BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ QUỐC PHÒNG HỌC VIỆN QUÂN Y MAI THẢO CHI NGHIÊN CỨU THÀNH PHẦN HOÁ HỌC TRƯỚC VÀ SAU CHẾ BIẾN CỦA VỊ THUỐC ĐẠI HOÀNG (Rhizoma Rhei) KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP DƯỢC SỸ ĐẠI HỌC HÀ NỘI.
TỔNG QUAN
TỔNG QUAN VỀ ĐẠI HOÀNG
1.1.1 Đặc điểm thực vật Đại hoàng thuộc chi Rheum, họ Rau răm Polygonaceae
Các loài thuộc chi Rheum L (Đại hoàng) là những cây thân thảo lâu năm, phân bố ở các vùng ôn đới và cận nhiệt đới Trung Quốc là nước có số lượng loài Đại hoàng phân bố nhiều, chiếm khoảng 3/4 số chi Chi Đại hoàng chủ yếu được tìm thấy ở các khu vực Tây Bắc và Tây Nam của Trung Quốc [3] Theo tác giả Phạm Hoàng Hộ mô tả trong quyển Cây cỏ Việt Nam, Đại hoàng có 4 loài gồm: R palmatum L., R tanguticum Maxim ex Regel., R officinale Baill và R rhaponticum [4] Theo tác giả Võ Văn Chi trong quyển từ điển cây thuốc Việt Nam, Đại hoàng gồm R officinale Baill và R palmatum L [5].
Cây thuộc thảo lớn, sống dai nhờ thân rễ to Lá mọc thành cụm từ thân rễ, có kích thước lớn, có cuống dài, có bẹ chìa, phiến lá hình tim rộng 30 - 40cm, phân thành 5 đến 7 thùy chính, các thùy này cũng có thể phân lần thứ hai hoặc đôi khi lần thứ ba
Lá của loài R palmatum có những thùy sâu hơn R officinale Gân lá nổi mặt dưới, thường có màu đỏ nhạt Từ năm thứ 3-4 xuất hiện một thân mọc lên cao 1-2m mang một số lá nhỏ Phần ngọn thân là chùm hoa hình chùy mang nhiều hoa Bao hoa gồm 6 bộ phận màu trắng, xanh nhạt hoặc đỏ nhạt, 9 nhị Quả đóng 3 góc.
Cây ưa mọc ở khí hậu mát, ẩm, ở độ cao trên 1000m Người ta thu hoạch thân rễ của những cây đã mọc trên 3-4 năm (ở những vùng có cây mọc hoang thì có thể 6 - 10 năm) vào mùa thu, khi cây bắt đầu lụi.
Thân rễ tươi to có thể có chiều dài 20-30cm, rộng 8-10cm, có nhiều nhánh rễ hình trụ đường kính 2-3cm Sau khi đào về thì cắt bỏ rễ, còn thân rễ
3 đem gọt bỏ vỏ ngoài, bổ nhỏ (dọc hoặc ngang) rồi phơi hoặc sấy khô cất giữ sau một năm mới dùng [6, 7].
Cây nguồn gốc ở Trung Quốc được dùng từ lâu đời và dần thâm nhập vào châu Âu Ở Trung Quốc cây mọc hoang hoặc trồng ở Cam Túc, Thanh Hải, Tứ Xuyên Đại hoàng mọc ở tỉnh Tứ Xuyên được ưa chuộng và được gọi là Xuyên Đại hoàng Hiện nay Đại hoàng cũng đã được di nhập trồng ở nhiều nước: Hà Lan, Pháp, Mỹ, Nhật, Liên Xô cũ Việt Nam có Đại hoàng mọc hoang, nhưng sản lượng chưa nhiều, việc sử dụng vị thuốc còn phải nhập của Trung Quốc [7]
Thân rễ đã cạo vỏ để nguyên hay thái thành phiến phơi hay sấy khô
Dược liệu Đại hoàng là phần thân rễ hình trụ, hình nón, dạng cầu hay méo mó không đều, dài 3-17cm, đường kính 3-10cm hay những phiến mỏng, bề rộng có thể tới 10cm hay hơn.Thân rễ có mặt ngoài màu nâu vàng hay nâu đỏ, đôi khi có những đám đen nhạt Vết bẻ màu đỏ cam, có hạt lổn nhổn Dạng phiến có màu vàng nâu có thể có những sọc đen, mềm, sờ hơi dính tay Mùi đặc trưng, vị đắng và chát [8]
Hình 1.1 Cây Đại hoàng (A) Rheum palmatum L , (B).Rheum officinale
Hình 1 2.Thân rễ Đại hoàng đã qua sơ chế
Thành phần hoạt chất trong Đại hoàng chủ yếu là những dẫn chất anthranoid, hàm lượng trong Đại hoàng Trung Quốc là 3 - 5%, trong đó:
-Anthraquinon tự do (chiếm khoảng 0,10 - 0,20% hàm lượng Anthranoid toàn phần) bao gồm: chrysophanol, emodin, physcion, aloe-emodin và rhein
- Các glucosid của anthraquinon trên(chiếm khoảng 60 - 70% toàn phần)và các anthranon, anthranol tương ứng với những anthraquinon trên
Anthraquinon là dạng oxy hóa của anthranoid trong Đại hoàng Anthranon và anthranol là dạng khử Sự chuyển dạng được thể hiện qua sơ đồ dưới đây:
Hình 1 3 Sơ đồ chuyển dạng Anthranoid trong Đại hoàng
Dạng anthranon và anthranol dễ bị oxy hóa thành anthraquinon Hai dạng khử này chỉ tồn tại trong dược liệu tươi vào mùa đông (về mùa hè chủ yếu là các dẫn chất ở dạng oxy hóa) do đó thu hoạch Đại hoàng vào mùa thu là tốt nhất
- Các dẫn chất dimer dianthron tồn tại trong cây dưới dạng mono- và di- glucosid như senidin A, B, C Các heterodianthron carboxylic như rhein A, B, C, các heterodianthron không có carboxylic như palmitin A, B, C và dehydrodianthon như dirhein
- Thành phần thứ hai đáng chú ý là tanin (chiếm khoảng 5 – 12%) chủ yếu thuộc nhóm pyrocatechic và một phần thuộc nhóm pyrogallic (như glucogallin, acid gallic tự do, catechin, muối galat của (-) epicatechin) [7]
Cụ thể các chất phân lập được thể hiện ở bảng 1.1:
Bảng 1 1 Các hợp chất đã phân lập được từ rễ Đại hoàng
STT Hợp chất đã phân lập TLTK
Ngoài ra, trong cây Đại hoàng còn có tinh dầu mùi đặc trưng, pyranon, các loại acid hữu cơ, tinh bột, flavonoid, pectin, chất nhựa, tinh thể calci oxalat và nhiều loại hợp chất khác [10]
2 Emodin H CH 3 H OH OH H OH H
4 Aloe emodin H CH 2 OH H OH OH H H H
5 Physcion H CH 3 H OH OH H OCH 3 H
6 Isoemodin H CH 3 OH H OH H H OH
7 Laccaic acid D H OH COOH CH 3 OH H OH OH
OH H CH 3 H H CH 3 H OGlu 6 1 Glu
Hình 1 4 CTHH của một số anthraquinon chính trong cây Đại hoàng
16 Palmidin A CH 2 OH H H OH H CH 3
24 Sennosid A COOH Glu 1-1’trans H COOH Glu 1-1’trans H
25 Sennosid C COOH Glu 1-1’meso H COOH Glu 1-1’meso H
Hình 1 5 CTHH của anthron and dianthron trong rễ Đại hoàng
27 Piceatannol 3’-O-glucopyranosid H OH OGlu H OH
29 (+)-Catechin H OH 31 Gallic acid OH H
30 (-)-Epicatechin OH H 32 4-O-methyl gallic acid
Hình 1 6 CTHH của một số stilben, tannin trong Đại hoàng
1.1.3 Tác dụng sinh học của Đại hoàng
Thành phần có tác dụng chính trong Đại hoàng là các anthranoid Các thử nghiệm cho thấy Đại hoàng có tác dụng nhuận tràng, phòng chống ung thư, bảo vệ gan, chống viêm, giảm đau, kháng khuẩn, chống oxy hóa, lợi niệu, ức chế enzym Na + -K + ATPase, điều trị bệnh tiểu đường [10, 11]
Theo đông y Đại hoàng được sử dụng để giúp nhuận tràng hoặc điều trị kiết lỵ, tiêu chảy Những nghiên cứu gần đây cho thấy có sự liên hệ giữa tác dụng nhuận tràng và lợi tiểu với các hợp chất anthraquinon (rhein, emodin, chrysophanol) [12] Thực vật có chứa các dẫn xuất hydroxyanthracen được sử dụng rộng rãi trong các chất bổ sung thực phẩm và các sản phẩm thuốc thảo dược vì tác dụng nhuận tràng của chúng
Hội đồng EFSA đã đưa ra tuyên bố về sức khỏe liên quan đến các dẫn xuất hydroxyanthracen từ rễ và thân rễ trong Đại hoàng về việc cải thiện chức năng ruột Với tác dụng như làm tăng lượng phân, làm mềm phân giúp điều trị táo bón hiệu quả [13] Khảo sát được thực hiện trên những người bị rối loạn đại tiện, đối tượng nghiên cứu là sản phẩm “Transitech®” Thành phần trong mỗi viên chủ yếu chứa Đại hoàng (226,8 mg), cẩm quỳ (38 mg), astiso (18mg), hoa hồng, húng quế và một số loại nấm men Liều dùng 02 viên mỗi ngày, tương đương 432 mg Đại hoàng chứa 10mg dẫn chất anthracen, sử dụng trong ít nhất
10 ngày.Đây là nghiên cứu mù đôi ngẫu nhiên, có đối chứng giả dược (thành phần gồm đường mía, magie acetat) Người tham gia nghiên cứu được yêu cầu giữ nguyên chế độ ăn Tiêu chí đánh giá là tần suất đi vệ sinh trong 7 ngày, thời gian vận chuyển của đại tràng, kích thước và độ đặc của phân Khảo sát trên 100 người chia 2 nhóm Sử dụng phương pháp phân tích thống kê, phép thử t để so sánh sự khác biệt về tần suất đại tiện của nhóm thử và nhóm chứng.Số lượng phân trung bình hàng ngày ở nhóm thử cao hơn đáng kể so với nhóm chứng, tính trung bình trong 10 ngày: Nhóm thử 0,95± 0,49, nhóm chứng 0,66± 0,22; p