1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

VI PHẠM PHÁP LUẬT lấy ví dụ và PHÂN TÍCH dấu HIỆU, cấu THÀNH của VI PHẠM PHÁP LUẬT

19 18 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 19
Dung lượng 351,18 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thông qua đó nâng cao ý thức con người thực hiện pháp luật một cách nghiêm chỉnh và hình thành ở mỗi người ý thức về trách nhiệm, bổn phận của mỗi cá nhân đối với cộng đồng, của công dân

Trang 1

BỘ NỘI VỤ

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NỘI VỤ HÀ NỘI

TÊN ĐỀ TÀI:

VI PHẠM PHÁP LUẬT LẤY VÍ DỤ VÀ PHÂN TÍCH DẤU HIỆU, CẤU THÀNH CỦA VI PHẠM PHÁP LUẬT.

BÀI TIỂU LUẬN KẾT THÚC HỌC PHẦN

Học phần: Pháp luật đại cương

Mã phách: ………

Quảng Nam – 2022

Trang 2

BỘ NỘI VỤ

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NỘI VỤ HÀ NỘI

TÊN ĐỀ TÀI:

VI PHẠM PHÁP LUẬT LẤY VÍ DỤ VÀ PHÂN TÍCH DẤU HIỆU, CẤU THÀNH CỦA VI PHẠM PHÁP LUẬT.

BÀI TIỂU LUẬN KẾT THÚC HỌC PHẦN

Học phần: Pháp luật đại cương

Mã phách: ………

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Lời đầu tiên, tôi xin chân thành cảm ơn Trường Đại học Nội vụ Phân hiệu Quảng Nam đã đưa môn học Pháp luật đại cương vào chương trình giảng dạy Đặc biệt, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến giảng viên bộ môn-Thầy Trần Quyết Thắng đã truyền đạt những kiến thức, kinh nghiệm quý báu cho tôi trong suốt quá trình học tập Trong thời gian tham gia lớp học của thầy, tôi đã tiếp thêm cho mình nhiều kiến thức sẽ giúp ích cho tôi sau này, có được tinh thần học tập hiệu quả và nghiêm túc hơn Đó chắc chắn là những kiến thức đắt giá cần mang theo khi tôi ra trường và làm việc sau này

Bộ môn Pháp luật đại cương là môn học thú vị, rất bổ ích và rất thiết thực Đảm bảo cung cấp đủ kiến thức, gắn liền với nhu cầu học tập của sinh viên Tuy nhiên, do vốn kiến thức là vô hạn và sự tiếp nhận kiến thức của mỗi người vẫn tồn tại nhiều mặt hạn chế Mặc dù tôi đã cố gắng hết sức nhưng chắc chắn rằng bài tiểu luận này không thể tránh khỏi những trường hợp thiếu sót và sẽ có một vài chỗ không chính xác, kính mong thầy xem xét và đóng góp ý kiến để bài tiểu luận của tôi được hoàn thiện hơn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Đà Nẵng, ngày 10 tháng 03 năm 2022

Tác giả

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đề tài “Vi phạm pháp luật Lấy ví dụ và phân tích dấu hiệu, cấu thành của vi phạm pháp luật” là công trình nghiên cứu của tôi trong thời gian qua

Tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm nếu có sự không trung thực về thông tin sử dụng trong công trình nghiên cứu này

Đà Nẵng, ngày 10 tháng 03 năm 2022

Tác giả

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 1

3 Phương pháp nghiên cứu 1

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 2

5 Cấu trúc đề tài 2

NỘI DUNG 3

CHƯƠNG 1: VI PHẠM PHÁP LUẬT 3

1.1 Khái niệm vi phạm pháp luật 3

1.2 Dấu hiệu của vi phạm pháp luật 3

1.3 Phân loại vi phạm pháp luật 4

1.3.1 Vi phạm hình sự 4

1.3.2 Vi phạm hành chính 5

1.3.3 Vi phạm dân sự 5

1.3.4 Vi phạm kỉ luật 5

CHƯƠNG 2: CÁC YẾU TỐ CẤU THÀNH VI PHẠM PHÁP LUẬT 6

2.1 Chủ thể vi phạm pháp luật 6

2.2 Khách thể vi phạm pháp luật 6

Trang 6

2.3 Mặt khách quan 6

2.3.1 Hành vi trái pháp luật 6

2.3.2 Sự thiệt hại cho xã hội 7

2.3.3 Mối quan hệ giữa hành vi và hậu quả nguy hiểm cho xã hội 7

2.3.4 Thời gian vi phạm pháp luật 7

2.3.5 Địa điểm vi phạm pháp luật 7

2.3.6 Phương tiện vi phạm pháp luật 7

2.4 Mặt chủ quan 7

2.4.1 Lỗi 8

2.4.1.1 Lỗi cố ý 8

2.4.1.2 Lỗi vô ý 8

2.4.2 Động cơ 8

2.4.3 Mục đích 8

CHƯƠNG 3: VÍ DỤ MINH HỌA VỀ VI PHẠM PHÁP LUẬT 9

KẾT LUẬN 11

TÀI LIỆU THAM KHẢO 12

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài.

Không thể phủ nhận rằng đời sống của người dân ngày càng được cải thiện, kéo theo đó là sự nâng cao về trình độ hiểu biết, nhận thức nói chung và ý thức pháp luật nói riêng Người dân ngày càng quan tâm hơn đến pháp luật, việc tuân thủ và áp dụng pháp luật có nhiều tiến bộ đáng kể Họ khá nhiệt tình, tích cực tiếp thu công tác tuyên truyền về hệ thống pháp luật từ các cơ quan, ban ngành và nhiệt tình hưởng ứng các hoạt động về hệ thống pháp luật Nhờ đó, người dân có ý thức hơn về hành vi của mình để thực thi tốt hơn các quy định của pháp luật Nhưng ở nhiều nơi trên cả nước,vẫn còn nhiều hiện tượng vi phạm pháp luật như cướp giật, giết người, bạo hành , gây ra các mối nguy hiểm cho con người và xã hội Hành vi vi phạm pháp luật luôn là vấn nạn khiến cả nước lo lắng và đang nỗ lực từng ngày để ngăn chặn

Để có thể đưa ra được những biện pháp khắc phục hiệu quả để ngăn chặn hiện tượng này thì trước hết phải xác định, phân tích được như thế nào là vi phạm pháp luật, đưa ra các dấu hiệu đặc trưng và các yếu tố cấu thành hành vi vi phạm

Trang 8

pháp luật hơn nữa là đưa ra các biện pháp khắc chế thiết thực Với những mục đích trên tôi quyết định nghiên cứu đề tài này nhằm góp một phần nhỏ bé vào việc phòng và chống vi phạm pháp luật trong xã hội

2. Mục đích nghiên cứu.

Giúp cho mọi người dân hiểu rõ hơn về bản chất của pháp luật và thế nào

là hợp pháp, như thế nào bất pháp luật Thông qua đó nâng cao ý thức con người thực hiện pháp luật một cách nghiêm chỉnh và hình thành ở mỗi người ý thức về trách nhiệm, bổn phận của mỗi cá nhân đối với cộng đồng, của công dân đối với

xã hội Để từ đó xã hội ngày càng văn minh, cuộc sống ấm no hạnh phúc

3. Phương pháp nghiên cứu.

Thu thập thông tin qua mạng Internet, sách, báo

Sử dụng các phương pháp nghiên cứu: phân tích, tổng hợp, kết hợp giữa

lý luận và thực tiễn

4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu.

Đối tượng: Vi phạm pháp luật Lấy ví dụ và phân tích dấu hiệu, cấu thành của vi phạm pháp luật

Phạm vi nghiên cứu: Việt Nam

5. Cấu trúc đề tài.

Ngoài phần mở đầu và kết luận, danh mục tài liệu tham khảo thì đề tài có kết cấu thành 3 chương như sau:

Chương 1: Vi phạm pháp luật

Chương 2: Các yếu tố cấu thành vi phạm pháp luật

Chương 3: Ví dụ minh họa về vi phạm pháp luật

Trang 9

NỘI DUNG CHƯƠNG 1: VI PHẠM PHÁP LUẬT 1.1 Khái niệm vi phạm pháp luật

Vi phạm pháp luật là “hành vi trái pháp luật, có lỗi, do chủ thể có năng lực trách nhiệm pháp lý thực hiện, xâm hại các quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ”[4]

1.2 Dấu hiệu của vi phạm pháp luật

- Hành vi trái pháp luật

Vi phạm pháp luật phải là một hành vi xác định của các chủ thể Hành vi xác định này được thể hiện bằng hành động hoặc không hành động Pháp luật chỉ có thể điều chỉnh hành động chứ không thể điều chỉnh những suy nghĩ, tư tưởng, ý tưởng, ý nghĩ khi chúng chưa được thể hiện ra bên ngoài bằng hành động hoặc không hành động

Trang 10

Một hành vi bị coi là trái pháp luật khi nó đi ngược với những quy định của pháp luật, đi ngược lại lẽ phải, làm điều xấu, không phù hợp với đạo đức xã hội, thuần phong mỹ tục của Việt Nam

- Hành vi có lỗi của chủ thể

Lỗi là trạng thái tâm lý của chủ thể đối với hành vi trái pháp luật mà chủ thể đã thực hiện và đối với hậu quả từ hành vi đó Để xác định xem một người có lỗi hay không khi tiến hành một xử sự nào đó đòi hỏi phải đánh giá được:

Chủ thể thực hiện hành vi vi phạm pháp luật phải có lỗi, lỗi có thể do vô ý hoặc cố ý Chủ thể thực hiện hành vi không có lỗi thì không bị coi là vi phạm pháp luật

- Do chủ thể có năng lực trách nhiệm pháp lý thực hiện

Năng lực trách nhiệm pháp lý là “khả năng của cá nhân hay tổ chức gánh chịu hậu quả bất lợi, biện pháp cưỡng chế của Nhà nước được quy định ở chế tài quy phạm pháp luật.” [3]

Căn cứ xác định:

Đủ độ tuồi chịu trách nhiệm pháp lý

Có khả năng nhận thức và điểu khiển được hành vi

- Xâm hại hoặc đe dọa xâm hại đến quan hệ pháp luật

Vi phạm pháp luật là hành vi xâm hại trực tiếp hoặc gián tiếp vào các quan

hệ xã hội được pháp luật bảo v , tức là làm biến dạng đi cách xử sự là nội

dung của quan hệ pháp luật đó

1.3 Phân loại vi phạm pháp luật

Hiện tượng vi phạm pháp luật trong xã hội rất đa dạng nên cũng có nhiều tiêu chí

để phân loại:

- Căn cứ vào các mối quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ thì có thể phân loại

vi phạm pháp luật thành vi phạm pháp luật về đất đai, vi phạm pháp luật về hành chính, vi phạm pháp luật về hôn nhân

Trang 11

- Căn cứ vào mức độ nguy hiểm cho xã hội thì có thể chia thành hai loại là tội

phạm và các vi phạm pháp luật khác

- Căn cứ vào đặc điểm của khách thể, tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội

của hành vi thì có thể phân thành 4 loại:

1.3.1 Vi phạm hình sự

Vi phạm hình sự ( còn gọi là tội phạm): theo pháp luật hình sự của Việt Nam thì tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự,

do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm đến hệ thống chính trị, kinh tế, văn hóa, quốc phòng, an ninh xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức về tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, tự do, tài sản, các quyền và lợi ích hợp pháp khác của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa Theo quy định pháp luật Việt Nam hiện hành, chủ thể vi phạm hình sự chỉ là những cá nhân Nếu chủ thể thực hiện hành vi phạm tội có tính chất hình sự lại cơ quan hay tổ chức thì trách nhiệm hình

sự được quy cho những người đứng đầu của cơ quan, tổ chức đó

Ví dụ: Anh A vận chuyển và buôn bán ma túy trái phép hai bánh heroin bị tòa án tuyên phạt án tử hình

1.3.2 Vi phạm hành chính

Vi phạm hành chính: là hành vi có lỗi của chủ thể có năng lực trách nhiệm pháp lý thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý xâm hại các quy tắc quản lý của Nhà nước mà nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt hành chính Không giống như vi phạm pháp luật hình

sự, chủ thể của vi phạm hành chính có thể là cá nhân hoặc tổ chức

Ví dụ: Chị B không đội mũ bảo hiểm khi tham gia giao thông bị công an xử phạt 300.000 đồng theo quy định của pháp luật

Trang 12

1.3.3 Vi phạm dân sự

Vi phạm dân sự: là hành vi vi phạm pháp luật xâm hại tới các quan hệ tài sản

và quan hệ nhân thân được quy định trong Bộ luật Dân sự Quan hệ tài sản là quan hệ giữa người với người thông qua tài sản như giao dịch (mua, bán, cho vay, cho mượn, thuê, thừa kế…) Quan hệ nhân thân là quan hệ giữa người với người

về một quyền dân sự gắn liền với một chủ thể không thể chuyển giao cho người khác (quyền nhân thân: họ, tên, danh dự, uy tín, quyền và nghĩa vụ hôn nhân, con cái, quyền tác giả Chủ thể của vi phạm dân sự có thể là cá nhân hoặc tổ chức

Ví dụ: Quán photocopy có hành vi sao chép, photo giáo trình, tài liệu, sách để bán, hành vi đó bị coi là xâm phạm quyền tác giả đối với những tài liệu này Hành

vi sao chép tác phẩm mà không được sự cho phép của chủ sở hữu quyền tác giả có thể bị tiền từ 15.000.000 đồng đến 35.000.000 đồng

1.3.4 Vi phạm kỉ luật.

Vi phạm kỷ luật: là những hành vi có lỗi của chủ thể có năng lực trách nhiệm pháp lý làm trái với những quy định, quy tắc xác lập trật tự nội bộ trong cơ quan,

tổ chức của nhà nước Nghĩa là chủ thể đó không thực hiện đúng kỷ luật lao động, học tập, công tác hoặc phục vụ được đề ra trong nội bộ cơ quan, tổ chức đó

Ví dụ: Bạn C sử dụng tài liệu khi đang làm bài thi và bị giáo viên lập biên bản kỷ luật

CHƯƠNG 2: CÁC YẾU TỐ CẤU THÀNH CỦA VI PHẠM PHÁP LUẬT 2.1 Chủ thể vi phạm pháp luật

Là các cá nhân hoặc tổ chức có năng lực trách nhiệm pháp lý mà theo quy định của pháp luật họ phải chịu trách nhiệm về hành vi trái pháp luật của mình

Trang 13

Năng lực pháp lý là khả năng của một chủ thể phải gánh chịu những hậu quả bất lợi, biện pháp cưỡng chế theo quy định của pháp luật khi thực hiện hành vi trái pháp luật

- Cá nhân: có đầy đủ năng lực pháp lý

+ Đã đủ tuổi chịu trách nhiệm pháp lý theo quy định của pháp luật

Ví dụ: Theo quy định của Bộ luật Hình Sự người từ 14 tuổi trở lên nhưng chưa đủ 16 tuổi chỉ chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng; Người từ

16 tuổi trở lên chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm

+ Có khả năng nhận thực và điều khiển hành vi

- Tổ chức: có tư cách pháp nhân.

2.2 Khách thể vi phạm pháp luật

- Là những quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ, nhưng đã bị hành vi trái pháp luật xâm hại

- Những quan hệ xã hội này được quy định trong các văn bản qui phạm pháp luật đó là: tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của cá nhân, quyền sở hữu tài sản của công dân, trật tự an toàn xã hội

2.3 Mặt khách quan

Mặt khách quan của vi phạm pháp luật là những biểu hiện ra bên ngoài của

vi phạm pháp luật mà con người có thể nhận biết được Những biểu hiện này bao gồm hành vi trái pháp luật, sự thiệt hại của xã hội và mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm và hậu quả thực tế

2.3.1 Hành vi trái pháp luật

Là hành vi của chủ thể không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, không đầy đủ các quy định của pháp luật Hơn nữa vi phạm pháp luật luôn tồn tại

Trang 14

dưới dạng hành động hoặc không hành động, những gì tồn tại trong suy nghĩ, tư tưởng thì không bị coi là vi phạm pháp luật

2.3.2 Sự thiệt hại của xã hội

Thiệt hại cho xã hội do vi phạm pháp luật gây ra là những tổn thất về vật chất hoặc tinh thần mà xã hội phải gánh chịu Đó là sự thay đổi trạng thái bình thường của các quan hệ xã hội, bao gồm :

+ Tổn thất về vật chất như tài sản cá nhân, của tập thể, của nhà nước, trật tự, an toàn xã hội

+ Tổn thất về tinh thần như danh dự, nhân phẩm, uy tín, quyền tự do của con người, truyền thống văn hóa, thuần phong mỹ tục

Thiệt hại của xã hội có thể xảy ra, cũng có thể mới chỉ là một mối nguy hiểm sắp xảy ra

2.3.3 Mối quan hệ giữa hành vi và hậu quả nguy hiểm cho xã hội

Giữa chúng phải có một mối quan hệ thiết yếu và cần thiết Hành động chứa mầm mống gây ra hậu quả hoặc là nguyên nhân trực tiếp của hậu quả nên nó phải xảy ra trước hậu quả về mặt thời gian; còn hậu quả phải là kết quả của chính hành động đó, và không có nguyên nhân nào khác

2.3.4 Thời gian vi phạm pháp luật

Là giờ, ngày, tháng, năm xảy ra vi phạm pháp luật

2.3.5 Địa điểm vi phạm pháp luật

Là hiện trường xảy ra vi phạm pháp luật.

2.3.6 Phương tiện vi phạm pháp luật

Là công cụ mà chủ thể sử dụng để thực hiện hành vi trái pháp luật của mình

2.4 Mặt chủ quan

Mặt chủ quan của vi phạm pháp luật là những biểu hiện tâm lý bên trong của chủ thể vi phạm pháp luật, bao gồm các yếu tố lỗi, động cơ và mục đích vi phạm

Trang 15

2.4.1 Lỗi

Lỗi là một trong những dấu hiệu quan trọng nhất của mặt chủ quan, nếu không xác định được lỗi thì không thể cấu thành tội phạm Lỗi là trạng thái tâm lý của một con người đối với hành vi và hậu quả do mình gây ra Lỗi có thể được biểu hiện dưới hai dạng là lỗi cố ý và lỗi vô ý

2.4.1.1 Lỗi cố ý

- Lỗi cố ý trực tiếp: “Người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả của hành vi đó và mong muốn hậu quả xảy ra” [1]

Ví dụ: giết người cướp của, đánh người gây thương tích

- Lỗi cố ý gián tiếp: “Người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước được hậu quả của hành vi đó có thể xảy ra, tuy không mong muốn nhưng vẫn có ý thức để mặc cho hậu quả xảy ra” [2]

Ví dụ: bẫy thú dữ bằng lưới điện gây ra hậu quả chết người

2.4.1.1 Lỗi vô ý

- Lỗi vô ý vì quá tự tin: là lỗi trong trường hợp chủ thể vi phạm pháp luật nhận thấy trước hậu quả quá nguy hiểm cho xã hội do hành vi của mình gây

ra nhưng hi vọng, tin tưởng điều đó không xảy ra hoặc có thể ngăn ngừa được

Ví dụ: Anh D điều khiển xe máy vượt đèn đỏ, đụng phải chị B đang băng qua đường khiến chị B ngã và bị thương

- Lỗi vô ý do cẩu thả: là lỗi trong trường hợp chủ thể vi phạm pháp luật không thấy trước hậu quả do hành vi của mình gây ra, mặc dù phải thấy trước và có thể thấy trước

Ví dụ: nghe điện thoại ở cây xăng gây ra cháy nổ

2.4.2 Động cơ

Ngày đăng: 09/08/2022, 18:00

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w