Những di tích lịch sử vănhóa, danh lam thắng cảnh đã có từ rất lâu đời, có những ngôi chùa, ngôi đền đãxuống cấp trầm trọng, hay bị một số người dân lấn chiếm, xâm phạm di tích để làmnơi
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Kể từ khi dựng nước và giữ nước cho tới hôm nay, Việt Nam đã trải quabiết bao thăng trầm và biến cố Tất cả được thể hiện một cách rõ nét qua những ditích lịch sử, văn hóa còn được lưu giữ và bảo tồn đến tận ngày nay Ở đó có sự kếthợp hài hòa giữa thắng cảnh tự nhiên và công trình kiến trúc tinh tế tạo nên mộtViệt Nam rất đặc trưng Việt Nam vốn nổi tiếng là một quốc gia có nhiều danh lam,thắng cảnh đẹp, là địa điểm thu hút ngày càng đông khách du lịch quốc tế Danhlam thắng cảnh của nước ta là một trong những niềm tự hào đối với bạn bè nămchâu Mỗi vùng đất, địa danh, hay di tích ở Việt Nam đều gắn liền với những truyềnthuyết lịch sử Mỗi phong tục, tập quán lại bắt nguồn từ những câu chuyện mangđậm tính nhân văn, lòng ái quốc của tổ tiên Qua nhiều thế hệ, bản sắc văn hóa Việtđược tiếp nối, lưu truyền ngày càng phong phú và đa dạng Ở Việt Nam, theo thống
kê của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch tính đến nay đã có 2.795 di tích lịch sử, vănhóa và danh lam thắng cảnh được xếp hạng Bên cạnh đó là hàng vạn di tích với quy
mô và giá trị lịch sử, văn hóa khác nhau trải khắp các vùng, miền của đất nước vàgắn bó chặt chẽ với cuộc sống cộng đồng dân cư Những năm gần đây, vấn đề bảotồn di tích lịch sử, văn hóa, danh lam thắng cảnh nhận được sự quan tâm đặc biệtcủa Nhà nước và của toàn xã hội Tuy nhiên, muốn bảo tồn các di tích lịch sử, vănhóa, danh lam thắng cảnh có hiệu quả thì khó tách rời với việc quản lý và sử dụngđất (SDĐ) di tích lịch sử, văn hóa, danh lam thắng cảnh theo đúng pháp luật Bởi lẽ,
di tích lịch sử, văn hóa, danh lam thắng cảnh được xây dựng hoặc hình thành trênđất và gắn liền với đất thành một khối thống nhất không thể tách rời Suy cho cùngmọi hành vi quản lý và SDĐ di tích lịch sử, văn hóa, danh lam thắng cảnh đều tácđộng, ảnh hưởng đến di tích lịch sử, văn hóa, danh lam thắng cảnh Trong điều kiệnkinh tế thị trường khi đất đai ngày càng có giá trị thì có không ít tổ chức, cá nhân doham muốn lợi nhuận đã không từ một thủ đoạn nào kể cả việc thực hiện hành vi vi
Trang 2phạm pháp luật trong quản lý, SDĐ nói chung và quản lý, SDĐ di tích lịch sử, vănhóa, danh lam thắng cảnh nói riêng Đã có rất nhiều vụ việc xâm phạm, lấn, chiếmhoặc xây dựng nhà trái phép trên đất di tích lịch sử, văn hóa, danh lam thắng cảnhdiễn ra trong thời gian gần đây ở tất cả các địa phương được công luận lên tiếng,gióng lên hồi chuông báo động như Báo điện tử Tài nguyên và Môi trường (TN&MT)
(2018), Lạng Sơn: Buông lỏng quản lý, đất di tích bị xâm hại, của tác giả Hoàng Nghĩa, Thứ sáu - 14/12 09:34; Báo Dân việt điện tử (2019), Di tích khảo cổ quốc
gia bị xâm phạm ngay giữa trung tâm thành phố Hạ Long, của tác giả Nguyễn Quý,
ngày 13/9/2019; Báo Nhân dân điện tử (2017), Cần xử lý nghiêm việc chiếm đất
công ở di tích lịch sử quốc gia đền Bảo Hà, của tác giả Quốc Hồng, Thứ Ba, 01/08,
00:24:01; Báo Dân trí điện tử (2012), Chiếm đất di tích lịch sử cấp quốc gia để "chia
lô bán nền", của tác giả Hồng Long, Thứ Ba 10/04 - 00:04; Báo ảnh Dân tộc và Miền
núi (2018), Nhiều điểm, khu di tích ở Lạng Sơn bị xâm hại, lấn chiếm, của tác giả
Quang Duy, 11:02, 26/11/2018; Báo Pháp luật Thành phố Hồ Chí Minh điện tử
(2011), Chiếm đất di tích làm của riêng, của tác giả Hùng Anh, Thứ Tư, ngày 9/11
-00:04 v.v Dư luận đặt câu hỏi tại sao việc quản lý đất di tích lịch sử, văn hóa,danh lam thắng cảnh lại bị buông lỏng và để xảy ra nhiều hành vi vi phạm làm ảnhhưởng nghiêm trọng đến giá trị và sự tồn tại của di tích lịch sử văn hóa, danh lamthắng cảnh đặt ở các địa phương trong bối cảnh Đảng và Nhà ta đang xây dựng Nhànước và pháp quyền xã hội chủ nghĩa Hệ thống pháp luật đất đai nói chung và cácquy định về đất di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh thường xuyên được ràsoát, sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện với việc ban hành Luật Đất đai năm 2013 và cácvăn bản hướng dẫn thi hành Điều này đặt ra yêu cầu cần tiếp tục nghiên cứu, đánhgiá pháp luật về đất di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh một cách hệ thống,toàn diện về lý luận và thực tiễn Có như vậy mới có thể đưa ra được câu trả lời thỏađáng
Nam Định là một tỉnh có nhiều di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắngcảnh, bao gồm 1.330 di tích lịch sử văn hóa; trong đó, 349 di tích được xếp hạng (có
Trang 302 di tích quốc gia đặc biệt là di tích đền Trần - chùa Phổ Minh và di tích chùa KeoHành Thiện), 81 di tích cấp quốc gia và 266 di tích cấp tỉnh Nhiều quần thể di tích
có giá trị lịch sử, văn hóa, nghệ thuật và kiến trúc như: Quần thể di tích văn hóaTrần, Phủ Dầy, Chùa Cổ Lễ, Chùa Keo Hành Thiện, Cầu Ngói Chùa Lương, Nhà lưuniệm cố Tổng Bí thư Trường Chinh Mặt khác, tỉnh Nam Định còn có hơn 400 nhàthờ công giáo với kiến trúc đặc trưng phương Tây tập trung ở các huyện phía Namcũng có sức hút đối với du khách trong nước và quốc tế Những di tích lịch sử vănhóa, danh lam thắng cảnh đã có từ rất lâu đời, có những ngôi chùa, ngôi đền đãxuống cấp trầm trọng, hay bị một số người dân lấn chiếm, xâm phạm di tích để làmnơi kinh doanh, buôn bán,… Loại trừ nguyên nhân tác động của thiên nhiên nắng,mưa, lũ lụt, thiên tai… thì sự xuống cấp nghiêm trọng một số di tích lịch sử văn hóacủa tỉnh Nam Định xuất phát từ những hành vi vi phạm pháp luật đất đai trong quản
lý và SDĐ di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh Vậy làm thế nào để khắcphục tình trạng này góp phần bảo tồn di tích lịch sử văn hóa và danh lam thắng cảnh
tại tỉnh Nam Định Trên đây là những lý do để học viên lựa chọn đề tài: "Pháp luật
về đất di tích, lịch sử, văn hóa, danh lam thắng cảnh từ thực tiễn thi hành tại tỉnh Nam Định" làm luận văn thạc sĩ luật học.
2 Tình hình nghiên cứu
Pháp luật về đất di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh được giớiluật học nước ta quan tâm tìm hiểu Thời gian qua đã có một số công trình khoa họctiêu biểu về vấn đề này được công bố như: i) Viện Chiến lược, Chính sách TN&MT -
Bộ TN&MT (2010): Báo cáo tổng kết khoa học đề tài cấp Bộ "Nghiên cứu cơ sở lý
luận, thực tiễn và đề xuất việc sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện Luật đất đai" do TS.
Nguyễn Văn Tài - Chủ nhiệm, Hà Nội; ii) Nguyễn Quang Tuyến (2008): Pháp luật
về đất di tích lịch sử - văn hóa và danh lam thắng cảnh, Tạp chí Luật học, số 6; iii)
Nguyễn Thế Hùng (2004), Đôi điều về tu bổ di tích tín ngưỡng - tôn giáo, Tạp chí
Di sản văn hóa, số 6; iv) Đặng Văn Bài (2006), Tu bổ và tôn tạo các di tích lịch sử
-văn hóa là hoạt động có tính đặc thù chuyên ngành, Tạp chí Di sản -văn hóa, số 15;
Trang 4v) Nguyễn Thị Mai Lê (2014), Cụ thể hóa mức xử phạt vi phạm hành chính đất đai, Tạp chí Tài chính, số 12; vi) Trường Đại học Luật Hà Nội (2016), Giáo trình Luật
Đất đai, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội; vii) Hoàng Nghĩa (2018), Lạng Sơn: Buông lỏng quản lý, đất di tích bị xâm hại, Báo điện tử TN&MT, Thứ sáu - 14/12
09:34; viii) Nguyễn Quý (2019), Di tích khảo cổ quốc gia bị xâm phạm ngay giữa
trung tâm TP Hạ Long, Báo Dân việt điện tử, ngày 13/9; ix) Quốc Hồng (2017), Cần xử lý nghiêm việc chiếm đất công ở di tích lịch sử quốc gia đền Bảo Hà, Báo
Nhân dân điện tử, Thứ Ba, 01/08, 00:24:01; x) Hồng Long (2012), Chiếm đất di tích
lịch sử cấp quốc gia để "chia lô bán nền", Báo Dân trí điện tử, Thứ Ba 10/04 - 00:04; xi)
Quang Duy (2018), Nhiều điểm, khu di tích ở Lạng Sơn bị xâm hại, lấn chiếm, Báo ảnh Dân tộc và Miền núi, 11:02, 26/11/2018; xii) Hùng Anh (2011), Chiếm đất di tích
làm của riêng, Báo Pháp luật Thành phố Hồ Chí Minh điện tử, Thứ Tư, ngày 9/11
-00:04 v.v
Các công trình liên quan đến đề tài luận văn được đề cập trên đây, ở nhữngmức độ và phạm vi khác nhau đã phân tích khái niệm, đặc điểm của di tích lịch sử,văn hóa và danh lam thắng cảnh nói chung và đất di tích lịch sử, văn hóa và danhlam thắng cảnh nói riêng; đánh giá thực trạng pháp luật về đất di tích lịch sử, vănhóa và danh lam thắng cảnh… cũng như đề xuất một số giải pháp hoàn thiện vànâng cao hiệu quả thi hành pháp luật về đất di tích lịch sử, văn hóa và danh lamthắng cảnh ở một số địa phương v.v Trên cơ sở kế thừa kết quả nghiên cứu củacác công trình liên quan đến đề tài được công bố, luận văn đi sâu tìm hiểu phápluật về đất di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh từ thực tiễn thi hành tạitỉnh Nam Định
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận văn là đưa ra giải pháp hoàn thiện pháp luật
về đất di tích lịch sử văn hóa và danh lam thắng cảnh và nâng cao hiệu quả thi hànhtại tỉnh Nam Định
Trang 53.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Luận văn xác định các nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể sau đây:
- Nghiên cứu một số vấn đề lý luận về di tích lịch sử văn hóa và danh lamthắng cảnh và đất di tích lịch sử văn hóa và danh lam thắng cảnh bao gồm phân tíchkhái niệm, đặc điểm; ý nghĩa và tiêu chí phân loại di tích lịch sử văn hóa và danhlam thắng cảnh; giải mã nội hàm khái niệm và đặc điểm đất di tích lịch sử văn hóa vàdanh lam thắng cảnh; phân loại đất di tích lịch sử văn hóa và danh lam thắng cảnh
- Nghiên cứu một số vấn đề lý luận pháp luật về đất di tích lịch sử văn hóa
và danh lam thắng cảnh bao gồm phân tích khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa và cơ sởxây dựng pháp luật về đất di tích lịch sử văn hóa và danh lam thắng cảnh; cấu trúcpháp luật về đất di tích lịch sử văn hóa và danh lam thắng cảnh; các điều kiện đảmbảo thực thi pháp luật về đất di tích lịch sử văn hóa và danh lam thắng cảnh…
- Tìm hiểu thực trạng pháp luật về đất di tích lịch sử văn hóa và danh lamthắng cảnh và đánh giá thực tiễn thi hành pháp luật về đất di tích lịch sử văn hóa vàdanh lam thắng cảnh tại tỉnh Nam Định
- Đưa ra định hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật về đất di tích lịch sửvăn hóa và danh lam thắng cảnh và nâng cao hiệu quả thi hành tại tỉnh Nam Định
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn tập trung vào một số vấn đề cơ bản sau:
- Các trường phái lý thuyết, học thuyết, quan điểm khoa học về di tích lịch
sử - văn hóa và danh lam thắng cảnh; đất di tích lịch sử - văn hóa và danh lamthắng cảnh v.v
- Quan điểm, đường lối của Đảng về phát triển nền văn hóa truyền thốngtiên tiến đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc nói chung và bảo vệ và giữ gìn các di tíchlịch sử - văn hóa và danh lam thắng cảnh nói riêng trong nền kinh tế thị trường
- Các quy định của Luật Đất đai năm 2013 và các văn bản hướng dẫn thihành về đất di tích lịch sử - văn hóa và danh lam thắng cảnh
Trang 6- Luật Di sản văn hóa và các văn bản hướng dẫn thi hành.
- Thực tiễn thi hành pháp luật về đất di tích lịch sử - văn hóa và danh lamthắng cảnh tại tỉnh Nam Định…
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài có phạm vi nghiên cứu rộng liên quan đến một số lĩnh vực pháp luật.Tuy nhiên, trong khuôn khổ của một bản luận văn thạc sĩ luật học, tác giả giới hạnphạm vi nghiên cứu của luận văn vào những nội dung cụ thể sau đây:
- Giới hạn về nội dung: Các quy định của Luật Đất đai năm 2013 và các
văn bản hướng dẫn thi hành về quản lý và SDĐ di tích lịch sử - văn hóa và danhlam thắng cảnh
Trong phạm vi bản luận văn này, tác giả không có tham vọng phân tích tìmhiểu các quy định về quản lý và SDĐ di tích lịch sử văn hóa và danh lam thắng cảnh
mà chỉ đi sâu bình luận, đánh giá các quy định về quy hoạch, kế hoạch SDĐ di tíchlịch sử văn hóa và danh lam thắng cảnh; các quy định về giao đất và chuyển mụcđích SDĐ di tích lịch sử văn hóa và danh lam thắng cảnh; các quy định về thu hồiđất di tích lịch sử văn hóa và danh lam thắng cảnh; các quy định về quyền và nghĩa
vụ của người SDĐ di tích lịch sử văn hóa và danh lam thắng cảnh; các quy định về
- Giới hạn về không gian: Đề tài giới hạn phạm vi nghiên cứu thực tiễn thi
hành pháp luật về đất di tích lịch sử - văn hóa và danh lam thắng cảnh tại tỉnh Nam Định
- Giới hạn về thời gian: Đề tài giới hạn phạm vi nghiên cứu trong khoảng
thời gian từ năm 1993 (năm ban hành Luật Đất đai năm 1993) đến nay
5 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu dựa trên phương pháp luận nghiên cứu khoa học duyvật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin
Ngoài ra, luận văn còn sử dụng một số phương pháp nghiên cứu cụ thể sau đây:
Một là, phương pháp phân tích, phương pháp diễn giải được sử dụng xuyên
suốt các chương của luận văn Phương pháp này được sử dụng khi giải mã kháiniệm, đặc điểm của di tích lịch sử, văn hóa và danh lam thắng cảnh; khái niệm và
Trang 7đặc điểm của đất di tích lịch sử, văn hóa và danh lam thắng cảnh; ý nghĩa của di tíchlịch sử, văn hóa và danh lam thắng cảnh; phân tích nội dung các quy định của phápluật về đất di tích lịch sử, văn hóa và danh lam thắng cảnh v.v
Hai là, phương pháp đánh giá, phương pháp bình luận được sử dụng để
đánh giá thực trạng pháp luật về đất di tích lịch sử, văn hóa và danh lam thắng cảnh
và thực tiễn thi hành tại tỉnh Nam Định nhằm nhận diện những thành công, nhữngbất cập, tồn tại và nguyên nhân của bất cập, tồn tại
Ba là, phương pháp tổng hợp, phương pháp quy nạp được sử dụng để
nghiên cứu các giải pháp hoàn thiện pháp luật về đất di tích lịch sử, văn hóa và danhlam thắng cảnh và nâng cao hiệu quả thi hành tại tỉnh Nam Định
Bốn là, phương pháp lịch sử được sử dụng trong các chương của luận văn
thể hiện việc phân tích, đánh giá các quy định của pháp luật về đất di tích lịch sử,văn hóa và danh lam thắng cảnh trong quá trình hình thành,vận động, phát triển và
dự báo xu hướng trong tương lai
Năm là, phương pháp so sánh, phương pháp lập luận lô gic, phương pháp
liên ngành được sử dụng khi tìm hiểu thực trạng pháp luật về đất di tích lịch sử, vănhóa và danh lam thắng cảnh và thực tiễn thi hành tại tỉnh Nam Định nhằm nhận diệnnhững thành công, những bất cập, tồn tại và nguyên nhân của bất cập, tồn tại; tìmhiểu những vấn đề lý luận pháp luật về đất di tích lịch sử, văn hóa và danh lamthắng cảnh v.v
6 Những đóng góp của luận văn
Gía trị của luận văn được thể hiện trên một số khía cạnh chủ yếu sau đây:
Một là, tập hợp, hệ thống hóa và góp phần hoàn thiện một số vấn đề lý luận
về đất di tích lịch sử - văn hóa và và danh lam thắng cảnh và pháp luật về đất di tíchlịch sử - văn hóa và và danh lam thắng cảnh ở nước ta
Hai là, nghiên cứu thực trạng pháp luật về đất di tích lịch sử - văn hóa và
danh lam thắng cảnh và đánh giá thực tiễn thi hành pháp luật về đất di tích lịch sử văn hóa và và danh lam thắng cảnh tại tỉnh Nam Định
Trang 8Ba là, đưa ra định hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật về đất di tích lịch sử
-văn hóa và và danh lam thắng cảnh và nâng cao hiệu quả thực hiện tại tỉnh Nam Định
Luận văn là tài liệu tham khảo bổ ích không chỉ đối với các chuyên gia xâydựng pháp luật đất đai, cho đội ngũ cán bộ quản lý nhà nước về đất đai nói chung vàquản lý nhà nước về đất di tích lịch sử, văn hóa - danh lam thắng cảnh nói riêng màcòn là tài liệu có giá trị cho các cơ sở đào tạo luật ở nước ta
7 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mục lục, mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nộidung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1 Một số vấn đề lý luận về đất di tích lịch sử - văn hóa và danh
lam thắng cảnh và pháp luật về đất di tích lịch sử - văn hóa và danh lam thắng cảnh
ở Việt Nam
Chương 2 Thực trạng pháp luật về đất di tích lịch sử - văn hóa, danh lam
thắng cảnh và thực tiễn thi hành tại tỉnh Nam Định
Chương 3 Định hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về đất di tích lịch
sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh và nâng cao hiệu quả thi hành tại tỉnh Nam Định
Trang 9Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ĐẤT DI TÍCH LỊCH SỬ - VĂN HÓA, DANH LAM THẮNG CẢNH VÀ PHÁP LUẬT VỀ ĐẤT DI TÍCH LỊCH SỬ -
VĂN HÓA, DANH LAM THẮNG CẢNH Ở VIỆT NAM
1.1 Lý luận về di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh và đất di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh
1.1.1 Lý luận về di tích lịch sử, văn hóa và danh lam thắng cảnh
1.1.1.1 Khái niệm di tích lịch sử, văn hóa và danh lam thắng cảnh
Theo quy định tại Điều 1 Luật Di sản văn hóa được Quốc hội nước Cộnghòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, khóa X, kỳ họp thứ 9 thông qua ngày 29/6/2001,Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Di sản văn hóa năm 2009 thì: "Di sảnvăn hóa bao gồm di sản văn hóa phi vật thể và di sản văn hóa vật thể, là sản phẩmtinh thần, vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, được lưu truyền từ thế hệnày qua thế hệ khác ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam"
Trong khái niệm này, di sản văn hóa bao gồm di sản văn hóa phi vật thể và
di sản văn hóa vật thể Di sản văn hóa phi vật thể là sản phẩm tinh thần gắn vớicộng đồng hoặc cá nhân, vật thể và không gian văn hóa liên quan; có giá trị lịch sử,văn hóa, khoa học; thể hiện bản sắc của cộng đồng; không ngừng được tái tạo vàđược lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác bằng truyền miệng, truyền nghề,trình diễn và các hình thức khác Di sản văn hóa vật thể là sản phẩm vật chất có giátrị lịch sử, văn hóa, khoa học, bao gồm di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắngcảnh, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia
Căn cứ vào Khoản 3 Điều 4 Luật Di sản văn hóa năm 2001 thì: "Di tích làcông trình xây dựng, địa điểm và các di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia thuộc côngtrình, địa điểm đó có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học" Di tích luôn gắn liền với đấtđai, địa điểm có giá trị lịch sử
Như vậy, di tích lịch sử - văn hóa (gọi chung là di tích) là một bộ phận của
di sản văn hóa vật thể Theo quan niệm truyền thống, di tích lịch sử - văn hóa gồm
Trang 10các bộ phận cấu thành chủ yếu sau đây: Một là, các công trình kiến trúc, địa điểm
có liên quan tới các sự kiện lịch sử hoặc nhân vật lịch sử, danh nhân văn hóa; Hai
là, những đồ vật trong nội thất các công trình kiến trúc (vật dụng cá nhân, đồ tế tự
trong các thiết chế văn hóa, tín ngưỡng ); Ba là, môi trường cảnh quan thiên nhiên xen kẽ hoặc bao quanh di tích; Bốn là, những giá trị di sản văn hóa phi vật thể gắn
với các công trình địa điểm đó
Mặc dù, thuật ngữ di tích lịch sử, văn hóa và danh lam thắng cảnh được sửdụng gắn liền với nhau Tuy nhiên, di tích lịch sử, văn hóa khác với danh lam thắngcảnh ở điểm cơ bản sau đây: Di tích lịch sử, văn hóa là công trình, địa điểm, đồvật gắn với một giai đoạn phát triển của đất nước, của địa phương có giá trị lịch
sử giáo dục truyền thống lịch sử, yêu nước cho các thế hệ hiện tại và tương lại hoặc
có giá trị kiến trúc văn hóa phản ánh lịch sử, nguồn gốc, truyền thống văn hóa củamột cộng đồng dân cư, của một địa phương, của một quốc gia; ví dụ: Di tích lịch sửĐền Trần, Chùa Phổ Minh (Nam Định) Trong khi đó, danh lam thắng cảnhthường là địa điểm, phong cảnh, cảnh quan thiên nhiên hoặc nhân tạo có cảnh đẹpnổi tiếng có giá trị tham quan, du lịch, nghỉ ngơi hoặc có giá trị khoa học, ví dụ:Danh Thắng Yên Tử (Quảng Ninh); danh thắng Chùa Hương - Suối Yến (Hà Nội)
1.1.1.2 Ý nghĩa của di tích lịch sử, văn hóa và danh lam thắng cảnh
Ngày nay, trước sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế - xã hội (KT-XH), côngnghệ, khoa học v.v thì chất lượng cuộc sống của người dân được tăng lên Văn hóakhẳng định được vai trò quan trọng trong đời sống xã hội là nền tảng tinh thần của
xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy phát triển KT-XH Các di tích lịch
sử - văn hóa có vị thế quan trọng trong hệ thống di sản văn hóa của mỗi quốc gia
Di tích chứa đựng những giá trị kinh tế to lớn (trị giá nhiều ngàn tỷ đồng) nếu bịmất đi không đơn thuần là mất tài sản vật chất mà là mất đi những giá trị tinh thầnlớn lao không gì có thể bù đắp nổi Đồng thời, di tích còn mang ý nghĩa là nguồnlực cho phát triển kinh tế, một nguồn lực rất lớn, sẵn có nếu được khai thác, sử dụngtốt sẽ góp phần không nhỏ cho việc phát triển kinh tế đất nước và càng có ý nghĩa tolớn khi đất nước đang rất cần phát huy tối đa các nguồn nội lực để phát triển
Trang 11Việc bảo vệ, giữ gìn các di tích phụ thuộc vào nhiều yếu tố như chính sách,pháp luật, công tác quản lý, khoa học, kỹ thuật….Việc bảo tồn và phát huy giá trịcủa di sản văn hóa nói chung và di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh nóiriêng có vai trò hết sức quan trọng trong đời sống xã hội, góp phần phát triển kinh tếđất nước, phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Trong mấychục năm qua, hàng ngàn di tích được xếp hạng và tu bổ đã thể hiện những nỗ lực
to lớn của toàn xã hội chăm lo và bảo vệ di tích Về cơ bản hệ thống di tích củanước ta được bảo vệ, chăm sóc và tu bổ bảo đảm khả năng tồn tại lâu dài Nghịquyết Trung ương 5 (khóa VIII) của Đảng khẳng định nhiệm vụ bảo tồn di sản vănhóa trong bối cảnh mới ở nước ta "Di sản văn hóa là tài sản vô giá, gắn kết cộngđồng dân tộc, là cốt lõi của bản sắc dân tộc, cơ sở để sáng tạo những giá trị văn hóamới và giao lưu văn hóa Hết sức coi trọng bảo tồn, kế thừa, phát huy những giá trịvăn hóa truyền thống (bác học và dân gian) văn hóa cách mạng bao gồm cả văn hóavật thể và phi vật thể" [24]
1.1.1.3 Các tiêu chí cơ bản phân loại di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh
Trên thực tế, chúng ta bắt gặp rất phổ biến các biển hiệu do người dân hoặccộng đồng dân cư ở các địa phương tự dựng lên với nội dung "di tích lịch sử đã xếphạng cấm xâm phạm" ở trước những ngôi chùa, ngôi đền, miếu, mộ, lăng tẩm v.v.Vậy làm thế nào để có thể phân biệt được di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắngcảnh với những giá trị thực sự được cơ quan nhà nước có thẩm quyền thẩm định,xếp hạng, công nhận với các di tích do người dân, cộng đồng dân cư ở một địaphương tự phong Câu trả lời được tìm thấy trong Luật Di sản văn hóa năm 2001 vàLuật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Di sản văn hóa năm 2009 (sau đây gọichung là Luật Di sản văn hóa sửa đổi) Đạo Luật này quy định các tiêu chí cơ bản
để xác định và phân loại di tích lịch sử văn hóa và danh lam thắng cảnh; cụ thể:
Thứ nhất, di tích lịch sử văn hóa phải có một trong các tiêu chí sau đây: Một là, công trình xây dựng, địa điểm gắn với sự kiện lịch sử, văn hóa tiêu
biểu của quốc gia hoặc của địa phương
Trang 12Hai là, công trình xây dựng, địa điểm gắn với thân thế và sự nghiệp của anh
hùng dân tộc, danh nhân, nhân vật lịch sử có ảnh hưởng tích cực đến sự phát triểncủa quốc gia hoặc của địa phương trong các thời kỳ lịch sử
Ba là, địa điểm khảo cổ có giá trị tiêu biểu.
Bốn là, công trình kiến trúc, nghệ thuật, quần thể kiến trúc, tông thể kiến
trúc đô thị và địa điểm cư trú có giá trị tiêu biểu cho một hoặc nhiều giai đoạn pháttriển kiến trúc, nghệ thuật
Thứ hai, danh lam thắng cảnh phải có một trong các tiêu chí sau đây:
Một là, cảnh quan thiên nhiên hoặc địa điểm có sự kết hợp giữa cảnh quan
thiên nhiên với công trình kiến trúc có giá trị thẩm mỹ tiêu biểu
Hai là, khu vực thiên nhiên có giá trị khoa học về địa chất, địa mạo, địa lý,
đang dạng sinh học, hệ sinh thái đặc thù hoặc khu vực thiên nhiên chứa đựng nhữngdấu tích vật chất về các giai đoạn phát triển của trái đất
Thứ ba, di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh (sau đây gọi chung là
di tích) được xếp hạng như sau:
Một là, di tích cấp tỉnh có giá trị tiêu biểu của địa phương, bao gồm:
i) Công trình xây dựng, địa điểm ghi dấu sự kiện, mốc lịch sử quan trọngcủa địa phương hoặc gắn với nhân vật có ảnh hưởng tích cực đến sự phát triển củađịa phương
ii) Công trình kiến trúc, nghệ thuật, quần thể kiến trúc, tổng thể kiến trúc đôthị và địa điểm cư trú có giá trị trong phạm vi địa phương;
iii) Địa điểm khảo cổ có giá trị trong phạm vi địa phương;
iv) Cảnh quan thiên nhiên hoặc địa điểm có sự kết hợp giữa cảnh quan thiênnhiên với công trình kiến trúc, nghệ thuật có giá trị trong phạm vi địa phương
Hai là, di tích quốc gia là di tích có giá trị tiêu biểu của quốc gia, bao gồm:
i) Công trình xây dựng, địa điểm ghi dấu sự kiện, mốc lịch sử quan trọngcủa dân tộc hoặc gắn với anh hùng dân tộc, danh nhân, nhà hoạt động chính trị, vănhóa, nghệ thuật, khoa học nổi tiếng có ảnh hưởng quan trọng đối với tiến trình lịch
sử của dân tộc;
Trang 13ii) Công trình kiến trúc, nghệ thuật, quần thể kiến trúc, tổng thể kiến trúc đôthị và địa điểm cư trú có giá trị tiêu biểu trong các giai đoạn phát triển kiến trúc,nghệ thuật Việt Nam;
iii) Địa điểm khảo cổ có giá trị nổi bật đánh dấu các giai đoạn phát triển củavăn hóa khảo cổ;
iv) Cảnh quan thiên nhiên đẹp hoặc địa điểm có sự kết hợp giữa cảnh quanthiên nhiên với công trình kiến trúc, nghệ thuật hoặc khu vực thiên nhiên có giá trịkhoa học về địa chất, địa mạo, địa lý, đa dạng sinh học, hệ sinh thái đặc thù
Ba là, di tích quốc gia đặc biệt là di tích có giá trị đặc biệt tiêu biểu của
quốc gia, bao gồm:
i) Công trình xây dựng, địa điểm gắn với sự kiện đánh dấu bước chuyểnbiến đặc biệt quan trọng của lịch sử dân tộc hoặc gắn với anh hùng dân tộc, danhnhân tiêu biểu có ảnh hưởng to lớn đối với tiến trình lịch sử của dân tộc;
ii) Công trình kiến trúc, nghệ thuật, quần thể kiến trúc, tổng thể kiến trúc đôthị và địa điểm cư trú có giá trị đặc biệt đánh dấu các giai đoạn phát triển kiến trúc,nghệ thuật Việt Nam;
iii) Địa điểm khảo cổ có giá trị nổi bật đánh dấu các giai đoạn phát triển vănhóa khảo cổ quan trọng của Việt Nam và thế giới;
iv) Cảnh quan thiên nhiên nổi tiếng hoặc địa điểm có sự kết hợp giữa cảnhquan thiên nhiên với công trình kiến trúc, nghệ thuật có giá trị đặc biệt của quốc giahoặc khu vực thiên nhiên có giá trị về địa chất, địa mạo, địa lý, đa dạng sinh học và
hệ sinh thái đặc thù nổi tiếng của Việt Nam và thế giới
Thứ tư, thẩm quyền quyết định xếp hạng di tích được quy định như sau: Một là, Chủ tịch Ủy ban nhân dân (UBND) cấp tỉnh quyết định xếp hạng di
tích cấp tỉnh, cấp bằng xếp hạng di tích cấp tỉnh;
Hai là, Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch quyết định xếp hạng di
tích quốc gia, cấp bằng xếp hạng di tích quốc gia;
Ba là, Thủ tướng Chính phủ quyết định xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt,
cấp bằng xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt; quyết định việc đề nghị Tổ chức Giáo
Trang 14dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc xem xét đưa di tích tiêu biểu của ViệtNam vào Danh mục di sản thế giới.
Thứ năm, trong trường hợp di tích đã được xếp hạng mà sau đó có đủ căn
cứ xác định là không đủ tiêu chuẩn hoặc bị hủy hoại không có khả năng phục hồi thìngười có thẩm quyền quyết định xếp hạng di tích nào có quyền ra quyết định hủy bỏxếp hạng đối với di tích đó [42, Điều 28, Điều 29, Điều 30]
1.1.2 Lý luận về đất di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh
1.1.2.1 Khái niệm đất di tích lịch sử, văn hóa và danh lam thắng cảnh
Trên thực tế đất di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh là đất mà trên
đó xây dựng hoặc có các di tích lịch sử văn hóa và danh lam thắng cảnh đã đượcNhà nước đánh giá, xếp hạng Thuật ngữ đất di tích lịch sử văn hóa và danh lamthắng cảnh được sử dụng khá phổ biến trong đời sống xã hội Thuật ngữ đất di tíchthường được hiểu gắn liền với quan niệm về di tích; theo đó: "Đất di tích thuộcnhóm đất phi nông nghiệp, bao gồm một quần thể kiến trúc hoàn chỉnh gồm nhiềucông trình kiến trúc gắn bó với nhau vào một cơ cấu thống nhất Đó có thể là: i)Trung tâm lịch sử của một đô thị cổ; ii) Khu phố cổ gồm nhiều đường phố khácnhau; iii) Di sản kiến trúc đô thị Bao gồm: Ý tưởng quy hoạch gắn kiến trúc với môitrường tự nhiên; Cơ cấu đô thị; Diện mạo kiến trúc đô thị; Lối sống, nếp sống vănminh đô thị; iv) Bộ phận di sản văn hóa phi vật thể gắn với di tích lịch sử - văn hóa
Đất danh lam thắng cảnh là đất có cảnh quan thiên nhiên hoặc địa điểm có
sự kết hợp giữa cảnh quan thiên nhiên và công trình kiến trúc có giá trị lịch sử, thẩm
mỹ, khoa học" Thuật ngữ đất di tích nêu trên giải mà khái niệm đất di tích chủ yếutheo khía cạnh phân loại di tích và quản lý di tích Khái niệm này dường như chưabao quát đầy đủ các loại đất di tích lịch sử văn hóa và danh lam thắng cảnh
Thuật ngữ đất di tích lịch sử, văn hóa và danh lam thắng cảnh được sử dụngkhá phổ biến trong các văn bản pháp luật đất đai ở nước ta Tuy nhiên, thuật ngữnày là không được giải thích chính thức trong Luật Đất đai năm 2013 Nghiên cứunội dung các quy định về đất di tích lịch sử, văn hóa và danh lam thắng cảnh của
Trang 15Luật Đất đai năm 2013 và các văn bản hướng dẫn thi hành, theo tác giả, đất di tích
lịch sử, văn hóa và danh lam thắng cảnh được hiểu như sau: Đất di tích lịch sử, văn
hóa và danh lam thắng cảnh là một thành phần độc lập trong nhóm đất phi nông nghiệp Đất di tích lịch sử, văn hóa và danh lam thắng cảnh là đất mà trên đó các các di tích lịch sử, văn hóa và danh lam thắng cảnh do con người hoặc tự nhiên tạo
ra và được cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam hay cơ quan có thẩm quyền của Liên hiệp quốc công nhận, xếp hạng di tích lịch sử, văn hóa, danh lam thắng cảnh.
Bên cạnh các đặc điểm chung của đất đai, đất di tích lịch sử, văn hóa vàdanh lam thắng cảnh là còn có một số đặc điểm riêng chủ yếu sau đây:
Một là, đất di tích lịch sử, văn hóa và danh lam thắng cảnh là đất mà trên đó
các các di tích lịch sử, văn hóa và danh lam thắng cảnh do con người hoặc tự nhiêntạo ra và được cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam hay cơ quan có thẩm quyềncủa Liên hiệp quốc công nhận, xếp hạng di tích lịch sử, văn hóa, danh lam thắngcảnh Đây là đặc điểm quan trọng nhất để nhận diện, phân biệt đất di tích lịch sử,văn hóa và danh lam thắng cảnh với các loại đất khác trong nhóm đất phi nôngnghiệp như đất thăm dò, khai thác khoáng sản; đất quốc phòng - an ninh; đất ở vàđất đô thị v.v Một thửa đất được xác định là đất di tích lịch sử, văn hóa và danhlam thắng cảnh phải thỏa mãn 02 điều kiện cơ bản sau đây: i) Trên đất phải có ditích lịch sử, văn hóa và danh lam thắng cảnh; ii) Di tích lịch sử, văn hóa và danhlam thắng cảnh này phải được cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam hay cơ quan cóthẩm quyền của Liên hiệp quốc thẩm định công nhận, xếp hạng
Hai là, chế độ quản lý và SDĐ di tích lịch sử, văn hóa và danh lam thắng
cảnh được quy định rất nghiêm ngặt; nghiêm cấm mọi hành vi xâm phạm, sử dụngsai mục đích của đất di tích lịch sử, văn hóa và danh lam thắng cảnh Trong trườnghợp đặc biệt phải SDĐ di tích lịch sử, văn hóa và danh lam thắng cảnh vào mụcđích khác phải có ý kiến đồng ý của Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể Thao và Du lịch.Trường hợp Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể Thao và Du lịch không đồng ý thì phải có
ý kiến quyết định của Thủ tướng Chính phủ
Trang 16Để bảo vệ di tích lịch sử, văn hóa và danh lam thắng cảnh thì quy hoạch sửdụng loại đất này được phân chia thành quy hoạch vùng lõi của di tích lịch sử, vănhóa và danh lam thắng cảnh; quy hoạch vùng tiếp giáp vùng lõi của di tích lịch sử,văn hóa và danh lam thắng cảnh và quy hoạch vùng bên ngoài, xung quanh di tíchlịch sử, văn hóa và danh lam thắng cảnh Trong vùng lõi của di tích lịch sử, văn hóa
và danh lam thắng cảnh nghiêm cấm tuyệt đối mọi hành vi xâm phạm, lấn chiếm,xây dựng công trình, SDĐ sai mục đích v.v Đối với vùng tiếp giáp vùng lõi của ditích lịch sử, văn hóa và danh lam thắng cảnh nghiêm cấm việc xây dựng công trìnhtrái phép Trường hợp xây dựng công trình phải được phép của cơ quan nhà nước cóthẩm quyền (bao gồm cơ quan quản lý đất đai và cơ quan quản lý di tích lịch sử vănhóa) và phải phù hợp với quy hoạch SDĐ, quy hoạch xây dựng; không được làmảnh hưởng đến không gian bảo vệ di tích lịch sử, văn hóa và danh lam thắng cảnh.Vùng bên ngoài vùng tiếp giáp vùng lõi của di tích lịch sử, văn hóa và danh lamthắng cảnh được xây dựng hàng rào bảo vệ nhằm ngăn chặn các hành vi lấn chiếm,
vi phạm v.v
Ba là, chủ thể SDĐ di tích lịch sử, văn hóa và danh lam thắng cảnh chủ yếu
là cộng đồng dân cư, cơ sở tôn giáo, tổ chức, hộ gia đình, cá nhân trong nước màngười quản lý trực tiếp là ban quản lý di tích do cộng đồng dân cư bầu ra hoặc Nhànước thành lập v.v
Bốn là, đất di tích lịch sử, văn hóa và danh lam thắng cảnh được Nhà nước
công nhận quyền SDĐ ổn định lâu dài Trong trường hợp tôn tạo, tu bổ và mở rộng
di tích lịch sử, văn hóa, danh lam thắng cảnh, Nhà nước giao đất không thu tiềnSDĐ cho tổ chức, cơ sở tôn giáo, cộng đồng dân cư được giao quản lý di tích lịch
sử, văn hóa, danh lam thắng cảnh đó dựa trên quy hoạch SDĐ đã được cấp có thẩmquyền xét duyệt
Người sử dụng loại đất này có quyền và nghĩa vụ chung của người SDĐquy định tại Điều 166 và Điều 170 Luật Đất đai năm 2013; không có quyền tặngcho, chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, thế chấp và gópvốn bằng quyền SDĐ
Trang 171.1.2.2 Các loại đất di tích lịch sử, văn hóa và danh lam thắng cảnh
Di tích lịch sử, văn hóa, danh lam thắng cảnh (sau đây gọi chung là di tích)được phân loại theo Điều 11 Nghị định số 98/2010/NĐ-CP ngày 21/9/2010 củaChính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Di sản văn hóa và Luậtsửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Di sản văn hóa (sau đây gọi tắt là Nghị định
số 98/2010/NĐ-CP của Chính phủ) và các tiêu chí quy định tại Điều 28 Luật Di sảnvăn hóa, khoản 9, Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Di sản vănhóa, bao gồm: i) Di tích lịch sử (di tích lưu niệm sự kiện, di tích lưu niệm danhnhân); ii) Di tích kiến trúc nghệ thuật; iii) Di tích khảo cổ; iv) Danh lam thắng cảnh
Như phần trên đã đề cập, di tích được xây dựng trên đất và luôn gắn liền vớiđất đai Do vậy, căn cứ vào việc xếp loại di tích thì đất di tích lịch sử, văn hóa, danhlam thắng cảnh (sau đây gọi là đất di tích) được phân thành các loại chủ yếu sau đây:
Thứ nhất, đất di tích lịch sử - văn hóa.
Đất di tích lịch sử, văn hóa là đất trên đó xây dựng hoặc có những côngtrình, địa điểm gắn với sự kiện lịch sử tiêu biểu trong quá trình dựng nước và giữnước; gắn với thân thế và sự nghiệp của anh hùng dân tộc, danh nhân đất nước, gắnvới sự kiện lịch sử tiêu biểu của các thời kỳ cách mạng, kháng chiến dưới sự lãnhđạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại Di tích lịch sửliên quan tới sự kiện hoặc nhân vật lịch sử có những đóng góp, ảnh hưởng tới sựphát triển của lịch sử dân tộc Đến với di tích lịch sử, khách tham quan như đượcđọc cuốn sử ghi chép về những con người, những sự kiện tiêu biểu, được cảm nhậnmột cách chân thực về lịch sử, những cảm nhận không dễ có được khi chỉ đọcnhững tư liệu ghi chép của đời sau
Di tích lịch sử - văn hóa là công trình xây dựng, địa điểm và các di vật, cổvật, bảo vật quốc gia thuộc công trình, địa điểm đó có giá trị lịch sử, văn hóa, khoahọc Di tích lịch sử - văn hóa phải có một trong các tiêu chí sau đây:
Một là, công trình xây dựng, địa điểm gắn với sự kiện lịch sử tiêu biểu
trong quá trình dựng nước và giữ nước Các di tích tiêu biểu thuộc loại này như ĐềnHùng, Cổ Loa, Cố đô Hoa Lư, Bãi cọc Bạch Đằng, Cột cờ Hà Nội
Trang 18Hai là, công trình xây dựng, địa điểm gắn với thân thế và sự nghiệp của anh
hùng dân tộc, danh nhân của đất nước Các di tích tiêu biểu thuộc loại này như Khu
di tích lịch sử Kim Liên, Đền Kiếp Bạc, Quần thể di tích danh thắng Yên Tử, LamKinh, đền Đồng Nhân
Ba là, công trình xây dựng, địa điểm gắn với sự kiện lịch sử tiêu biểu của
các thời kỳ cách mạng, kháng chiến Các di tích tiêu biểu thuộc loại này như Khu ditích chiến thắng Điện Biên Phủ, Địa đạo Củ Chi, Khu di tích lịch sử cách mạng Pắc
Bó, Phòng tuyến Tam Điệp, Hành cung Vũ Lâm, Khu rừng Trần Hưng Đạo
Theo Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch tính đến năm 2010, di tích lịch sửchiếm 51.2% số di tích được xếp hạng Các di tích này không những có giá trị lịch
sử và văn hóa mà còn mang lại những giá trị lớn trên phương diện kinh tế, nhất làkinh tế du lịch
Thứ hai, đất di tích kiến trúc nghệ thuật.
Đất di tích kiến trúc nghệ thuật là đất có quần thể các công trình kiến trúchoặc công trình kiến trúc đơn lẻ có giá trị tiêu biểu về kiến trúc, nghệ thuật của mộthoặc nhiều giai đoạn lịch sử Giá trị của di tích kiến trúc nghệ thuật thể hiện ở quyhoạch tổng thể và bố cục kiến trúc, ở sự kết hợp hài hòa giữa kiến trúc với cảnhquan, ở những bức chạm khắc trên kết cấu gỗ, ở vẻ đẹp thánh thiện của những photượng cổ, ở nét chạm tinh xảo của những đồ thờ tự
Di tích kiến trúc nghệ thuật là công trình kiến trúc nghệ thuật, tổng thể kiếntrúc đô thị và đô thị có giá trị tiêu biểu trong các giai đoạn phát triển nghệ thuật kiếntrúc của dân tộc Quần thể các công trình kiến trúc hoặc công trình kiến trúc đơn lẻ
có giá trị tiêu biểu về kiến trúc, nghệ thuật của một hoặc nhiều giai đoạn lịch sử.Các di tích tiêu biểu loại này như Chùa Bút Tháp (Bắc Ninh), phố cổ Hội An(Quảng Nam), nhà thờ Phát Diệm (Ninh Bình), chùa Keo (Thái Bình), đình TâyĐằng (Hà Nội), Chùa Phật Tích (Bắc Ninh) v.v Theo Bộ Văn hóa, Thể thao và Dulịch tính đến năm 2010, di tích kiến trúc nghệ thuật chiếm 44,2% tổng số di tíchđược xếp hạng
Trang 19Thứ ba, đất di tích khảo cổ học.
Đất di tích khảo cổ học là đất có những địa điểm khảo cổ có giá trị nổi bật,đánh dấu các giai đoạn phát triển của văn hóa khảo cổ Việt Nam là một trongnhững quốc gia có nhiều di tích khảo cổ Các di tích, di vật khảo cổ học là nguồn sửliệu quan trọng giúp việc biên soạn lịch sử trái đất và lịch sử dân tộc từ thời tiền/sơ
sử tới các thời kỳ lịch sử sau này Di tích khảo cổ là những địa điểm khảo cổ có giátrị nổi bật đánh dấu các giai đoạn phát triển của các văn hóa khảo cổ Các di tíchtiêu biểu thuộc loại này như Hoàng thành Thăng Long (Hà Nội), Hang Con Moong,
di chỉ Đông Sơn (Hòa Bình), động Người Xưa (Ninh Bình), thánh địa Mỹ Sơn(Quảng Nam) v.v Theo Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch tính đến năm 2010, ditích khảo cổ chiếm 1.3% các di tích được xếp hạng
Thứ tư, đất danh lam thắng cảnh.
Đất danh lam thắng cảnh là đất có cảnh quan thiên nhiên hoặc địa điểm có
sự kết hợp giữa cảnh quan thiên nhiên với công trình kiến trúc có giá trị lịch sử,thẩm mỹ, khoa học được công nhận, xếp hạng Danh lam thắng cảnh phải có mộttrong các tiêu chí sau đây:
Một là, cảnh quan thiên nhiên hoặc địa điểm có sự kết hợp giữa cảnh quan
thiên nhiên với công trình kiến trúc có giá trị thẩm mỹ tiêu biểu Các di tích quốcgia đặc biệt tiêu biểu thuộc loại này như 4 danh lam thắng cảnh khu danh thắng TâyThiên (Vình Phúc), Tràng An - Tam Cốc - Bích Động (Ninh Bình), vịnh Hạ Long(Quảng Ninh), động Phong Nha (Quảng Bình), v.v
Hai là, khu vực thiên nhiên có giá trị khoa học về địa chất, địa mạo, địa lý,
đa dạng sinh học, hệ sinh thái đặc thù hoặc khu vực thiên nhiên chứa đựng nhữngdấu tích vật chất về các giai đoạn phát triển của Trái Đất Các di tích tiêu biểu thuộcloại này như vịnh Hạ Long (Quảng Ninh), Cao nguyên Đồng Văn (Hà Giang), cácvườn quốc gia và khu dự trữ sinh quyển thế giới ở Việt Nam như Vườn quốc giaCúc Phương, vườn quốc gia Ba Vì, vườn quốc gia Nam bãi Cát tiên v.v Theo BộVăn hóa, Thể thao và Du lịch tính đến năm 2010, danh lam thắng cảnh chiếmkhoảng 3,3% số di tích được xếp hạng
Trang 20Như vậy, danh lam thắm cảnh là cảnh quan thiên nhiên hoặc địa điểm có sựkết hợp giữa cảnh quan thiên nhiên với công trình kiến trúc có giá trị thẩm mỹ caohoặc địa điểm ghi dấu hoạt động của con người trong lịch sử để lại, có giá trị về lịch
sử, văn hóa, khoa học Danh lam thắng cảnh thường được kết hợp giữa công trìnhtôn giáo, tín ngưỡng với cảnh quan thiên nhiên tươi đẹp Đất nước ta ở miền nhiệtđới, trải dài trên nhiều vĩ tuyến, có "Rừng vàng, biển bạc" với một hệ động, thực vậtđặc biệt phong phú và nhiều hang động kỳ thú đủ sức hấp dẫn mọi du khách trongnước và quốc tế
1.1.2.3 Yêu cầu của quản lý và sử dụng đất di tích lịch sử, văn hóa và danh lam thắng cảnh
Đất di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh đã được xếp hạng phảiquản lý nghiêm ngặt theo quy định tại Điều 158 Luật Đất đai năm 2013 như sau:
- Đối với đất có di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh do tổ chức,
hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư trực tiếp quản lý theo quy định của phápluật về di sản văn hóa thì tổ chức, hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư đó chịutrách nhiệm quản lý
- Đối với đất có di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh không thuộcquy định trên thì UBND cấp xã nơi có di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnhchịu trách nhiệm chính trong việc quản lý diện tích đất có di tích lịch sử - văn hóa,danh lam thắng cảnh;
- Đối với đất có di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh bị lấn, bịchiếm, sử dụng không đúng mục đích, sử dụng trái pháp luật thì Chủ tịch UBNDcấp xã nơi có đất có trách nhiệm phát hiện, ngăn chặn và xử lý kịp thời
- Trong trường hợp đặc biệt cần thiết phải SDĐ có di tích lịch sử - văn hóa,danh lam thẳng cảnh vào mục đích khác thì việc chuyển mục đích phải phù hợp vớiquy hoạch, kế hoạch SDĐ đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt vàphải có văn bản chấp thuận của cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định xếphạng đối với di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh đó
Trang 21Theo quy định tại khoản 2 Điều 158 Luật Đất đai năm 2013, thì trongtrường hợp đặc biệt cần thiết có thể SDĐ có di tích lịch sử - văn hóa, danh lam
thắng cảnh vào mục đích khác song phải đáp ứng những yêu cầu sau: Một là, việc
chuyển mục đích sử dụng phải phù hợp với quy hoạch, kế hoạch SDĐ đã được cơ
quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt; Hai là, phải có văn bản chấp thuận của cơ
quan nhà nước có thẩm quyền quyết định xếp hạng đối với di tích lịch sử - văn hóa,danh lam thắng cảnh đó Như vậy, đất có di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh cũng
có thể sử dụng vào mục đích khác thuộc những trường hợp đặc biệt cần thiết songphải tuân thủ các quy định của pháp luật
1.2 Lý luận pháp luật về đất di tích lịch sử, văn hóa và danh lam thắng cảnh
1.2.1 Cơ sở xây dựng pháp luật về đất di tích lịch sử, văn hóa và danh lam thắng cảnh
Pháp luật về đất di tích lịch sử, văn hóa, danh lam thắng cảnh là một chếđịnh của pháp luật đất đai Chế định pháp luật này ra được dựa trên một số căn cứ
cơ bản sau đây:
Thứ nhất, pháp luật mang những đặc trưng mà các biện pháp quản lý khác
không có được; đó là tính quy phạm, tính bắt buộc chung, tính cưỡng chế và tínhthích ứng
- Tính quy phạm của pháp luật: Những quy tắc đạo đức được sử dụng một
cách phổ biến trong quan hệ ứng xử hàng ngày của con người được pháp luật "phápđiển" hóa thành các quy định pháp luật Điều này có nghĩa là pháp luật xây dựngnhững quy tắc ứng xử mẫu thông qua nội dung các quy định để con người căn cứvào đó tự điều chỉnh hành vi ứng xử của mình cho ngày càng gần với những hành viứng xử mẫu này
- Tính bắt buộc chung: Quy định của pháp luật được xây dựng trên cơ sở
các quy tắc đạo đức, quy ước chung được xã hội thừa nhận rộng rãi Tuy nhiên khácvới quy tắc đạo đức, quy phạm pháp luật có tính bắt buộc chung đối với mọi ngườitrong xã hội Điều này có nghĩa là mọi người phải có nghĩa vụ và trách nhiệm tuân
Trang 22thủ, chấp hành pháp luật Thông qua đó, sự công bằng, bình đẳng được thiết lậpgiữa những chủ thể, những giai tầng khác nhau trong xã hội Mọi người đều cóquyền bình đẳng như nhau về quyền và nghĩa vụ trong việc thụ hưởng các giá trịvăn hóa, tinh thần của cha ông để lại và có bổn phận, trách nhiệm trong việc bảo vệ,giữ gìn các di tích lịch sử văn hóa và danh lam thắng cảnh.
- Tính cưỡng chế: Sự tuân thủ quy tắc đạo đức của con người được thực
hiện dựa trên ý thức tự giác và sức cảm hóa, sự giác ngộ, lan tỏa của lẽ phải, củaứng xử mẫu mực Khác với quy tắc đạo đức, pháp luật là thiết chế mang tính quyềnlực nhà nước Nó do Nhà nước ban hành và đảm bảo bằng sức mạnh cưỡng chế củaNhà nước Điều này có nghĩa là nếu con người tự giác chấp hành việc tuân thủ phápluật thì họ sẽ được Nhà nước cho hưởng quyền và lợi ích hợp pháp; đồng thời, cácquyền và lợi ích hợp pháp này được Nhà nước bảo hộ thông qua các biện pháp pháp
lý Ngược lại, nếu con người không tuân thủ pháp luật thì họ sẽ nhận được nhữngchế tài xử lý của Nhà nước Những chế tài này là sự cưỡng chế bắt buộc và đượcđảm bảo bởi yếu tố quyền lực nhà nước Thuộc tính này đã làm cho pháp luật cótính nghiêm minh và nhờ đó trật tự xã hội nói chung và trật tự trong quản lý, SDĐ
di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh nói riêng được thiết lập và duy trì
- Tính thích ứng: Pháp luật không hoàn toàn là sản phẩm mang tính chủ
quan của con người mà nó còn là "tấm gương" phản chiếu thực tế sinh động cũngnhư yêu cầu, đòi hỏi của thực tiễn cuộc sống Khi hoàn cảnh khách quan của đờisống xã hội thay đổi thì pháp luật cũng phải tự thay đổi theo nhằm đáp ứng yêu cầucủa thực tiễn Có như vậy thì pháp luật mới phù hợp và có thể đi vào cuộc sống
Do có những đặc trưng cơ bản trên đây mà pháp luật trở thành biện phápquản lý xã hội có hiệu quả nhất "Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật chứ khôngphải bằng đạo lý" [23] Vì vậy, pháp luật phải được sử dụng để quản lý đất di tíchlịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh; bởi lẽ, di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắngcảnh có giá trị tinh thần vô giá, là yếu tố đảm bảo cho nước ta không bị "hòa tan"trong quá trình hội nhập quốc tế
Trang 23Thứ hai, thông qua cơ chế điều chỉnh của pháp luật mà trật tự quản lý và
SDĐ di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh được xác lập và đi vào nề nếp;theo đó: i) Đối với những hoạt động quản lý và SDĐ phù hợp với yêu cầu của phápluật như SDĐ đúng mục đích, thực hiện đầy đủ quy hoạch, kế hoạch SDĐ…thìpháp luật bảo vệ, khuyến khích, tạo điều kiện để nó ngày càng phát triển; ii) Đối vớinhững hoạt động quản lý và SDĐ không phù hợp với yêu cầu của pháp luật như lấn,chiếm, xây dựng công trình trái phép trên đất di tích lịch sử văn hóa, danh lamthắng cảnh… thì pháp luật ngăn chặn, xử lý và loại bỏ dần ra khỏi đời sống xã hội.Thông qua cơ chế điều chỉnh này, pháp luật xác lập một trật tự quản lý ngày càng
có hiệu quả đối với loại đất này
Thứ ba, như phần trên đã đề cập, đất di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắng
cảnh trên đó tồn tại các di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh Đây là loại đấtkhông chỉ có giá trị vật chất mà còn có giá trị tinh thần vô cùng to lớn Có nhiều ditích lịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh được xếp hạng là bảo vật quốc gia không
để xác định hoặc "cân đong, đo đếm" quy đổi thành tiền được Hay nói cách khác,những di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh này là vô giá, có bao nhiều tiềncũng không thể mua hoặc tái tạo được Hơn nữa, giá trị căn bản, cốt lõi của di tíchlịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh chính là giá trị phi vật chất gắn liền với một
sự kiện lịch sử, một thời kỳ phát triển mà không thể tái tạo hoặc "làm giả" được Vìvậy, việc bảo tồn, giữ gìn, tôn tạo di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh phảigiữ nguyên vẹn giá trị gốc/giá trị ban đầu Do đó, đất di tích lịch sử văn hóa, danhlam thắng cảnh phải được bảo vệ nghiêm ngặt, quản lý chặt chẽ hơn so với các loạiđất phi nông nghiệp khác để đảm bảo giá trị gốc, giá trị ban đầu và không được làmthay đổi hiện trạng ban đầu, sơ khai của di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắngcảnh Muốn vậy, việc quản lý và SDĐ di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnhphải được thực hiện bằng pháp luật
Thứ tư, bằng pháp luật, Nhà nước thành lập một hệ thống cơ quan được tổ
chức chặt chẽ, thống nhất từ trung ương đến địa phương và quy định chức năng,
Trang 24nhiệm vụ, quyền hạn để các cơ quan nhà nước này phối, kết hợp các hoạt động quản
lý đất di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh; kịp thời xử lý các tình huốngnảy sinh trong quá trình quản lý Hệ thống cơ quan này chịu trách nhiệm trướcChính phủ quản lý thống nhất đất di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh Mặtkhác, việc quản lý đất di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh liên quan đếncác bộ ngành, địa phương mà trước hết là Bộ TN&MT; Bộ Văn hóa, Thể thao và
Du lịch; UBND các cấp nơi có di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh Vấn đềđặt ra là cần phải xác lập một cơ chế phối kết hợp thống nhất, chặt chẽ, hiệu quảgiữa các bộ ngành, địa phương trong quản lý và SDĐ di tích lịch sử văn hóa, danhlam thắng cảnh Điều này chỉ có thể thực hiện được thông qua pháp luật về đất ditích lịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh v.v
1.2.2 Khái niệm pháp luật về đất di tích lịch sử, văn hóa và danh lam thắng cảnh
Pháp luật về đất di tích lịch sử, văn hóa và danh lam thắng cảnh là một lĩnhvực của pháp luật đất đai Nó bao gồm tổng hợp các quy phạm pháp luật do Nhànước ban hành và bảo đảm thực hiện bằng sức mạnh cưỡng chế của Nhà nước nhằmđiều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực quản lý và SDĐ di tích lịch
sử, văn hóa và danh lam thắng cảnh nhằm bảo vệ, giữ gìn, tôn tạo các giá trị di tíchlịch sử, văn hóa và danh lam thắng cảnh bền vững, phát huy giá trị đích thực trongđời sống xã hội
Bên cạnh các đặc điểm chung của pháp luật đất đai, pháp luật về đất di tíchlịch sử, văn hóa và danh lam thắng cảnh còn có một số các đặc điểm riêng cơ bảnsau đây:
Thứ nhất, pháp luật về đất di tích lịch sử, văn hóa và danh lam thắng cảnh
là lĩnh vực pháp luật tổng hợp Nó bao gồm quy phạm pháp luật của một số lĩnh vựcpháp luật có liên quan mà trước hết là lĩnh vực pháp luật đất đai, pháp luật về quyhoạch, kiến trúc; pháp luật hành chính và pháp luật về di sản văn hóa v.v
Pháp luật đất đai quy định về chế độ quản lý và SDĐ di tích lịch sử, vănhóa và danh lam thắng cảnh; quy định quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân SDĐ
Trang 25di tích lịch sử, văn hóa và danh lam thắng cảnh; quy định về cấp giấy chứng nhậnquyền SDĐ di tích lịch sử, văn hóa và danh lam thắng cảnh v.v
Pháp luật quy hoạch, kiến trúc quy định về các nguyên tắc chung, điều kiện,yêu cầu, mục đích xây dựng quy hoạch, không gian kiến trúc; hệ thống quy hoạch v.v Những quy định này đòi hỏi phải tuân thủ khi xây dựng quy hoạch di tích lịch sử,văn hóa và danh lam thắng cảnh, xây dựng không gian kiến trúc của di tích lịch sử,văn hóa và danh lam thắng cảnh v.v
Pháp luật hành chính quy định về cơ cấu, tổ chức bộ máy quản lý hành chínhnhà nước; quy định nguyên tắc, thời hiệu, thẩm quyền xử lý vi phạm hành chínhv.v Những quy định này đòi hỏi khi xây dựng cơ cấu, tổ chức các cơ quan quản lýđất di tích lịch sử, văn hóa và danh lam thắng cảnh; xử lý vi phạm hành chính tronglĩnh vực đất di tích lịch sử, văn hóa và danh lam thắng cảnh phải tuân thủ
Pháp luật về di tích lịch sử, văn hóa và danh lam thắng cảnh quy định chứcnăng, nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan quản lý di tích lịch sử, văn hóa và danhlam thắng cảnh; quy hoạch di tích lịch sử, văn hóa và danh lam thắng cảnh; vấn đềbảo tồn, giữ gìn, tôn tạo và phát huy giá trị của di tích lịch sử, văn hóa và danh lamthắng cảnh Những quy định này đòi hỏi tổ chức, cá nhân quản lý và SDĐ di tíchlịch sử, văn hóa và danh lam thắng cảnh phải tuân thủ để không gây phương hại đến
di tích lịch sử, văn hóa và danh lam thắng cảnh v.v
Thứ hai, pháp luật về di tích lịch sử, văn hóa và danh lam thắng cảnh là lĩnh
vực thuộc pháp luật công Nó bao gồm các quy định về quản lý đất di tích lịch sử,văn hóa và danh lam thắng cảnh của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền; quy định
về quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân SDĐ di tích lịch sử, văn hóa và danh lamthắng cảnh; quy định về vấn đề thanh tra, xử lý vi phạm về đất di tích lịch sử, vănhóa và danh lam thắng cảnh v.v
Thứ ba, pháp luật về đất di tích lịch sử, văn hóa và danh lam thắng cảnh còn
chịu ảnh hưởng của các điều ước quốc tế về di sản văn hóa; các quyết định của Tổchức Văn hóa, khoa học và giáo dục của Liên hiệp quốc (UNESCO) về công nhận
Trang 26các di sản vật thể, phi vật thể của nhân loại Điều này có nghĩa là khi quản lý vàSDĐ di tích lịch sử, văn hóa và danh lam thắng cảnh, tổ chức, cá nhân SDĐ khôngchỉ tuân thủ pháp luật của Việt Nam mà còn phải chịu sự tác động của điều ướcquốc tế về di sản văn hóa; các quyết định của Tổ chức UNESCO về công nhận các
di sản vật thể, phi vật thể của nhân loại; ví dụ không được đổ các chất thải xuốngVịnh Hạ Long (Quảng Ninh) di sản văn hóa thế giới
Thứ tư, pháp luật về đất di tích lịch sử, văn hóa và danh lam thắng cảnh bao
gồm các văn bản luật và văn bản hướng dẫn thi hành Nội dung các văn bản luật chủyếu là các quy định có tính nguyên tắc về quản lý và SDĐ di tích lịch sử, văn hóa vàdanh lam thắng cảnh nên khó triển khai thi hành Các văn bản hướng dẫn thi hànhđược ban hành dưới các thể thức nghị định, quyết định của Chính phủ, Thủ tướngChính phủ; thông tư, thông tư liên tịch, quyết định của bộ ngành, của UBND cáccấp quy định chi tiết, cụ thể về quản lý và sử dụng loại đất này nên dễ áp dụng khitriển khai thi hành trên thực tế v.v
1.2.3 Cấu trúc pháp luật về đất di tích lịch sử, văn hóa và danh lam thắng cảnh
Pháp luật về đất di tích lịch sử, văn hóa và danh lam thắng cảnh bao gồmcác quy phạm pháp luật được cấu trúc theo các nhóm cơ bản sau đây:
Một là, nhóm các quy phạm pháp luật về chế độ quản lý đất di tích lịch sử,
văn hóa và danh lam thắng cảnh bao gồm các quy định về quy hoạch, kế hoạchSDĐ di tích lịch sử, văn hóa và danh lam thắng cảnh; quy định về cấp giấy chứngnhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ); quy định về hệ thống cơ quan quản lý đất ditích lịch sử văn hóa và danh lam thắng cảnh; quy định về nội dung quản lý nhà nước
về đất di tích lịch sử văn hóa và danh lam thắng cảnh v.v
Hai là, nhóm các quy phạm pháp luật về chế độ SDĐ di tích lịch sử, văn
hóa và danh lam thắng cảnh bao gồm các quy định về quyền và nghĩa vụ của ngườiSDĐ; các quy phạm pháp luật về chế độ SDĐ di tích lịch sử, văn hóa và danh lamthắng cảnh bao gồm các quy định về hình thức SDĐ, thời hạn SDĐ; quy định vềchủ thể SDĐ di tích lịch sử, văn hóa và danh lam thắng cảnh v.v
Trang 27Ba là, nhóm các quy phạm pháp luật về bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp
của chủ thể SDĐ di tích lịch sử văn hóa và danh lam thắng cảnh bao gồm các quyđịnh về thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật về đất ditích lịch sử, văn hóa và danh lam thắng cảnh; quy định về giải quyết tranh chấp đất
di tích lịch sử, văn hóa và danh lam thắng cảnh v.v
1.2.4 Các điều kiện đảm bảo thực hiện pháp luật về đất di tích lịch sử, văn hóa và danh lam thắng cảnh
Xây dựng pháp luật về đất di tích lịch sử, văn hóa, danh lam thắng cảnh làviệc làm có ý nghĩa quan trọng nhằm tạo cơ sở pháp lý cho việc quản lý và sử dụngloại đất này Tuy nhiên, điều quan trọng hơn là việc bảo đảm cho lĩnh vực pháp luậtnày được thực thi trên thực tế và phát huy tác dụng tích cực Các điều kiện đảm bảothực hiện pháp luật về đất di tích lịch sử, văn hóa, danh lam thắng cảnh bao gồm:
Thứ nhất, đảm bảo về chính trị.
Chính trị là biểu hiện tập trung đường lối, quan điểm của Đảng cầm quyền
Ở nước ta, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam có ý nghĩa quyết định đối với sựnghiệp xây dựng và phát triển đất nước Đảng ta là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và
xã hội Quan điểm, đường lối của Đảng là tư tưởng chỉ đạo cho việc xây dựng phápluật Do vậy, pháp luật phải thấm nhuần các quan điểm, đường lối chính trị củaĐảng với phương châm chính trị là linh hồn của pháp luật Đường lối của Đảng tađược "luật hóa", được "hóa thân" vào các quy định của pháp luật nhằm điều chỉnhcác quan hệ xã hội theo mục tiêu bảo vệ quyền lợi hợp pháp của cơ quan nhà nước,tổ chức, xã hội và cá nhân Như vậy, có thể nói việc xây dựng và hoàn thiện hệthống pháp luật là kết quả tất yếu phải gắn chặt với quá trình thể chế hóa đường lốicủa Đảng trên các lĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó có lĩnh vực đất di tích lịch
sử, văn hóa, danh lam thắng cảnh
Thứ hai, đảm bảo về pháp lý.
Là sự đồng bộ, tương thích, thống nhất của hệ thống pháp luật áp dụng đểquản lý và SDĐ di tích lịch sử, văn hóa và danh lam thắng cảnh Hiện nay, hệ thống
Trang 28văn bản pháp quy về đất đai tương đối đầy đủ Riêng đối với việc quản lý và SDĐ
di tích lịch sử, văn hóa, danh lam thắng cảnh đã có nhiều văn bản như Luật Đất đainăm 2013, Luật Di sản văn hóa năm 2009,… Trong đó, có nhiều chế tài đảm bảocho việc quản lý và SDĐ di tích lịch sử, văn hóa, danh lam thắng cảnh được tuânthủ nghiêm chỉnh, chặt chẽ Các văn bản này một mặt quy định cụ thể, rõ ràng vềtrình tự, thủ tục xử lý vi phạm, mặt khác quy định chi tiết về các hành vi vi phạm vềđất di tích lịch sử, văn hóa, danh lam thắng cảnh bị xử lý, quy định về thẩm quyền
xử lý của các cơ quan nhà nước v.v đã tạo ra hành lang pháp lý cho quá trình xử
lý vi phạm về đất di tích lịch sử, văn hóa và danh lam thắng cảnh được thực thi mộtcách nghiêm minh, đúng pháp luật; đồng thời, là cơ sở cho việc xử lý đúng người,đúng tội, ngăn ngừa có hiệu quả hành vi vi phạm pháp luật xảy ra
Thứ ba, đảm bảo về nguồn nhân lực.
Nguồn nhân lực được xem xét, đánh giá thông qua trình độ, năng lực, phẩmchất chính trị và đạo đức của đội ngũ cán bộ, công chức thực hiện nhiệm vụ quản lýnhà nước về đất đai (trong đó có đất di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh)
Trình độ, năng lực, phẩm chất chính trị và đạo đức của đội ngũ cán bộ,công chức làm nhiệm vụ quản lý nhà nước về đất đai là một trong những yếu tốquyết định bảo đảm thực hiện pháp luật về đất di tích lịch sử văn hóa, danh lamthắng cảnh đạt hiệu quả cao Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói "cán bộ
là cái gốc của mọi công việc" [35, tr 269], hoặc "muôn việc thành công hoặc thấtbại, đều do cán bộ tốt hoặc kém" [35, tr 240] Cán bộ, công chức làm nhiệm vụquản lý nhà nước về đất đai phải là người có đủ trình độ, năng lực hoàn thành tốtcông việc được giao; đồng thời là người có phẩm chất chính trị, đạo đức tốt Thựctiễn đã chứng minh rằng các chủ thể này mà trình độ, năng lực yếu kém, lại thiếutrách nhiệm, thiếu nhiệt tình trong công việc thì việc thực hiện pháp luật về đất ditích lịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh đạt hiệu quả thấp Phẩm chất chính trị,đạo đức của cán bộ, công chức làm nhiệm vụ quản lý nhà nước về đất đai có ảnhhưởng trực tiếp đến việc thực hiện pháp luật về đất di tích lịch sử văn hóa, danh lam
Trang 29thắng cảnh Họ phải biết kết hợp giữa quan điểm, đường lối của Đảng, pháp luật,chính sách của Nhà nước với điều kiện KT-XH, điều kiện thực tiễn của đất nước,của từng địa phương để thực hiện pháp luật về đất di tích lịch sử văn hóa, danh lamthắng cảnh Bản thân cán bộ, công chức làm nhiệm vụ quản lý nhà nước về đất đaiphải là người gương mẫu trong chấp hành pháp luật, là người có uy tín, có đạo đứctrong cộng đồng, trong xã hội thì mới có thể thuyết phục được người khác Nhưvậy, để bảo đảm thực hiện pháp luật về đất di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắngcảnh đạt hiệu quả cao cần nâng cao kiến thức pháp luật, trình độ chuyên môn, nănglực, kỹ năng nghiệp vụ, bên cạnh đó còn phải tăng cường giáo dục, rèn luyện phẩmchất chính trị, đạo đức, lối sống cho đội ngũ cán bộ, công chức làm nhiệm vụ quản
lý nhà nước về đất đai
Thứ tư, đảm bảo về ý thức pháp luật của các chủ thể trong thực hiện pháp
luật về đất di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh
Ý thức pháp luật thể hiện sự nhận thức của các chủ thể và thái độ của họ đốivới các quy định của pháp luật Pháp luật về đất di tích lịch sử văn hóa, danh lamthắng cảnh được thực hiện tốt hay không phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó ýthức pháp luật của các chủ thể là yếu tố chủ quan có ý nghĩa rất quan trọng Các chủthể trong thực hiện pháp luật về đất di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh baogồm: các cơ quan nhà nước, cán bộ, công chức nhà nước có thẩm quyền, tổ chức,
hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư SDĐ…
Trong nhiều trường hợp vi phạm pháp luật, không tuân thủ pháp luật là dotrình độ văn hóa thấp, thiếu hiểu biết pháp luật của một bộ phận nhân dân; nhưngcũng có trường hợp công dân có trình độ văn hóa nhất định, có hiểu biết pháp luậtnhưng đạo đức, nhân cách kém nên vẫn cố tình vi phạm pháp luật hoặc một bộ phậncán bộ, công chức nhà nước có thẩm quyền lợi dụng chức vụ quyền hạn, công việcđược giao để tham nhũng, tiêu cực, trục lợi, thực hiện hành vi trái pháp luật Trongmột xã hội ngày càng phát triển, trình độ văn hóa của nhân dân ngày càng đượcnâng cao, tạo cơ sở cho việc nâng cao ý thức pháp luật, vì phải có trình độ văn hóa
Trang 30nhất định thì mới có thể tiếp thu, nhận thức về pháp luật, xây dựng tình cảm, lòngtin vào pháp luật; qua đó chuyển hóa thành hành vi tích cực thực hiện theo yêu cầucủa pháp luật Sự bảo đảm thực hiện pháp luật về đất di tích lịch sử văn hóa, danhlam thắng cảnh không chỉ xuất phát từ ý thức pháp luật của các cơ quan nhà nước,cán bộ, công chức nhà nước có thẩm quyền, các tổ chức, đoàn thể mà còn từ ý thứcpháp luật của tổ chức, hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư SDĐ v.v Do vậy,nâng cao ý thức pháp luật của các chủ thể trong thực hiện pháp luật về đất di tíchlịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh là một giải pháp hữu hiệu để bảo đảm thựchiện hiệu quả lĩnh vực pháp luật này
Thứ năm, đảm bảo về nguồn vốn, cơ sở vật chất.
Thực hiện pháp luật nói chung và thực hiện pháp luật về đất di tích lịch sửvăn hóa, danh lam thắng cảnh nói riêng đòi hỏi phải có những chi phí nhất định.Thực tế đã chứng minh làm bất cứ điều gì mà thiếu kinh phí, cơ sở vật chất thì khó
có thể thực hiện được Lĩnh vực quản lý và SDĐ di tích lịch sử văn hóa, danh lamthắng cảnh cũng không nằm ngoài "quy luật" này Muốn quản lý và SDĐ di tíchlịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh có hiệu quả thì phải tiến hành thống kê, đánhgiá, phân loại di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh; lập hồ sơ bảo tồn; xâydựng quy hoạch, kế hoạch SDĐ di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh v.v Những hoạt động này đòi hỏi Nhà nước phải đảm bảo về nguồn vốn, cơ sở vật chấtlên đến hàng ngàn tỷ đồng Trong điều kiện ngân sách nhà nước còn nhiều hạn chế,chúng ta cần xã hội hóa, kêu gọi và khuyến khích các doanh nghiệp, nhà hảo tâm đónggóp kinh phí vào việc duy tu, tôn tạo, bảo vệ di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắngcảnh; đồng thời, tranh thủ sự giúp đỡ của các tổ chức quốc tế, của các nước trongviệc bảo vệ, tôn tạo các di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh cấp quốc gia
Trang 31việc bảo vệ, giữ gìn nhằm phát huy giá trị truyền thống tốt đẹp, quý giá của di tích lịch
sử, văn hóa, danh lam thắng cảnh trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
và hội nhập quốc tế Tuy nhiên, di tích lịch sử, văn hóa, danh lam thắng cảnh được xâydựng và gắn liền với đất Bảo vệ di tích lịch sử, văn hóa, danh lam thắng cảnh khôngthể tách rời với việc bảo vệ đất di tích lịch sử, văn hóa, danh lam thắng cảnh
2 Trong nền kinh tế thị trường, đất đai ngày càng trở nên có giá trị Vì lợinhuận mà không ít tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm đất di tích lịch sử, văn hóa,danh lam thắng cảnh; thậm chí có hành vi vi phạm rất nghiêm trọng làm ảnh hưởngđến các giá trị của di tích lịch sử, văn hóa, danh lam thắng cảnh Điều này gây ra sựcông phẫn và lo ngại của dư luận xã hội Đấu tranh, xử lý các vi phạm về đất di tíchlịch sử, văn hóa, danh lam thắng cảnh là rất cần thiết Do những đặc trưng riêng màcác biện pháp khác không có được nên việc quản lý và SDĐ di tích lịch sử, văn hóa,danh lam thắng cảnh bằng pháp luật là không thể thiếu được
3 Pháp luật về đất di tích lịch sử, văn hóa, danh lam thắng cảnh là một lĩnhvực của pháp luật đất đai Nó bao gồm tổng hợp các quy phạm pháp luật do Nhànước ban hành và bảo đảm thực hiện bằng sức mạnh cưỡng chế của Nhà nước nhằmđiều chỉnh nhóm quan hệ xã hội phát sinh trực tiếp từ việc quản lý và SDĐ di tíchlịch sử, văn hóa, danh lam thắng cảnh góp phần bảo vệ hiệu quả các giá trị vô giá của
di tích lịch sử, văn hóa, danh lam thắng cảnh Các điều kiện đảm bảo thực thi lĩnhvực pháp luật này bao gồm điều kiện về chính trị, điều kiện về pháp lý, điều kiện vềnguồn nhân lực, điều kiện về ý thức pháp luật và điều kiện về vốn, cơ sở vật chất v.v
Trang 32Chương 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ ĐẤT DI TÍCH LỊCH SỬ VĂN HÓA, DANH LAM THẮNG CẢNH VÀ THỰC TIỄN THI HÀNH
TẠI TỈNH NAM ĐỊNH
2.1 Thực trạng pháp luật về đất di tích lịch sử văn hóa và danh lam thắng cảnh
2.1.1 Nội dung quy định về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất di tích lịch
sử văn hóa và danh lam thắng cảnh
2.1.1.1 Quy định về nguyên tắc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất di tích lịch sử văn hóa và danh lam thắng cảnh
Đất di tích lịch sử văn hóa và danh lam thắng cảnh là một loại đất cụ thểthuộc nhóm đất phi nông nghiệp Việc lập quy hoạch, kế hoạch SDĐ di tích lịch sửvăn hóa và danh lam thắng cảnh tuân thủ nguyên tắc lập quy hoạch, SDĐ nóichung; cụ thể:
Một là, phù hợp với chiến lược, quy hoạch tổng thể, kế hoạch phát triển
KT-XH, quốc phòng, an ninh
Hai là, được lập từ tổng thể đến chi tiết; quy hoạch SDĐ của cấp dưới phải
phù hợp với quy hoạch SDĐ của cấp trên; kế hoạch SDĐ phải phù hợp với quyhoạch SDĐ đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt Quy hoạch SDĐcấp quốc gia phải bảo đảm tính đặc thù, liên kết của các vùng KT-XH; quy hoạchSDĐ cấp huyện phải thể hiện nội dung SDĐ của cấp xã
Ba là, SDĐ tiết kiệm và có hiệu quả.
Bốn là, khai thác hợp lý tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường; thích
ứng với biến đổi khí hậu
Năm là, bảo vệ, tôn tạo di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh Sáu là, dân chủ và công khai.
Bảy là, bảo đảm ưu tiên quỹ đất cho mục đích quốc phòng, an ninh, phục
vụ lợi ích quốc gia, công cộng, an ninh lương thực và bảo vệ môi trường
Trang 33Tám là, quy hoạch, kế hoạch của ngành, lĩnh vực, địa phương có SDĐ phải
bảo đảm phù hợp với quy hoạch, kế hoạch SDĐ đã được cơ quan nhà nước có thẩmquyền quyết định, phê duyệt
2.1.1.2 Quy định về trách nhiệm tổ chức lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất Một là, Chính phủ tổ chức lập quy hoạch, kế hoạch SDĐ cấp quốc gia (bao
gồm quy hoạch, kế hoạch SDĐ di tích lịch sử văn hóa và danh lam thắng cảnh trong
cả nước) Bộ TN&MT chủ trì giúp Chính phủ trong việc lập quy hoạch, kế hoạchSDĐ cấp quốc gia
Hai là, UBND cấp tỉnh tổ chức lập quy hoạch, kế hoạch SDĐ cấp tỉnh (bao
gồm quy hoạch, kế hoạch SDĐ di tích lịch sử văn hóa và danh lam thắng cảnh trongphạm vi tỉnh); UBND cấp huyện tổ chức lập quy hoạch, kế hoạch SDĐ cấp huyện(bao gồm quy hoạch, kế hoạch SDĐ di tích lịch sử văn hóa và danh lam thắng cảnhtrong phạm vi huyện)
Cơ quan quản lý đất đai cấp tỉnh, cấp huyện chủ trì giúp UBND cùng cấptrong việc lập quy hoạch, kế hoạch SDĐ (bao gồm quy hoạch, kế hoạch SDĐ di tíchlịch sử văn hóa và danh lam thắng cảnh)
2.1.1.3 Quy định về lấy ý kiến về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất di tích
lịch sử văn hóa và danh lam thắng cảnh
Do quy hoạch, kế hoạch SDĐ nói chung và quy hoạch, kế hoạch SDĐ ditích lịch sử văn hóa và danh lam thắng cảnh tác động trực tiếp đến quyền và lợi íchcủa người dân sinh sống, SDĐ trong khu vực quy hoạch, Luật Đất đai năm 2003,Luật Đất đai năm 2013 quy định việc lấy ý kiến của người dân về vấn đề này Đâykhông chỉ là một biểu hiện của việc phát huy quyền làm chủ của người dân tronglĩnh vực đất đai mà còn là một tiêu chí để xây dựng nền quản trị đất đai hiện đại;
cụ thể:
Một là, cơ quan tổ chức lập quy hoạch, kế hoạch SDĐ di tích lịch sử văn
hóa và danh lam thắng cảnh có trách nhiệm tổ chức lấy ý kiến đóng góp của nhândân về quy hoạch, kế hoạch SDĐ
Trang 34Hai là, hình thức, nội dung và thời gian lấy ý kiến Nhân dân về quy hoạch,
kế hoạch SDĐ được thực hiện theo quy định sau đây:
a) Việc lấy ý kiến đóng góp của nhân dân về quy hoạch, kế hoạch SDĐ cấpquốc gia, cấp tỉnh được thực hiện thông qua hình thức công khai thông tin về nộidung của quy hoạch, kế hoạch SDĐ trên trang thông tin điện tử của Bộ TN&MT,
Ủy ban nhân dân cấp tỉnh; việc lấy ý kiến đóng góp của nhân dân về quy hoạch, kếhoạch SDĐ cấp huyện được thực hiện thông qua hình thức tổ chức hội nghị, lấy ýkiến trực tiếp và công khai thông tin về nội dung của quy hoạch, kế hoạch SDĐ trêntrang thông tin điện tử của UBND cấp tỉnh và UBND cấp huyện;
b) Nội dung lấy ý kiến nhân dân về quy hoạch, kế hoạch SDĐ gồm các chỉtiêu quy hoạch, kế hoạch SDĐ, các dự án công trình thực hiện trong kỳ quy hoạch,
kế hoạch SDĐ;
c) Thời gian lấy ý kiến về quy hoạch, kế hoạch SDĐ là 30 ngày kể từ ngày
cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định tổ chức lấy ý kiến
Ba là, cơ quan có trách nhiệm lấy ý kiến về quy hoạch, kế hoạch SDĐ có
trách nhiệm xây dựng báo cáo tổng hợp, tiếp thu, giải trình ý kiến của nhân dân vàhoàn thiện phương án quy hoạch, kế hoạch SDĐ trước khi trình Hội đồng thẩm địnhquy hoạch, kế hoạch SDĐ
2.1.1.3 Nội dung quy định về thẩm định quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
di tích lịch sử văn hóa và danh lam thắng cảnh
Thứ nhất, thẩm quyền thành lập Hội đồng thẩm định quy hoạch, kế hoạch SDĐ
(bao gồm quy hoạch, kế hoạch SDĐ di tích lịch sử văn hóa danh lam và thắng cảnh):
Một là, Thủ tướng Chính phủ thành lập Hội đồng thẩm định quy hoạch, kế
hoạch SDĐ cấp quốc gia
Bộ TN&MT có trách nhiệm giúp Hội đồng thẩm định trong quá trình thẩmđịnh quy hoạch, kế hoạch SDĐ;
Hai là, Bộ trưởng Bộ TN&MT thành lập Hội đồng thẩm định quy hoạch, kế
hoạch SDĐ cấp tỉnh
Trang 35Cơ quan quản lý đất đai ở trung ương có trách nhiệm giúp Hội đồng thẩmđịnh trong quá trình thẩm định quy hoạch, kế hoạch SDĐ;
Ba là, Chủ tịch UBND cấp tỉnh thành lập Hội đồng thẩm định quy hoạch,
kế hoạch SDĐ cấp huyện
Cơ quan quản lý đất đai cấp tỉnh, cấp huyện có trách nhiệm giúp Hội đồngthẩm định trong quá trình thẩm định quy hoạch, kế hoạch SDĐ
Thứ hai, Hội đồng thẩm định quy hoạch, kế hoạch SDĐ các cấp có trách
nhiệm thẩm định và gửi Thông báo kết quả thẩm định quy hoạch, kế hoạch SDĐđến cơ quan tổ chức lập quy hoạch, kế hoạch SDĐ quy định tại Điều 42 của Luật Đấtđai năm 2013; cơ quan tổ chức lập quy hoạch, kế hoạch SDĐ có trách nhiệm tiếpthu, giải trình theo nội dung thông báo kết quả thẩm định quy hoạch, kế hoạch SDĐ
Trong trường hợp cần thiết, Hội đồng thẩm định quy hoạch, kế hoạch SDĐtổ chức kiểm tra, khảo sát thực địa các khu vực dự kiến chuyển mục đích SDĐ, đặcbiệt là việc chuyển mục đích SDĐ trồng lúa, đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng
Thứ ba, nội dung thẩm định quy hoạch SDĐ bao gồm: i) Cơ sở pháp lý, cơ
sở khoa học của việc lập quy hoạch SDĐ; ii) Mức độ phù hợp của phương án quyhoạch SDĐ với chiến lược, quy hoạch tổng thể phát triển KT-XH, quốc phòng, anninh của quốc gia và địa phương; quy hoạch phát triển ngành, lĩnh vực; iii) Hiệuquả KT-XH môi trường; iv) Tính khả thi của phương án quy hoạch SDĐ
Thứ tư, nội dung thẩm định kế hoạch SDĐ bao gồm: i) Mức độ phù hợp của
kế hoạch SDĐ với quy hoạch SDĐ; ii) Mức độ phù hợp của kế hoạch SDĐ với kếhoạch phát triển KT-XH; iii) Tính khả thi của kế hoạch SDĐ
Thứ năm, kinh phí tổ chức thẩm định quy hoạch, kế hoạch SDĐ được xác
định thành một mục riêng trong kinh phí lập quy hoạch, kế hoạch SDĐ
2.1.1.4 Nội dung quy định về thẩm quyền quyết định, phê duyệt quy hoạch,
kế hoạch sử dụng đất
Thứ nhất, Quốc hội quyết định quy hoạch, kế hoạch SDĐ cấp quốc gia
(trong đó có quy hoạch SDĐ di tích lịch sử văn hóa và danh lam thắng cảnh)
Trang 36Thứ hai, Chính phủ phê duyệt quy hoạch, kế hoạch SDĐ cấp tỉnh (trong đó
có quy hoạch SDĐ di tích lịch sử văn hóa và danh lam thắng cảnh)
Thứ ba, UBND cấp tỉnh trình Hội đồng nhân dân (HĐND) cùng cấp thông
qua quy hoạch, kế hoạch SDĐ cấp tỉnh trước khi trình Chính phủ phê duyệt
Thứ tư, UBND cấp tỉnh phê duyệt quy hoạch, kế hoạch SDĐ cấp huyện
(trong đó có quy hoạch SDĐ di tích lịch sử văn hóa và danh lam thắng cảnh)
Ủy ban nhân dân cấp huyện trình HĐND cùng cấp thông qua quy hoạchSDĐ cấp huyện trước khi trình UBND cấp tỉnh phê duyệt
Ủy ban nhân dân cấp huyện trình UBND cấp tỉnh phê duyệt kế hoạch SDĐhàng năm của cấp huyện UBND cấp tỉnh trình HĐND cấp tỉnh thông qua danh mục
dự án cần thu hồi đất quy định tại khoản 3 Điều 62 của Luật Đất đai năm 2013 trướckhi phê duyệt kế hoạch SDĐ hàng năm của cấp huyện
2.1.1.5 Nội dung quy định về điều chỉnh quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
di tích lịch sử văn hóa và danh lam thắng cảnh
Đất di tích lịch sử văn hóa và danh lam thắng cảnh là một loại đất trong vốnđất của quốc gia, việc điều chỉnh quy hoạch, kế hoạch SDĐ di tích lịch sử văn hóa
và danh lam thắng cảnh tuân theo quy định về điều chỉnh quy hoạch, kế hoạch SDĐnói chung; cụ thể:
Thứ nhất, việc điều chỉnh quy hoạch SDĐ chỉ được thực hiện trong các
trường hợp sau đây: i) Có sự điều chỉnh chiến lược phát triển KT-XH, quốc phòng,
an ninh của quốc gia; quy hoạch tổng thể phát triển các vùng KT-XH mà sự điềuchỉnh đó làm thay đổi cơ cấu SDĐ; ii) Do tác động của thiên tai, chiến tranh làmthay đổi mục đích, cơ cấu, vị trí, diện tích SDĐ; iii) Có sự điều chỉnh quy hoạchSDĐ của cấp trên trực tiếp làm ảnh hưởng tới quy hoạch SDĐ; iv) Có sự điều chỉnhđịa giới hành chính của địa phương
Thứ hai, việc điều chỉnh kế hoạch SDĐ chỉ được thực hiện khi có sự điều
chỉnh quy hoạch SDĐ hoặc có sự thay đổi về khả năng thực hiện kế hoạch SDĐ
Trang 37Thứ ba, nội dung điều chỉnh quy hoạch SDĐ là một phần của quy hoạch
SDĐ đã được quyết định, phê duyệt Nội dung điều chỉnh kế hoạch SDĐ là mộtphần của kế hoạch SDĐ đã được quyết định, phê duyệt
Việc điều chỉnh quy hoạch, kế hoạch SDĐ thực hiện theo quy định tại cácđiều 42, 43, 44 và 48 của Luật Đất đai năm 2013
Thứ tư, cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định, phê duyệt quy hoạch,
kế hoạch SDĐ của cấp nào thì có thẩm quyền quyết định, phê duyệt điều chỉnh quyhoạch, kế hoạch SDĐ của cấp đó
2.1.1.6 Nội dung quy định về công bố công khai quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất di tích lịch sử văn hóa và danh lam thắng cảnh
Việc công bố công khai quy hoạch, kế hoạch SDĐ di tích lịch sử văn hóa vàdanh lam thắng cảnh được thực hiện như sau:
Thứ nhất, quy hoạch, kế hoạch SDĐ cấp quốc gia, cấp tỉnh, cấp huyện sau
khi được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định, phê duyệt phải được công bốcông khai
Thứ hai, trách nhiệm công bố công khai quy hoạch, kế hoạch SDĐ được
quy định như sau:
Một là, Bộ TN&MT có trách nhiệm công bố công khai quy hoạch, kế hoạch
SDĐ cấp quốc gia tại trụ sở cơ quan và trên cổng thông tin điện tử của Bộ TN&MT;
Hai là, UBND cấp tỉnh có trách nhiệm công bố công khai quy hoạch, kế hoạch
SDĐ cấp tỉnh tại trụ sở cơ quan và trên cổng thông tin điện tử của UBND cấp tỉnh;
Ba là, UBND cấp huyện có trách nhiệm công bố công khai quy hoạch, kế
hoạch SDĐ cấp huyện tại trụ sở cơ quan, trên cổng thông tin điện tử của UBND cấphuyện và công bố công khai nội dung quy hoạch, kế hoạch SDĐ cấp huyện có liênquan đến xã, phường, thị trấn tại trụ sở UBND cấp xã
Thứ ba, thời điểm, thời hạn công bố công khai quy hoạch, kế hoạch SDĐ
theo quy định sau đây: i) Việc công bố công khai được thực hiện trong thời hạn 30ngày kể từ ngày được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định, phê duyệt; ii)Việc công khai được thực hiện trong suốt kỳ quy hoạch, kế hoạch SDĐ
Trang 382.1.1.7 Nội dung quy định về thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất di tích lịch sử văn hóa và danh lam thắng cảnh
Thứ nhất, Chính phủ tổ chức, chỉ đạo việc thực hiện quy hoạch, kế hoạch
SDĐ cấp quốc gia (đất di tích lịch sử văn hóa và danh lam thắng cảnh)
Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện có trách nhiệm thực hiện quy hoạch,
kế hoạch SDĐ của địa phương
Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm thực hiện quy hoạch, kế hoạchSDĐ trên địa bàn cấp xã
Thứ hai, trường hợp quy hoạch SDĐ đã được công bố mà chưa có kế
hoạch SDĐ hàng năm cấp huyện thì người SDĐ được tiếp tục sử dụng và được thựchiện các quyền của người SDĐ theo quy định của pháp luật
Trường hợp đã có kế hoạch SDĐ hàng năm của cấp huyện thì người SDĐtrong khu vực phải chuyển mục đích SDĐ và thu hồi đất theo kế hoạch được tiếptục thực hiện các quyền của người SDĐ nhưng không được xây dựng mới nhà ở,công trình, trồng cây lâu năm; nếu người SDĐ có nhu cầu cải tạo, sửa chữa nhà ở,công trình hiện có thì phải được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép theoquy định của pháp luật
Thứ ba, diện tích đất ghi trong kế hoạch SDĐ hàng năm của cấp huyện đã
được công bố phải thu hồi để thực hiện dự án hoặc phải chuyển mục đích SDĐ màsau 03 năm chưa có quyết định thu hồi đất hoặc chưa được phép chuyển mục đíchSDĐ thì cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt kế hoạch SDĐ phải điều chỉnh,hủy bỏ và phải công bố việc điều chỉnh, hủy bỏ việc thu hồi hoặc chuyển mục đíchđối với phần diện tích đất ghi trong kế hoạch SDĐ
Trường hợp cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt kế hoạch SDĐ khôngđiều chỉnh, hủy bỏ hoặc có điều chỉnh, hủy bỏ nhưng không công bố việc điềuchỉnh, hủy bỏ thì người SDĐ không bị hạn chế về quyền theo quy định trên đây
Thứ tư, khi kết thúc kỳ quy hoạch SDĐ mà các chỉ tiêu quy hoạch SDĐ
chưa thực hiện hết thì vẫn được tiếp tục thực hiện đến khi quy hoạch SDĐ kỳ tiếptheo được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định, phê duyệt
Trang 392.1.2 Nội dung quy định về thu hồi đất di tích lịch sử văn hóa và danh lam thắng cảnh
Thứ nhất, các trường hợp Nhà nước thu hồi đất di tích lịch sử văn hóa và
danh lam thắng cảnh
Do tầm quan trọng đặc biệt của di tích lịch sử văn hóa và danh lam thắngcảnh nên việc tôn tạo, giữ gìn và bảo tồn các di tích phải đảm bảo tính bền vững,tuân thủ các quy chuẩn kỹ thuật chuyên ngành Đất di tích lịch sử văn hóa và danhlam thắng cảnh được Nhà nước công nhận quyền SDĐ ổn định lâu dài Loại đất này,Nhà nước hạn chế thu hồi ở mức độ thấp nhất Tuy nhiên, trong trường hợp đặc biệt vàrất cần thiết khó tránh khỏi việc thu hồi đất di tích lịch sử văn hóa và danh lam thắngcảnh Việc thu hồi đất nói chung và đất di tích lịch sử văn hóa và danh lam thắng
cảnh chỉ trong các trường hợp sau: Một là, thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh quy định tại Điều 61 Luật Đất đai năm 2013; Hai là, thu hồi đất để phát triển
KT-XH vì lợi ích quốc gia, công cộng quy định tại Điều 62 Luật Đất đai năm 2013
Thứ hai, căn cứ thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh; phát triển
KT-XH vì lợi ích quốc gia, công cộng, bao gồm: i) Dự án thuộc các trường hợp thuhồi đất quy định tại Điều 61 và Điều 62 của Luật Đất đai năm 2013; ii) Kế hoạchSDĐ hàng năm của cấp huyện đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt;iii) Tiến độ SDĐ thực hiện dự án
Thứ ba, trong trường hợp rất đặc biệt, đất di tích lịch sử văn hóa và danh
lam thắng cảnh vì mục đích quốc phòng - an ninh; phát triển KT-XH vì lợi ích quốcgia, công cộng sẽ được Nhà nước bồi thường, hỗ trợ theo quy định của Luật Đất đainăm 2013 và Nghị định số 47/2014/NĐ-CP ngày 15/05/2014 về bồi thường, hỗ trợ,tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất…
2.1.3 Nội dung quy định về đăng ký đất đai, cấp giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất di tích lịch sử văn hóa và danh lam thắng cảnh
2.1.3.1 Nội dung quy định về đăng ký đất di tích lịch sử văn hóa và danh lam thắng cảnh
Việc đăng ký đất di tích lịch sử văn hóa và danh lam thắng cảnh được hiệntheo quy định về đăng ký đất đai, nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất; cụ thể:
Trang 40Một là, đăng ký đất đai là bắt buộc đối với người SDĐ và người được giao
đất để quản lý; đăng ký quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất thựchiện theo yêu cầu của chủ sở hữu
Hai là, đăng ký đất đai, nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất gồm đăng ký
lần đầu và đăng ký biến động, được thực hiện tại tổ chức đăng ký đất đai thuộc cơquan quản lý đất đai, bằng hình thức đăng ký trên giấy hoặc đăng ký điện tử và cógiá trị pháp lý như nhau
Ba là, đăng ký lần đầu được thực hiện trong các trường hợp sau đây: i) Thửa
đất được giao, cho thuê để sử dụng; ii) Thửa đất đang sử dụng mà chưa đăng ký;iii) Thửa đất được giao để quản lý mà chưa đăng ký; iv) Nhà ở và tài sản khác gắnliền với đất chưa đăng ký
Bốn là, đăng ký biến động được thực hiện đối với trường hợp đã được cấp
Giấy chứng nhận hoặc đã đăng ký mà có thay đổi sau đây: i) Người SDĐ, chủ sởhữu tài sản gắn liền với đất được phép đổi tên; ii) Có thay đổi về hình dạng, kíchthước, diện tích, số hiệu, địa chỉ thửa đất; iii) Có thay đổi về tài sản gắn liền với đất
so với nội dung đã đăng ký; iv) Chuyển mục đích SDĐ; v) Có thay đổi về nhữnghạn chế quyền của người SDĐ
Năm là, các trường hợp đăng ký biến động đất đai nói chung và đăng ký
biến động đất di tích lịch sử văn hóa và danh lam thắng cảnh thì trong thời hạnkhông quá 30 ngày, kể từ ngày có biến động, người SDĐ phải thực hiện thủ tụcđăng ký biến động
Sáu là, việc đăng ký đất đai, tài sản gắn liền với đất có hiệu lực kể từ thời
điểm đăng ký vào Sổ địa chính
2.1.3.2 Nội dung quy định về cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với đất di tích lịch sử văn hóa và danh lam thắng cảnh
Thứ nhất, Nhà nước cấp Giấy chứng nhận quyền SDĐ, quyền sở hữu nhà ở
và tài sản khác gắn liền với đất di tích lịch sử văn hóa và danh lam thắng cảnh chongười SDĐn ổn định mà có một trong các loại giấy tờ sau đây và không phải nộptiền SDĐ: