1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

TIỂU LUẬN PHẬT GIÁO VAI TRÒ của văn hóa PHẬT GIÁO với một số LĨNH vực của nền văn hóa dân tộc

26 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 26
Dung lượng 69,24 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRƯỜNG KHOA TIỂU LUẬN Chủ đề VAI TRÒ CỦA VĂN HÓA PHẬT GIÁO VỚI MỘT SỐ LĨNH VỰC CỦA NỀN VĂN HÓA DÂN TỘC Họ tên học viên Lớp , 2021 MỤC LỤC Trang MỞ ĐẦU 3 NỘI DUNG 3 Chương 1 QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ DU.

Trang 1

KHOA …



TIỂU LUẬNChủ đề: VAI TRÒ CỦA VĂN HÓA PHẬT GIÁO VỚI MỘT SỐ LĨNH

VỰC CỦA NỀN VĂN HÓA DÂN TỘC

Họ tên học viên:……….

Lớp:……….,

- 2021

Trang 2

Chương 2.

NHỮNG ẢNH HƯỞNG CỦA VĂN HÓA PHẬT GIÁO ĐẾN MỘT SỐ LĨNH VỰC CỦA NỀN VĂN HÓA DÂN TỘC VIỆT NAM

92.1 Phật giáo đã góp phần đào tạo một tầng lớp trí thức 92.2 Phật giáo đem đến một loại văn tự mới góp phần bảo tồn ngônngữ Việt, Chăm, Khmer 122.3 Phật giáo đem đến một loại văn tự mới góp phần bảo tồn ngônngữ Việt, Chăm, Khmer 132.4 Phật giáo chung tay xây dựng, phát triển văn hóa Việt Namtiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc. 17

Chương 3.

MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT HUY CÁC GIÁ TRỊ CỦA VĂN HÓA PHẬT GIÁO TRONG ĐỜI SỐNG XÃ HỘI HIỆN NAY

23

Trang 3

Kể từ khi đất nước giành được độc lập (1945) cho đến thời kỳ đổi mới,Đảng và Nhà nước ta đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách, pháp luật vềtín ngưỡng, tôn giáo, tạo điều kiện để các tôn giáo luôn đồng hành cùng dântộc, hành đạo theo pháp luật, tích cực tham gia phát triển kinh tế - xã hội, xóađói giảm nghèo, xây dựng đời sống văn hóa…; góp phần củng cố khối đạiđoàn kết toàn dân tộc, cùng xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Tuy nhiên, trong suốt chiều dài lịch sử tín ngưỡng, tôn giáo, luôn là mộtvấn đề nhạy cảm Trong tình hình hiện nay, đây là lĩnh vực thường xuyên bị kẻxấu và các thế lực thù địch, cơ hội lợi dụng để thực hiện âm mưu “diễn biến hòabình” trên mặt trận tư tưởng - văn hóa; chống phá, xuyên tạc đường lối chủtrương của Đảng về tự do tín ngưỡng, tôn giáo; phá hoại khối đại đoàn kết dântộc, cổ súy những hoạt động núp bóng tín ngưỡng, tôn giáo trái pháp luật

Để đấu tranh có hiệu quả với mọi hoạt động núp bóng và lợi dụng tínngưỡng, tôn giáo trái với pháp luật, bên cạnh việc nâng cao chất lượng côngtác tuyên truyền liên quan đến chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước vềtín ngưỡng, tôn giáo nói chung, Phật giáo nói riêng, rất cần tiếp tục nghiêncứu làm rõ những giá trị văn hoá, đạo đức tốt đẹp cũng như vai trò, đóng gópcủa các tôn giáo chính thống – nhân bản, trong đó có Phật giáo vào quá trìnhphát triển của đất nước

NỘI DUNG

I QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ DU NHẬP PHẬT GIÁO VÀO VIỆT NAM

1.1 Sự hình thành và nội dung cơ bản của Phật giáo

Phật giáo ra đời vào thế kỷ thứ VI trước công nguyên tại một vùng đấtthuộc phía Bắc Ấn Độ (nay thuộc lãnh thổ Nêpan), gắn liền với những điềukiện kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội của Ấn Độ bấy giờ Thế kỷ VI trướcCông nguyên, lúc này Ấn Độ đang trong thời kỳ chiếm hữu nô lệ Sự phânchia đẳng cấp ngặt nghèo sâu sắc Thời kỳ này xã hội Ấn Độ chia làm bốn

Trang 4

đẳng cấp cách biệt nhau, gồm: đẳng cấp Bà-la-môn (địa vị cao nhất); đẳngcấp Sát-đế-lỵ (dòng họ vua quan, quý tộc); đẳng cấp Vệ- xá (gần những ngườigiàu có, buôn bán thủ công), đẳng cấp Thủ-đà-la (nô lệ) Ngoài ra còn có mộttầng lớp người thuộc hàng cùng khổ dưới đáy xã hội, bị mọi người khinh rẻ.Trước khi có sự ra đời của đạo Phật, mâu thuẫn giữa các đẳng cấp trên hết sứcgay gắt được thể hiện trong những cuộc đấu tranh mang tính chất toàn xã hội

Cùng thời điểm này Ấn Độ đã và đang diễn ra cuộc đấu tranh giữa cácnhà duy vật và duy tâm, đấu tranh giữa các tôn giáo, bởi lẽ bên cạnh sự thốngtrị của đạo Bà la môn còn có sự hiện diện của Phệ đà giáo và một số giáo pháikhác, đồng thời tư tưởng duy vật thô sơ và tư duy biện chứng đã xuất hiện

Sự ra đời của Đạo Phật còn gắn liền với tên tuổi của thái tử Sidharta(Tất-đạt-đa), họ là Gotama (Cổ-đàm) Ông sinh năm 624 trCN, vào lúc ở Ấn

Độ đạo Bàlamôn (Brahmanism) đang thống trị với sự phân chia đẳng cấp sâusắc trong xã hội Nỗi bất bình của thái tử với nỗi khổ của muôn dân là nhữngnguyên nhân dẫn đến sự hình thành một tôn giáo mới Sau này, khi môn đệcủa Ngài thắc mắc tại sao các pháp sư Bàlamôn tự xưng là cao cấp và khinh

rẻ đẳng cấp mà đức Phật xuất thân, Ngài trả lời: “Các vị Bàlamôn sinh ra từcửa miệng Phạm thiên chăng? Đâu có, vợ các người ấy cũng có kinh nguyệt,

có mang thai, có sinh con, cho con bú, v.v… Vậy làm gì mà các vị ấy cao cấpđược? Chỉ những ai có đủ đạo đức lương thiện là cao cấp, còn lại là ti tiện”(Trường bộ kinh)

Sidharta rời nhà năm 29 tuổi, được gọi là Sakia Muni (Thích Ca Mầu

Ni = hiển nhân dòng họ Thích Ca) Sakia Muni tìm gặp những người tu hànhlâu năm để học hỏi, nhưng những điều thu được không làm ông thỏa mãn.Ông rủ 5 người bạn đến vùng Uruvela (gần thị trấn Gaya – sau này các sáchthường ghi là ông đến núi Tuyết Sơn), tu khổ hạnh suốt 6 năm ròng mà chẳngích lợi gì Thấy mình đã tu sai đường, ngài liền ăn uống cho lại sức rồi tìmđến một gốc cây pipal lớn, lấy cỏ làm nệm ngồi tập trung suy nghĩ Sau mộtthời gian (tương truyền là 49 ngày đêm), tư tưởng ngài liền trở nên sáng rõ,ngài đã hiểu ra quy luật của cuộc đời, nỗi khổ của chúng sinh, thấy được điều

mà bấy lâu nay tìm kiếm

Ngài liền đi tìm 5 người bạn đã cùng tu khổ hạnh trước đây để giác ngộcho họ, rồi cùng với họ trong suốt 40 năm còn lại của cuộc đời đi khắp vùnglưu vực sông Hằng để truyền bá những tư tưởng của mình Từ đó, người đờigọi Ngài là Buddha (= Bậc Giác Ngộ, phiên âm tiếng Việt là Bụt, Phật) Câypipal, nơi Ngài đã ngồi tu luyện, được gọi là cây bodhi (bố đề) và trở thànhbiểu tượng cho sự giác ngộ Đức Phật qua đời năm 544 trCN), thọ 80 tuổi

Trang 5

Nghiên cứu về sự ra đời của đạo Phật có thể thấy rằng, nếu bỏ quanhững truyền thuyết về Tất Đạt Đa tìm đường cứu khổ cho chúng sinh màsáng lập ra đạo Phật thì thực chất Phật giáo ra đời là do kết quả của cuộc đấutranh gay gắt giữa các giai cấp, đấu tranh giữa thần quyền và thế quyền, giữanhững người nắm kinh tế của xã hội và những người nắm tư tưởng xã hội.Cuộc đấu tranh ấy đã lôi kéo đông đảo quần chúng nghèo khổ tham gia, thaybằng thành quả bình đẳng thật sự nơi trần gian, quần chúng đã nhận được sựbình đẳng trong tư tưởng, nơi gọi là cõi Niết bàn của nhà Phật.

Giống như các tôn giáo khác, Phật giáo cũng bao gồm giáo lý và sinhhoạt tín ngưỡng Giáo lý là một hệ thống các quan điểm về thế giới và conngười, về cách thức tu luyện, sinh hoạt tín ngưỡng là những hành vi, nhữngnghi lễ cần phải thực hiện để đạt tới ước nguyện Tất cả đều có ảnh hưởng đếnđời sống văn hóa tinh thần của các tín đồ

Giáo lý Phật giáo là một hệ thống đồ sộ, tập trung trong tam tạng kinhđiển (Kinh tạng, Luận tạng, Luật tạng) với nhiều nội dung đa dạng, sâu sắc vềthế giới, về xã hội, về con người, về những giới luật cần phải theo, và nhữnggiải nghĩa, những luận bàn cần phải biết

Thế giới quan Phật giáo là một hệ thống gồm các lý thuyết về nhânduyên, nhân quả, về vô thường, vô ngã, về nghiệp báo luân hồi v.v Mỗithuyết đó đều chứa đựng một nội dung biện chứng về thế giới

Nhân sinh quan Phật giáo là một hệ thống gồm các quan điểm về conngười, đời người Đó là một trong những nội dung rất cơ bản của giáo lý Phậtgiáo khi lý giải về con người, là học thuyết về "khổ" và con đường "cứu khổ",thể hiện trong 4 nguyên lý thần diệu cơ bản gọi là Tứ diệu đế (Bốn chân lí kìdiệu) hay Tứ thánh đế (Bốn chân lí thánh), đó là:

Khổ đế là chân lí về bản chất của nỗi khổ Khổ là gì? Đó là trạng thái

buồn phiền phổ biến ở con người do sinh, lão, bệnh, tử, do mọi nguyện vọngkhông được thỏa mãn

Tập đế là chân lí về nguyên nhân của nỗi khổ Đó là do ái dục (ham

muốn) và vô minh (kém sáng suất) Dục vọng thể hiện thành hành động gọi làNghiệp (karma); hành động xấu khiến con người phải nhận hậu quả của nó(nghiệp báo), thành ra cứ luẩn quẩn trong vòng luân hồi không thoát ra được

Diệt đế là chân lí về cảnh giới diệt khổ Nỗi khổ sẽ được tiêu diệt khi

nguyên nhân gây ra khổ bị loại trừ Sự tiêu diệt khổ đau gọi là niết bàn(nirvana, nghĩa đen là “không ham muốn, dập tắt”) Đó là thế giới của sự giácngộ và giải thoát

Đạo đế là chân lí chỉ ra con đường diệt khổ Con đường diệt khổ, giải

thoát và giác ngộ đòi hỏi phải rèn luyện đạo đức (giới), tư tưởng (định) và

Trang 6

khai sáng trí tuệ (tuệ) Ba môn học này được cụ thể hóa trong khái niệm bátchính đạo (tám nẻo đường chân chính) Đó là: chánh ngữ, chánh nghiệp,chánh mạng (thuộc lĩnh vực rèn luyện đạo đức – GIỚI); chánh niệm, chánhđinh (thuộc lĩnh vực rèn luyện tư tưởng – ĐỊNH): chính kiến chánh tư duy,chính tinh tấn (thuộc về lĩnh vực khai sáng trí tuệ – TUỆ).

Như vậy, “Tứ diệu đế” là bốn chân lý thiêng liêng cho thấy đời người làkhổ và khổ đó là do các quá trình diễn ra trong bản thân con người sinh, lão,bệnh, tử, do ham sướng (dục vọng), do không sáng suốt (vô minh) đến nỗi rơivào vòng luân hồi Người theo đạo Phật muốn khỏi khổ, hết khổ, thì phải diệtdục, từ bỏ ham muốn, từ bỏ mọi sự quyến rũ của cuộc sống để sống yên tĩnh,

đi vào cõi hư vô tịch diệt (niết bàn)

Phật giáo còn đưa ra "ngũ giới"," thập thiện" đó là những điều răn cấm,những quy định giúp con người trên đường tu hành tránh lỗi lầm, trở nêntrong sạch

Toàn bộ giáo lí của Phật giáo được xếp thành ba tạng (tạng = chứađựng): Kinh tạng chứa các bài thuyết pháp của Phật và một số đệ tử; Luậttạng chứa các lời Phật dạy về giới luật và nghi thức sinh hoạt của chúng tăng;Luân tạng chứa những lời bàn luận Phật giáo coi trọng Phật-pháp-tăng, gọi làtam bảo: Đức Phật sáng lập ra Phật giáo; pháp- (giáo lí) là cốt tủy của đạoPhật; tăng chúng (người xuất gia tu hành) truyền bá Phật pháp trong thế gian

Ở trên đã nói đến Phật và Pháp, dưới đây sẽ nói đến Tăng

Sau khi đức Phật tạ thế, do sự bất đồng ý kiến trong việc giải thích kinhPhật, các đệ tử của Người chia làm hai phái: Phái các vị trướng lão, gọi làTHƯỢNG TỌA (Théravada) theo xu hướng bảo thủ, chủ trương bám sát kinhđiển, giữ nghiêm giáo luật; Phật tử phải tự giác ngộ cho bản thân mình, chỉthờ Phật Thích Ca và chỉ tu đến bậc La hán) Số tăng chúng còn lại khôngchịu nghe theo, họ lập ra phái ĐẠI CHÚNG (Mahasanghika), chủ trươngkhông cố chấp theo kinh điển, khoan dung đại lượng trong thiết hiện giáoluật, thu nạp tất cả những ai muốn quy y, giác ngộ giải thoát cho nhiều người,thờ nhiều Phật, và tu qua các bậc La- hán, Bồ-tát đến Phật

Tại các lần đại hội thứ 3-4, phái Đại Chúng soạn ra kinh sách riêng, tựxưng là ĐẠI THỪA (Mahayana), nghĩa là “cỗ xe lớn” (chở được nhiều người)

và gọi phái Thượng Tọa là TIỂU THỪA (Hinayana), nghĩa là “cỗ xe nhỏ”(chở được ít người)

Phái Đại thừa phát triển lên phía bắc, nên được gọi là BẮC TÔNG, phổbiến sang Trung Hoa, Nhật Bản, Triều Tiên,… Phái tiểu thừa phát triển xuốngphía nam, nên được gọi là NAM TÔNG, từ trung tâm là đảo Sri-Lanca (=Tích Lan) phát triển sang các nước Đông Nam Á

Trang 7

1.2 Quá trình du nhập và phát triển của Phật giáo ở Việt Nam

Phật giáo được du nhập vào Việt Nam từ rất sớm, bằng nhiều conđường khác nhau Theo tài liệu lịch sử, Phật giáo đã du nhập vào miền BắcViệt Nam theo đường biển và đường bộ từ đầu thế kỷ I

Theo đường biển, các nhà sư Ấn Độ đã đến Việt Nam ngay từ đầu Công

nguyên Luy Lâu, trị sở quận Giao Chỉ, đã sớm trở thành một trung tâm Phậtgiáo quan trọng Từ đây, có những người như Khương Tăng Hội (gốc Trungá) hoặc Ma-ha-kì-vực (Mahajivaka, nhà sư ấn Độ), đã đi sâu vào Trung Hoatruyền đạo Sau này, khi trả lời vua Tùy Văn Đế về tình hình Phật giáo GiaoChâu, nhà sư Đàm Thiên đã nói rằng: “Xứ Giao Châu có đường thông sangThiên Trúc Phật giáo truyền vào Trung Hoa chưa phổ cập đến Giang Đông

mà xứ ấy đã xây ở Luy Lâu hơn 20 bảo tháp, độ được hơn 500 vị tăng và dịchđược 15 bộ kinh rồi Thế là xứ ấy theo đạo Phật trước ta”

Cũng do Phật giáo đã được truyền trực tiếp từ ấn Độ vào Việt Namngay từ đầu công nguyên nên từ Buddha tiếng Phạn đã được phiên âm trựctiếp sang tiếng Việt thành Bụt: Phật giáo Giao châu lúc này mang màu sắcTiểu thừa Nam tông và trong con mắt của người Việt Nam nông nghiệp, Bụtnhư một vị thần luôn có mặt ở khắp nơi, sẵn sàng xuất hiện cứa giúp người tốt

và trừng trị kẻ xấu sau này, sang thế kỉ IV-V, lại có thêm luồng Phật giáo Đạithừa Bắc tông từ Trung Hoa tràn vào Chẳng mấy chốc, nó đã lấn át và thaythế luồng Nam tông có từ trước đó Từ “Buddha” vào tiếng Hán được phiên

âm thành Phật-đồ, vào tiếng Việt rút gọn lại còn Phật; từ đây từ Phật dần dầnthay thế cho từ Bụt: Bụt chỉ còn trong các quán ngữ với nghĩa ban đầu (ví dụ:Gần chùa gọi Bụt bằng anh), hoặc chuyển nghĩa thành ông tiên trong cáctruyện dân gian (như Tấm Cám)

Theo đường bộ, Phật giáo được truyền vào nước ta từ Trung Hoa, gồm

cả ba tông phái Phật giáo: Thiền tông, Tịnh độ tông và Mật tông

Thiền tông là tông phái Phật giáo do nhà sư Ấn Độ Bồ-đề-đạt-ma

(Bodhidharma) sáng lập ra ở Trung Quốc và đầu thế kỉ VI “Thiền” (rút gọncủa Thiền-na, phiên âm Hán-việt từ Dhiama tiếng Sanscrit nghĩa là “tĩnhtâm”) chủ trương tập trung trí tuệ suy nghĩ (thiền) để tự mình tìm ra chân lí.Thiền tông Việt Nam luôn đề cao cái Tâm Phật tại tâm, tâm là niết bàn, làPhật Quốc sư Yên Tử nói với Trần Thái Tông: “Núi vốn không có Phật, Phật

ở nơi tâm, tâm lặng lẽ sáng suốt ấy là chân Phật” Tu theo Thiền tông đòi hỏinhiều công phu và khả năng trí tuệ, do vậy chỉ phổ biến ở giới trí thức thượnglưu, cũng nhờ họ ghi chép lại mà nay ta được biết về lịch sử Thiền tông ViệtNam khá rõ

Trang 8

Dòng Thiền thứ nhất của Việt Nam do Tì-ni-đa-lưu-chi (Vinitaruci) lập

ra năm 580 ở chùa Pháp Vân (Thuận Thành, Bắc Ninh truyền được 19 thế hệ.Dòng Thiền thứ hai do Vô Ngôn Thông (quê ở Quảng Châu) lập ra năm 820 ởchùa Kiến Sơ (Phù Đồng, Bắc Ninh), truyền được 17 đời Thời Lí có nhà sưThảo Đường (người Trung Quốc), vốn là tù binh bị bắt tại Chiêm Thành,được vua Lí Thánh Tông (1025-1072) giải phóng và cho mở đạo trường tạichùa Khai Quốc (Thăng Long) năm 1069, lập nên dòng Thiền thứ ba, truyềnđược 6 đời Thời Trần có vua Trần Nhân Tông (1258-1308, ở ngôi 1278-1293), sau khi rời ngôi 6 năm đã xuất gia lên tu ở núi Yên Tử (Quảng Ninh)

và, tại đây, lập ra Thiền phái Trúc Lâm Với việc lập ra phái Trúc Lâm, TrầnNhân Tông đã thống nhất các thiền phái tồn tại trước đó và toàn bộ giáo hộiPhật giáo đời Trần về một mối

Khác với Thiền tông, Tịnh độ tông chủ trương dựa vào sự giúp đỡ từ

bên ngoài để cứu chúng sinh thoát khổ Đó là việc hướng họ đến một cõi niêtbàn cụ thể gọi là cõi Tịnh Độ (= yên tĩnh trong sáng), được hình dung nhưmột nơi Cực Lạc do đức Phật A-di-đà (Amitabha = vô lượng quang) cai quản

Đó còn là việc bản thân họ cần thường xuyên đi chùa lễ Phật, thường xuyêntụng niệm danh hiệu Phật A-di-đà Hình dung cụ thể về niết bàn là để có đích

mà hướng tới; cúng tượng phật và niệm danh Phật là để thường xuyên nhớđến những lời dạy của Người mà ráng làm theo Nhờ cách tu đơn giản nhưvậy, Tịnh Độ tông trở thành Phật giáo của giới bình dân và phổ biến khắp cõiViệt Nam: Đâu đâu ta cũng gặp người dân tụng niệm Nam mô A-di-đà Phật!(= Nguyện quy theo đức Phật A-di-đà) Tượng A-di-đà cũng thuộc loại tượngPhật lâu đời và phổ biến hơn cả (tới nay còn giữ được pho tượng A-di-đà bằng

đá cao khoảng 2,5 mét, tạc năm 1057 ở chùa Phật Tích, Bắc Ninh, phía ngoàitượng này xưa vốn dát vàng)

Mật tông là phái chủ trương sử dụng những phép tu huyền bí (bí mật) như

dùng linh phù, mật chú, ấn quyết,… để thu hút tín đồ và mau chóng đạt đến giácngộ và giải thoát Vào Việt Nam, Mật tông không tồn tại độc lập như một tôngphái riêng mà nhanh chóng hòa vào dòng tín ngưỡng dân gian với những truyềnthống cầu đồng, dùng pháp thuật, yểm bùa trị tà ma và chữa bệnh…

Sự phát triển của phật giáo tại Việt Nam trải qua các giai đoạn cơ bản sau:Giai đoạn I: Từ giữa thế kỷ thứ II đến đầu thế kỷ thứ III Có thể nói ởgiai đoạn này sự du nhập của Phật giáo như một tôn giáo, mở ra hai conđường là Thiền tông và Tịnh độ tông

Giai đoạn II : Từ thế kỷ thế VI đến thế kỷ thứ X Đây là thời kỳ Phậtgiáo đặt nền móng xây dựng và phát triển Với hai thiền phái chính là Tỳ Ni

Đa Lưu Chi và Vô Ngôn Thông đã khẳng định sự hiện hữu của Phật giáo như

Trang 9

là một tôn giáo không thể thiếu trong lòng dân tộc Phật giáo đưa con ngườihướng đến một đời sống tâm linh thánh thiền, biết phân biệt thiện, ác.

Giai đoạn III : Từ cuối thế kỷ thứ X đến cuối thế kỷXIV (tức cuối đờiTrần) Đây là thời kỳ Phật giáo phát triển cực thịnh Trong giai đoạn này cóthể xem Phật giáo như là một quốc giáo của dân tộc Việt nam Điểm đặc biệtcủa giai đoạn này là sự thống nhất của các thiền phái và lập nên các pháiThiền ở Trúc Lâm và Yên Tử

Giai đoạn IV: Từ đời Hậu Lê đến cuối thế kỷ XIX: Bấy giờ Nho giáođược coi là Quốc giáo và Phật giáo đi vào giai đoạn suy thoái

Giai đoạn V: Từ đầu thế kỷ XX nay là giai đoạn phục hưng

Đạo Phật kể từ khi truyền vào Việt Nam đến nay trải hơn 2000 năm đãdần dần đi vào tâm thức, ảnh hưởng nhiều đến cách nghĩ, cách sống của phầnđông người Việt Tuy có nhiều thịnh suy do những nguyên nhân bên trong cũngnhư bên ngoài nhưng đạo Phật từ lâu đã có vai trò quan trọng trong đời sốngngười Việt, góp phần không nhỏ trong di sản lịch sử và văn hóa của đất nướcViệt Nam Tất cả các tông phái quan trọng của đạo Phật như Thiền tông, Tịnh độtông, Mật tông, đạo Phật nguyên thuỷ đều được người dân hành trì, tu tập

Chương 2 NHỮNG ẢNH HƯỞNG CỦA VĂN HÓA PHẬT GIÁO ĐẾN MỘT SỐ LĨNH VỰC CỦA NỀN VĂN HÓA DÂN TỘC VIỆT NAM

2.1 Phật giáo đã góp phần đào tạo một tầng lớp trí thức

Tầng lớp trí thức đầu tiên mà Phật giáo đã đào tạo là những nhà sư amhiểu Nho giáo Tăng thống Ngô Chân Lưu hiệu là Khuông Việt Đại sư là mộtnhân vật tiêu biểu Khi người Hán đến cai trị nước ta thì họ mang chữ Hánđến Nhưng khi đến vùng đất này, người Hán chủ trương không mở trườngđào tạo trí thức người Việt mà chủ yếu đưa người Hán sang làm quan cai trị

Do vậy, suốt từ năm 111 trước Công nguyên cho đến thời kì đầu Công nguyênchỉ có một Trương Trọng rồi mãi mới có vài người như Lý Cầm, Lý Tiếnđược học hành và đấu tranh để làm quan Một số khác như Tích Quang,Nhâm Diên, Sĩ Nhiếp tuy có dạy học nhưng đều không có dấu hiệu phổ cậpchữ Hán, không thấy xuất hiện một giai tầng trí thức Việt trước thế kỉ VII

Người Việt đầu tiên là trí thức Phật giáo, và để lại tên tuổi là PhápHiền (? - 626) Phật giáo truyền vào vùng Dâu cuối thế kỉ II, hình thành trungtâm Dâu mà Pháp Hiền là nhà sư Việt đầu tiên lưu tên trong sơn môn Vấn đềđặt ra là người ta truyền bá và phát triển đạo Phật bằng ngôn ngữ và văn tự gìtrong thời kì đầu? Nhà sư Ấn Độ Tì Ni Đa Lưu Chi từ Trung Quốc đến vùngDâu năm 580 trụ trì ở đó, dịch quyển kinh Tổng Trì Ông ta đến Trung Quốcnăm 562 (hay 574), gặp lúc Phật giáo đang bị đàn áp, Tăng Xán đang trốntránh nên khuyên ông xuống phương Nam Ông đến chùa Chế Chí ở lại 6 năm

Trang 10

dịch hai bộ kinh Như vậy, ông đã học được văn tự Hán, cho nên, khi đếnDâu, ông đã dùng ngôn ngữ và văn tự đó để truyền bá Phật giáo Thế kỉ VII -VIII, tăng sĩ Việt Nam có nhiều người có tri thức uyên thâm về Phật giáo.Nhiều người giỏi cả Phạn ngữ và Hán ngữ, đã tham gia chú giải kinh Phật.Như trước đó, thế kỉ III, tư liệu để lại cho biết về Đạo Thanh (?) một ngườiViệt giúp nhà sư Ấn Độ dịch Pháp Hoa Tam Muội Kinh ở nước ta khoảngnăm 255 - 2561.

Tuy nhiên, do chính sách nô dịch hà khắc và việc hạn chế đào tạo ngườiViệt trở thành trí thức, chính quyền đô hộ Hán - Đường đã gián tiếp hun đúccác thiền sư Việt Nam ý thức về một nền độc lập dân tộc Những nhà sư Phậtgiáo đã là tầng lớp trí thức trụ cột cho những chính quyền độc lập đầu tiênnhư các nhà Tiền Lê - Lý - Trần Trong việc kiến lập và xây dựng các vươngtriều phong kiến, nhân dân hưởng cảnh thái bình an lạc, chúng ta không thểquên những vị công thần đó Một trong những vị công thần đã tạo nên ánhhào quang rực rỡ của triều Lý nước ta là thiền sư Vạn Hạnh Lê Đại Hành khilên ngôi vua đã mời thiền sư Pháp Thuận và thiền sư Vạn Hạnh của thiền phái

Tì Ni Đà Lưu Chi vào triều đình làm cố vấn chính trị Đặc biệt hơn hết, ngàiVạn Hạnh là người đã có công đưa Lý Công Uẩn lên ngôi, trở thành vị vuađầu tiên của thời Lý Các tư liệu dù đã huyền thoại hóa nhưng vẫn thấy LýCông Uẩn xuất thân, đào tạo trong môi trường Phật giáo và được giới Phậtgiáo đưa lên ngôi báu

Thiền sư Đỗ Pháp Thuận (924 - 990) - Trong đời Tiền Lê, vua Lê ĐạiHành thường mời sư Pháp Thuận vào triều để trao đổi ý kiến về quốc sự, nhưchính trị và ngoại giao, đặc biệt là vua còn nhờ thiền sư soạn thảo các vănkiện ngoại giao

Thiền sư Khuông Việt (933- 1011) - Sư tên là Ngô Chân Lưu, quê ởhương Cát Lị, huyện Thường Lạc, tu ở chùa Phổ Đà2 (nay là chùa Bổ Đàthuộc tỉnh Bắc Giang) Sư được vua Đinh Tiên Hoàng ban danh hiệu KhuôngViệt vào năm 971 hàm ý nghĩa tích cực: giúp đỡ nước Việt Ngoài ra, ôngđược phong chức Tăng thống, chính thức là giai cấp Tăng lữ hoạt động trongtriều chính, ổn định xã hội bằng đường lối Phật giáo Ông giúp vua Lê ĐạiHành với vai trò cố vấn ngoại giao trong vấn đề bang giao với nước Tống

Thiền sư Viên Thông (1080 - 1151) - Được phong Quốc sư và hai lầnđược trao toàn quyền lãnh đạo việc nước, ông đã dứt khoát từ chối Tuynhiên, vào năm 1130, vua Lý Nhân Tông mời ông vào cung điện để hỏi việctrị loạn, mất, còn của đất nước, ông đã giúp vua kế sách để dẹp loạn3

Nguyễn Minh Không (1066-1141) - Vào năm 1130, vua Lý Thần Tôngmắc bệnh kỳ quái, tâm hồn rối loạn, miệng thường gầm thét, và thân thể mọc

Trang 11

đầy lông lá như lông cọp Sau đó, ông trị bệnh vua bằng cách châm kim vào cáchuyệt, nhà vua bình phục như xưa, tính tình trở nên hiền lành, tin vào đạo Phật,

và phong cho ông làm Quốc sư Cũng từ đó, ông đã trở thành một “Lý triềuQuốc sư” cố vấn cho vua và quần thần trong mọi việc lớn nhỏ của đất nước

Trên đây là một số điển hình cụ thể về các tăng sĩ trí thức của các triềuđại Đinh, Lê, Lý Tiếc rằng các sử gia phong kiến chỉ nói đến vua quan quítộc ở triều đại, nên sách sử không ghi lại các sự kiện chi tiết về cuộc đời củacác tăng sĩ trí thức, mà chỉ nêu tên và chức vụ của các tăng sĩ trí thức thamchính bằng cách được vua vời hỏi việc đạo việc nước mà phong làm Quốc sư,

cố vấn như: Viên Chiếu, Mãn Giác, Chân Không, Giác Hải, Huệ Sinh, SùngPhạm, Thông Biện…

Chúng tôi không kể đến hành trạng của các tăng sĩ, vì lẽ thời Trần, Phậtgiáo đã đi vào đỉnh cao nhất và đi sâu vào chính sự qua những con người cụthể lãnh đạo triều đại, các vị vua nhà Trần đã là tăng sĩ hay đang trị vì cũng đãuyên thâm Phật học Các vua luôn được sự cố vấn của các tăng sĩ trí thứctrong mọi việc triều chính an dân như: Trần Thái Tông (1218 - 1277), có TrúcLâm Quốc sư, Đại Đăng Quốc sư, Tuệ Trung Thượng sĩ, Trần Thánh Tông,Trần Nhân Tông, Trần Anh Tông, Trần Minh Tông, có Thiền sư HuyềnQuang, Thiền sư Pháp Hoa, Bảo Pháp Quốc sư, Tông Cảnh Quốc sư, LãmSơn Quốc sư

Hành trạng của các vị vua tiêu biểu trên đây mà sử sách có chép lại đầyđủ4 chứng minh rằng Phật giáo đời Trần, tức Phật giáo Trúc Lâm, một Thiềnphái đặc biệt phát triển do vua Trần Nhân Tông lãnh đạo trở thành một hệthống tư tưởng triết lý Phật giáo gắn chặt vào dân tộc Phật giáo đã góp phầnđào tạo ra một đội ngũ trí thức lúc bấy giờ Đạo và đời không còn ranh giới,như ở triều đại nhà Lý, lãnh đạo Giáo hội có lúc là Thiền sư, có lúc là các vua

đã lên làm Thái Thượng hoàng Đặc biệt đời Trần, các vua hầu như truyềnngôi lại rất sớm để bước vào lĩnh vực tăng sĩ tuy vẫn giữ vai trò chủ đạo trongtriều chính bằng ngôi Thái Thượng hoàng Như vua Trần Thái Tông làm TháiThượng hoàng 20 năm Đặc biệt vào thời Lý - Trần, những vị vua khai quốcđều là những Phật tử, có vị cởi bỏ long bào, xuất gia trở thành tu sĩ như vuaTrần Nhân Tông Vua Trần Nhân Tông, vị vua từng đánh bại cuộc xâm lăngnhà Nguyên, xuất gia năm 1299, là vị Sư tổ thiền phái Trúc Lâm Yên Tử; ônglấy đỉnh Yên Tử làm nơi tu hành Đạo Phật là tôn giáo thịnh đạt nhất trong xãhội thời Lý - Trần, được coi như quốc giáo Thời Lý - Trần còn có rất nhiềunhà sư trí thức nổi tiếng trong cả nước, có uy tín và địa vị chính trị - xã hội

Có thể kể đến các nhà sư Vạn Hạnh, Mãn Giác, Viên Thông, Đạo Hạnh, MinhKhông, Giác Hải, Pháp Loa, Huyền Quang

Trang 12

Qua các triều đại Đinh, Lê, Lý và Trần, đó là giai đoạn đánh dấu nền tựchủ độc lập đầu tiên của lịch sử dân tộc, cũng là giai đoạn mà Phật giáo pháthuy mọi tác dụng trong đời sống xã hội - chính trị của các thời đại Phật giáo

đã cho ra đời một đội ngũ tăng sĩ trí thức có nhiều công lao đóng góp tạo nênmột xã hội ổn định Xét theo mối tương quan nhân quả, thì sự ổn định, hưngthịnh, bắt nguồn từ ý thức hệ nội tâm Tâm an thì ngoại cảnh sáng, dựa trêntriết lý đạo Phật chi phối Từ giai đoạn đầu trợ giúp quốc gia bằng tài trí đốingoại trong bang giao, đến đỉnh cao là hội nhập vào xã hội và chuyển hóa, cácnhà vua áp dụng việc trị nước trên tinh thần Phật giáo Như vậy, Phật giáo đãđào tạo ra một tầng lớp trí thức mang tư tưởng yêu nước, ủng hộ cho nền độclập của dân tộc và ủng hộ cho nhà nước phong kiến Đạo Phật nói chung vàgiới Tăng sĩ trí thức đã đóng vai trò lớn lao ở mọi mặt cho giai đoạn lịch sửvàng son nhất của dân tộc

2.2 Phật giáo đem đến một loại văn tự mới góp phần bảo tồn ngôn ngữ Việt, Chăm, Khmer.

Như trên đã đề cập, các nhà sư Ấn Độ, Trung Quốc đến Việt Nam vàdịch kinh sách bằng văn tự Hán, văn tự đó được dùng để truyền bá Phật giáo.Một vấn đề được đặt ra là trước thế kỉ VI, Phật giáo hoạt động ở trung tâmDâu bằng ngôn ngữ và văn tự nào?

Chúng ta xem xét miền Trung và miền Nam nước Việt, vào thời điểm

đó nơi này là các vương quốc Champa, Phù Nam Các thương nhân và nhàtruyền giáo Ấn Độ đều đã đến đây, có thể cùng một lúc hay sớm hơn thời gian

họ đến Dâu Những nhà truyền giáo đó đã dùng ngôn ngữ và văn tự nào đểtruyền giáo? Câu trả lời rõ ràng và cụ thể là: Văn tự Sanskrit Bi kí và minhvăn thuộc niên đại khoảng đầu Công nguyên đã được phát hiện trước năm

1945 và hiện nay vẫn còn đang được phát hiện chứng minh điều đó một cáchhùng hồn Như vậy là do người truyền giáo Ấn Độ không gặp ở Nam Đại Việtlúc bấy giờ một văn tự nào sẵn có để họ sử dụng, vì vậy họ sử dụng văn tựsanscrit để truyền giáo Còn ngôn ngữ thì đã có sẵn cho nên chẳng bao lâu sauthì đã xuất hiện chữ Chăm, chữ Khmer trên cơ sở chữ Sanskrit

Còn ở phía Bắc thì cho đến nay không tìm thấy dấu vết chữ sanscritthời đó Để giải thích hiện tượng này chúng ta nhìn lại lên phía Bắc Khinhững nhà truyền giáo Tây Vực hay Ấn Độ đến kinh đô Trung Quốc thời Hánthì họ đều dịch kinh bằng cách này hay cách khác Hoặc họ đọc các kinh bảnqua người Trung Quốc biết ngoại ngữ phiên dịch, hoặc tự tay họ dịch sau khihọc tiếng và chữ Trung Quốc Cho nên, ở Trung Quốc không hình thành mộtvăn tự dạng Sanskrit, mà trái lại, hình thành một dạng văn tự Sanskrit chữHán, tức là chữ Sanskrit vốn là Linéaire, tức viết hàng ngang thì chuyển thành

Trang 13

chữ ô vuông nghĩa là bị cắt ra thành đoạn hình thành chữ Phạn - Hán mà ngàynay chúng ta vẫn thấy đề trên cổng chùa hay khắc trên chuông và ghi trongkinh chữ Hán thường là ở phần chú (thần chú).

Như vậy, nếu Phật giáo Ấn Độ truyền đến một khu vực chưa có văn tựthì văn tự Ấn Độ sẽ địa phương hóa sản sinh ra một văn tự địa phương thuộc

hệ văn tự Ấn Độ Nếu đến nơi đã có văn tự thì nó biến dạng thành một chủnglai mà tính trội thuộc về văn tự bản địa

Nói một cách cụ thể hơn, Nam Đại Việt đã thừa hưởng của Bà la môngiáo loại văn tự mà họ chưa có, nghĩa là Bà la môn giáo, Phật giáo đem đếncho cư dân ở đó một văn tự Đó là một cống hiến của Bà la môn giáo và Phậtgiáo đối với miền Nam nước ta Còn Bắc Đại Việt thì người truyền giáo Ấn

Độ đã gặp ở đây một văn tự ngoại quốc nhưng quan phương, cho nên họ dùngvăn tự đó - văn tự Hán Bấy giờ, sự truyền bá Phật giáo trong cư dân vốnkhông phổ biến chữ Hán đã đưa đến sự hình thành chữ Nôm Chúng tôi chorằng, chữ Nôm đã hình thành trước thế kỉ V - VI Bằng chứng là sự tồn tại hainhóm thuật ngữ Phật giáo đồng nghĩa: Bụt - Chùa - Thầy và Phật - Tự - Sư.Nhóm thứ nhất là chữ Nôm Nhóm thứ hai là chữ Hán đọc theo âm Việt, hiệnnay quen gọi là âm Hán - Việt chứ không phải là âm Hán của chữ Việt ChữNôm xuất hiện trong bộ thuật ngữ Phật giáo này sẽ không bao giờ sản sinh vàtồn tại được nếu như bộ thuật ngữ Việt - Hán đã được dùng từ đầu, nghĩa là từkhi bắt đầu truyền bá Phật giáo Thời kì trước mới hình thành và tồn tại cácthuật ngữ Phật giáo Ấn Độ Bụt - Chùa - Thầy được hình thành như vậy Thời

kì sau, bộ thuật ngữ Phật giáo Trung Quốc đọc theo âm Việt Hán là Phật

-Tự - Sư mới phổ biến Nhưng đến nay, dân gian vẫn quen gọi thầy chùa hơn

là sư ông Chính Phật giáo đã mở đầu cho sự hình thành chữ Nôm ở Bắc ĐạiViệt, chữ Chăm, chữ Khmer ở Nam Đại Việt Ba loại văn tự này giúp bảo tồnngôn ngữ Việt, Chăm, Khmer

2.3 Phật giáo đưa đến một nền kiến trúc chùa, tháp phong phú

Một đóng góp khác của Phật giáo là về kiến trúc Kiến trúc là sản phẩmnhân tạo cho nên cũng chính là văn hóa và sự phát triển của nó đánh dấu bướctiến của văn minh Khởi thủy nơi trú ẩn đầu tiên của con người là ngôi nhà tựnhiên Đó chính là những hang động, những vòm đá Tuy nhiên, "ngôi nhà tựnhiên" này không thể che chở an toàn cho con người với bao nhiêu thứ hiểmhọa chết người Nào mưa gió, sấm sét, nào hổ báo, rắn rết tất cả đều lànhững mối nguy hiểm đối với cuộc sống của con người Bản thân con người

là một miếng mồi ngon đối với tất cả những ác thú trong tự nhiên Con người

là một con mồi yếu đuối nhất, được trang bị vật chất kém nhất nhưng lại làcon mồi có trí khôn

Ngày đăng: 10/08/2022, 05:56

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Đại Việt sử ký toàn thư, bản kỷ, Q.I, tr.7b Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại Việt sử ký toàn thư
6. Nguyễn Tài Thư (Chủ biên, 1998), Lịch sử Phật giáo Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, tr.71 - 92 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Phật giáo Việt Nam
Nhà XB: Nxb Khoahọc xã hội
1. Nguyễn Quang Ngọc (Chủ biên), Tiến trình lịch sử Việt Nam, Nxb Giáo dục. Hà Nội, 2000, tr. 97 - 98 Khác
3. Lịch sử Phật giáo Việt Nam, Viện Triết học, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1991, tr.161 Khác
4. Nguyễn Lang, Việt Nam Phật giáo sử luận, Nxb Văn học, 1994, tập I, tr.233 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w