http://svnckh.com.vn 5 DANH MỤC CÁC BẢNG Bảng 1 : So sánh đặc điểm hợp đồng kì hạn và hợp đồng tương lai Bảng 2 : Tổng hợp phương pháp xác định tỷ giá kì hạn theo quy định của NHNN Bản
Trang 1http://svnckh.com.vn 1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
-o0o -
Công trình dự thi Cuộc thi Sinh viên nghiên cứu khoa học trường Đại học Ngoại thương 2010
“GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN NGHIỆP VỤ PHÁI SINH TẠI CÁC NGÂN HÀNG
THƯƠNG MẠI VIỆT NAM”
Nhóm ngành: XH1a
Hà Nội, tháng 07 năm 2010
Trang 2http://svnckh.com.vn 2
Trang 3http://svnckh.com.vn 3
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT
Trang 4http://svnckh.com.vn 4
Trang 5http://svnckh.com.vn 5
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1 : So sánh đặc điểm hợp đồng kì hạn và hợp đồng tương lai
Bảng 2 : Tổng hợp phương pháp xác định tỷ giá kì hạn theo quy định của NHNN Bảng 3 : Tỷ giá kỳ hạn và giao ngay VCB tại thời điểm thực hiện giao dịch kỳ hạn Bảng 4 : Biểu phí giao dịch hoán đổi của NHNN
Bảng 5 : Tổng hợp các nghiệp vụ phái sinh tại các NHTM tại Việt Nam
Bảng 6 : Tỷ trọng của giao dịch kỳ hạn trên VinaForex
Bảng 7 : Giao dịch kỳ hạn tiền tệ từ năm 2008 tới nay tại Sacombank
Bảng 8 : Giao dịch kỳ hạn tiền tệ từ năm 2006 tới nay tại Eximbank
Bảng 9 : Hợp đồng mua bán hàng hóa tương lai phân theo các thị trường tại
Techcombank năm 2005
Bảng 10 : Giá trị hợp đồng tương lai hàng hóa tại Techcombank năm 2004-2009
Bảng 11 : Doanh số quyền chọn tiền tệ ở VCB, ACB, Eximbank năm 2005-2009 Bảng 12 : Doanh số giao dịch quyền chọn ngoại tệ tại VCB-HCM
Bảng 13 : Giao dịch hoán đổi tiền tệ tại Eximbank
Bảng 14 : Giao dịch hoán đổi tiền tệ tại Sacombank
Bảng 15 : Tổng giá trị các hợp đồng phái sinh tiền tệ tại Eximbank 2006-Quý I/2010 Bảng 16 : Tổng giá trị các hợp đồng phái sinh tiền tệ tại Sacombank 2007-Quý I/2010
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 1 : Payoff trên mỗi đơn vị tài sản trong hợp đồng kỳ hạn
Biểu đồ 2 : Payoff trên mỗi đơn vị tài sản trong hợp đồng quyền chọn kiểu Mỹ Biểu đồ 3 : Doanh số mua bán ngoại tệ tại các NHTM Việt Nam
Biểu đồ 4 : Thu nhập từ hoạt động phái sinh và giao ngay tiền tệ tại BIDV
Trang 6http://svnckh.com.vn 6
MỤC LỤC LỜI MỞ ĐẦU ERROR! BOOKMARK NOT DEFINED
CHƯƠNG I: LÝ LUẬN CHUNG VỀ NGHIỆP VỤ PHÁI SINHERROR! BOOKMARK
NOT DEFINED
1 Những vấn đề cơ bản về nghiệp vụ phái sinh Error! Bookmark not defined
1.1 Khái niệm Error! Bookmark not defined
1.3 Phân loại công cụ phái sinh Error! Bookmark not defined 1.3.1 Hợp đồng kỳ hạn (Forward contract) Error! Bookmark not defined 1.3.2 Hợp đồng tương lai (Fututes Contract) Error! Bookmark not defined 1.3.3 Hợp đồng quyền chọn (Options Contract) Error! Bookmark not defined 1.3.4 Hợp đồng hoán đổi (Swaps Contract) Error! Bookmark not defined 1.4 Vai trò nghiệp vụ phái sinh đối với các ngân hàng thương mạiError! Bookmark not
1.4.3 Những công cụ quan trọng cho mục đích đầu cơ của các NHTM Error!
Bookmark not defined
2 Các điều kiện phát triển nghiệp vụ phái sinh tại ngân hàng thương mại Error!
Bookmark not defined
2.1 Điều kiện vĩ mô Error! Bookmark not defined 2.1.1 Điều kiện pháp lý Error! Bookmark not defined 2.1.2 Điều kiện thị trường Error! Bookmark not defined 2.1.3 Điều kiện hạ tầng cơ sở Error! Bookmark not defined 2.2 Điều kiện từ phía ngân hàng Error! Bookmark not defined 2.2.1 Quy trình làm việc Error! Bookmark not defined
Trang 7http://svnckh.com.vn 7
2.2.2 Đội ngũ cán bộ phái sinh Error! Bookmark not defined 2.2.3 Công nghệ Error! Bookmark not defined 2.3 Điều kiện từ phía khách hàng Error! Bookmark not defined
3 Bài học kinh nghiệm từ một số nước trên thế giới trong việc thực hiện các nghiệp
vụ phái sinh Error! Bookmark not defined
3.1 Bài học từ Mỹ Error! Bookmark not defined 3.2 Bài học từ Trung Quốc Error! Bookmark not defined 3.2.1 Thị trường phái sinh Trung Quốc Error! Bookmark not defined 3.2.2 Thể chế tài chính tham gia thị trường phái sinh Trung QuốcError! Bookmark
1 Tổng quan về thị trường phái sinh Việt Nam Error! Bookmark not defined
1.1 Thị trường kỳ hạn Việt Nam Error! Bookmark not defined 1.2 Thị trường tương lai Việt Nam Error! Bookmark not defined 1.3 Thị trường quyền chọn Việt Nam Error! Bookmark not defined 1.3.1 Quyền chọn tiền tệ Error! Bookmark not defined 1.3.2 Quyền chọn tiền Đồng Việt Nam Error! Bookmark not defined 1.3.3 Quyền chọn vàng Error! Bookmark not defined 1.3.4 Quyền chọn lãi suất Error! Bookmark not defined 1.4 Thị trường hoán đổi Việt Nam Error! Bookmark not defined 1.4.1 Hoán đổi ngoại tệ Error! Bookmark not defined 1.4.2 Hoán đổi lãi suất Error! Bookmark not defined
2 Thực trạng thực hiện nghiệp vụ phái sinh tại các ngân hàng thương mại Việt Nam Error! Bookmark not defined
Trang 8http://svnckh.com.vn 8
2.1 Nghiệp vụ kỳ hạn Error! Bookmark not defined 2.2 Nghiệp vụ tương lai Error! Bookmark not defined 2.3 Nghiệp vụ quyền chọn Error! Bookmark not defined 2.3.1 Quyền chọn ngoại tệ Error! Bookmark not defined 2.3.2 Quyền chọn tiền đồng Error! Bookmark not defined 2.3.3 Quyền chọn vàng Error! Bookmark not defined 2.3.4 Quyền chọn lãi suất Error! Bookmark not defined 2.4 Nghiệp vụ hoán đổi Error! Bookmark not defined 2.5 Ví dụ áp dụng công cụ phái sinh tại Eximbank và SacombankError! Bookmark not
Bookmark not defined
3.1.2 Tăng cạnh tranh giữa các ngân hàng, thúc đẩy hoạt động NHTM phát triểnError!
Bookmark not defined
3.1.3 Phòng ngừa rủi ro cho ngân hàng, doanh nghiệp, bình ổn nền kinh tế Error!
Bookmark not defined
3.2 Những tồn tại Error! Bookmark not defined 3.3 Nguyên nhân Error! Bookmark not defined
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN NGHIỆP VỤ PHÁI SINH TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM ERROR! BOOKMARK NOT DEFINED
1 Cơ hội và thách thức trong việc phát triển nghiệp vụ phái sinh tại các ngân hàng thương mại Việt Nam Error! Bookmark not defined
1.1 Cơ hội Error! Bookmark not defined
Trang 9http://svnckh.com.vn 9
1.2 Thách thức Error! Bookmark not defined
2 Giải pháp phát triển nghiệp vụ phái sinh tại ngân hàng thương mại Việt NamError!
Bookmark not defined
2.1 Giải pháp vĩ mô Error! Bookmark not defined 2.1.1 Hoàn thiện hệ thống pháp lý liên quan tới các công cụ phái sinh Error!
Bookmark not defined
2.1.2 Hoàn thiện, phát triển thị trường hàng hóa và thị trường tài chính Error!
Bookmark not defined
2.1.3 Hoàn thiện quy chế kế toán và thuế Error! Bookmark not defined 2.1.4 Thành lập Sở giao dịch Chứng khoán phái sinhError! Bookmark not defined 2.2 Giải pháp từ phía các ngân hàng thương mại Error! Bookmark not defined
2.2.1 Các cấp lãnh đạo ngân hàng cần nhận thức được sự cần thiết của việc sử dụng các
công cụ phái sinh Error! Bookmark not defined 2.2.2 Tổ chức kinh doanh nghiệp vụ phái sinh Error! Bookmark not defined 2.2.3 Đẩy mạnh công tác marketing các sản phẩm phái sinh Error! Bookmark not
defined
2.2.4 Đào tạo nguồn nhân lực Error! Bookmark not defined 2.2.5 Trang bị công nghệ phù hợp Error! Bookmark not defined 2.2.6 Tăng cường cơ chế kiểm soát nội bộ Error! Bookmark not defined 2.2.7 Mở rộng quan hệ hợp tác với các ngân hàng nước ngoài Error! Bookmark not
Trang 10http://svnckh.com.vn 1
0
Trang 11Với một nền kinh tế đang trong giai đoạn hội nhập mạnh mẽ như Việt Nam, các hợp đồng phái sinh sẽ là một công cụ hữu ích giúp doanh nghiệp xuất nhập khẩu phòng ngừa rủi ro Tuy nhiên, dù đã bắt đầu hình thành từ cuối những năm 90, thị trường phái sinh Việt Nam cho tới hiện tại vẫn chưa phát triển mạnh Mới chỉ có các giao dịch kỳ hạn
và hoán đổi được các chủ thể chào đón Hợp đồng quyền chọn và tương lai mới chỉ được
sử dụng rất ít Các doanh nghiệp Việt Nam vẫn đang phải đối mặt với những rủi ro rất lớn mỗi khi thị trường biến động mà không có biện pháp phòng ngừa nào Tại Việt Nam, các nhà đầu cơ và kinh doanh chênh lệch giá rất hiếm khi sử dụng các công cụ phái sinh
Bên cạnh việc sử dụng các công cụ phái sinh với mục đích phòng vệ, các NHTM đóng vai trò trung tâm trong chiến lược phát triển thị trường phái sinh Việt Nam Là những đơn vị đi tiên phong trong việc sử dụng và phát triển các hợp đồng phái sinh, NHTM là chìa khóa giúp công cụ tài chính này trở nên phổ biến trên thị trường tài chính, thúc đẩy thị trường phái sinh Việt Nam phát triển Thực tế, số lượng giao dịch phái sinh tại các NHTM Việt Nam vẫn ở mức rất hạn chế Trong thời gian tới, xu hướng phát triển
1 http://www.bis.org/statistics/derdetailed.htm
Trang 12http://svnckh.com.vn 1
2
của nền kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế, giảm thiểu sự kiểm soát của Nhà nước đặt ra yêu cầu cấp thiết phát triển các nghiệp vụ phái sinh tại các NHTM Việt Nam
Chính vì những lý do trên, nhóm nghiên cứu quyết định chọn đề tài: “Giải pháp
phát triển nghiệp vụ phái sinh tại các ngân hàng thương mại Việt Nam” nhằm đưa ra
một số giải pháp phát triển loại hình nghiệp vụ này cho các NHTM Việt Nam
So với các đề tài tương tự chỉ tập trung chủ yếu vào một số nghiệp vụ cụ thể giúp ngân hàng tự phòng vệ, điểm nổi bật trong đề tài của chúng tôi là cung cấp một cái nhìn toàn diện nhất về tất cả các nghiệp vụ phái sinh nhìn từ góc độ NHTM Việt Nam
Bài nghiên cứu được thực hiện bằng phương pháp thống kê, mô tả, so sánh và phân tích các số liệu, thông tin từ năm 2006 tới 2009 của Bộ tài chính và Tổng cục thống kê Việt Nam, đồng thời nghiên cứu các bài học của những quốc gia đi trước Bên cạnh đó, nhóm đã tiến hành đi khảo sát thực tế tại hai NHTM Việt Nam: Eximbank và Sacombank,
là những ngân hàng Việt Nam đi đầu trong việc sử dụng linh hoạt các công cụ phái sinh Ngoài lời mở đầu và phần kết luật, bài nghiên cứu được chia thành 3 chương lớn:
- Chương 1: Lý luận chung về nghiệp vụ phái sinh
- Chương 2: Thực trạng thực hiện nghiệp vụ phái sinh tại các ngân hàng thương
mại Việt Nam
- Chương 3: Giải pháp phát triển các nghiệp vụ phái sinh tại các ngân hàng
thương mại Việt Nam
CHƯƠNG I: LÝ LUẬN CHUNG VỀ NGHIỆP VỤ PHÁI SINH
1 Những vấn đề cơ bản về nghiệp vụ phái sinh
1.1 Khái niệm
C
ến số cơ sở. 2 Ở đây, biến số cơ sở là những yếu tố (như giá
trị, mức độ biến động giá, ) của một tài sản cơ sở (underlying asset)được giao dịch trong
hợp đồng phái sinh (hay còn gọi là tài sản gốc) Tài sản gốc có thể là bất cứ thứ gì (hàng
2 John C Hull (2009), “Options, futures, and other derivatives (7th editon), Pearson
Trang 13http://svnckh.com.vn 1
3
hóa, cổ phiếu, USD…) Giá trị của tài sản gốc là giá trị của tài sản được giao dịch, giá trị
này luôn biến động. 3 Như vậy, công cụ phái sinh gắn kết người thực hiện nó với những
rủi ro và lợi nhuận của một tài sản cơ sở nào đó mà họ không cần phải trực tiếp sở hữu tài sản cơ sở đó
Nghiệp vụ tài chính phái sinh là nghiệp vụ sử dụng các công cụ tài chính phái sinh
nhằm nhiều mục tiêu khác nhau như phân tán, phòng ngừa rủi ro về lãi suất, chứng khoán, ngoại tệ…; kinh doanh, bảo vệ lợi nhuận hoặc tạo lợi nhuận; lợi dụng chênh lệch giá và đầu cơ 4
1.2
Thứ nhất, các công cụ tài chính phái sinh có giá trị thay đổi theo sự thay đổi giá trị
của các biến số cơ sở (lãi suất, giá công cụ tài chính, giá hàng hóa, tỷ giá hối đoái, chỉ số giá cả hoặc lãi suất, xếp hạng tín dụng hoặc chỉ số tín dụng…) Sự thay đổi của các biến
số cơ sở chính là điều kiện hình thành các công cụ tài chính phái sinh Do đặc điểm này
mà việc định giá các công cụ phái sinh rất khác biệt so với các công cụ tài chính khác Chẳng hạn như để định giá một cổ phiếu phổ thông của một doanh nghiệp, ta cần ước tính được các dòng tiền kỳ vọng trong tương lai, cổ tức dự kiến hàng năm, giá bán cổ phiếu dự kiến hay tốc độ tăng trưởng của công ty… Nhưng để định giá một công cụ phái sinh, giả
sử như định giá của một quyền chọn bán 1.000 tấn gạo tại thời điểm 02/06/2010, ngày đáo hạn là 19/01/2012, ta cần xét đến những biến động về giá trị thị trường của tài sản, giá thực hiện của quyển chọn bán, lãi suất phi rủi ro, mức độ biến động tỷ suất lợi nhuận của tài sản,… Như vậy, giá trị các công cụ tài chính phái sinh phụ thuộc rất nhiều vào sự thay đổi giá trị của tài sản cơ sở
Thứ hai, công cụ tài chính phái si
Trang 14http://svnckh.com.vn 1
4
Điều này có nghĩa là một nhà đầu tư có thể không cần bỏ ra bất kỳ một khoản tiền nào (chẳng hạn như trong giao dịch kỳ hạn, hoán đổi,…) hoặc chỉ bỏ ra một khoản tương đối nhỏ (ví dụ: phí quyền chọn trong giao dịch quyền chọn, tài khoản đặt cọc và duy trì trong giao dịch tương lai,…) so với giá trị của những hợp đồng tương tự (hợp đồng mua bán giao ngay,…), nhưng vẫn có thể tham gia vào thị trường phái sinh và thu lợi nhuận hoặc phòng ngừa rủi ro
Thứ ba, khác với mua bán giao ngay, các nhà đầu tư khi tham gia thị trường phái
sinh có quyền thanh toán (đôi khi là từ chối thanh toán trong các hợp đồng quyền chọn) tại hoặc trước một thời điểm nhất định theo thỏa thuận (đối với thị trường phi tập trung) hoặc theo quy định (đối với thị trường tập trung) Đây cũng được coi là một đặc điểm nổi bật của các công cụ tài chính phái sinh
1.3 Phân loại công cụ phái sinh
Trang 15http://svnckh.com.vn 1
5
1.3.2 Hợp đồng tương lai (Fututes Contract)
ương lai (futures contract)
.6
Tiền thu được (Payoffs) từ
Hợp đồng tương lai thực chất là hợp đồng kỳ hạn được tiêu chuẩn hóa Có thể thấy
rõ điều này qua bảng so sánh những đặc điểm quan trọng như sau:
Bảng 1: So sánh đặc điểm hợp đồng kì hạn và hợp đồng tương lai
6 Jeff Mandura (2006), “Financial markets and institutions (7th edition)”, Thomson
STT Đặc điểm Hợp đồng kì hạn Hợp đồng tương lai
1 Nơi trao đổi Thị trường phi tập trung Thị trường tập trung
2 Khối lượng giao
Được tiêu chuẩn hóa theo quy định của sàn giao dịch
Trang 16http://svnckh.com.vn 1
6
Nguồn: Tổng hợp các đặc điểm của hợp đồng kỳ hạn và hợp đồng tương lai
Điểm khác nhau cơ bản giữa hai loại hợp đồng là khi tham gia vào một hợp đồng tương lai, chủ hợp đồng phải đặt cọc một số lượng nhất định tùy theo giá trị của hợp đồng, lượng đặt cọc này do Sở giao dịch quy định và kiểm tra hàng ngày
1.3.3 Hợp đồng quyền chọn (Options Contract)
3 Thanh toán Lúc đáo hạn hợp đồng Có thể đóng vị thế trước hạn
cầu, đôi khi đòi hỏi từ 5%-10%
Bắt buộc ký gửi một số lượng nhất định, điều chỉnh theo thị trường hàng ngày
Trang 17http://svnckh.com.vn 1
7
1.3.4 Hợp đồng hoán đổi (Swaps Contract)
Trang 18ủa hợp đồng hoán đổi: đ
1.4 Vai trò nghiệp vụ phái sinh đối với các ngân hàng thương mại
1.4.1 Vai trò của công cụ phái sinh trong việc phòng ngừa rủi ro
a Phòng ngừa rủi ro lãi suất và rủi ro ngoại hối
Rủi ro lãi suất và rủi ro ngoại hối là những rủi ro thường thấy trong hoạt động của ngân hàng Hai loại rủi ro này có thể làm tăng chi phí vay nợ của ngân hàng (trong trường hợp lãi suất tăng hoặc tỉ giá tăng) hoặc có thể làm giảm kết quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng (trong trường hợp lãi suất hoặc tỉ giá giảm) Các CCPS là những công cụ hữu hiệu để phòng ngừa hai loại rủi ro trên Mặt khác, CCPS có thể cho ngân hàng xác định được trước và chính xác chi phí vay nợ, từ đó có thể xác định được trước kết quả kinh doanh để lên kế hoạch cho phù hợp
Để phòng ngừa rủi ro lãi suất, mà chủ yếu là rủi ro kỳ hạn bất cân xứng hay rủi ro định giá lại tài sản, ngân hàng có thể áp dụng các CCPS như hợp đồng kỳ hạn, tương lai,
8 Jeff Mandura (2006), “Financial markets and institutions (7th edition)”, Thomson
Trang 19http://svnckh.com.vn 1
9
quyền chọn, hoán đổi Trong đó, phổ biến nhất là thỏa thuận kì hạn lãi suất (FRA_
forward rate agreement) và hợp đồng hoán đổi lãi suất (IRS _ interest rate swap) Thỏa
thuận kỳ hạn lãi suất (FRA) là một hợp đồng kỳ hạn mà theo đó các bên tham gia đồng ý
thanh toán cho nhau bằng tiền mặt khoản chênh lệch lãi suất (không có giao nhận khoản tiền gốc) của một khoản vay ngắn hạn9 Hợp đồng hoán đổi lãi suất (IRS) là một thỏa
thuận giữa hai bên, theo đó hai bên sẽ thực hiện trao đổi các dòng tiền lãi cho nhau Thông thường một bên sẽ nhận lãi suất cố định và bên còn lại sẽ nhận lãi suất thả nổi tại những ngày xác định trước, gọi là những ngày giá trị giao dịch, dựa trên khung thời gian
và khoản tiền danh nghĩa đã được xác định trước.10 Hai loại hình hợp đồng phái sinh này
có cách sử dụng tương đối giống nhau, tuy nhiên FRA dùng trong ngắn hạn, còn IRS được dùng trong thời hạn dài Có thể nhận thấy, ở cả hai loại hình này, ngân hàng có thể phòng ngừa được rủi ro khi lãi suất lên đồng thời không phải chuyển giao tài sản gốc cho nhau Từ đó, tiết kiệm chi phí giao dịch và có thể tận dụng số tiền đó để quay vòng vốn Các ngân hàng thường kết hợp sử dụng các hợp đồng phái sinh với nhau để phòng ngừa được rủi ro tỉ giá bất lợi cho mình và kiếm lời từ chênh lệch tỉ giá Hơn nữa, các công cụ phái sinh còn đảm bảo số lượng ngoại tệ bất thường cho ngân hàng, giúp ngân hàng giữ vững tính thanh khoản của mình Ngân hàng có thể sử dụng các công cụ phái sinh như quyền chọn, kỳ hạn, tương lai, hoán đổi tiền tệ để tự phòng ngừa rủi ro tỉ giá Nhìn chung, các công cụ phái sinh mang lại cho ngân hàng nhiều sự lựa chọn hơn trong việc phòng ngừa rủi ro Nếu có thể kết hợp sử dụng các hợp đồng phái sinh, ngân hàng có thể phòng ngừa được rủi ro lãi suất và tỉ giá tại một mức chi phí hợp lí
b Phòng ngừa rủi ro tín dụng
Một trong những rủi ro mà ngân hàng phải quan tâm nhất đó là rủi ro tín dụng Bất
kì một khoản tín dụng nào khi được cấp, người cho vay đều hy vọng thu được một khoản lợi nhuận nhất định từ khoản tín dụng đó Tuy nhiên rủi ro hoàn toàn có thể xảy ra khi
9 www.riskglossary.com
10
www.riskglossary.com
Trang 20http://svnckh.com.vn 2
0
khoản tín dụng đó bị lỗ một phần hoặc hoàn toàn Để phòng ngừa rủi ro này, ngân hàng
có thể sử dụng hợp đồng phái sinh tín dụng được mua bán trên thị trường phi tập trung
Công cụ phái sinh tín dụng là thuật ngữ chung được sử dụng để mô tả các hợp đồng
quyền chọn và hoán đổi khác nhau nhằm chuyển giao rủi ro tín dụng của các khoản vay hoặc tài sản có khác từ một bên là người mua sự an toàn sang một bên là người bán sự an toàn Người bán sự an toàn sẽ nhận được một khoản phí hoặc nhận được một khoản thu nhập theo lãi của khoản tín dụng và cam kết sẽ thanh toán cho người mua sự an toàn tùy theo độ tín nhiệm của một hoặc một số tài sản tham chiếu.11
Hai công cụ được sử dụng nhiều để phòng ngừa rủi ro tín dụng là hoán đổi vỡ nợ tín
dụng và quyền tín dụng Trong đó, hoán đổi vỡ nợ tín dụng là công cụ hoán đổi mà trong
đó một bên nhận được phí vào các khoảng thời gian được định trước cho việc cam kết thanh toán một khoản cụ thể nếu xảy ra sự kiện tín dụng bất lợi, chẳng hạn như thứ hạng tín dụng của khách hàng vay vốn bị suy giảm Như vậy, mặc dù phải trả một khoản phí định kì nhưng ngân hàng lại có được bảo đảm về chất lượng của khách hàng của mình, hạn chế một phần rủi ro tín dụng, là một sự đảm bảo cho một giao dịch lớn hơn Mặt khác, ngân hàng cũng dễ dàng tính được chi phí kinh doanh trong kỳ vì sự cố định của
hợp đồng dạng này Hợp đồng quyền tín dụng là một công cụ bảo vệ ngân hàng trước
những tổn thất trong giá trị tài sản tín dụng, giúp bù đắp mức chi phí vay vốn cao hơn khi chất lượng tín dụng của ngân hàng giảm sút
1.4.2 Kinh doanh cung cấp dịch vụ bảo hiểm rủi ro cho khách hàng
Giống như ngân hàng, các doanh nghiệp cũng đứng trước những rủi ro như lãi suất,
tỷ giá, tín dụng Công cụ phái sinh là một trong những phương tiện rất hiệu quả giúp doanh nghiệp phòng chống các loại rủi ro này Tuy nhiên, do đối tượng của doanh nghiệp nhắm tới khi sử dụng các CCPS không chỉ đơn thuần là tiền tệ, mà còn là hàng hóa; và quan hệ trao đổi giữa các doanh nghiệp (trong nước với nhau, trong nước và ngoài nước) cũng phức tạp hơn cho nên cách nhìn nhận vai trò của CCPS để phòng ngừa rủi ro, đầu cơ
ở doanh nghiệp cũng phong phú hơn
11 UK Financial Services Authority
Trang 21http://svnckh.com.vn 2
1
Đứng trước nhu cầu lớn về sử dụng các CCPS để phòng vệ cũng như đầu cơ của các doanh nghiệp, ngân hàng có thể thu được lợi nhuận khi cung cấp cho doanh nghiệp các
dịch vụ phái sinh tiền tệ, lãi suất, tỉ giá Thứ nhất, ngân hàng có thể thu phí từ hoạt động
tư vấn cho khách hàng về cách sử dụng các loại hình dịch vụ phái sinh của ngân hàng
Thứ hai, ngân hàng có thể thu lợi trực tiếp từ các hợp đồng đó, như là phí quyền chọn, phí
hợp đồng tương lai Ngoài ra, việc tham gia cung cấp dịch vụ cho các doanh nghiệp sẽ
khiến các ngân hàng nâng cao được khả năng chuyên môn của mình để áp dụng cho các danh mục đầu tư khác đồng thời cũng thúc đẩy các nghiệp vụ khác phát triển Tuy nhiên, mọi loại hình dịch vụ và kinh doanh của ngân hàng liên quan tới công cụ phái sinh ngoài thu phí lấy lãi ra thì đều mang tính chất bảo hiểm rủi ro
Khi bản thân các CCPS cũng tiềm ẩn rủi ro cho các bên tham gia, ngân hàng có thể
sẽ nhận rủi ro khi cung cấp các dịch vụ phái sinh cho khách hàng Tuy nhiên, ngân hàng
là một chủ thể tài chính có những ưu thế nhất định để có thể xóa bỏ những rủi ro đơn lẻ bằng việc đa dạng hóa danh mục Trong trường hợp ngân hàng không thể tự lập được một
vị thế bù lại dịch vụ phái sinh đã cung cấp, nó có thể chỉ đóng vai trò là trung gian và tìm một đối tác khác để chuyển nhượng lại rủi ro này Chính vì vậy mà nhìn chung, việc cung cấp các dịch vụ CCPS tại ngân hàng thường mang lại cho ngân hàng những khoản thu nhập khác hơn là gánh lấy rủi ro
1.4.3 Những công cụ quan trọng cho mục đích đầu cơ của các NHTM
12
John C Hull (2009), “Options, futures, and other derivatives (7 th editon), Pearson
Trang 22http://svnckh.com.vn 2
2
Đầu cơ hợp đồng tương lai: NHTM có thể dùng hợp đồng tương lai lãi suất, tương
lai chỉ số chứng khoán, tương lai tiền tệ để tiến hành hoạt động đầu cơ sinh lợi của mình Trong đó tương lai lãi suất khá tương đồng với tương lai tiền tệ, đều dựa trên suy đoán của ngân hàng về độ tăng giảm lãi suất cũng như tỉ giá trong tương lai Còn các giao dịch tương lai chỉ số chứng khoán lại dựa trên dự đoán về động thái thị trường chứng khoán nói chung nhằm thu lợi nhuận Thông thường thì giao dịch này được sử dụng khi NHTM không có tiền mặt mua chứng khoán ngay Với mức tiền mặt eo hẹp, NHTM vẫn có thể đầu cơ vào sự biến động chỉ số chứng khoán nhằm thu lợi nhuận
Đầu cơ quyền chọn mua: NHTM đóng vai trò là bên mua trong hợp đồng quyền
chọn mua nếu dự đoán rằng giá của tài sản cơ sở sẽ tăng trong tương lai Trong trường hợp này, NHTM với tư cách là bên mua trong hợp đồng quyền chọn mua sẽ được cho vay một khoản tiền để mua tài sản cơ sở Khi hợp đồng đáo hạn, bên mua sẽ phải thanh toán các khoản lỗ ròng và hoàn trả lại số tiền ban đầu đã được cho vay (có thể kèm theo lãi) Khoản vay để bên mua tham gia vào hợp đồng quyền chọn tương tự như khoản vay để mua tài sản cơ sở theo cơ chế giao dịch đòn bẩy (margin trading) Vì vậy, quyền chọn mua còn được gọi là công cụ đầu tư đòn bẩy (leveraged instrument) Hơn nữa, theo tính toán thì đầu tư vào quyền chọn mua mang lại tỷ suất lợi nhuận cao hơn khi giá tài sản cơ
sở trên thị trường tăng và tổn thất ít hơn khi giá tài sản cơ sở trên thị trường giảm Chính điều này đã khiến quyền chọn mua trở thành một công cụ đầu tư mạnh mẽ hơn cả bản thân tài sản cơ sở Ngược lại, NHTM có thể đóng vai trò là bên bán trong hợp đồng quyền chọn khi dự đoán giá cả của tài sản cơ sở sẽ giảm trong tương lai Khi đó, lãi của NHTM
là khoản phí quyền chọn thu được từ khách hàng
Khác vớ
ếu NHTM đầ
ể sử dụng kết hợp công cụ tương lai và quyền chọn với nhau cũng nhằm mục đích đầu cơ sinh lợi nhuận
Trang 23http://svnckh.com.vn 2
3
2 Các điều kiện phát triển nghiệp vụ phái sinh tại ngân hàng thương mại
2.1 Điều kiện vĩ mô
2.1.1 Điều kiện pháp lý
a Pháp luật về các công cụ tài chính
Các văn bản pháp luật về các công cụ tài chính phải tách bạch các quy định về các CCPS, tức là đề cập trực tiếp, đầy đủ các CCPS, định nghĩa rõ ràng các thuật ngữ, tránh phải suy đoán, trích dẫn từ quy định chung Có như vậy, các chủ thể tham gia thị trường phái sinh trong đó có các NHTM mới có thể thống nhất tiến hành nghiệp vụ liên quan đến công cụ phái sinh
Văn bản pháp luật phải ấn định mức giới hạn hợp lý mà các tài sản gốc đạt được để
có thể có CCPS kèm theo Hoạt động của các chủ thể trong giao dịch phái sinh, quy định
về hoạt động giao dịch trên OTC cũng như sàn giao dịch tập trung của các CCPS cũng phải có những quy phạm, chế tài hợp lý Quan trọng nhất phải tạo điều kiện cho chủ thể tham gia thị trường một cách tích cực và lành mạnh, có như vậy mới có thể khuyến khích được nghiệp vụ phái sinh phát triển
13 Định chế tài chính là những tổ chức giữ vai trò là một kênh trung gian giữa người thừa vốn và người thiếu vốn; ví dụ như NHTM, tổ chức tín dụng, công ty bảo hiểm, quỹ hưu trí, những người môi giới đầu tư,… (http://www.businessdictionary.com/definition/financial-institution.html)
Trang 24Một thị trường hàng hóa có tác động tốt đến giao dịch phái sinh có thể có sự điều tiết của chính phủ nhưng can thiệp vào giá phải không làm triệt tiêu nhu cầu sử dụng công
cụ phái sinh
- Thị trường tài chính:
Hệ thống tài chính đòi hỏi phải ở trình độ nhất định để tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của các công cụ phái sinh và nghiệp vụ phái sinh
+Thị trường ngoại tệ và vàng: Những biến động về tỷ giá phải phản ánh cung - cầu
ngoại tệ Tỷ giá cần thiết phải được thả nổi hoặc thả nổi có điều tiết hợp lý, không làm triệt tiêu ảnh hưởng của cung - cầu ngoại hối Sự điều tiết vĩ mô cần ở mức độ vừa phải để các chủ thể tham gia thị trường có sự chủ động với vấn đề rủi ro Sự phát triển của thị trường phái sinh đòi hỏi một cơ chế cho phép dòng tiền ra vào quốc gia một cách tự do, ít nhất là với các đồng tiền lưu hành phổ biến
Vấn đề với vàng cũng tương tự, sự liên kết và mở cửa của thị trường vàng trong nước với thị trường vàng quốc tế sẽ làm vàng được lưu thông tự do cho biến động cung - cầu vàng phản ánh vào giá vàng
Trang 25http://svnckh.com.vn 2
5
+Thị trường chứng khoán: Thị trường chứng khoán cũng phải có sự phát triển ở
mức độ cao Các chứng khoán gốc như cổ phiểu, trái phiếu đòi hỏi phải có sự đa dạng, khối lượng giao dịch lớn, tính thanh khoản cao Giá cả của chứng khoán trên thị trường cũng phải do cung – cầu quyết định.Thị trường chứng khoán phải có sự tập trung nhất định, khối lượng giao dịch tại sở giao dịch tập trung lớn làm cơ sở nền tảng cho sở giao dịch tương lai Thông tin trên thị trường chứng khoán phải được minh bạch, có tính hiệu
quả cao, có tác động tự nhiên đến giá cả chứng khoán trên thị trường
+Thị trường các công cụ nợ: Lãi suất phải biến động tự nhiên, dưới tác động cung -
cầu các khoản cho vay và công cụ nợ Lãi suất cần biến động hợp lý với sự tăng giảm của mức độ rủi ro, tính thanh khoản của các công cụ nợ, kỳ vọng của các nhà đầu tư vào chính sách tỷ giá, vấn đề lạm phát…, tức là phải tuân theo một đường cong lãi suất chuẩn Mức lãi suất cơ bản phải có tác dụng định hướng lãi suất trên thị trường nhưng không được có
tính áp đặt
2.1.3 Điều kiện hạ tầng cơ sở
Công cụ phái sinh là một sản phẩm hiện đại của hệ thống tài chính Vì thế để có thể triển khai nghiệp vụ phái sinh tại NHTM ở một nước, trước hết phải có một hạ tầng cơ sở vật chất – kỹ thuật hiện đại của thị trường phái sinh làm nền tảng
Việc thanh toán tuy không trực tiếp thuộc NVPS những nó liên quan đến việc chuyển phí đối với các dịch vụ từ sản phẩm phái sinh mà ngân hàng cung cấp, thanh toán khi đến ngày đáo hạn các hợp đồng kỳ hạn, tương lai, hoán đổi… Để tạo điều kiện cho NVPS phát triển, hệ thống thanh toán phải đáp ứng một khối lượng phù hợp với quy mô các giao dịch trên thị trường, có hệ thống thanh toán tự động, thanh toán bù trừ, phải có trung tâm thanh toán tập trung
Để phát triển thị trường OTC cho các giao dịch phái sinh đòi hỏi hệ thống mạng internet, mạng lưới viễn thông rộng và hiện đại Có như vậy, NVPS mới diễn ra chính xác, nhanh chóng, kịp thời Đồng thời, chi phí viễn thông, chi phí mạng thấp cũng là một điều kiện gián tiếp tác động đến hiệu quả của NVPS Bên cạnh đó phải có sàn giao dịch tập trung, nhất là với giao dịch tương lai Sàn phải đáp ứng được việc lưu trữ thông tin
Trang 26http://svnckh.com.vn 2
6
lớn, cập nhập thông tin liên quan đến CCPS như tỷ giá, lãi suất giá cả, tính toán tự động
lỗ - lãi
2.2 Điều kiện từ phía ngân hàng
2.2.1 Quy trình làm việc đảm bảo giảm chi phí giao dịch, nhanh chóng, thuận tiện cho khách hàng
- Giảm được chi phí giao dịch gồm: chi phí tìm kiếm thông tin; chi phí thương lượng với đối tác; chi phí để điều chỉnh trạng thái nhằm thích nghi với điều kiện mới của thị trường và tài thương lượng; chi phí phát sinh từ những yếu tố bất định và rủi ro về thông tin, thể chế; chi phí ủy quyền tác nghiệp; chi phí thực hiện và giám sát,…
- Khách hàng có thể nhận được các sản phẩm với dịch vụ xuyên suốt Nên tổ chức sao cho khách hàng chỉ phải nói chuyện với một giao dịch viên, trả một mức giá hợp nhất
và nhận được một xác nhận dễ hiểu
- Các nhân viên bán hàng cần hiểu rõ về dịch vụ phái sinh để tư vấn được cho khách hàng Các cán bộ phái sinh vừa cung cấp dịch vụ vừa góp phần định hướng cho doanh nghiệp
- Luồng thông tin thông suốt giữa các giao dịch viên Có sự cộng tác giữa nhân viên phái sinh và các nhân viên khác
2.2.2 Đội ngũ cán bộ phái sinh
- Từ lãnh đạo đến nhân viên đều có kinh nghiệm và được đào tạo bài bản về các nghiệp vụ phái sinh
- Đội ngũ cán bộ có khả năng thương lượng hiệu quả
- Các chuyên gia về lĩnh vực phái sinh có khả năng nhận biết, phân tích, và dự báo tình hình
- Phải thiết kế được các sản phẩm phái sinh, đủ để có thể đưa ra đúng lúc, được thị trường chào đón và sử dụng Công việc thiết kế một CCPS bao gồm đưa ra các chi tiết của sản phẩm, tính giá của sản phẩm và sau đó phòng ngừa rủi ro cho sản phẩm đó
2.2.3 Công nghệ
Trang 27- Có hệ thống lưu trữ, phân tích số liệu rất lớn, cập nhật liên tục
- Có phần mềm thông minh, hỗ trợ hiệu quả để giúp các NHTM có thể đưa ra mức phí thích hợp, có tính cạnh trang cũng như đảm bảo thu nhập cho ngân hàng từ nghiệp vụ phái sinh Dùng phần mềm DerivaGem để tính phí quyền chọn và xây dựng những sản phẩm phái sinh cho ngân hàng
2.3 Điều kiện từ phía khách hàng
- Doanh nghiệp cần nắm bắt được cấu trúc của một quá trình quản trị rủi ro bao gồm: (1) Nhận diện rủi ro (2) Phân biệt giữa quản trị rủi ro và đầu cơ (3) Đánh giá chi phí
của hoạt động quản trị rủi ro trên phương diện chi phí phát sinh do không thực hiện hoạt
động quản trị rủi ro… Để đánh giá chính xác chi phí quản trị rủi ro thì phải xem xét
chúng trên phương diện chi phí tiềm ẩn của quyết định không thực hiện quản trị rủi ro; giống như phương thức đánh giá chi phí của một hợp đồng bảo hiểm (so với khoản tổn thất tiềm năng)
- Nhân sự có năng lực về sản phẩm phái sinh Khi thấy những rủi ro tỷ giá, rủi ro lãi suất sắp tới tác động đến kết quả kinh doanh, doanh nghiệp phải có nhân sự để thực hiện các chương trình quản trị rủi ro hiệu quả
- Tư duy của những người lãnh đạo doanh nghiệp: Tư duy sợ chịu trách nhiệm
khiến lãnh đạo doanh nghiệp sợ ra quyết định Điều này đặc biệt đúng đối với việc sử dụng các công cụ phái sinh vì chúng là một công cụ phòng ngừa rủi ro hiệu quả nhưng đôi khi lại vô cùng tốn kém Những người lãnh đạo cần dám nghĩ dám làm
Trang 28http://svnckh.com.vn 2
8
- Ban lãnh đạo công ty cần nắm rõ thị trường phái sinh, có như vậy họ mới nắm bắt
và có khả năng đưa ra quyết định có lợi cho công ty, thông báo cho các thành viên kiểm soát kế hoạch và quá trình triển khai các biện pháp hạn chế rủi ro
3 Bài học kinh nghiệm từ một số nước trên thế giới trong việc thực hiện các nghiệp vụ phái sinh
Các thị trường phái sinh đã có một lịch sử hình thành và phát triển lâu dài trên thế giới Mỹ luôn là quốc gia đi đầu trong việc tạo lập và sử dụng các CCPS với mức độ chuẩn hóa cao nhờ vào công nghệ tiên tiến Trung Quốc và Ấn Độ là hai quốc gia đang phát triển nhưng các CCPS đã được sử dụng rất phổ biến, đặc biệt là phái sinh hàng hóa Trung Quốc và phái sinh chứng khoán Ấn Độ Hai quốc gia này đã trải qua một thời gian dài dưới sự bảo hộ chặt chẽ của nhà nước, tuy nhiên TTPS vẫn vượt qua các quy tắc để phát triển không ngừng Nghiên cứu quá trình này góp phần đẩy nhanh sự phát triển TTPS Việt Nam trong thời gian tới Cũng từ đó, NHTM Việt Nam có được nhiều bài học
bổ ích trong các nghiệp vụ phái sinh
Mỹ là tính chuẩn hóa hình thành trên cơ sở hạ tầng được trang bị tiên tiến
Dù ra đời từ rất sớm, thị trường phái sinh Mỹ chỉ phát triển mạnh từ những năm
1970, khi bất ổn chính trị dẫn tới những cuộc khủng hoảng kinh tế nghiêm trọng, tiêu biểu
là cuộc khủng hoảng dầu lửa 1973-1974
Thị trường phái sinh Mỹ phát triển song hành với các sở giao dịch, trung tâm giao dịch lớn như Hội đồng Mậu dịch Chicago (CBOT), Sở Thương mại Chicago (CME), Sàn giao dịch quyền chọn Chicago (CBOE), các thị trường chứng khoán NYSE, AMEX Các
Trang 29http://svnckh.com.vn 2
9
sở giao dịch vừa đóng vai trò trung gian vừa là người bảo lãnh trong các giao dịch phái sinh Ký quỹ trước khi thực hiện giao dịch là bắt buộc với cả người bán và người mua Giao dịch tại các sở giao dịch này thực hiện bằng đấu giá mở với các công cụ tự động hóa
và khớp lệnh liên tục Điều này tạo ra sự minh bạch cho hợp đồng phái sinh giúp thành viên của sở (cổ đông) và khách hàng nhằm phòng ngừa, quản lý rủi ro hoặc đầu cơ Các ngân hàng và các công ty tài chính thường tham gia giao dịch thông qua việc mua cổ phần của sở để đạt được một tư cách thành viên (một chỗ ngồi) Với tư cách đó, họ có thể vừa
là môi giới hưởng phí vừa là nhà đầu tư thu lợi nhuận
Thị trường Mỹ đã đáp ứng nhu cầu liên kết điện tử và thương mại 24/24 giờ trong ngày bằng cách tạo ra những sản phẩm giao dịch quốc tế, mở rộng giờ giao dịch và triển khai một sàn giao dịch điện tử Đáng chú ý nhất là GLOBEX (được CME phát triển) và Project A (được CBOT phát triển) Trên hệ thống GLOBEX, các nhà đầu tư cá nhân có thể bán ngoại hối, giao dịch dựa trên chỉ số S&P 500, S&P 500 mini và NASDAQ 100 và các hợp đồng con Trên hệ thống Project A (nay là hệ thống Eurex), các nhà đầu tư cá nhân có thể mua bán trái phiếu T-bonds và tín phiếu, quyền chọn, và tất cả các sản phẩm ngũ cốc trên CBOT Giao dịch điện tử được thiết kế để hỗ trợ việc đấu giá mở ngoài giờ giao dịch chính thức
Trong thị trường phái sinh Mỹ, đặc biệt cần chú ý tới thị trường quyền chọn chứng khoán Nó được coi là thị trường vốn có tính lỏng nhất thế giới Không giống như thị
trường quyền chọn châu Âu, đây là thị trường mua bán qua sở giao dịch chứ không phải
là thị trường phi tập trung
Để có được thị trường quyền chọn phát triển sôi động với trình độ cao, phải kể đến vai trò của các tổ chức với tư cách “người bảo lãnh” như: SEC, CFTC, OCC… góp phần đẩy thị trường phát triển minh bạch và ổn định Liên đoàn quyền chọn (OCC) được thành lập năm 1973, là tổ chức minh bạch hóa chứng khoán phái sinh lớn nhất trên thế giới Đối tượng bao gồm quyền chọn mua và quyền chọn bán trên các sàn giao dịch, các đợt phát hành cổ phiếu, chỉ số chứng khoán, ngoại tệ và lãi suất Là người bảo lãnh, OCC chú
Trang 30http://svnckh.com.vn 3
0
trọng xem xét các nguyên tắc quản lý rủi ro của thị trường nhằm đảm bảo các nghĩa vụ của hợp đồng được làm rõ và thực hiện
Không chỉ có các sàn giao dịch, NHTM cũng bắt đầu tham gia cung cấp quản lý rủi
ro hàng hóa vào năm 1986 Tuy nhiên, vào năm 1987, CFTC (Commodities Future Trading Center) đã phản đối tính hợp pháp trong hoạt động của NHTM trên thị trường này ở Mỹ Điều này đã khiến việc phát triển các sản phẩm mới tại Mỹ gặp khó khăn Tới tận năm 1993, CFTC mới thông qua các quy định tạo lợi nhuận cho thị trường và việc phát triển các sản phẩm lại trở lại tốc độ của nó
3.2 Bài học từ Trung Quốc
3.2.1 Thị trường phái sinh Trung Quốc
Nền kinh tế Trung Quốc đang phát triển nhanh chóng, hàng hóa Trung Quốc được xuất khẩu đi khắp mọi nơi trên thế giới Vị thế của Trung Quốc trong mua bán quốc tế tạo điều kiện thuận lợi để Trung quốc phát triển các công cụ phái sinh hàng hóa Tuy vậy, thị trường phái sinh Trung Quốc có những bước tiến chậm hơn so với Mỹ do các quy tắc chặt chẽ từ phía ba cơ quan điều chỉnh TTPS: Ủy ban điều tiết chứng khoán Trung Quốc (CSRC); Cơ quan giám sát ngành ngân hàng Trung Quốc (CBRC); và Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc (PBC)
Tháng 2/2004, CBRC ban hành Luật nới lỏng rất nhiều các quy tắc trong trao đổi phái sinh Luật cho phép các thể chế tài chính tham gia giao dịch phái sinh nhằm cả mục đích phòng vệ lẫn đầu cơ Đây là một sự thay đổi quan trọng vì muốn phát triển nhanh chóng TTPS, bắt buộc các công cụ phái sinh phải được sử dụng nhằm cả ba mục đích Luật này còn cho phép ngân hàng nước ngoài trực tiếp làm việc với các chủ thể Trung Quốc không cần qua các thể chế tài chính trong nước
Vào ngày 8/9/2006, Sàn giao dịch tương lai tài chính Trung Quốc được thành lập
Từ đó, công cụ tương lai chỉ số CSI 300 ra đời Tại Trung Quốc, việc thông qua các quy tắc dành cho hợp đồng tương lai chỉ số thường khó khăn hơn hợp đồng tương lai hàng hóa Điều này là do Trung Quốc yêu cầu thanh toán bằng tiền mặt vì cho rằng các công cụ phái sinh mang tính mạo hiểm hơn là nhằm thực hiện giao tài sản gốc
Trang 31http://svnckh.com.vn 3
1
3.2.2 Thể chế tài chính tham gia thị trường phái sinh Trung Quốc
a, Công cụ phái sinh ngoại hối
Phái sinh ngoại hối tại Trung Quốc không phát triển mạnh như phái sinh hàng hóa
do đồng Nhân Dân Tệ chịu sự điều chỉnh của nhà nước, không phải là đồng tiền tự do chuyển đổi Các cơ quan điều chỉnh thị trường phái sinh đã có những bước đi chậm chạm
để tạo điều kiện phát triển công cụ phái sinh này
Trước năm 2005, Trung Quốc chỉ có 4 NHTM nhà nước và 3 NHTM cổ phần trong nước được thực hiện hợp đồng kì hạn Nhân Dân tệ theo kế hoạch thí điểm
Ngày 2/8/2005 Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc công bố Thông tư liên quan đến việc mở rộng việc mua bán hợp đồng kỳ hạn trong kinh doanh trên thị trường ngoại hối
và triển khai hợp đồng hoán đổi RMB đối với ngoại tệ Thông tư PBOC này cho phép hầu hết các NHTM, bao gồm cả những chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại Trung quốc có quyền tham gia kinh doanh, trao đổi kì hạn đồng Nhân Dân tệ
Thông tư PBOC cũng cho phép ngân hàng mua bán hợp đồng kì hạn ngoại hối hơn 6 tháng được giao dịch hoán đổi Nhân Dân tệ sau khi đăng kí với SAFE
Khi tham gia hợp đồng kì hạn và hoán đổi ngoại hối, yêu cầu ngân hàng phải xác nhận xem việc thanh toán ngoại hối bởi chủ thể trong nước có tuân theo những quy tắc phù hợp hay không Đến kì đáo hạn, các ngân hàng không thể thực hiện hợp đồng trước khi kiểm tra tính hiệu lực của tài liệu do các chủ thể trong nước cung cấp
Theo Thông tư PBOC Accelerating, Trung tâm giao dịch ngoại hối quốc gia bắt đầu giao dịch phái sinh ngoại hối, hình thành nên một thị trường phái sinh ngoại hối có tổ chức và bị điều chỉnh
b, Công cụ phái sinh hàng hóa và chứng khoán
Ngày 2/12/2005, CBRC ban hành Chỉ thị về việc quy định phạm vi kinh doanh của các giao dịch sản phẩm phái sinh bởi các NHTM trong nước Trong đó, CBRC đã dỡ bỏ việc cấm các NHTM nội địa tham gia giao dịch sản phẩm phái sinh hàng hóa và chứng khoán Các chi nhánh của ngân hàng nước ngoài phải đàm phán với CBRC trong giai
Trang 323.3 Bài học từ Ấn Độ
Các công cụ phái sinh trải qua một lịch sử lâu dài tại Ấn Độ với nhiều lần bị chính phủ cấm phát triển Năm 1988, Securities and Exchange Board of India (SEBI) được thành lập, điều chỉnh các tài sản tài chính giao dịch tại Ấn Độ
Một bước đi quan trọng trong sự phát triển của việc giao dịch CCPS tại Ấn Độ là
Sắc lệnh các tài sản tài chính có sửa đổi năm 1995 (Securities Laws Ordinance) Sắc lệnh
này đã dỡ bỏ sự ngăn cấm trong các giao dịch quyền chọn Điều này dẫn tới một khung pháp luật có hiệu lực vào tháng 12/1999, trong giới hạn đó, những công cụ phái sinh như quyền chọn và tương lai được xem xét như những tài sản tài chính có thể giao dịch Đầu năm 2000, nhiều lệnh cấm các giao dịch tương lai hàng hóa được dỡ bỏ cùng lúc với trao đổi hàng hóa điện tử được thiết lập khắp quốc gia Năm 2001, một loạt các sản phẩm phái sinh được đưa ra như quyền chọn BSE Sensex, quyền chọn chứng khoán riêng rẻ, hợp đồng tương lai các cổ phiếu, hợp đồng tương lai chỉ số S&P CPN Nifty, quyền chọn chỉ số Cả Sàn giao dịch chứng khoán Quốc gia tại Mumbai (National Stock Exchange - NSE) và Sàn giao dịch chứng khoán Mumbai (Stock Exchange Mumbai - BSE) giao dịch hợp đồng tương lai chỉ số, hợp đồng tương lai chứng khoán, quyền chọn chỉ số và quyền chọn chứng khoán Những giao dịch sử dụng công nghệ phức tạp và hoàn toàn bằng điện Thị trường OTC rất linh hoạt, đặc biệt đối với các sản phầm hoán đổi và lãi suất
Theo lý thuyết, đồng Rupee của Ấn Độ là đồng tiền tự do chuyển đổi nhưng thực tế, Ngân hàng dự trữ của Ấn Độ can thiệp để kiểm soát tỷ giá USD/INR Kiều bào bị cấm
Trang 333.4 Bài học cho Việt Nam
Từ TTPS được chuẩn hóa cao của Mỹ có thể thấy để phát triển TTPS tốt cần chú trọng tới việc phát triển các sở giao dịch, trung tâm giao dịch lớn dành cho các CCPS cũng như các tài sản cơ sở như chứng khoán, hàng hóa, vàng… Yêu cầu quan trọng trong phát triển các sở giao dịch như vậy là có công nghệ thông tin tiên tiến, liên tục cập nhật thông tin, tiếp cận các sản phẩm giao dịch quốc tế, đáp ứng nhu cầu liên kết điện tử và thương mại 24/24 giờ (có thể tham khảo hệ thống GLOBEX và Project A)
Từ thị trường Ấn Độ ta có thể thấy công nghệ cũng là một yếu tố then chốt trong việc phát triển thị trường phái sinh OTC khi các giao dịch yêu cầu sử dụng công nghệ phức tạp và hoàn toàn bằng điện Trao đổi hàng hóa điện tử cần được thiết lập trên cả nước và được tạo điều kiện phát triển
Phát triển thị trường quyền chọn nói riêng và TTPS nói chung cần thiết phải có sự trợ giúp của các tổ chức với tư cách “người bảo lãnh” để tạo nên thị trường phát triển minh bạch và ổn định (như OCC tại Mỹ) Xây dựng tổ chức như vậy cần sự trợ giúp từ phía Ủy ban chứng khoán nhà nước Hai bên cùng xem xét các nguyên tắc quản lý rủi ro của thị trường
Các chính phủ đóng một vai trò quan trọng trong việc hình thành nên cấu trúc các quy tắc để bảo vệ những nhà đầu tư từ sự gian lận và khiến họ tin rằng những hợp đồng của mình được thực hiện đúng Tuy nhiên, chính phủ không nên áp đặt quá nhiều luật lệ
Trang 34http://svnckh.com.vn 3
4
trong cách các CCPS có thể được sử dụng vì các nhà đầu cơ và những người kinh doanh chênh lệch giá đóng vai trò rất quan trọng cho tính thanh khoản của thị trường Cần thiết phải có một hệ thống pháp luật tài chính lành mạnh trong nước Bài học từ Mỹ cho thấy không nên phản đối tính hợp pháp trong hoạt động cung cấp các sản phẩm quản lý rủi ro hàng hóa của NHTM trên TTPS Điều này cũng đã được chứng minh tại Trung Quốc khi NVPS chỉ phát triển mạnh khi CBRC cho phép NHTM tham gia giao dịch phái sinh hàng hóa và chứng khoán Đây là yếu tố tiên quyết đưa Trung Quốc trở thành nước có sàn giao dịch tương lai hàng hóa lớn thứ hai trên thế giới (sau Mỹ)
Tính hay thay đổi không hề xấu đối với TTPS, tuy nhiên những CCPS sẽ không phát triển nếu nền kinh tế của đất nước không đạt một mức độ bền vững hợp lý và có một hệ thống thanh toán tốt So sánh ba đồng tiền USD, Nhân dân tệ và Rupee có thể thấy tốt nhất tiền tệ nên được tự do chuyển đổi và không có bất kì rào cản nào đối với dòng tiền vào và ra khỏi đất nước Hơn nữa, nên có đủ hợp đồng hoán đổi, trái phiếu và các công cụ trên thị trường tiền tệ cho một đường cong lãi suất được ước lượng
Trung Quốc đã đạt được những thành công trong việc nhanh chóng chuyển từ thí điểm sang phát triển rộng rãi các NVPS tại tất cả các NHTM Đặc biệt khi luật pháp quy định cho phép sử dụng CCPS nhằm cả ba mục đích chứ không bó hẹp trong việc phòng
vệ Theo Trung Quốc, kế toán các hợp đồng phái sinh nên được đưa ra ngoại bảng Tuy nhiên, khi trình độ quản lý đã đạt tới mức phát triển như Mỹ thì cần phân loại các hợp đồng phái sinh theo mục đích Đối với các hợp đồng phái sinh đầu cơ nên đưa ra ngoại bảng, tuy nhiên những hợp đồng phái sinh phòng vệ có thể đưa vào trong bảng cân đối kế toán Khi đó, các chi phí cho việc phòng vệ nên tính trực tiếp vào chi phí của hợp đồng gốc Điều này giúp việc tính thuế công bằng và mang tính khuyến khích hơn
Một điều kiện tài chính vô cùng quan trọng là phải có đủ những cá nhân có kiến thức hiểu được những sản phẩm và cách thức chúng được định giá Đây là yếu tố tạo nên thành công của thị trường phái sinh Mỹ
Trang 35http://svnckh.com.vn 3
5
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG THỰC HIỆN NGHIỆP VỤ PHÁI SINH TẠI
CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM
1 Tổng quan về thị trường phái sinh Việt Nam
1.1 Thị trường kỳ hạn Việt Nam
Các giao dịch kỳ hạn đầu tiên được thực hiện ở Việt Nam là giao dịch ngoại tệ kỳ hạn theo Quy chế hoạt động giao dịch hối đoái kèm theo Quyết định số 17/1998/QĐ -NHNN7 ngày 10/01/1998
Các thành viên chủ yếu tham gia thị trường ngoại tệ kỳ hạn là các doanh nghiệp (các
tổ chức kinh tế) có nguồn thu hoặc nhu cầu ngoại tệ hợp pháp có mong muốn bảo hiểm rủi ro về tỷ giá, lãi suất và các tổ chức tín dụng được phép kinh doanh ngoại tệ thực hiện giao dịch phục vụ nhu cầu khách hàng, bảo hiểm rủi ro tỷ giá và kinh doanh sinh lời
NHNN Việt Nam là cơ quan quản lý trực tiếp, nghiên cứu, ban hành các quy định cụ thể có điều chỉnh hợp lý trong từng thời kỳ Ban đầu việc xác định tỷ giá chịu sự chỉ đạo của NHNN khiến tỷ giá kỳ hạn không đạt được tính linh hoạt
Bảng 2: Tổng hợp phương pháp xác định tỷ giá kì hạn theo quy định của NHNN
28/2/98
10/1/98- 6/8/98
28/2/98- 26/8/98
6/8/98- 30/8/00
26/8/98- 18/9/01
30/8/00- 1/7/02
18/9/01- 28/5/04
Trang 36http://svnckh.com.vn 3
6
Ngày 28/05/2004, Thống đốc NHNN Việt Nam đã ký ban hành Quyết định số 648/2004/QĐ-NHNN về việc sửa đổi bổ sung Quyết định số 679/2002/QĐ-NHNN liên quan đến giao dịch ngoại tệ của các TCTD được phép kinh doanh ngoại tệ Theo Quyết định mới này, giới hạn về thời hạn giao dịch ngoại tệ kỳ hạn đã được dỡ bỏ đối với các giao dịch giữa các loại ngoại tệ với nhau và cho phép thực hiện theo thông lệ quốc tế, đồng thời mở rộng từ mức 7 - 180 ngày như trước đây lên mức 3 - 365 ngày đối với các giao dịch giữa đồng Việt Nam và các loại ngoại tệ Các kỳ hạn được sử dụng nhiều nhất vẫn là 7 ngày, 14 ngày, 21 ngày, 30 ngày và 60 ngày tương ứng với kỳ hạn thanh toán xuất nhập khẩu
Điểm đổi mới đáng chú ý nhất của Quyết định này là thay đổi cơ bản về cách thức quản lý mức tỷ giá trong các giao dịch kỳ hạn giữa đôla Mỹ và đồng Việt Nam Theo đó,
tỷ giá kỳ hạn giữa VND và USD không còn bị khống chế bằng việc quy định mức trần cứng áp dụng cho từng kỳ hạn trên cơ sở tỷ lệ % gia tăng so với trần tỷ giá giao ngay theo tính toán chủ quan của NHNN trong từng thời kỳ như trước đây Công thức tính tỷ giá kỳ hạn hình thành như sau:
F = S + S.(RT – RC).t/(1 + RC.t)
Công thức gần đúng: F = S + S.(RT – RC).t
Công thức tính điểm kỳ hạn: f = S.(RT – RC).t
Trong đó: F : tỷ giá kỳ hạn
S : tỷ giá giao ngay
RT : lãi suất cơ bản VNĐ (%/năm)
RC : lãi suất mục tiêu USD (%/năm)
t : kỳ hạn của giao dịch (năm)
f : điểm kỳ hạn Theo công thức gần đúng, NHTM tính được tỷ giá giao dịch kỳ hạn Đây là một bước tiến lớn Có thể đơn cử tại VCB mức tỷ giá kỳ hạn đã linh hoạt hơn từ năm 2005
Trang 37Lãi suất USD
Tỷ giá kỳ hạn 1 tháng
Tỷ giá kỳ hạn 2 tháng
Tỷ giá kỳ hạn 3 tháng
Nguồn: Báo cáo tổng hợp của NHNN
Việc xác định mức tỷ giá giao dịch kỳ hạn giữa VND với các loại ngoại tệ khác không phải là đồng USD và giữa các loại ngoại tệ với nhau tiếp tục được trao quyền tự do quyết định cho Tổng giám đốc các TCTD trên cơ sở thoả thuận với khách hàng theo thông lệ quốc tế nhằm tạo sự chủ động cho khách hàng và TCTD
Ngày 10/11/2004, NHNN Việt Nam ban hành Quyết định số 1452/2004/QĐ-NHNN
về giao dịch hối đoái của các TCTD Trong quyết định này, lần đầu tiên NHNN cho phép
cá nhân được thực hiện giao dịch ngoại tệ kỳ hạn với các NHTM Cá nhân có nguồn thu ngoại tệ trong tương lai có thể bán ngoại tệ cho NHTM theo hợp đồng mua bán kỳ hạn Tuy vậy Quyết định cũng hạn chế việc đầu cơ thu lợi của doanh nghiệp khi yêu cầu doanh nghiệp phải xuất trình giấy tờ chứng minh mục đích sử dụng ngoại tệ
Trang 38http://svnckh.com.vn 3
8
Hiện nay, các giao dịch ngoại tệ kỳ hạn trên thị trường tiếp tục tăng về số lượng và tốc độ giao dịch Giao dịch kỳ hạn ngoại tệ ra đời đúng vào thời điểm nhu cầu bảo hiểm rủi ro ngoại hối của các doanh nghiệp tăng cao nên sớm phát huy hiệu quả và được doanh nghiệp chú trọng sử dụng Các TCTD đóng vai trò quan trọng trong loại giao dịch này
Hiện nay, hầu hết NHTM Việt Nam đều tiến hành nghiệp vụ giao dịch ngoại tệ kỳ hạn
Kém sôi động hơn, giao dịch kỳ hạn trên thị trường vàng Việt Nam chủ yếu được thực hiện bởi các tổ chức hơn là cá nhân Giá vàng trong giai đoạn gần đây thường xuyên biến động không theo sự biến động của giá vàng thế giới tuy cùng xu hướng tăng Sự biến động của giá vàng làm nhu cầu đối với hợp đồng kỳ hạn vàng tăng lên Tuy nhiên, trong
xu hướng giá vàng tăng các doanh nghiệp Việt Nam - đóng vai trò chủ yếu là người mua vàng kỳ hạn lại chưa thực sự ý thức về cơ hội sinh lời từ các hợp đồng này
Đối với giao dịch kỳ hạn hàng hóa, tại Việt Nam, giao dịch này vẫn còn chưa được chú ý triển khai Hàng hóa làm tài sản gốc cho hợp đồng kỳ hạn chủ yếu là mặt hàng nông sản Các chủ thể tham gia thị trường phần lớn là các doanh nghiệp sản xuất, xuất nhập khẩu, người sản xuất nông nghiệp Năm 2002, loại hình giao dịch hàng hóa qua sàn bắt đầu xuất hiện với sự khai trương của Sàn giao dịch hàng hóa Hồ Chí Minh, tiếp theo đó là sàn giao dịch tại Cần Giờ (TP.HCM), sàn giao dịch cà phê Buôn Ma Thuột (BCEC) Tuy nhiên sự hoạt động của các sàn này cũng không khởi sắc, kéo theo các giao dịch kỳ hạn cũng không phát triển mạnh mẽ Ngày 28/12/2006, Nghị định 158/2006/NĐCP ra đời mới đưa ra những quy định chi tiết cho hoạt động trên sở giao dịch hàng hóa, yêu cầu phân định rõ loại hình giao dịch, cách thức thanh toán trên sàn giao dịch Từ đó các giao dịch giao ngay và kỳ hạn mới được phân định rõ ràng Tháng 12/2009, sàn giao dịch hàng hóa của Sacombank với tên gọi Sacom - STE đi vào hoạt động với mặt hàng chủ lực được giao dịch là thép Sacombank cũng mở lại sàn giao dịch điều tại Bình Phước với hệ thống giao dịch điện tử
Trang 39http://svnckh.com.vn 3
9
1.2 Thị trường tương lai Việt Nam
Nhìn chung, hợp đồng tương lai vẫn còn khá mới mẻ ở Việt Nam Đối với các giao dịch tương lai ngoại hối, các trung tâm giao dịch thực tế triển khai chưa nhiều
Hợp đồng ngoại tệ tương lai vẫn chưa được thực hiện ở Việt Nam Hiện nay, các NHTM đã được phép giao dịch hợp đồng tương lai trên thị trường hàng hóa, với các mặt hàng nông sản như: cà phê, chè, đậu tương, lương thực, cao su… và các loại hàng hóa khác Song ngân hàng chỉ đóng vai trò là trung gian môi giới giúp doanh nghiệp thực hiện các hợp đồng tương lai hàng hóa tại các sở giao dịch nước ngoài
Đặc biệt, từ khi luật Thương Mại năm 2006 chính thức có hiệu lực, các doanh nghiệp được mua bán hàng hóa qua sàn giao dịch nước ngoài và được lựa chọn ngân hàng
uy tín để tham gia bảo lãnh cho mình Nghị định số 158/2006 NĐ - CP quy định chi tiết luật Thương Mại về hoạt động mua bán hàng hóa qua sở giao dịch hàng hóa Các ngân hàng uy tín được phép triển khai làm môi giới trong giao dịch hàng hóa tương lai là: BIDV, VCB, VIB, Ngân hàng TMCP Á Châu, Techcombank, MB, Chi nhánh ngân hàng Citibank, ngân hàng Standard Chartered, HSBC,…
Các hợp đồng tương lai được áp dụng ngày càng nhiều trên các sàn giao dịch hàng hóa lớn như LIFFE (London), NYBOT (Newyork), ICE (Newyork), Tocom (Tokyo),
SICOM (Singapore),… và sau đó là sàn giao dịch hàng hóa Chicago (CME) theo “Đề án
hợp tác và chủ động làm việc với sàn giao dịch tại CME và phát triển Sàn giao dịch cà phê tại Việt Nam” tháng 7/2007 Đồng thời hiệp hội cà phê ca cao Việt Nam (VICOFA)
đã phối hợp với UBND tỉnh Đăk Lăk xây dựng Trung tâm giao dịch cà phê Buôn Ma Thuột (BCEC) theo Quyết định 2278/QĐ-UBND ngày 04/12/2006 của UBND tỉnh Đắk Lắk
Hiện tại ở Việt Nam mới chỉ có một sàn giao dịch hàng hóa tương lai đó là Sàn giao dịch hàng hóa Sài Gòn Thương Tín (Sacom – STE) chính thức hoạt động vào đầu tháng 12/2009, giao dịch chủ yếu là các sản phẩm công nghiệp, nông nghiệp, mà trọng tâm là sắt thép Người mua và người bán sẽ được kết nối qua hệ thống giao dịch điện tử Đối tượng tham gia là những doanh nghiệp sử dụng thép, công ty sản xuất, xuất nhập khẩu,
Trang 40tấn và bước nhảy về giá là 50 VND/kg
Về mức độ chuẩn hóa của các hợp đồng, quyết định số 1452/2004/QĐ-NHNN là quyết định gần đây nhất có quy định về nội dung các hợp đồng phái sinh, theo đó, các
TCTD được phép và khách hàng có thể tự thỏa thuận các điều khoản “không trái với quy
định pháp luật hiện hành”, trước đó, pháp luật Việt Nam có quy định các điều khoản hợp
đồng bắt buộc Có nghĩa là, hiện nay, các hợp đồng phái sinh ngoại hối vẫn do các bên tham gia tự thỏa thuận, không có một chuẩn chung nào cho các điều khoản Trong khi đó, tính đến thời điểm này, rất ít TCTD của Việt Nam tham gia vào Hiệp hội các nhà kinh doanh phái sinh và hoán đổi quốc tế ISDA – một điều kiện cần thiết để phát triển giao dịch tương lai (ngoại trừ các ngân hàng nước ngoài như ANZ, HSBC, Citibank, Standard and Chartered… hiện nay mới chỉ có BIDV, Tập đoàn công nghiệp than - khoáng sản Việt Nam ký hợp đồng khung ISDA với các ngân hàng nước ngoài)
Các hợp đồng tương lai hàng hóa hiện đang được chú ý phát triển hơn Ngày 5/9/2004, NHNN lần đầu tiên đã cấp giấy phép cho một ngân hàng Việt Nam là Ngân hàng Kỹ thương được quyền giao dịch hợp đồng tương lai trên thị trường hàng hoá trực tiếp với các sàn giao dịch nước ngoài Với giấy phép này, Techcombank sẽ đóng vai trò là nhà trung gian môi giới giữa các doanh nghiệp xuất nhập khẩu Việt nam với các sàn giao dịch trên thế giới như CBOT, CME, NYBOT, LIFFE, TOCOM để thực hiện các hoạt động phòng ngừa rủi ro cho giá hàng hoá