CÂU HỎI Câu 1 Quy luật mâu thuẫn của phép biện chứng duy vật? Ý nghĩa phương pháp luận trong nhận thức và hoạt động thực tiễn? Câu 2 Trình bày nội dung quy luật phủ định của phủ định và ý nghĩa phương.
Trang 1Câu 6 Trình bày nội dung sứ mệnh lịch sử toàn thế giới của giai cấp công nhân, rút ra ý nghĩa cơ bản trong thời đại ngày nay?
NỘI DUNG
Muốn hiểu rõ nội dung quy luật trước hết ta phải biết khái niệm mâu thuẫn làgì? Mâu thuẫn là phạm trù dùng để chỉ các mặt đối lập vừa thống nhất vừa đấu
Trang 2tranh xâm nhập, chuyển hoá lẫn nhau tạo nên sự vận động, phát triển của sự vậthiện tượng.
Quy luật mâu thuẫn được khái quát như sau: Mọi sự vật và hiện tượng đềuchứa đựng các mặt đối lập cấu thành những mâu thuẫn nội tại; sự thống nhất vàđấu tranh của các mặt đối lập là nguồn gốc, động lực của sự vận động và phát triểncủa các sự vật, hiện tượng trong thế giới Hiểu quy luật trên những nội dung sau:
- Thứ nhất, mọi sự vật, hiện tượng đều là sự thống nhất của các mặt đối lập + Thống nhất của các mặt đối lập là sự liên hệ, quy định, nương tựa vàonhau, đòi hỏi có nhau của các mặt đối lập cùng tồn tại trong một sự vật, hiệntượng Ví dụ : Hít vào và thở ra trong một quá trình hô hấp
+ Biểu hiện:
* Thống nhất của các mặt đối lập là trạng thái đặc biệt của mâu thuẫn Nghĩalà: Trong mâu thuẫn, các mặt đối lập có sự đồng nhất, sự phù hợp với nhau (phùhợp từng phần), sự tác động ngang nhau; tạo nên một chỉnh thể thống nhất và duynhất của sự vật, hiện tượng Không có sự thống nhất của các mặt đối lập thì không
có sự tồn tại của sự vật, hiện tượng Ví dụ: Giai cấp tư sản và giai cấp vô sản trong
xã hội tư bản chủ nghĩa
* Thống nhất của các mặt đối lập chỉ mang tính tương đối, tạm thời, thoángqua, có điều kiện Nghĩa là: Sự thống nhất của các mặt đối lập diễn ra trong giớihạn của độ, khi mâu thuẫn còn đang triển khai, phát triển và chưa được giải quyết(sự vật còn là nó) Chỉ đến khi mâu thuẫn được giải quyết, sự thống nhất hiện tại bịphá vỡ, sự thống nhất mới ra đời với các mặt đối lập mới của nó Cứ như vậy, sựtồn tại và phát triển của mọi sự vật, hiện tượng chính là đi từ sự thống nhất này đến
sự thống nhất khác cao hơn của các mặt đối lập
* Trong sự thống nhất, các mặt đối lập luôn quy định, nương tựa và xâmnhập lẫn nhau, đòi hỏi có nhau Nghĩa là: Trong sự thống nhất, mặt đối lập này lấymặt đối lập kia làm điều kiện, tiền đề để tồn tại; không có mặt đối lập này thì
Trang 3không có mặt đối lập kia và ngược lại Đồng thời, do các mặt đối lập luôn cókhuynh hướng trái ngược nhau, nên luôn xâm nhập vào nhau.
Ví dụ: Giai cấp bóc lột và giai cấp bị bóc lột trong xã hội có giai cấp Mộtmặt, giai cấp bóc lột không thể tồn tại nếu không có giai cấp bị bóc lột Một mặt,
do không có tư liệu sản xuất, nên để tồn tại, giai cấp bị bóc lột buộc phải làm thuêcho giai cấp bóc lột để kiếm sống Như vậy, sự thống nhất của các mặt đối lậpchính là sự cùng tồn tại của các yếu tố, các thuộc tính của sự vật, hiện tượng trongcùng một bản chất xác định Cũng do sự cùng tồn tại ấy, các mặt đối lập luôn diễn
ra sự đấu tranh với nhau
- Thứ hai, quá trình vận động và phát triển của mọi sự vật, hiện tượng đềubắt nguồn từ sự đấu tranh của các mặt đối lập
+ Đấu tranh của các mặt đối lập là quá trình tác động qua lại theo xu hướngbài trừ và phủ định lẫn nhau giữa các mặt đối lập trong một sự vật, hiện tượng Vídụ: Đấu tranh của tư tưởng tích cực với tư tưởng tiêu cực trong một tập thể quânnhân
+ Biểu hiện:
* Đấu tranh của các mặt đối lập tạo nên sự vận động và chuyển hóa khôngngừng của các mặt đối lập Nghĩa là: Trong quá trình đấu tranh, các mặt đối lậpthường xuyên tác động, xâm nhập vào nhau, bài trừ, phủ định lẫn nhau dẫn đến
sự chuyển hóa Cứ các mặt đối lập này mất đi, các mặt đối lập mới lại ra đời, lại có
sự đấu tranh mới và sự chuyển hóa mới của các mặt đối lập Cứ như vậy, quá trìnhnày diễn ra và lặp đi lặp lại cùng với sự tồn tại và phát triển của sự vật, hiện tượng
Ví dụ: Trong những năm đấu tranh chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ của dântộc ta (Một bên là dân tộc ta >< một bên là thực dân Pháp, đế quốc Mỹ Sau 40năm trường kỳ kháng chiến, dân tộc ta đã giành thắng lợi hoàn toàn, cả nước đilên xây dựng chủ nghĩa xã hội Trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta
Trang 4hiện nay, mặt đối lập giữa yêu cầu nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ngày càngcao với điều kiện, khả năng hiện có của nước ta lại nảy sinh, đòi hỏi toàn Đảng,toàn quân, toàn dân ta tiếp tục phải giải quyết
Sự chuyển hóa của các mặt đối lập có thể diễn ra theo 2 dạng:
Dạng thứ nhất: Giữa các mặt đối lập có sự chuyển hóa lẫn nhau Tức mặtđối lập này có thể chuyển hóa thành mặt đối lập khác và ngược lại Ví dụ: Đấutranh tư tưởng của đại tướng Võ Nguyên Giáp trong quá trình đưa ra quyết địnhchuyển hướng chiến lược từ “Đánh nhanh thắng nhanh” sang “Đánh chắc tiếnchắc”
Dạng thứ hai: Cả 2 mặt đối lập đều chuyển hóa thành cái khác Ví dụ: Quátrình đấu tranh giữa giai cấp nô lệ chống giai cấp chủ nô dẫn đến cả 2 giai cấp này
đã chuyển hóa lên thành 2 giai cấp khác trong xã hội phong kiến: Giai cấp nôngdân và giai cấp địa chủ, phong kiến
* Đấu tranh của các mặt đối lập là tuyệt đối Nghĩa là: Đấu tranh của cácmặt đối lập diễn ra thường xuyên, liên tục trong suốt quá trình tồn tại, phát triểncủa sự vật, hiện tượng kể cả khi sự chuyển hóa đang diễn ra; không ở đâu vàkhông lúc nào các mặt đối lập ngừng đấu tranh Ví dụ: Trong xã hội có đối khánggiai cấp Cuộc đấu tranh giữa giai cấp bị thống trị, bị bóc lột với giai cấp thống trị,bóc lột chỉ kết thúc khi xã hội không còn đối kháng giai cấp
* Đấu tranh của các mặt đối lập là nguồn gốc, động lực giải quyết mâu thuẫnlàm cho mọi sự vật, hiện tượng vận động và phát triển không ngừng Nghĩa là:Trong quá trình đấu tranh, các mặt đối lập đều có sự biến đổi dần về lượng, đếnmột mức độ nhất định tạo ra sự chuyển hóa của các mặt đối lập đó, làm cho sựthống nhất của các mặt đối lập ở mâu thuẫn cũ bị phá vỡ, sự thống nhất của cácmặt đối lập ở mâu thuẫn mới ra đời Mà sự thống nhất của các mặt đối lập ở mâuthuẫn mới ra đời chính là biểu hiện sự vật, hiện tượng đã chuyển hóa thành cái
Trang 5khác Do đó, đấu tranh của các mặt đối lập là nguồn gốc, động lực sự vận động,phát triển của mọi sự vật, hiện tượng trong thế giới Ví dụ: Mâu thuẫn giữa giai cấp
vô sản với giai cấp tư sản đã và đang được giải quyết thông qua cuộc cách mạng vôsản, làm cho xã hội cộng sản chủ nghĩa (giai đoạn đầu là xã hội xã hội chủ nghĩa)
đã ra đời và đang dần thay thế xã hội cũ - xã hội tư bản chủ nghĩa
Như vậy, đấu tranh của các mặt đối lập là quá trình diễn ra thường xuyên,liên tục, là tuyệt đối, là phương thức giải quyết mâu thuẫn và khi mâu thuẫn đượcgiải quyết thì sự vật, hiện tượng vận động, phát triển Tuy nhiên, quá trình giảiquyết mâu thuẫn vô cùng khó khăn, phức tạp
- Thứ ba, mối quan hệ giữa thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập.+ Thống nhất là điều kiện, địa bàn cho đấu tranh, bao hàm đấu tranh vàkhông có thống nhất thuần tuý tách rời đấu tranh Nghĩa là: Đấu tranh của các mặtđối lập chỉ có thể diễn ra trong sự thống thống nhất Không có sự thống nhất thìkhông có quá trình đấu tranh của các mặt đối lập Thực chất nói đến sự thống nhấtcủa các mặt đối lập là đã nói đến sự đấu tranh của chính các mặt đối lập đó trongmột mâu thuẫn nhất định
+ Đấu tranh làm phá vỡ sự thống nhất cũ, thiết lập sự thống nhất mới caohơn, phù hợp với điều kiện hoàn cảnh mới, không có sự đấu tranh chung chungtách rời thống nhất Nghĩa là: Để có sự thống nhất của các mặt đối lập phù hợp vớihiện thực khách quan phải có quá trình đấu tranh làm cho sự thống nhất cũ của cácmặt đối lập cũ không còn phù hợp mất đi, tạo điều kiện cho sự thống nhất mới rađời Ví dụ: Từ những năm 1930 Đảng ta đã chỉ rõ, hiện tại nước ta đang tồn tại haimâu thuẫn cơ bản (nói cách khác, hai sự thống nhất của các mặt đối lập cơ bản):Một là giữa nhân dân ta và đế quốc Pháp; hai là giữa nông dân và địa chủ phongkiến Sự cùng tồn tại của các mặt đối lập đó chỉ bị phá vỡ khi dân tộc ta tiến hànhđấu tranh cách mạng Với thắng lợi của cách mạng tháng 8 năm 1945 và đỉnh cao
là chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ, hai sự thống đó mới bị phã vỡ
Trang 6Tóm lại: Bất kỳ sự vật hiện tượng nào cũng được tạo bởi các mặt đối lập, cứhai mặt đối lập thống nhất biện chứng với nhau trong một bản chất xác định tạothành một mâu thuẫn biện chứng Quá trình đấu tranh của các mặt đối lập làm cho
sự thống nhất cũ mất đi, sự thống nhất mới xuất hiện, mâu thuẫn cũ mất đi, mâuthuẫn mới ra đời, sự vật cũ mất đi, sự vật mới ra đời Nói cách khác, sự thống nhất
và đấu tranh giữa các mặt đối lập là nguồn gốc, động lực sự vận động và phát triểncủa mọi sự vật hiện tượng trong thế giới
Ý nghĩa phương pháp luận trong nhận thức và hoạt động thực tiễn
Vì mâu thuẫn có tính khách quan, tính phổ biến và là nguồn gốc, động lựccủa sự vận động, phát triển, do vậy trong nhận thức và thực tiễn cần phải tôn trọngmâu thuẫn, phát hiện mâu thuẫn, phân tích đầy đủ các mặt đối lập, nắm được bảnchất, nguồn gốc, khuynh hướng của sự vận động và phát triển Lênin cho rằng: “Sựphân đôi của cái thống nhất và sự nhận thức các bộ phận mâu thuẫn của nó đó làthực chất của phép biện chứng”
Vì mâu thuẫn có tính đa dạng, phong phú, do vậy trong việc nhận thức vàgiải quyết mâu thuẫn cần phải có quan điểm lịch sử cụ thể tức là biết phân tích cụthể từng loại mâu thuẫn và phương pháp giải quyết phù hợp Trong quá trình hoạtđộng nhận thức và thực tiễn, cần phân biệt đúng vai trò, vị trí của các loại mâuthuẫn trong từng hoàn cảnh, điều kiện nhất định; những đặc điểm của mâu thuẫn
đó để tìm ra phương pháp giải quyết từng loại mâu thuẫn một cách đúng đắn nhất
2 Trình bày nội dung quy luật phủ định của phủ định và ý nghĩa phương pháp khi nghiên cứu?
MỞ BÀI:
Quy luật là những mối liên hệ khách quan, bản chất, tất nhiên, phổ biến vàlặp lại giữa các mặt, các yếu tố, các thuộc tính bên trong mỗi một sự vật, hay giữacác sự vật, hiện tượng với nhau Việc nắm vững các nội dung cơ bản quy luật củaphép biện chứng duy vật sẽ cho chúng ta nắm được nguồn gốc, động lực, trạngthái, cách thức, khuynh hướng, con đường của sự vận động phát triển của sự vật
Trang 7hiện tượng trong thế giới Trong đó Quy luật phủ định của phủ định chỉ ra conđường, khuynh hướng của sự vận động, phát triển của sự vật.
NỘI DUNG:
Muốn hiểu rõ nội dung quy luật phủ định của phủ định ta phải nắm rõ cáckhái niệm sau:
- Khái nhiệm phủ định: Sự vật, hiện tượng sinh ra, tồn tại, phát triển rồi mất
đi, được thay thế bằng sự vật, hiện tượng khác; thay thế hình thái tồn tại này bằnghình thái tồn tại khác của cùng một sự vật trong quá trình vận động phát triển của
- Một là, quá trình phát triển của mọi sự vật, hiện tượng luôn diễn ra theochu kỳ từ khẳng định đến phủ định và từ phủ định đến phủ định cái phủ định
+ Khái niệm chu kỳ của sự phát triển: Chu kỳ của sự phát triển là sự lặp đilặp lại một cách tương đối của các mặt, các yếu tố, các thuộc tính trong quá trìnhphát triển của một sự vật, hiện tượng nào đó Ví dụ: Chu kỳ phát triển của xã hộiloài người qua các thời kỳ lịch sử Sự lặp đi lặp lại các yếu tố kinh tế, văn hóa, xãhội
+ Mỗi chu kỳ của quá trình phát triển bao gồm 2 lần phủ định cơ bản vànhững lần phủ định không cơ bản
* Phủ định cơ bản lần thứ nhất (phủ định cái khẳng định): Nghĩa là: Khi kếtthúc phủ định cơ bản lần 1, các mặt, các yếu tố của sự vật, hiện tượng ban đầuđược biến đổi thành các mặt, các yếu tố đối lập với nó (Giai đoạn này còn gọi làkhâu trung gian trong sự phát triển)
* Phủ định cơ bản lần thứ hai (phủ định cái phủ định): Nghĩa là: Sau khi kếtthúc phủ định cơ bản lần 1, sự vật, hiện tượng tiếp tục vận động, phủ định cơ bản
Trang 8lần 2 diễn ra Khi kết thúc phủ định cơ bản lần 2, các mặt, các yếu tố mới đối lậpvới khâu trung gian và trở thành các mặt, các yếu tố giống như (lặp lại) các yếu tố,các mặt của sự vật cũ ban đầu (cái khẳng định), nhưng cao hơn, tiến bộ hơn
* Phủ định không cơ bản: Số lần phủ định không cơ bản trong một chu kỳ
có thể nhiều, ít khác nhau tuỳ thuộc tính chất, kết cấu của mỗi sự vật, hiện tượng
Ví dụ: Lịch sử phát triển của xã hội loài người
Như vậy, mỗi chu kỳ phát triển của sự vật thường trải qua hai lần phủ định
cơ bản với ba hình thái tồn tại cơ bản của nó, trong đó hình thái cuối mỗi chu kỳlặp lại những đặc trưng cơ bản của hình thái ban đầu chu kỳ đó nhưng trên cơ sởcao hơn về trình độ phát triển nhờ kế thừa được những nhân tố tích cực và loại bỏđược những nhân tố tiêu cực qua hai lần phủ định
+ Các chu kỳ phủ định biện chứng: Nghĩa là: Quá trình phát triển của 1 sựvật, hiện tượng không phải chỉ có 1chu kỳ, mà có vô số các chu kỳ phủ định biệnchứng, mỗi chu kỳ đó tạo thành một vòng khâu của sự phát triển Nên quá trìnhphát triển của mọi sự vật, hiện tượng là chuỗi những vòng khâu liên tiếp Ví dụ:Quá trình phát triển của học viên trong khóa học
- Hai là, Con đường tiến lên trong quá trình phát triển là quanh co, phức tạptheo hình xoáy ốc và cái mới là cái tất thắng
+ Vì sao con đường phát triển diễn ra quanh co, phức tạp theo hình xoáy ốc?
Vì nguồn gốc, động lực của sự phát triển là quá trình đấu tranh giữa các mặt đốilập, giữa cái tiến bộ và cái lạc hậu, giữa cái mới và cái cũ Trong khi đó, cái mới rađời còn non yếu, vừa phải chiến thắng cái cũ, vừa phải tự thích nghi với điều kiệnmới để tồn tại và phát triển; cái cũ vẫn còn khả năng tồn tại, còn có những mặt,những yếu tố gây cản trở sự ra đời và phát triển của cái mới Vì sự vật, hiện tượngthường có tính chất và kết cấu phức tạp Nên, sự phát triển không thể diễn ra theomột đường thẳng mà bao giờ cũng quanh co, phức tạp theo đường “xoáy ốc” Vídụ: Sự ra đời và phát triển của chủ nghĩa cộng sản, giai đoạn đầu là chủ nghĩa xãhội Từ năm 1991, sự sụp đổ của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và các nước
Trang 9Đông âu đã làm cho chủ nghĩa xã hội không còn là một hệ thống.
Khuynh hướng phát triển theo đường xoáy ốc thể hiện tính chất biện chứngcủa sự phát triển, đó là tính kế thừa, tính lặp lại và tính tiến lên Mỗi vòng mới củađường xoáy ốc phản ánh quá trình phát triển vô tận từ thấp đến cao của sự vật, hiệntượng trong thế giới Trong quá trình phát triển của sự vật, phủ định biện chứng đãđóng vai trò là những “vòng khâu” của quá trình đó
+ sự vận động phát triển của sự vật được đánh dấu bằng sự ra đời cáimới.Cái mới là những mặt, những yếu tố, những nhân tố và sự vật, hiện tượng mớihợp quy luật, phù hợp điều kiện mới và được ra đời từ trong lòng cái cũ.Ví dụ: Sự
ra đời và phát triển của chủ nghĩa duy vật biện chứng (thế kỷ XIX) trong lịch sửtriết học nhân loại
* Cái mới ra đời là cái tất thắng, vì: Cái mới được hình thành trong lòng cái
cũ, được tích lũy, kế thừa những tinh hoa, những yếu tố tích cực trong lòng cái cũ.Cái mới ra đời là cái hợp quy luật, là cái tiến bộ hơn cái cũ đã lạc hậu Ví dụ: Sự rađời và phát triển của phép biện chứng duy vật trong lịch sử phát triển của triết họcnhân loại
Tóm lại, nội dung cơ bản của quy luật phủ định của phủ định trong phépbiện chứng duy vật phản ánh mối quan hệ biện chứng giữa cái phủ định và cáikhẳng định trong quá trình phát triển của sự vật Phủ định biện chứng là điều kiệncho sự phát triển, cái mới ra đời là kết quả của sự kế thừa những nội dung tích cực
từ trong sự vật cũ, phát huy nó trong sự vật mới và tạo nên tính chu kỳ của sự pháttriển Nhận xét về vai trò của quy luật này, Ăngghen đã viết: “phủ định cái phủđịnh là gì? Là một quy luật vô cùng phổ biến và chính vì vậy mà có một tầm quantrọng và có tác dụng vô cùng to lớn về sự phát triển của tự nhiên, của lịch sử vàcủa tư duy”
Ý nghĩa phương pháp luận
Quy luật phủ định của phủ định là cơ sở để chúng ta nhận thức một cáchđúng đắn về xu hướng vận động, phát triển của sự vật, hiện tượng Quá trình đókhông diễn ra theo đường thẳng mà là con đường quanh co, phức tạp, gồm nhiều
Trang 10giai đoạn, nhiều quá trình khác nhau Tuy nhiên, tính đa dạng và phức tạp của quátrình phát triển chỉ là sự biểu hiện của khuynh hướng chung, khuynh hướng tiếnlên theo quy luật Cần phải nắm được đặc điểm, bản chất các mối liên hệ của sựvật, hiện tượng để tác động tới sự phát triển, phù hợp với yêu cầu hoạt động nhậnthức của thế giới quan khoa học và nhân sinh quan cách mạng trong mọi hoạt độngcủa chúng ta và thực tiễn Khẳng định niềm tin vào xu hướng tất yếu là phát triểntiến lên, đó là biểu hiện của thế giới quan khoa học và nhân sinh quan cách mạngtrong mọi hoạt động của chúng ta.
Theo quy luật phủ định của phủ định, trong thế giới khách quan, cái mới tấtyếu phải ra đời để thay thế cái cũ Trong tự nhiên, cái mới ra đời và phát triển theoquy luật khách quan Trong đời sống xã hội, cái mới ra đời trên cơ sở hoạt động cómục đích, có ý thức tự giác và sáng tạo của con người Vì vậy, chúng ta cần phảinâng cao tính tích cực của nhân tố chủ quan trong mọi hoạt động, có niềm tin vào
sự tất thắng của cái mới, ủng hộ cái mới và đấu tranh cho cái mới thắng lợi Do đó,cần khắc phục tư tưởng bảo thủ, trì trệ, giáo điều, kìm hãm sự phát triển của cáimới, làm trái với quy luật phủ định của phủ định
Phải có quan điểm biện chứng trong quá trình kế thừa sự phát triển Quanđiểm đó đòi hỏi phải khắc phục tư tưởng tả khuynh và hữu khuynh trong khi kếthừa cái cũ để phát triển cái mới Do đó, không được phủ định hoàn toàn cái cũ,cũng như không được kế thừa toàn bộ cái cũ, mà phải kế thừa những yếu tố hợp lý,hạt nhân hợp lý của cái cũ cho sự phát triển của cái mới Đó là quan điểm kế thừabiện chứng, trên tinh thần khoa học, cho mọi quá trình phát triển, nhất là trong thờiđại hội nhập của dân tộc với nhân loại ngày nay
Câu 3 Phân tích quy luật giá trị? Vận dụng quy luật giá trị vào quản lý nền kinh tế nước ta
Mở bài:
Để vạch trần bản chất bóc lột của chủ nghĩa tư bản, C.Mác đã đi vào nghiêncứu nhân tố hàng hóa, vì trong hàng hóa đã chứa đựng mọi mầm mống, mâu thuẫn
Trang 11của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa Trên cơ sở tìm ra thực thể giá trị hànghóa, C.Mác đã chỉ rõ bản chất của giá trị, giá trị thặng dư và phát hiện ra các quyluật kinh tế của sản xuất hàng hóa tong đó có quy luật giá trị
Nội dung:
Quy luật giá trị là quy luật kinh tế cơ bản của sản xuất hàng hoá, là cơ sởcủa hệ thống các quy luật trong nền sản xuất hàng hóa Ở đâu có sản xuất và lưuthông hàng hoá ở đó có quy luật giá trị hoạt động và phát huy tác dụng
Vì sao quy luật giá trị là quy luật cơ bản nhất của sản xuất hàng hóa? Vì nóquy định bản chất của một kiểu tổ chức kinh tế trong lịch sử đó là kinh tế hàng hóa(khác hẳn về chất so với kinh tế tự cấp, tự túc và kinh tế kế hoạch hóa tập trung)
Và quy luật giá trị là cơ sở của tất cả các quy luật khác trong nền sản xuất hànghóa
- Nội dung quy luật như sau: Sản xuất và trao đổi hàng hóa phải dựa trên
cơ sở giá trị của nó, tức là dựa trên cơ sở hao phí lao động xã hội cần thiết
+ Thứ nhất, trong sản xuất: Phải làm cho hao phí lao động cá biệt nhỏ hơnhoặc bằng hao phí lao động xã hội cần thiết
Vậy tại sao phải làm cho hao phí lao động cá biệt nhỏ hơn hoặc bằng hao phí lao động xã hội cần thiết? Hao phí lao động cá biệt phải ngang bằng hoặc thấp hơn
hao phí lao động xã hội để bù đắp chi phí và có lãi
VD: 3 người cùng sản xuất vải, để sản xuất 1 m vải:
và phát triển người sản xuất phải tìm mọi cách hạ thấp giá trị cá biệt
Trang 12+ Thứ hai, trong trao đổi: Phải theo nguyên tắc ngang giá, nghĩa là giá cả bằng
giá trị Quy luật giá trị hoạt động thông qua sự lên – xuống của giá cả thị trường.
- Về tác động của quy luật giá trị:
+ Trước hết, tự phát điều tiết sản xuất và lưu thông hàng hoá
Việc điều tiết sản xuất: Góp phần mở rộng hay thu hẹp quy mô sản xuấtmột ngành nào đó Cụ thể: Trên thị trường khi cung lớn hơn cầu (sản phẩm vượtquá nhu cầu xã hội) dẫn tới giá cả có xu hướng giảm và thấp hơn giá trị (H khóbán, có thể lỗ vốn) vì thế có thể thu hẹp sản xuất hoặc chuyển sang ngành khác,TLSX và SLĐ giảm đi ở ngành này và tăng ở ngành khác mà họ thấy có lợi hơn
Khi cung nhỏ hon cầu (sản phẩm không đủ để thỏa mãn nhu cầu xã hội) thìgiá cả có xu hướng tăng lớn hơn giá trị (H bán chạy, lãi cao) dẫn tới người sản xuất
mở rộng quy mô sản xuất, những người sản xuất trước đây sản xuất hàng hóa khácnay chuyển sang sản xuất hàng hóa này; TLSX và SLĐ được chuyển vào ngànhnày nhiều hơn ngành khác
Biểu hiện: Xảy ra tình trạng người sản xuất bỏ nghành này, đổ xô vàongành khác; quy mô ngành này được thu hẹp, trong khi ngành khác lại được mởrộng; làm cho TLSX và SLĐ được phân bố lại giữa các ngành Ví dụ: Năm 2011giá cà phê tăng cao, nông dân khu vực Tây Nguyên chặt các loại cây khác đểchồng cà phê Quy mô ngành cà phê tăng lên Năm 2015 giá cà phê xuống thấp,giá tiêu cao, lại có xu hướng chặt cây cà phê để trồng tiêu Quy mô ngành tiêutăng, ngành cà phê giảm Hay từ cuối năm 2018 giữa năm 2019 giá heo hơi giảmnên người dân trong khu vực chuyển từ các trang trại chăn nuôi heo sang nuôi gàlàm cho quy mô ngành chăn nuôi heo(cung về nguồn heo) giảm, gà tăng…
Việc điều tiết lưu thông: Sự biến động của giá cả thị trường thu hút luồnghàng hóa từ nơi có giá cả thấp đến nơi có giá cả cao, từ nơi cung lớn hơn cầu đếnnơi cung nhỏ hơn cầu Ví dụ: Gạo tẻ thường bán tại Tiền Giang là 11.500 đ/1kg,
Trang 13trong khi giá bán tại Tp Hồ Chí Minh là 14.000 đ/1kg Như vậy, có xu hướng vận
chuyển gạo từ Tiền Giang về Tp Hồ Chí Minh để bán .
Mặt tích cực: Góp phần giảm chi phí SX, giảm giá thành hàng hóa, mang
lại lợi ích KT – XH to lớn, giúp cho sản xuất và lưu thông được điều tiết linh hoạttheo cơ chế thị trường, phân phối hàng hóa đầy đủ cho người tiêu dùng
Mặt hạn chế: Dễ mất cân đối cơ cấu kinh tế, người sản xuất chỉ lo chạy
theo lợi nhuận mà bỏ quyên các lĩnh vực có lợi cho xã hội
Do đó, trong quản lý nền kinh tế hàng hoá cần chú ý giảm tính tự phát, tránhlãng phí và mất ổn định trong nền kinh tế bằng các chính sách vĩ mô, quy hoạchdài hạn cụ thể, hợp lý
+ Thứ hai là kích thích cải tiến kỹ thuật, đổi mới công nghệ, hợp lý hóa sảnxuất làm tăng năng suất lao động
Trong sản xuất hàng hoá, hao phí cá biệt của mỗi người sản xuất khác nhaunhưng lại phải trao đổi theo hao phí lao động XH cần thiết Muốn đứng vững trênthị trường và không bị phá sản, người sản xuất phải tìm mọi cách giảm hao phí cábiệt của mình xuống nhỏ hơn hoặc bằng hao phí lao động XH cần thiết
Vậy giảm hao phí cá biệt bằng cách nào? Bằng cách cải tiến kỹ thuật, đổi
mới công nghệ, hợp lý hoá sản xuất để tăng năng suất lao động Và việc cải tiến kỹ
thuật, hợp lý hoá sản xuất được thực hiện ở từng người mở rộng ra từng ngành, cácngành, toàn xã hội
Mặt tích cực: Thúc đẩy LLSX xã hội phát triển không ngừng, thúc đẩy quá
trình xã hội hóa sản xuất
Mặt hạn chế: Nếu doanh nghiệp không chủ động trong cải tiến kỹ thuật,
người lao động không nâng cao trình độ… thì dẫn tới phá sản, thất nghiệp…
Nếu người sản xuất chỉ quan tâm đến lợi nhuận, sẽ dẫn đến không quan tâmđến lợi ích xã hội (như bảo vệ môi trường, bền vững…), ứng dụng, nhập khẩu cácdây truyền công nghệ lạc hậu, thải loại của các nước tiên tiến (Nguy cơ Việt Nam
Trang 14trở thành bãi thải công nghệ của thế giới) Ví dụ: Công ty TNHH Vedan Việt Nam
xả thải trái phép ra sông Thị Vải gây ô nhiễm cho các tỉnh Đồng Nai, Tp Hồ ChíMinh, Bà Rịa – Vũng Tàu Formosa Hà Tĩnh xả thải trái phép gây ô nhiễm biểnmiền Trung…
+ Thứ ba, phân hoá giàu – nghèo giữa những người sản xuất, làm tự phátnảy sinh quan hệ sản xuất TBCN
Biểu hiện: Người sản xuất nào có các điều kiện sản xuất tốt, hàng hóa cógiá trị cá biệt nhỏ hơn giá trị xã hội thì có lãi, thành người giàu, có thể mua thêmTLSX, mở rộng sản xuất kinh doanh, thuê lao động và trở thành ông chủ (bóc lộtlao động làm thuê)
Ngược lại, người sản xuất nào có các điều kiện sản xuất không thuận lợi,hàng hóa có giá trị cá biệt lớn hơn giá trị xã hội thì thua lỗ, thậm chí phá sản, buộcphải bán sức lao động để kiếm sống (bị bóc lột)
Mặt tích cực: Lựa chọn được người tài, có tư duy nhạy bén trong sản xuất
kinh doanh, thải loại những người yếu kém
Mặt tiêu cực: Quá trình vận động sản xuất hàng hoá dưới tác động của quy
luật giá trị làm phân hóa giàu nghèo, tự phát tạo ra mầm mống làm nảy sinh QHSX
tư bản chủ nghĩa
Để khắc phục mặt tiêu cực trên: Một mặt nhà nước khuyến khích người
dân sản xuất kinh doanh làm giàu chính đáng, mặt khác phải có cơ chế chính sáchđiều hòa thu nhập, giảm phân hóa giàu nghèo (thuế, các chính sách, chương trình
hỗ trợ người nghèo, khu vực khó khăn về kinh tế…) Ví dụ: Thuế thu nhập cá nhân(điều tiết thu nhập), Chương trình 135 (Chương trình phát triển kinh tế xã hội các
xã đặc biệt khó khăn vùng dân tộc thiểu số và miền núi)…
Như vậy, nghiên cứu về quy luật giá trị, chúng ta thấy rằng: Đảng và Nhànước xác định phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta làhoàn toàn đúng đắn, vừa tận dụng mặt tích cực của kinh tế thị trường trong xây
Trang 15dựng kinh tế, phát triển đất nước, nâng cao đời sống nhân dân, vừa hạn chế nhữngmặt trái của KTTT, từ đó giữ vững mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa
xã hội
Liên hệ: Nền kinh tế nước ta là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa là nền kinh tế vận hành đầy đủ, đồng bộ theo các quy luật của kinh tế thị trường,
đồng thời đảm bảo tính định hướng XHCN phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nước Đó là nền kinh tế thị trường hiện đại và hội nhập quốc tế, có sự quản lý của nhà nước pháp quyền XHCN, do Đảng Cộng sản lãnh đạo, nhằm mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”
Nền kinh tế thị trường là sự phát triển cao dự trên cơ sở của nền sản xuất
hàng hóa Chúng ta xây dựng và phát triển nền kinh tế dựa theo mô hình vửa pháttriển kinh tế thị trường, thừa nhận cơ chế thị trường vừa kết hợp kinh tế thị trườngvới định hướng xã hội chủ nghĩa Nền kinh tế nước ta đầy đủ mọi điều kiện để thựchiện điều đó, đặc biệt là việc phát triển nền sản xuất hàng hóa
Trong nền kinh tế nước ta, sự phân công lao động xã hội phát triển cả chiềurộng và chiều sâu Nhiều ngành nghề đa dạng, phong phú và ngày càng phát triển,theo sự phát triển của khoa học, công nghệ Bên cạnh đó, Đảng ta chủ trương thừanhận đa dạng các hình thức sở hữu (sở hữu toàn dân, sở hữu tập thể, sở hữu tưnhân, sở hữu hỗn hợp) là điều kiện để thúc đẩy sự phát triển của sản xuất hàng hóa
Nhìn chung sau đại hội Đảng VI, giai đoạn sau đổi mới những cải cách củaChính phủ đã tạo điều kiện cho nền kinh tế nước ta phát triển đúng hướng, nềnkinh tế đã có những chuyển biến hết sức tích cực, mà cơ bản nhất đó chính là đãbước đầu hình thành nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận động theo cơ chếthị trường có sự quản lí của Nhà nước Phát triển chủ trương đổi mới kinh tế củađại hội Đảng VI, các kì đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII, VIII, IX đã tiếp tụccông cuộc đổi mới nền kinh tế đất nước với quan điểm tiếp tục xây dựng một nềnkinh tế hàng hóa nhiều thành phần, một nền kinh tế thị trường định hướng XHCN