tạo hứng thú và độnglực cho người học Giáo dục STEM sẽ thu hẹp khoảng cách giữa hàn lâm vàthực tiễn, tạo ra những con người có năng lực làm việc nhanh, sáng tạo, linhhoạt Đây là một trong những xu thế tất yếu của thế kỉ 21.
Theo CT Giáo dục phổ thông 2018, kiến thức hóa học ở trường trung học
cơ sở (THCS) được tích hợp vào môn Khoa học Tự nhiên (KHTN) Theo đó, CTmới sẽ chú trọng vào phát triển bản chất hóa học, giảm bớt cách ghi nhớ máymóc, hạn chế những bài tập tính toán vốn đã rất ít kiến thức thực tiễn Bên cạnh
đó, các hoạt động trải nghiệm thực tế, hoạt động dự án, STEM sẽ tăng cường,thúc đẩy sự phát triển kiến thức của HS thông qua nhiều môn học, hướng đến sựphát triển toàn diện Chính vì vậy, dạy học (DH) STEM trong môn KHTN sẽ làmột phương pháp giúp HS đáp ứng được yêu cầu về khoa học, kỹ thuật trongthời đại mới, cách mạng công nghệ 4.0
Hiện nay, các công trình, tài liệu nghiên cứu chuyên sâu về dạy học pháttriển NL THTGTN còn khá mới, số lượng chưa nhiều, nhất là với đối tượng HSTHCS, môn KHTN 6 Từ những cơ sở lí luận và thực tiễn nêu trên, tôi lựa chọn
nghiên cứu đề tài “Phát triển năng lực tìm hiểu thế giới tự nhiên cho học sinh
thông qua dạy học chủ đề STEM phần chất và sự biến đổi của chất môn Khoa học Tự nhiên 6”.
II Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu, thiết kế và đề xuất một số chủ đề dạy học (CĐDH) STEMtrong dạy học môn KHTN 6 nhằm phát triển NL THTGTN cho HS, góp phầnnâng cao chất lượng DH và đổi mới PPDH ở trường THCS
Phát huy tính tích cực học tập của học sinh, đồng thời khơi dậy niềm yêuthích môn học, hình thành các phẩm chất chăm chỉ, trung thực…
III Khách thể và đối tượng nghiên cứu
- Khách thể nghiên cứu: Học sinh lớp 6A, B của trường THCS ….
- Đối tượng nghiên cứu: Xây dựng và tổ chức chủ đề STEM trong môn
KHTN 6 và các biện pháp phát triển NL THTGTN cho HS
Trang 41 Phạm vi nghiên cứu.
Chương trình môn KHTN 6
2 Thời gian nghiên cứu
Từ đầu năm học 2021-2022 đến tháng 4/ 2022
V Phương pháp nghiên cứu
- Phân tích và hệ thống hóa các tài liệu có liên quan đến đề tài trên sách,báo khác nhau
- Đúc rút kinh nghiệm của bản thân trong quá trình dạy học
- Tham khảo, học hỏi kinh nghiệm của một số đồng nghiệp
- Phương pháp thực nghiệm: Tiến hành ở giờ dạy trên lớp
- Phương pháp kiểm tra đánh giá học sinh
- Phương pháp thống kê toán học: Trong việc phân tích kết quả thựcnghiệm sư phạm
Trang 5B GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
I Tổng quan
1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
1.1.1 Lịch sử nghiên cứu về giáo dục STEM
a/ Giáo dục STEM ở một số quốc gia trên thế giới.
Tại Mỹ, đầu những năm 90, đã hình thành xu hướng giáo dục mới gọi làgiáo dục STEM STEM xuất hiện lần đầu tại Mỹ, tiền thân của nó là METS(Math, Engineering, Technology, Science) Sau đó trong hội nghị về giáo dụckhoa học được tổ chức bởi quỹ khoa học quốc gia Hoa Kì (NSF) thì METS đãđược đổi thành STEM và trở nên phổ biến hơn Ở Mỹ, ba mục tiêu cơ bản chogiáo dục STEM là: (1) trang bị cho tất cả các công nhân những kĩ năng vềSTEM; (2) mở rộng lực lượng lao động trong lĩnh vực STEM; (3) tăng cường sốlượng HS sẽ theo đuổi và nghiên cứu chuyên sâu về các lĩnh vực STEM Trong
CT giáo dục STEM, các môn học về khoa học công nghệ không giảng dạy độclập mà tích hợp lại với nhau thành một môn học thông qua phương pháp giảngdạy bằng dự án, trải nghiệm, thực hành Từ đó, để phát huy tối đa sự sáng tạocủa học sinh các cấp, các hội chợ khoa học (Science fair) được tổ chức thườngxuyên từ cấp trường đến cấp quốc gia Khởi nguồn từ Mỹ nhưng đến nay đãđược lan tỏa đến 120 quốc gia thông qua diễn đàn GD STEM lần thứ 6 tạiFlorida Đây được xem là sự kiện lớn nhất hàng năm trong lĩnh vực GD STEMtoàn cầu, quy tụ hơn 2500 đại biểu đến từ Châu Mỹ, Châu Âu, Châu Á, Úc vàChâu Phi…
b/ Giáo dục STEM ở Việt Nam
Bắt đầu từ năm học 2015-2016, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã tổ chức cácbuổi hội thảo, các buổi tập huấn cán bộ quản lí và giáo viên cốt cán về thí điểm
giáo dục STEM như: "Giáo dục STEM trong Chương trình giáo dục phổ thông của một số nước và vận dụng vào điều kiện Việt Nam”; Hội thảo "Kinh nghiệm quốc tế về giáo dục STEM và những vấn đề đặt ra với Việt Nam";
Hiểu được xu thế phát triển của thế giới, vào tháng 5 năm 2017, Thủ
tướng Chính phủ đã kí chỉ thị số 16 nêu rõ: “Cần tập trung vào thúc đẩy đào tạo
Trang 6chương trình giáo dục phổ thông” và yêu cầu “Bộ Giáo dục và Đào tạo: Thúc đẩy triển khai giáo dục về khoa học, công nghệ, kỹ thuật và toán học (STEM) trong chương trình giáo dục phổ thông; tổ chức thí điểm tại một số trường phổ thông ngay từ năm học 2017-2018”.
Trong năm học 2021- 2022, theo hướng dẫn hoạt động chuyên môn của
Sở giáo dục và Đào tạo Hà Nội cũng ghi rõ: Khoa học tự nhiên là môn học có ýnghĩa quan trọng đối với sự phát triển toàn diện của HS, có vai trò nền tảngtrong việc hình thành và phát triển thế giới quan khoa học của HS cấp THCS.Cùng với các môn Toán học, Công nghệ và Tin học, môn Khoa học tự nhiêngóp phần thúc đẩy giáo dục STEM – một trong những hướng giáo dục đangđược quan tâm phát triển trên thế giới cũng như ở Việt Nam, góp phần đáp ứngyêu cầu cung cấp nguồn nhân lực trẻ cho giai đoạn công nghiệp hoá và hiện đạihoá đất nước
1.1.2 Lịch sử nghiên cứu về năng lực tìm hiểu thế giới tự nhiên
Trong giai đoạn giáo dục mới như hiện nay, đã có rất nhiều công trìnhnghiên cứu về NL nói chung như NL giải quyết vấn đề và sáng tạo, NL giaotiếp và hợp tác, NL tự chủ và tự học Tuy nhiên, về NL THTGTN vẫn còn khámới mẻ, đặc biệt là trong DH môn khoa học tự nhiên (KHTN) lớp
Trong tài liệu của Bộ GD và Đào Tạo: chương trình giáo dục phổ thôngtổng thể; Chương trình giáo dục phổ thông môn KHTN (ban hành kèm theothông tư 2/2018/TT-BGDĐT ngày 26/12/2018) cũng nghiên cứu về cấu trúc vàbiểu hiện của NL THTGTN
Còn một số công trình nghiên cứu khác về STEM và NL THTGTN Tuy
nhiên, chưa có đề tài nghiên cứu về STEM của môn KHTN 6: “Phát triển năng
lực tìm hiểu thế giới tự nhiên dưới góc độ hóa học cho học sinh thông qua
dạy học môn khoa học tự nhiên lớp 6 theo định hướng STEM”.
Như vậy đề tài tôi nghiên cứu có sự kế thừa và phát triển của các nghiêncứu trước đây, phù hợp với định hướng về đổi mới giáo dục theo chương trìnhphổ thông 2018
1.2 Năng lực và phát triển năng lực cho học sinh THCS
1.2.1 Khái niệm năng lực
Năng lực (competency) có nguồn gốc từ tiếng Latinh "competentia"-có
nghĩa là gặp gỡ, được nghiên cứu và định nghĩa theo nhiều khía cạnh khác nhau
Trang 7Theo chương trình giáo dục phổ thông tổng thể (GDPTTT) của Bộ Giáo
Dục và Đào tạo năm 2018 giải thích: “Năng lực là thuộc tính cá nhân được hình thành, phát triển nhờ tố chất sẵn có và quá trình học tập, rèn luyện, cho phép con người huy động tổng hợp các kiến thức, kỹ năng và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí, thực hiện thành công một loại hoạt động nhất định, đạt kết quả mong muốn trong những điều kiện cụ thể”[2].
Trong tài liệu [1], Nguyễn Văn Cường, Bernd Meier cho rằng: “Năng lực
là khả năng thực hiện có hiệu quả và có trách nhiệm các hành động, giải quyết các nhiệm vụ, vấn đề thuộc các lĩnh vực nghề nghiệp, xã hội hay cá nhân gtrong những tình huống khác nhau trên cơ sở hiểu biết, kĩ năng, kĩ xảo và kinh nghiệm cũng như sự sẵn sàng hành động”.
Định nghĩa theo tổ chức OECD (tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế thế
giới), coi năng lực là “Khả năng đáp ứng một cách hiệu quả những yêu cầu phức hợp trong một bối cảnh cụ thể”.
- Theo từ điển Tiếng Việt: “Năng lực là phẩm chất tâm sinh lý và trình
độ chuyên môn tạo cho con người khả năng hoàn thành một loại hoạt động nào
đó với chất lượng cao”.
1.2.3 Các năng lực cần hình thành và phát triển cho học sinh THCS
Các NL cần hình thành và phát triển cho HS gồm:
* Năng lực đặc biệt: Là những năng khiếu về trí tuệ, văn nghệ, thể thao,
kĩ năng sống, nhờ tố chất sẵn có ở mỗi người
* Năng lực cốt lõi: Là năng lực cơ bản, thiết yếu mà bất kì ai cũng cần
phải có để sống, học tập và làm việc hiệu quả Cũng theo CTGDPTTT, năng lựccốt lõi gồm năng lực chung và năng lực chuyên môn
- Năng lực chung là năng lực được tất cả các môn học và hoạt động giáo
dục góp phần hình thành, phát triển như: năng lực tự chủ và tự học, năng lựcgiao tiếp và hợp tác, năng lực giải quyết vấn đề (GQVĐ) và sáng tạo
- Năng lực chuyên môn( năng lực đặc thù): là năng lực được hình thành,
phát triển chủ yếu thông qua một số môn học và hoạt động giáo dục nhất địnhnhư năng lực ngôn ngữ, năng lực tính toán, năng lực tìm hiểu tự nhiên và xã hội,năng lực công nghệ, năng lực tin học, năng lực thẩm mĩ, năng lực thể chất NLnày chỉ có thể thấy được khi quan sát hoạt động của người học ở những tình
Trang 8huống cụ thể Nó được hình thành trong quá trình học tập tại nhà trường, ngoàinhà trường, xã hội
1.3 Năng lực tìm hiểu tự nhiên
1.3.1 Khái niệm về năng lực tìm hiểu thế giới tự nhiên
Theo chương trình giáo dục phổ thông môn KHTN, NL THTGTN là mộttrong những thành phần của NL KHTN, là khả năng thực hiện được một số kĩnăng cơ bản để tìm hiểu, giải thích sự vật hiện tượng trong tự nhiên và đời sống.Chứng minh được các vấn đề trong thực tiễn bằng các vấn đề trong thực tiễnbằng các dẫn chứng khoa học Đồng thời vận dụng kiến thức vào thực tiễn, ứng
xử với tự nhiện phù hợp với yêu cầu phát triển bền vững và bảo vệ môi trường
1.3.2 Biện pháp phát triển và đánh giá năng lực tìm hiểu tự nhiên
Để phát triển NL THTGTN cho HS cần thực hiện một số biện pháp sau:
- Thứ nhất: Phát huy tính tích cực của HS thông qua hình thức tổ chức dạy
và học GV cần thay đổi cách dạy học, chuyển từ DH định hướng nội dung sang
DH phát triển NL Trong đó vai trò của người GV rất quan trọng, tổ chức,hướng dẫn, chỉ đạo, trợ giúp cho quá trình học tập của HS; còn HS chủ độngtích cực tìm hiểu và lĩnh hội kiến thức
- Thứ hai: GV cần tạo hứng thú học tập cho HS Khuyến khích động viên
HS tham gia nhiệt tình vào hoạt động học Luôn biết cách tạo các tình huốnghọc tập thông qua việc vận dụng kiến thức, kĩ năng của HS, tạo điều kiện để tất
cả HS đều có thể tham gia, đồng thời hỗ trợ kịp thời khi các em gặp khó khăn
- Thứ ba: Bản thân GV cần tích cực đổi mới PPDH, sử dụng các PPDH
tích cực như dạy học theo dự án, phương pháp trò chơi, dạy học nêu và giảiquyết vấn đề… Bên cạnh đó GV tăng cường sử dụng các kĩ thuật dạy học tíchcực như kĩ thuật KWL, kĩ thuật khăn trải bàn, kĩ thuật động não, kĩ thuật mảnhghép, kĩ thuật sơ đồ tư duy…Việc sử dụng các phương pháp và kĩ thuật phải thậtnhuần nhuyễn, linh hoạt, tránh nhàm chán Đồng thời trong quá trình dạy họccần sử dụng bài tập hóa học nhất là bài tập hóa học gắn liền với thực tiễn nhằmkích thích HS tìm tòi, khám phá, tìm hiểu tự nhiên, và vận dụng kiến thức, kĩnăng đã học vào thực tế cuộc sống
- Thứ tư: Tăng cường các hoạt động thí nghiệm, trải nghiệm thực tế trong
hoạt động học Ngoài việc GV làm cho HS quan sát, Hs quan sát qua video thìcũng cần cho HS tự mình tham gia các hoạt động thí nghiệm, tự mình trải
Trang 9nghiệm, từ đó khuyến khích HS phát triển NL THTGTN để tìm hiểu thế giới tựnhiên và có khả năng biến đổi nó
Ngoài ra, GV nên sử dụng nhiều hình thức dạy học như dạy học theo chủ
đề STEM, dạy học trải nghiệm, dạy học khám phá… Trong đó dạy học theođịnh hướng STEM là một biện pháp để phát triển NLTHTGTN cho HS Nó giúp
HS phát triển NL THTGTN ở các tình huống khác nhau trong thực tiễn
1.4 Dạy học theo chủ đề STEM
1.4.1 Khái niệm dạy học STEM
Nhiều năm gần đây, khái niệm STEM đã dần trở nên quen thuộc đượcnhiều tổ chức, nhiều nhà giáo dục quan tâm Chính vì vậy, có nhiều cách hiểukhác nhau về dạy học STEM
- Giáo dục STEM là sự quan tâm đến các môn Khoa học, Công nghệ, Kĩthuật và Toán học Đây cũng là quan niệm về giáo dục STEM của Bộ Giáo dục
Hoa kì “Giáo dục STEM là một chương trình cung cấp hỗ trợ, tăng cường, giáo dục Khoa học, Công nghệ, Kĩ thuật và Toán học ở bậc tiểu học và trung học cho đến bậc đại học” Đây là cách hiểu theo nghĩa rộng khi nói về giáo dục STEM.
Theo cách hiểu này, cứ tổ chức dạy học các môn thuộc lĩnh vực STEM thì làgiáo dục STEM
- Giáo dục STEM là tích hợp từ ít nhất hai lĩnh vực môn học về Khoa học,Công nghệ, Kĩ thuật và Toán học trở lên Theo Chương trình tổng thể 2018
“Giáo dục STEM là mô hình giáo dục dựa trên cách tiếp cận liên môn, giúp học sinh áp dụng các kiến thức Khoa học, Công nghệ, Kĩ thuật và Toán học vào giải quyết một số vấn đề thực tiễn trong bối cảnh cụ thể”
1.4.4 Vai trò, ý nghĩa của giáo dục STEM
Việc đưa giáo dục STEM vào trường phổ thông mang lại nhiều ý nghĩa,phù hợp với định hướng đổi mới giáo dục phổ thông Cụ thể là:
- Đảm bảo giáo dục toàn diện: Triển khai giáo dục STEM ở nhà trường,
bên cạnh các môn học đang được quan tâm như Toán học, Khoa học, các lĩnhvực công nghệ, kĩ thuật cũng sẽ được quan tâm, đầu tư trên tất cả các phươngdiện về đội ngũ giáo viên, chương trình, cơ sở vật chất
- Nâng cao hứng thú học tập các môn học STEM: Các dự án học tập trong
giáo dục STEM hướng tới việc vận dụng kiến thức liên môn để giải quyết các
Trang 10vấn đề thực tiễn, học sinh được hoạt động, trải nghiệm và thấy được ý nghĩa củatri thức với cuộc sống, nhờ đó sẽ nâng cao hứng thú học tập của học sinh.
- Hình thành và phát triển năng lực, phẩm chất cho học sinh: Khi triển
khai các dự án học tập STEM, học sinh hợp tác với nhau, chủ động và tự lựcthực hiện các nhiệm vụ học; được làm quen hoạt động có tính chất nghiên cứukhoa học Các hoạt động nêu trên góp phân tích cực vào hình thành và phát triểnphẩm chất, năng lực cho học sinh
- Kết nối trường học với cộng đồng: Để đảm bảo triển khai hiệu quả giáo
dục STEM, Cơ sở giáo dục phổ thông thường kết nối với các cơ sở giáo dụcnghề nghiệp, các trường đại học tại địa phương nhằm khai thác nguồn lực vềcon người, cơ sở vật chất Bên cạnh đó, giáo dục STEM phổ thông cũng hướngtới giải quyết các vấn đề có tính đặc thù của địa phương
- Hướng nghiệp, phân luồng: Tổ chức tốt giáo dục STEM ở trường phổ
thông, HS sẽ được trải nghiệm trong các lĩnh vực STEM, đánh giá được sự phùhợp, năng khiếu, sở thích của bản thân với nghề nghiệp thuộc lĩnh vực STEM.Thực hiện tốt giáo dục STEM ở trường phổ thông cũng là cách thức thu hút HStheo học, lựa chọn các ngành nghề thuộc lĩnh vực STEM, các ngành nghề cónhu cầu cao về nguồn nhân lực trong cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư
1.4.5 Một số phương pháp dạy học thường sử dụng trong dạy học chủ
đề STEM nhằm phát triển năng lực tìm hiểu tự nhiên
Các phương pháp và kĩ thuật dạy học tích cực đều có thể dùng trong dạyhọc STEM nhằm phát triển NL THTGTN cho HS như phương pháp góc,phương pháp dạy học theo dự án, phương pháp trò chơi, dạy học nêu và giảiquyết vấn đề, dạy học thông qua trải nghiệm….Trong giới hạn của đề tài này, tôiquan tâm đến phương pháp dạy học dự án, dạy học nêu và giải quyết vấn đề
1.4.5.1 Dạy học dự án
* Dạy học dự án (Project based Learning- PBL) là PPDH trong đó người
học thực hiện một nhiệm vụ học tập phức hợp, có sự kết hợp giữa lí thuyết vàthực hành, tạo ra các sản phẩm có thể giới thiệu Nhiệm vụ này được học sinhthực hiện với năng lực tự học, tự chủ cao trong toàn bộ quá trình học tập, từ việcxác định mục tiêu, lập kế họach, đến việc thực hiện dự án, kiếm tra, điều chỉnh,đánh giá quá trình và kết quả thực hiện
1.4.5.3 Dạy học giải quyết vấn đề
Trang 11* Giải quyết vấn đề là khả năng suy nghĩ và hành động trong những tình
huống không có quy trình, thủ tục, giải pháp thông thường có sẵn Người GQVĐ
có thể ít nhiều xác định được mục tiêu hành động, nhưng không phải ngay lậptức biết cách làm thế nào để đạt được nó Sự am hiểu tình huống vấn đề và lígiải dần việc đạt mục tiêu đó trên cơ sở việc lập kế hoạch và suy luận tạo thànhquá trình GQVĐ
Dạy học GQVĐ không phải là PPDH riêng biệt mà là một một tập hợp
nhiều PPDH liên kết chặt chẽ và tương tác với nhau, trong đó việc đặt ra vàhướng dẫn HS GQVĐ trong tình huống giữ vai trò trung tâm, gắn bó các PPDHkhác
Trong dạy học GQVĐ, HS được đặt trong một tình huống có vấn đề, thông quaviệc GQVĐ đó giúp HS lĩnh hội tri thức, kĩ năng và phương pháp nhận thức
II Quá trình thực hiện đề tài
1 Những thuận lợi và khó khăn khi thực hiện đề tài
- Nội dung về STEM cũng như NL THTGTN đối với HS lớp 6 còn khá lạlẫm, mới mẻ
2 Tính mới của đề tài
- Có thể áp dụng cho nhiều đối tượng HS lớp 6 như HS đại trà, HS khágiỏi
- Đề tài có thể dùng làm tài liệu cho GV tham khảo việc áp dụng dạy họcSTEM trong môn KHTN cũng như các môn học khác để phát triển NL của HS
3 Thực trạng nghiên cứu
Trang 12- Trước khi bắt tay vào đề tài tôi đã tìm hiểu qua giáo viên chủ nhiệm về
học lực của học sinh, cũng như hiểu biết của học sinh về dạy học STEM.kết quả thu được như sau:
* Kết quả thu được sau khi điều tra về học lực của học sinh các lớp
Tôi đã tiến hành thực nghiệm ở lớp 6A và lớp 6B chia làm 2 nhóm:
III Những nội dung, biện pháp đã thực hiện
1 Những kiến thức cơ bản về lý thuyết cần trang bị cho học sinh 1.1 Tiến trình thực hiện dạy học chủ đề STEM
Tiến trình tổ chức chủ đề STEM theo quy trình thiết kế kĩ thuật thườngbao gồm 8 bước như sau: