Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự hoặc pháp nhân thương mại thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm
Trang 1ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ GIAO THÔNG VẬN TẢI
KHOA CHÍNH TRỊ - QPAN - GDTC
*****
TIỂU LUẬN
HỌC PHẦN:PHÁP LUẬT ĐẠI CƯƠNG
Câu Hỏi Tiểu Luận: Trình bày nội dung về cấu thành tội phạm “
theo bộ luật hình sự 2015? Vận dụng nội dung này để làm rõ trách nhiệm của thanh niên, sinh viên trong việc tham gia đấu tranh phòng, chống, ngăn ngừa tội phạm hiện nay?”
Trang 2Sinh viên thực hiện: Bùi Đức Kiên
Mã sinh viên:72DCOT20243 Lớp:72DCOT25
Khóa:K72
Giảng viên hướng dẫn:
Trang 3HÀ NÔI – 2021
MỤC LỤC
A.MỞ ĐẦU
B.NỘI DUNG
CHƯƠNG I: CÁC VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TỘI PHẠM
1 Khái niệm tội phạm
2 Đặc điểm của tội phạm
CHƯƠNG II: CẤU THÀNH TỘI PHẠM
1 Các vấn đề chung về cấu thành tội phạm
1.1 Khái niệm cấu thành tội phạm
1.2 Đặc điểm cấu thành tội phạm
2 Các yếu tố cấu thành tội phạm
Trang 4đó vào các thế kỉ XVIII-XIX vấn đề này được soạn thảo
về mặt lí luận trong trường phái cổ điển của khoa học luật hình sự
Trang 5-Khái niệm CTTP (theo tiếng Latinh cổ là “corpusdelicti”) đã đóng vai trò tố tụng như là căn cứ đầy đủ choviệc xét xử vụ án hình sự tại tòa án để chứng minh sự hiệndiện trong các hành vi của phạm nhân một CTTP (1) Líluận CTTP được phát triển trong khoa học luật hình sựNga trước cách mạng vào cuối thế kỉ XIX – đầu thế kỉ XX
mà đặc biệt là CTTP đã được nghiên cứu rộng rãi và pháttriển nhất trong khoa học luật hình sự Xô viết từ nhữngnăm 50 của thế kỉ XX và tiếp tục cho đến tận ngày nay
B.Nội Dung
CHƯƠNG I: CÁC VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TỘI PHẠM
1.Khái niệm tội phạm
Trang 6 Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình
sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự hoặc pháp nhân thương mại thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm quyền con người, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa mà theo quy định của Bộ luật hình sự 2015 phải bị xử lý hình sự
Những hành vi tuy có dấu hiệu của tội phạm nhưng tính chất nguy hiểm cho
xã hội không đáng kể thì không phải là tội phạm và được xử lý bằng các biệnpháp khác
CHƯƠNG II: CẤU THÀNH TỘI PHẠM
1 Các vấn đề chung về cấu thành tội phạm
1.1 Khái niệm cấu thành tội phạm
-Cấu thành tội phạm là tổng thể các dấu hiệu pháp lý đặc trưng (khách quan và chủ quan) được quy định trong LuậtHình sự thể hiện một hành vi nguy hiểm cho xã hội cụ thể
là tội phạm, tức là căn cứ vào các dấu hiệu đó một hành vinguy hiểm cho xã hội bị coi là tội phạm
Trang 71.2 Đặc điểm cấu thành tội phạm
-Đặc điểm cơ bản của cấu thành tội phạm đó là:
+ Cấu thành tội phạm phải có các dấu hiệu pháp lý khách quan và chủ quan có tính chất bắt buộc; các dấu hiệu này phải phản ánh đúng bản chất của tội phạm để có thể phân biệt tội phạm này với tội phạm khác Ngoài các dấu hiêu bắt buộc thì cấu thành tội phạm còn có dấu hiệu riêng để phản ánh bản chất riêng của tội phạm cụ thể
+ Các dấu hiệu pháp lý của cấu thành tội phạm được quy định trong Bộ luật Hình sự
+ Phải tổng hợp đầy đủ các dấu hiệu pháp lý của cấu thành tội phạm mới khẳng định hành vi nguy hiểm cho xã hội bị pháp luật cấm
2 Các yếu tố cấu thành tội phạm
2.1 Yếu tố khách thể:
Trang 8-Khách thể của tội phạm là những mối quan hệ xã hội được pháp luật hình sự bảo vệ, bị tội phạm xâm hại, gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại.
-Những mối quan hệ được Bộ luật hình sự 2015 ghi nhận
mà khi chủ thể thực hiện hành vi vi phạm xâm phạm thì sẽ
có thể cấu thành tội phạm, đó là: độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự,
an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, quyềncon người, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, những vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa mà theo quy định của Bộ luật hình sự phải bị xử lý hình sự
2.2 Yếu tố mặt chủ quan:
-Mặt chủ quan của tội phạm là những biểu hiện bên trong của tội phạm Đó là những dấu hiệu về mặt tâm lý, tư tưởng của người phạm tội khi thực hiện hành vi phạm tội bao gồm các dấu hiệu lỗi, động cơ, mục đích của tội phạm
-Các dấu hiệu này cụ thể được thể hiện như sau:
Trang 9+ Về dấu hiệu lỗi
-Lỗi là thái độ tâm lý của người thực hiện hành vi đối với hành vi nguy hiểm cho xã hội và hậu quả do hành vi đó của mình gây ra, đây là dấu hiệu bắt buộc phải có ở mọi tội phạm Lỗi bao gồm lỗi cố ý (cố ý trực tiếp, cố ý gián tiếp) và lỗi vô ý (vô ý vì quá tự tin, vô ý vì cẩu thả)
+ Về động cơ, mục đích
-Động cơ là động lực bên trong thúc đẩy con người thực hiện hành vi biểu hiện ra bên ngoài Mục đích là kết quả trong ý thức chủ quan của người thực hiện hành vi Do vậy người phạm tội khi thực hiện hành vi phạm tội có thể
có động cơ phạm tội hoặc mục đích phạm tội, vì những tội
có lỗi vô ý thì thường không có động cơ, mục đích rõ ràngtrực tiếp đối với hành vi nguy hiểm cho xã hội biểu hiện
ra bên ngoài và đối với hậu quả mình gây ra
2.3 Yếu tố mặt khách quan:
Trang 10-Mặt khách quan của tội phạm là những biểu hiện của tội phạm ra ngoài thế giới khách quan, bao gồm hành vi khách quan, hậu quả nguy hiểm cho xã hội và mối quan
hệ giữa hành vi với hậu quả, phương tiện, công cụ,
phương pháp, thời điểm, … thực hiện tội phạm Cụ thể những dấu hiệu của mặt khách quan của tội phạm được thể hiện như sau:
+ Về hành vi khách quan
-Dấu hiệu bắt buộc phải có ở tất cả tội phạm đó là hành vi khách quan, tức phải có hành vi nguy hiểm cho xã hội Nếu một người thực hiện hành vi không gây nguy hiểm cho xã hội, không thực hiện hành vi gây thiệt hại cho các quan hệ xã hội được pháp luật hình sự bảo vệ thì không thể coi là tội phạm Hành vi nguy hiểm này được thể hiện bằng việc thực hiện hay không thực hiện hành động thuộc các trường hợp cấm của luật Người thực hiện hành vi biếthoặc có nghĩa vụ phải biết việc mình làm hay không thực hiện hành động mà từ đó gây nên nguy hiểm cho xã hội thì sẽ có hành vi khách quan để cấu thành tội phạm
Trang 11-Hành vi hành động là việc chủ thể thực hiện một việc mà quy định hình sự cấm Hầu hết các tội phạm trong Bộ luật Hình sự được thực hiện bằng hành vi hành động.
-Hành vi không hành động là việc chủ thể trong khi có đủ điều kiện để thực hiện một việc nhưng cố tình không làm
Để truy cứu trách nhiệm với người thực hiện hành vi không hành động phải xét đến các yếu tố, điều kiện để thực hiện nghĩa vụ hay thực hiện hành vi thuộc chuyên môn nghiệp vụ của mình nhưng người đó cố tình không làm Ví dụ như: trốn thuế, thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản nhà nước, thiếu trách nhiệm để người bị giam trốn,…
+ Về hậu quả
-Hậu quả thực tế xảy ra là thiệt hại về vật chất và thiệt hại tinh thần Thiệt hại vật chất bao gồm những thiệt hại đo đếm được về lượng, xác định được về mức độ như tỷ lệ tổn thương cơ thể, tài sản bị mất, hư hỏng, suy giảm, chết người, …Thiệt hại tinh thần là những thiệt hại không xác định được về chất, về lượng, về mức độ như xâm phạm đến danh dự, nhân phẩm (ví dụ như tội vu khống, tội làm nhục người khác), tư tưởng của Đảng, chính sách (ví dụ
Trang 12như tội phá hoại chính sách đoàn kết, tội phá hoại việc thực hiện các chính sách kinh tế – xã hội,…), … Hậu quả
có ý nghĩa quan trọng để xác định tính chất, mức độ nguy hiểm của tội phạm Hậu quả tác hại càng lớn thì mức độ nguy hiểm của tội phạm càng cao
+ Mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả của tội phạm
-Hành vi khách quan phải là nguyên nhân làm phát sinh, gây ra kết quả đó là hậu quả của tội phạm Dựa vào mối quan hệ giữa hành vi và hậu quả có ý nghĩa xác định giai đoạn hoàn thành của tội phạm Tội có cấu thành hình thứcđược coi là hoàn thành khi người phạm tội thực hiện hành
vi nguy hiểm cho xã hội Còn tội có cấu thành vật chất được coi là hoàn thành khi người phạm tội thực hiện hành
vi nguy hiểm cho xã hội gây ra hậu quả thực tế
-Điều kiện của mối quan hệ nhân quả giữa hành vi của tội phạm dựa vào: hành vi vi phạm phải xảy ra trước thời điểm phát sinh hậu quả, trong hành vi phải chứa đựng khảnăng thực tế, nguyên nhân trực tiếp phát sinh hậu quả, một hậu quả xảy ra có thể do một hoặc nhiều hành vi gây ra
Trang 13+ Về thời gian, địa điểm
-Vấn đề bắt buộc phải chứng minh trong tất cả vụ án hình
sự đó là tội phạm phải tồn tại ở thời gian và địa điểm nhất định Trong một số trường hợp thì dấu hiệu về thời gian, địa điểm là yếu tố bắt buộc để cấu thành tội phạm
+ Về công cụ, phương tiện, phương pháp thực hiện tội phạm
-Các dấu hiệu về công cụ, phương tiện, phương pháp là những dấu hiệu của mặt khách quan Các dấu hiệu này không phải là dấu hiệu bắt buộc, có thể có hoặc không để định tội Nếu trong một số tội phạm quy định dấu hiệu này là tình tiết định khung thì cơ quan, người tiến hành tố tụng phải chứng minh được để định danh tội phạm
2.4 Yếu tố chủ thể
Trang 14-Chủ thể tội phạm theo quy định của Bộ luật Hình sự
2015 bao gồm hai đối tượng: cá nhân và pháp nhân
thương mại
+ Cá nhân là chủ thể tội phạm phải là người đủ tuổi và có năng lực trách nhiệm hình sự
+Về độ tuổi:
-Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự
về mọi tội phạm, trừ một số trường hợp luật có quy định khác Ví dụ như nhóm tội hối lộ, tham nhũng thì chủ thể
đủ tuổi nhưng cần phải có chức vụ, quyền hạn để thực hiện hành vi vi phạm
-Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu trách
nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặcbiệt nghiêm trọng thuộc một trong các tội phạm quy định tại Bộ luật Hình sự 2015 như sau: Tội giết người (Điều 123), Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (Điều 134), Tội hiếp dâm (Điều 141), Tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi (Điều 142), Tội cưỡng dâm (Điều 143), ………
Trang 15+Về năng lực trách nhiệm hình sự:
-Trong quy định của pháp luật hình sự dùng cụm từ “tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự” và được giải thích đó là trong lúc thực hiện hành vi nguy hiểm cho
xã hội thì người đó bị mắc bệnh tâm thần hoặc các bệnh khác mà mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình Chỉ loại trừ trường hợp trên, chủ thể được coi là có năng lực trách nhiệm hình sự
+ Pháp nhân thương mại (bao gồm: doanh nghiệp và các
tổ chức kinh tế khác) là chủ thể của tội phạm khi:
-Thứ nhất, có tư cách pháp nhân
Pháp nhân thương mại phải là tổ chức và được coi là có tưcách pháp nhân khi: được thành lập hợp pháp theo quy định của Bộ luật Dân sự, Luật Doanh nghiệp hoặc các vănbản pháp luật khác có liên quan; có cơ cấu tổ chức chặt chẽ; có tài sản độc lập với cá nhân, tổ chức khác và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản của mình; nhân danh chính mình tham gia quan hệ pháp luật
Trang 16-Thứ hai, đủ điều kiện chịu trách nhiệm hình sự theo quy định Bộ luật hình sự
Pháp nhân thương mại chỉ chịu trách nhiệm khi có đủ tất
cả điều kiện sau: thực hiện hành vi phạm tội nhân danh pháp nhân thương mại; thực hiện hành vi phạm tội vì lợi ích của pháp nhân thương mại; thực hiện hành vi phạm tội
do có sự chỉ đạo, điều hành hay chấp nhận của pháp nhân thương mại và còn thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định pháp luật
Như vậy pháp nhân thương mại là chủ thể của tội phạm khi có năng lực trách nhiệm hình sự sau khi được cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận tư cách pháp nhân và hoạt động với mục tiêu chính là tìm kiếm lợi nhuận cho các thành viên
Việc pháp nhân thương mại chịu trách nhiệm hình sự thì không đương nhiên được loại trừ trách nhiệm của cá nhân thực hiện hành vi vi phạm
CHƯƠNG III: TRÁCH NGHIỆM CỦA SINH VIÊN TRONG VIỆC PHÒNG CHỐNG, NGĂN NGỪA TỘI PHẠM
Trang 17-Là sinh viên chúng ta cần phải nhận thức rõ ràng về tầm quan trọng của pháp luật, hiểu biết về pháp luật và sống theo tinh thần thượng tôn pháp luật
-Tích cực tuyên tuyền về các hành vi phòng chống tội phạm, các hành vi cấu thành tội phạm ở địa phương và nhà trường
-Tránh xa các tệ nạn xã hội, những hành vi cấu thành tội phạm để tránh gây ảnh hưởng tiêu cực đến với bản thân
và xã hội
C.KẾT LUẬN
-Cấu thành tội phạm còn là cơ sở pháp lý để định khung hình phạt Như đã phân tích trong bài phân loại cấu thành tội phạm, cấu thành tội phạm được chia thành cấu thành tội phạm cơ bản, cấu thành tội phạm tăng nặng, cấu thành tội phạm giảm nhẹ Trong những trường hợp tội phạm có cấu thành tội phạm tăng nặng hoặc giảm nhẹ, các cấu thành tội phạm tăng nặng hay giảm nhẹ đó là cơ sở để xácđịnh khung hình phạt Nếu các tình tiết của hành vi phạm tội phù hợp với các dấu hiệu định khung hình phạt tăng
Trang 18nặng hay giảm nhẹ (hay nói cách khác là hành vi phạm tộithỏa mãn các yếu tố cấu thành tội phạm tăng nặng hay giảm nhẹ) thì khung hình phạt được áp dụng là khung hình phạt có dấu hiệu định khung hình phạt đó.
-Tóm lại, cấu thành tội phạm là căn cứ pháp lý rất quan trọng trong việc nghiên cứu tội phạm Việc nghiên cứu và hiểu rõ cấu thành tội phạm đối với từng loại tội phạm cụ thể là căn cứ pháp lý vững chắc trong việc xác định tội danh, định tội danh, xác định khung hình phạt cũng như truy cứu trách nhiệm hình sự đối với chủ thể thực hiện hành vi phạm tội
D.TÀI LIỆU THAM KHẢO
-https://vnexpress.net/phap-luat
- https://baophapluat.vn/
- https://hocluat.vn/
Trang 19- https://luatduonggia.vn/
Trang 200 0
Trang 21+ Về thời gian, địa điểm
-Vấn đề bắt buộc phải chứng minh trong tất cả vụ án hình
sự đó là tội phạm phải tồn tại ở thời gian và địa điểm nhất định Trong một số trường hợp thì dấu hiệu về thời gian, địa điểm là yếu tố bắt buộc để cấu thành tội phạm
+ Về công cụ, phương tiện, phương pháp thực hiện tội phạm
-Các dấu hiệu về công cụ, phương tiện, phương pháp là
Trang 22những dấu hiệu của mặt khách quan Các dấu hiệu này không phải là dấu hiệu bắt buộc, có thể có hoặc không để định tội Nếu trong một số tội phạm quy định dấu hiệu này là tình tiết định khung thì cơ quan, người tiến hành tố tụng phải chứng minh được để định danh tội phạm
2.4 Yếu tố chủ thể