1 2 TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2 BÀI TẬP LỚN MÔN HỌC XÃ HỘI HỌC GIÁO DỤC TÊN ĐỀ TÀI TRÌNH BÀY KHÁI NIỆM, BẢN CHẤT VÀ NỘI DUNG CỦA CÔNG BẰNG XÃ HỘI PHÂN TÍCH ĐIỂM KHÁC BIỆT GIỮA CÔNG BẰNG XÃ HỘI VÀ.
Trang 1BÀI TẬP LỚN
MÔN HỌC: XÃ HỘI HỌC GIÁO DỤC
TÊN ĐỀ TÀI: TRÌNH BÀY KHÁI NIỆM, BẢN CHẤT VÀ NỘI DUNG CỦA CÔNG BẰNG XÃ HỘI PHÂN TÍCH ĐIỂM KHÁC BIỆT GIỮA CÔNG BẰNG XÃ HỘI VÀ
BÌNH ĐẲNG XÃ HỘI
Họ và tên học viên:
Khóa:
Mã học viên
Hà Nội, tháng 10 năm 2021
Trang 2PHẦN II NỘI DUNG 1
Chương 2 Điểm khác biệt giữa công bằng xã hội và bình đằng xã hội 5 2.1 Quan điểm của Đảng ta về công bằng xã hội 5 2.2 Sự khác biệt giữa công bằng xã hội và bình đẳng xã hội 7
Chương 3 Những giải pháp cơ bản để đảm bảo công bằng xã hội 9 3.1 Giải pháp cơ bản để đảm bảo công bằng xã hội 9
Trang 3Phần I: MỞ ĐẦU
Sinh thời, chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói: Nếu nước độc lập mà dân
không hưởng hạnh phúc tự do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì Giải
phóng con người luôn là mục tiêu mà Người quan tâm một cách triệt để, coi cái đích cuối cùng của công cuộc giải phóng là con người, phải làm sao để mang lại cuộc sống tốt đẹp cho con người Hồ Chí Minh vạch ra đích đến cho chủ nghĩa xã hội: Thay đổi cả xã hội, thay đổi cả thiên nhiên, làm cho xã hội không còn người bóc lột người, không còn đói rét, mọi người đều được ấm
no, hạnh phúc Do đó, để thực hiện mục tiêu mà chủ nghĩa hướng tới là công
bằng xã hội thì phải xóa bỏ tình trạng áp bức, bóc lột
Trang 4Thực hiện công bằng xã hội là mục tiêu và chủ trương nhất quán của Đảng ta trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội Công bằng xã hội là giá trị
cơ bản nhân văn của nhân loại, khi thực hiện được công bằng xã hội thì sẽ thấy được bản chất và nguyên nhân sinh ra áp bức bóc lột, bất công trong xã hội Trong điều kiện phát triển nền kinh tế thị trường theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, công bằng là thúc đẩy sự phát triển của xã hội chỉ có thực hiện công bằng thì người dân mới có thể phát triển, các quan hệ xã hội mới có thể được điều tiết một cách tích cực nhất Nếu người dân sống trong một xã hội công bằng, tự do, dân chủ họ sẽ tích cực, chủ động phát huy khả năng của mình, khi đó xã hội mới hài hòa ổn định, toàn thể nhân dân mới có thể đồng tâm, hiệp lực xây dựng và phát triển đất nước xã hội chủ nghĩa Vì vậy, trong
xã hội không có công bằng với một cá nhân hay cả xã hội sẽ dẫn đến hậu quả rất nặng nề Đối với cá nhân sẽ mất lòng tin, triệt tiêu động lực phát triển, đối với xã hậu sẽ bị trì trệ, chậm phát triển dẫn đến tụt hậu Chính vì những lý do
trên, tác giả chọn chủ đề “Trình bày khái niệm, bản chất và nội dung của
công bằng xã hội phân tích điểm khác biệt giữa công bằng xã hội và bình đẳng xã hội” làm bài thu hoạch kết thúc môn học có ý nghĩa cả về lý luận và
thực tiễn
Phần II: NỘI DUNG Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN 1.1 Khái niệm công bằng xã hội
Ở mỗi thời kỳ lịch sử khác nhau thì quan niệm về công bằng xã hội cũng khác nhau Trong xã hội Hy LạpCông bằng của người Hy Lạp và người
La Mã là công bằng của chế độ nô lệ, công bằng của giai cấp tư sản những năm 1789 là đã xóa bỏ chế độ phong kiến mà nó cho là bất công Do đó, để giải quyết vấn đề này không chỉ phụ thuộc vào những điều kiện lịch sử cụ thể
Trang 5mà còn phụ thuộc rất nhiều vào trình độ nhận thức, đặc biệt sự chi phối lợi ích giai cấp, các nhóm chủ thể xã hội
Dựa vào quan điểm của của C.Mác và Ph.Ăngghen về công bằng xã hội
và thực tiễn đất nước ta vào trong thời kỳ trước cách mạng Hồ Chí Minh đã khẳng định rằng: trong chế độ xã hội thực dân, phong kiến hoàn toàn không
có công bằng trong xã hội và trong xã hội đó: “…nhân dân chỉ có nghĩa vụ, như nộp sưu đóng thuế, đi lính đi phu mà không có quyền lợi” Tư tưởng Hồ Chí Minh, công bằng xã hội không chỉ biểu hiện như là mục tiêu của chủ nghĩa xã hội mà còn là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Hồ Chí Minh cho rằng, công bằng xã hội chỉ có được trong chế độ xã hội mới, đó là dưới chế độ dân chủ cộng hoà Người khẳng định: “Chủ nghĩa
xã hội là công bằng hợp lý: làm nhiều hưởng nhiều, làm ít hưởng ít, không làm thì không được hưởng” [18, tr.181] Hồ Chí Minh đã chỉ ra rằng, thực hiện công bằng xã hội với nguyên tắc ngang bằng nhau giữa người và người trong mối quan hệ giữa nghĩa vụ và quyền lợi, giữa cống hiến và hưởng thụ,
…trong hoàn cảnh nước nhà còn nhiều khó khăn về kinh tế không có nghĩa là
có thể làm cho đời sống nhân dân có ngay được sự no đủ
Kế thừa quan điểm chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về công bằng xã hội, Đảng ta luôn xác định: Công bằng xã hội là mục tiêu cao nhất cần phải hướng tới trong sự nghiệp cách mạng Trải qua các giai đoạn lịch sử, Đảng ta luôn bổ sung, phát triển các chủ trương, chính sách nhằm thực hiện tốt vấn đề tiến bộ và công bằng xã hội, Đại hội Đảng lần thứ XIII tiếp tục nhấn mạnh: “Giữ vững tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội, bảo vệ môi trường” [7, tr.119]
Như vậy, công bằng xã hội là vấn đề đã được các nhà kinh điển mác xít
đề cập đến từ lâu Sau này, những tư tưởng đó được Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam tiếp thu, vận dụng sáng tạo trong suốt tiến trình
Trang 6cách mạng Việt Nam Khi đất nước đang đẩy mạnh thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá nhằm xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, vấn đề công bằng xã hội đã, đang và sẽ là vấn đề thời sự cần quan tâm giải quyết từng bước
1.2 Bản chất của công bằng xã hội
Công bằng xã hội là một chủ trương lớn, quan điểm nhất quán của Đảng Cộng sản Việt Nam, vì thế bản chất của công bằng xã hội thể hiện ở tính nhân văn, tốt đẹp của chế độ xã hội chủ nghĩa mà Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đang xây dựng Xuyên suốt “sợi chỉ đỏ” của sự công bằng đó là mục tiêu “không bỏ ai ở lại phía sau”
Trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, đặc biệt sau hơn 35 năm đổi mới, Đảng ta luôn nhất quán và kiên trì thực hiện mục tiêu công bằng Đây chính là thể hiện bản chất tốt của công bằng xã hội mà trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội chúng ta hướng tới
Trước hết, thực hiện công bằng xã hội tức là nhằm đảm bảo cho các thành viên xã hội được hưởng thụ tương xứng với đóng góp của họ cho xã hội Thứ hai, không chỉ đảm bảo sự tương xứng giữa nghĩa vụ và quyền lợi, giữa đóng góp và hưởng thụ, mà công bằng còn được hiểu và được thực hiện như là tạo ra cơ hội bình đẳng cho các thành viên trong xã hội có thể tiếp cận được các cơ hội phát triển, các nguồn lực xã hội để mỗi cá nhân có thể phát triển
Cùng với khía cạnh đó, công bằng xã hội còn đảm bảo cho cuộc sống của mọi thành viên trong cộng đồng dân tộc Việt Nam, đặc biệt là những người yếu thế, những nhóm xã hội có khó khăn, đảm bảo thực hiện an sinh xã hội, thực thi triết lý “không để ai bỏ lại phía sau”
Trang 7Công bằng xã hội là một động lực phát triển kinh tế - xã hội, bởi nó là yếu tố có tác động trực tiếp đến lợi ích của chủ thể hoạt động và do vậy, nó kích thích tính năng động, sáng tạo của mọi thành viên xã hội, huy động các nguồn nhân lực, vật lực, tài lực trong và ngoài nước vào việc phát triển kinh
tế Có công bằng xã hội, người lao động mới phát huy hết nhiệt tình và khả năng lao động, không ngừng nâng cao năng suất lao động để tạo ra ngày càng nhiều sản phẩm có chất lượng cao Có công bằng xã hội, các nhà kinh doanh mới chịu bỏ vốn, chấp nhận rủi ro để đầu tư cho sản xuất Theo đó, có thể nói, công bằng xã hội là một trong những điều kiện quan trọng đảm bảo tăng trưởng kinh tế một cách ổn định, lâu dài, theo hướng tiến bộ xã hội
1.3 Nội dung của công bằng xã hội
Nội dung cơ bản nhất của công bằng xã hội là xử lý hợp lý nhất quan
hệ giữa quyền lợi và nghĩa vụ trong điều kiện, hoàn cảnh nhất định Để phản ánh được nội dung cơ bản này, các nhà kinh tế học thường phân biệt hai khái niệm khác nhau về công bằng xã hội đó là: công bằng xã hội theo chiều ngang (horizontal justice) nghĩa là đối xử như nhau đối với những người có đóng góp như nhau và công bằng xã hội theo chiều dọc (vertical justice) theo nghĩa là đối xử khác nhau với những người có những khác biệt bẩm sinh, trình độ, năng lực hoặc có các điều kiện sống khác nhau
Công bằng theo chiều ngang đòi hỏi phải đối xử bình đẳng giữa những người có cùng năng lực và cống hiến, hưởng thụ như nhau Công bằng theo chiều dọc thể hiện ở việc nhà nước có chính sách đãi ngộ, tạo điều kiện, mở rộng khả năng tiếp cận cho người nghèo, những nhóm người dễ bị tổn thương đến với các dịch vụ chăm sóc sức khỏe, giáo dục, việc làm, nguồn vốn, mạng lưới an sinh xã hội,
Xuất phát từ bản chất của chủ nghĩa xã hội, công bằng xã hội phải được thực hiện trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội Ăngghen đã chỉ rõ:
Trang 8Dân chủ trong việc quản lý, hữu ái trong xã hội, bình đẳng về quyền lợi,
về giáo dục phổ thông, tất cả những thứ đó sẽ chiếu rọi cho cái giai đoạn cao sắp tới của xã hội, mà kinh nghiệm, lý trí và khoa học đang không ngừng vươn tới
Trước hết nói thực hiện công bằng xã hội không phải là vấn đề trừu tượng hoặc chỉ thực hiện trên một lĩnh vực nào đó, mà là thực hiện trên tất
cả các lĩnh vực của đời sống xã hội: chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội Trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, việc thực hiện công bằng
xã hội là mục tiêu nhất quan của Đảng Nhưng thực hiện công bằng xã hội không phải là sự san bằng mọi sản phẩm cho các thành viên theo kiểu bình quân chủ nghĩa Một xã hội thực sự công bằng thì phải căn cứ vào số lượng, chất lượng sản phẩm của người lao động làm tiền đề cho phân phối Như vậy mới kích thích được tính năng động, sáng tạo của người lao động
Chương 2 ĐIỂM KHÁC BIỆT GIỮA CÔNG BẰNG XÃ HỘI VÀ BÌNH ĐẰNG XÃ HỘI
2.1 Quan điểm của Đảng ta về công bằng xã hội
Theo quan điểm của Đảng, thực chất của bảo đảm công bằng xã hội là giải quyết hài hòa giữa phát triển kinh tế với thực hiện chính sách xã hội, đem lại cuộc sống hòa bình, tự do, ấm no, hạnh phúc cho nhân dân; phát triển toàn diện phẩm chất, năng lực của con người, trên tinh thần tất cả vì con người, cho con người
Hiện nay, trước sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, việc thực hiện công bằng xã hội có ý nghĩa quan trọng, nhằm khắc phục bản chất cố hữu của nền kinh tế thị trường là cạnh tranh, là mạnh thắng, yếu thua Để phát triển kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa phải đảm bảo sự công bằng cho nhân dân Vậy quan
Trang 9điểm của Đảng ta về công bằng xã hội được thể hiện ở những nội dung cơ bản sau:
Thứ nhất, thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển phải dựa trên nền kinh tế
thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập kinh tế quốc
Phát triển kinh tế là nhiệm vụ trung tâm của quá trình xây dựng, phát triển đất nước Phát triển kinh tế ổn định, bền vững là điều kiện quan trọng để thực hiện công bằng xã hội Trong một xã hội nếu kinh tế không phát triển mạnh, bền vững thì xã hội sẽ chậm phát triển, con người sẽ không được đâp ứng nhu cầu cả về vật chất và tinh thần Vì thế, để thúc đẩy phát triển kinh tế cần phải thực đồng bộ các chủ trương, giải pháp, nhất là tập trung hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Tích cực đổi mới và hoàn thiện khung pháp lý, cải thiện môi trường đầu tư, tháo gỡ những trở ngại
về cơ chế chính sách và thủ tục hành chính để huy động tối đa mọi nguồn lực cho phát triển kinh tế, giải quyết việc làm cho người lao động Ngoài ra, cần phải đảm bảo cho người lao động hưởng các chế độ chính sách đúng quy định, phát triển kinh tế đòng thời phát triển cả về văn hóa, xây dựng môi trường dân chủ, tiến bộ và công bằng xã hội Chăm lo cải thiện đời sống cho nhân dân, đảm bảo an sinh xã hội, từng bước nâng cao phúc lợi xã hội
Thứ hai, có quy chế phân phối và khung xây dựng các nguồn lực xã hội
một cách khoa học Để thực hiện công bằng trong cống hiến và hưởng thụ, giữa nghĩa vụ và quyền lợi giữa các cá nhân Thì cần phải có một khung quy chế phân phối hợp lý và khoa học để người lao động họ có cống hiến thì sẽ được hưởng thụ Nghĩa là, những người cống hiến ngang nhau thì hưởng thụ như nhau Nói cách khác, xã hội đối xử ngang nhau với những người có đóng góp như nhau Mức độ hưởng thụ của cải xã hội được xác định dựa trên những cống hiến của họ đối với xã hội
Trang 10Thứ ba, giảm thiếu sự phân hóa giàu nghèo phải xây dựng chính sách an
sinh xã Hiện nay, trước sự ảnh hưởng của nền kinh tế thị trường nước ta có
sự phân tầng xã hội xuất hiện và phân hóa giàu nghèo gia tăng đang có nguy
cơ đưa đến phân cực xã hội Trước hết đó là việc ngày càng tách rời giữa thành thị và nông thôn Trong đó, vùng nông thôn chiếm tới 90% hộ nghèo
Tỷ lệ hộ giàu thấp Có vùng chỉ vài phần trăm Ngược lại, ở thành phố, tỷ lệ
hộ giàu cao Vì thế, đề thực hiện được công bằng xã hội, tạo điều kiện cho người lao động thì Đảng và Nhà nước thực hiện chính sách an sinh xã hội nhằm giảm thiếu những người nghèo trong xã hội, rút ngắn khoảng cách phân hóa giàu – nghèo đang diễn ra trong xã hội
Thứ tư, giải quyết tốt lao động, việc làm và thu nhập, bảo đảm chất
lượng đời sống dân cư Hiện nay, với số dân hơn 100 triệu dân đặt ra cho Đảng và Nhà nước nhiều vấn đề để giải quyết Trước hết vấn đề về việc làm
là một trong những chính sách quan trọng của mỗi quốc gia, đặc biệt là đối với các nước đang phát triển như Việt Nam Do đó, để người lao động thiếu việc làm, không có việc làm hoặc việc làm với năng suất và thu nhập thấp sẽ không thể giúp người dân bảo đảm cuộc sống và phát triển bền vững Chỉ khi người lao động có việc làm và tăng thu nhập sẽ đáp ứng được những nhu cầu chính đáng về vật chất và tinh thần, giúp họ tiếp cận được với các dịch vụ chất lượng tốt, nâng cao vị thế trong xã hội, hòa nhập với môi trường xung quanh Tạo điều kiện cho họ phát triển toàn diện về mọi mặt, cũng là động lực
để thúc đẩy xã hội phát triển
Thực hiện công bằng xã hội thể hiện tính ưu việt của chế độ xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta đang xây dựng Đại hội XIII của Đảng đã định hướng nội dung, phương hướng và giải pháp cơ bản đẩy mạnh thực hiện tiến
bộ và công bằng xã hội ở Việt Nam trong tình hình mới Điều đó phản ánh sâu sắc tư duy mới của Đảng về thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội hiện
Trang 11nay, có ý nghĩa lý luận và thực tiễn to lớn, cần được nhận thức đúng đắn, triển khai thực hiện có hiệu quả
2.2 Sự khác biệt giữa công bằng xã hội và bình đẳng xã hội
Công bằng xã hội và bình đẳng có mối quan hệ mật thiết với nhau, bình đẳng là cơ sở duy trì công bằng, tiến bộ xã hội Còn công bằng là yêu cầu nội tại của xã hội xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam Công bằng bao hàm yếu tố bình đẳng Mỗi cá nhân đều bình đẳng về quyền lợi, về lợi ích Xã hội xã hội chủ nghĩa lấy con người làm trung tâm bảo vệ quyền bình đẳng của người dân, bảo đảm mỗi cá nhân được tôn trọng về quyền, lợi ích chính đáng Để thực hiện công bằng xã hội cho toàn thể nhân dân chủ yếu về: công bằng quyền lợi
và công bằng cơ hội, xây dựng môi trường xã hội công bằng, để bảo đảm người dân được tham dự bình đẳng, phát triển bình đẳng và có những quyền lợi bình đẳng Bình đẳng là động lực phát triển xã hội và người dân được bình đẳng trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội như: kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hôi
Mặc dù công bằng xã hội và bình đẳng xã hội có mối quan hệ mật thiết với nhau nhưng trên thực tế thì bình đẳng không phải là công bằng, bình đẳng chỉ là yếu tố cơ bản hợp thành sự công bằng Vậy điểm khác biệt giữa công bằng xã hội và bình đẳng xã hội được thể hiện như sau:
Thứ nhất, dưới góc độ pháp lý gần như pháp luật của quốc gia nào cũng
quy định “mọi người đều bình đẳng trước pháp luật” Trên lý thuyết thì bình đẳng trước pháp luật là điều kiện cơ bản để đạt đến sự công bằng Tuyên ngôn độc lập của Hoa Kỳ năm 1776, Tuyên ngôn về nhân quyền và dân quyền của Pháp năm 1789 đều đề cao giá trị bình đẳng, công bằng, mục đích là chống lại
sự phân biệt đối xử dựa trên sự khác biệt về nguồn gốc xuất thân, chủng tộc, màu da, giới tính, xu hướng tình dục, ngôn ngữ, tôn giáo, thế giới quan chính trị, nguồn gốc xuất thân, tài sản hay các điều kiện khác Bình đẳng trước pháp