1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

BÁO CÁO MÔN QUẢN TRỊ MÀU NGUYÊN TẮC TRONG QUẢN LÝ MÀU ISO 12647, SWOP, GRACOL, CHO TÁCH MÀU, IN THỬ VÀ IN

57 54 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 57
Dung lượng 8,45 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • I. Các nguyên tắc quản lý màu sắc .… (4)
    • I.1. Chu trình làm việc từ hợp đồng tới in (4)
    • I.2. Profile máy scan và máy ảnh kỹ thuật số (7)
    • I.3. Profile màn hình (8)
    • I.4. Đặc tính và profile cho quá trình in (9)
    • I.5. Những profile tiêu chuẩn cho hệ thống in offset (0)
    • I.6. Chuyển đổi màu với hồ sơ màu (11)
    • I.7. Màu làm việc chính xác với dữ liệu CMYK (12)
    • I.8. Chu trình làm việc đơn giản với dữ liệu CMYK (13)
    • I.9. Quản trị màu với dữ liệu RGB (14)
    • I.10. Quản lý màu với hồ sơ đã được nhúng (15)
    • I.11. Phân chia sản xuất và truyền thông (16)
    • I.12. Các loại giấy với chất làm tăng độ trắng quang học trong chuỗi hồ sơ (20)
  • II. ISO 12647, GRACOL VÀ SWOP CHO TÁCH MÀU, IN THỬ VÀ (21)
    • II.1 Vai trò của tiêu chuẩn ISO (21)
    • II.2 Tổng quan về công cụ xung quanh ISO 12647 (25)
    • II.3 Profiles từ Adobe và ECI trong quy trình sản xuất (26)
    • II.4 Media Wedge CMYK trong quá trình sản xuất (0)
    • II.5 Các ứng dụng của Altona Test Suite (28)
    • II.6 Tái tạo màu cho các loại giấy ISO khác nhau (29)
    • II.7 Lớp mực in và mật độ tông nguyên (31)
    • II.8 Dotgain / TVI của các loại giấy (32)
    • II.9 Cân bằng xám (35)
    • II.10 Giá trị Lab của màu tông nguyên trong ISO 12647 (36)
    • II.11. Tiêu chuẩn trong tái tạo màu (38)
    • II.12. TAC và tạo màu đen (39)
      • II.12.1. Màu đen dài và ngắn (40)
      • II.12.2. Độ rộng và hẹp của màu đen (41)
      • II.12.3. Cân bằng xám chính xác trong in (41)
      • II.12.4. Không “Graying-out” cho tông da (41)
      • II.12.5. Áp dụng cho tất cả các loại giấy (0)
    • II.13. Mối quan hệ của màu K với CMY (42)
    • II.14. UCR và GCR (43)
      • II.14.1 UCR và GCR: sự quan trọng của màu giấy (0)
      • II.14.2 UCR và GCR trong chương trình khác (47)
    • II.15. Sự tạo ra màu đen trong hồ sơ EIC (49)
    • II.16. Tiêu chuẩn profile cho ống đồng, continuous form và newsprint (50)
    • II.17. Lịch sử của FOGRA39 (51)
    • II.18. Tổ chức mới nhất từ Mỹ: SWOP, GRACoL và G7 (52)
    • II.19. In thử kỹ thuật số theo GRACoL và SWOP (53)
    • II.20. GRACoL / SWOP profiles trong sản xuất workflow (54)
    • II.21. Sự hiệu chuẩn G7 của quy trình in (55)
    • II.22. FOGRA / ISO 12647-2 so với G7 (56)

Nội dung

Để trao đổi dữ liệu có những không gian màu RGB tiêu chuẩn cụ thể cho hình ảnh từ máy ảnh số Một hồ sơ cá nhân chỉ được tạo ra trong các trường hợp đặc biệt cho một máy ảnh kỹ thuật số

Các nguyên tắc quản lý màu sắc …

Chu trình làm việc từ hợp đồng tới in

Giữa ý tưởng và chọn vật liệu in là các công đoạn sản xuất Để có độ tin cậy cao về màu sắc, cần phải quyết định loại giấy chung trước khi bắt đầu sản xuất Điều này là do xác định màu sắc trong đồ hoạ, tối ưu hóa việc quét trong repro và việc sản xuất bản in thử ký mẫu luôn dựa trên giấy trong bản in sản lượng Trong hợp đồng, cần xác định loại giấy và xác định tiêu chuẩn in thử phù hợp

Hợp đồng với giấy đã được xác định trước và các tiêu chuẩn in thử cũng như cung cấp hình ảnh (kỹ thuật số hoặc tương tự)

Hình ảnh có thể scan hoặc từ máy chụp hình

Xử lí dữ liệu trên màn hình

Bản in thử để kí hợp đồng in trên máy in phun

Sau khi đã xác định loại giấy chung, nhà thiết kế tạo ra bố cục và sau đó là artwork Trong thời gian này, họ đảm bảo rằng các dữ liệu hình ảnh được chuẩn bị cho các loại giấy thích hợp và sắp xếp một hợp đồng in thử kỹ thuật số của tài liệu cuối cùng Tùy thuộc vào kinh nghiệm và thiết bị, nhà thiết kế s ẽ thực hiện tất cả những điều này hoặc hợp tác với các nhà cung cấp dịch vụ khác

Mặc dù quá trình này có vẻ đơn giản trên giấy, trên thực tế đôi khi nó rất phức tạp Máy ảnh kỹ thuật số, máy quét, màn hình và máy in phun tái tạo màu sắc khác với màu sắc ở máy in offset Quản lý màu cân bằng những khác biệt này với sự trợ giúp của hồ sơ màu Ngoài ra, tất cả những người tham gia cần phải quyết định ai thực hiện phần nào của quá trình và các dữ liệu được cung cấp

Hợp đồng in thử kỹ thuật số theo loại giấy ( tiêu chuẩn tráng phủ được xác định trước trong hợp đồng)

Sản xuất in được hiệu chuẩn để in thử

Hình ảnh dữ liệu số - một bản in thử tương tự được thực hiện nếu không có bản in thử kỹ thuật số có sẵn.

Profile máy scan và máy ảnh kỹ thuật số

Máy quét dựa trên sự tái tạo của mắt người Các bộ lọc màu trong máy quét thể hiện từ ba loại màu cơ bản là RGB.

Scan là thiết bị phụ thuộc vì vậy với cùng bài mẫu nhưng với các loại máy quét khác nhau thì cho giá trị màu khác nhau Có các bộ lọc lọc ra các vùng tương đối hẹp của quang phổ và các loại khác có xu hướng khá rộng Sự khác biệt này có thể được sửa lại bằng một hồ sơ của máy quét Điều kiện cần để tạo profile:

1 Thang màu tham chiếu : ( 1 bảng màu IT8 chứa khoảng 100 màu)

2 File tham chiếu chứa tất cả các giá trị trong bảng màu IT8 dưới dạng giá trị Lab

Thang màu tham chiếu được quét Các giá trị RGB được quét được gán cho các giá trị Lab chính xác trong file tham chiếu.Từ đó phần mềm tạo profile sẽ so sánh giá trị trên file và trên bảng màu IT8 của file tham chiếu Mỗi máy quét yêu cầu hồ sơ màu riêng của nó và người sử dụng thường tạo ra hồ sơ quét cho các thiết bị cá nhân

Máy ảnh kỹ thuật số

Hồ sơ cá nhân chỉ được sử dụng trong trường hợp đặc biệt với máy ảnh kỹ thuật số Theo quy tắc, máy ảnh kỹ thuật số đã cung cấp dữ liệu hình ảnh RGB được tối ưu hóa màu cho các tiêu chuẩn nhất định Các tiêu chuẩn có liên quan được sử dụng trong các chương trình chỉnh sửa hình ảnh để xác định không gian màu RGB

Profile cho không gian màu RGB Profile camera Để trao đổi dữ liệu có những không gian màu RGB tiêu chuẩn cụ thể cho hình ảnh từ máy ảnh số

Một hồ sơ cá nhân chỉ được tạo ra trong các trường hợp đặc biệt cho một máy ảnh kỹ thuật số

Profile màn hình

Màn hình sử dụng không gian màu RGB, hình ảnh được thể hiện bằng cách điểm ảnh Mỗi điểm ảnh trong một hàng bao gồm ba huỳnh quang nhỏ cho mỗi màu cơ bản Mỗi độ sáng của huỳnh quang được điều khiển bởi catot Các màu sắc sau đó hợp nhất trong mắt Các màn hình TFT hiện đại, mô tả kỹ thuật, hoạt động khác nhau, nhưng cố gắng để mô phỏng màu sắc của màn hình CRT tốt nhất có thể

Màn hình có khả nảng thể hiện màu sắc sáng hơn, độ bão hòa cao hơn trên tờ in Vì màn hình là phụ thuộc thiết bị nên cùng một bài nhưng nhìn trên các màn hình khác nhau ta sẽ cảm nhận được các màu khác nhau Sự khác biệt này sẽ được quyết bằng hồ sơ màu màn hình. Để tạo hồ sơ màu ta cần 2 thứ:

- Máy đo màu trên màn hình

- Phần mềm chứa các file gồm các ô màu (file tham chiếu) trên màn hình dưới dạng giá trị Lab

Trong quá trình tạo profile, phần mềm tạo profile sẽ hiện thị từng màu tương ứng với giá trị tham chiếu và máy đo màu sẽ lần lượt đo các màu và báo cho phần mềm biết Máy đo màu phân tích quang phổ của màu và chuyển đổi những kết quả sang không gian Lab Mỗi giá trị RGB trong file thực nghiệm được gán một giá trị Lab tương ứng Mỗi giá trị Lab thì bây giờ cũng là một cặp với RGB Điều kiện đủ để tạo profile cho màn hình :

- Thiết bị ổn định: Độ tương phản, độ sáng không thay đổi

- Luôn đặt trong cùng một nguồn sáng

Tuy nhiên do đặc tính của mỗi thiết bị đều không ổn định nên việc tạo profile sẽ có nhiều biến đổi

Chi tiết về bảng hồ sơ quản lý màu Trong thực tế, số lượng các giá trị màu ghi lại khác nhau giữa 27 và 32.000 tùy thuộc vào tính chính xác của hồ sơ.

Đặc tính và profile cho quá trình in

Khác với máy quét và màn hình, việc định hình các quy trình in phức tạp hơn nhiều Điều này dựa trên sự biến đổi với màu nào có thể được áp dụng cho giấy Về cơ bản, quá trình in có thể được mô tả bằng các thông số sau:

– Đặc tính quá trình in

– Khả năng truyền mực. Điều này có nghĩa là không thể có profile màu cho máy in đúng cho tất cả máy in mà ta chỉ tạo hồ sơ cho một máy in tương ứng với điều kiện in và nguyên vật liệu đã cụ thể Để tạo profile màu cho máy in :

- Từ file tham chiếu (mỗi ô màu được gán một giá trị Lab tương ứng)

- In file tham chiếu trong điều kiện in thật về máy, giấy, mực

- Máy đo màu đo giá trị của file tham chiếu sau khi in xong

Sự khác nhau của đặc tính thiết bị in và hồ sơ màu

Dữ liệu đặc tính thiết bị in rất đơn giản là một file chữ gồm các giá trị màu ứng với mỗi giá trị CMYK được gán giá trị Lab tương ứng sau khi các file tham chiếu được in ra và đo giá trị đó Hồ sơ màu được tạo ta từ phần mềm tính toán từ các dữ liệu về đặc tính của máy in nhưng có tính đến các biến đổi của quá trình in Từ file đặc tính máy in ta có thể tạo ra nhiều hồ sơ màu ứng với các loại giấy khác nhau

Máy đo màu sẽ đo các ô màu sau khi được in ra

Và báo cho phần mềm tạo hồ sơ màu Đặc tính dữ liệu là một file chữ đơn giản, mỗi giá trị CMYK của các ô màu sẽ được gán giá trị

Lab trong máy đo màu

Profile cho máy in offset hoặc in phun tính toán bởi profile từ dữ liệu mô tả đặc tính

I.5 Những profile tiêu chuẩn cho hệ thống máy in offset

Profile tiêu chuẩn cho máy in offset

Việc tạo và sử dụng profile riêng biệt cho máy in offset gặp phải một vài vấn đề Sử dụng các profile chuẩn cho ofset thì an toàn hơn và có nhiều hiệu quả cho cả nghành công nghiệp Các tổ chức như là FOGRA,CGATS, cung cấp dữ liệu đặc tính trên mạng Có các dữ liệu khác nhau được thiết lập cho các loại giấy khác nhau như là tráng phủ, không tráng phủ, tráng phủ cuộn Một vài tổ chức và nhà cung cấp ECI, SWOP, GRACoL và Adobe, cung cấp profile dựa trên dữ liệu đặc tính thiết bị tiêu chuẩn

Profile tiêu chuẩn cho in thử

Việc tái tạo màu liên tục là yếu tố quyết định cho hệ thống in thử Do đó, cần hiệu chỉnh chúng thường xuyên với một quang phổ kế Nếu một hệ thống in thử được hiệu chỉnh cho một hoàn cảnh in cụ thể, thì không có vấn đề gì khi làm việc với profile tiêu chuẩn được cung cấp bởi nhà sản xuất Điều này tránh phải tạo ra một profile cá nhân cho máy in thử đang được sử dụng Tuy nhiên, nếu dùng loại giấy mà nhà sản xuất không cung cấp trong hồ sơ thì bạn cần tạo hồ sơ cá nhân cho loại giấy đó

I.6 Chuyển đổi màu với hồ sơ màu

Mỗi hồ sơ màu chứa một bảng dữ liệu và RGB, CMYK của thiết bị tạo ra với các giá trị Lab tương ứng Không gian màu Lab như một giao diện chuyển đổi màu cho các profile màu Ví dụ, scan (RGB) in ra (CMYK) theo chuẩn ISO thì hồ sơ máy scan (RGB) chuyển sang Lab rồi Lab chuyển qua hồ sơ máy in (CMYK) trên giấy tráng phủ.

Hệ thống quản lí màu đảm bảo thông qua các hồ sơ màu từng giá trị RGB của scan sẽ được gán giá trị CMYK của máy in với cùng giá trị Lab Do không gian màu Lab mô tả màu sắc theo thị giác của người nên việc chuyển đổi từ giá trị màu scan ->màu in cũng đảm bảo.

Bởi vì mỗi profile màu đều kết nối với không gian màu Lab, việc chuyển đổi giữa các không gian màu cũng có thể được thực hiện thông qua không gian màu, vì vậy việc chính xác của profile màu quyết định đến sự phục chế màu Tuy nhiên, nếu các điều kiện tạo ra hồ sơ thay đổi như độ sáng, độ tương phản, tính ổn định của thiết bị… thì phục chế màu không còn chính xác Khi đó hồ sơ màu cần được khảo sát lại

Việc chuyển đổi màu giữa các thiết bị được thực hiện thông qua giao diện của không gian màu Lab

I.7 Màu làm việc chính xác với dữ liệu CMYK

Phần lớn công việc quản lí màu liên quan đến việc mô phỏng màu của tờ in cuối cùng trên màn hình và máy in thử, việc quản lí màu chính là xử lí các dữ liệu CMYK trong mối liên hệ đến khoảng không gian màu phục chế được trên giấy, làm việc với các không gian màu RGB và chuẩn bị dữ liệu RGB để in

Không có một chuẩn chung và bắt buộc cho máy scan, màn hình, máy in Một mảng quan trọng trong việc vận hành hệ thống quản lí màu là điều chỉnh riêng biệt các thiết bị này theo tiêu chuẩn CMYK cho in offset

Làm việc với máy scan đã có profile và dữ liệu CMYK

Dữ liệu RGB sau khi scan sẽ được chuyển qua profile màu của máy scan rồi chuyển thành giá trị Lab Các dữ liệu Lab này chuyển sang dữ liệu CMYK theo hồ sơ mày của máy in offset chuẩn trên loại giấy tráng phủ Sản phẩm cuối cùng là bộ dữ liệu CMYK được tối ưu hóa theo tiêu chuẩn in offset trên giấy tráng phủ

Quá trình tạo ra dữ liệu RGB bằng máy scan Profile máy scan: chuyển giá trị RGB sang Lab

Prolie máy in offset chuẩn trên giấy tráng phủ từ giá trị Lab sang RGB

Kết quả: Dữ liệu CMYK tối ưu được thiết lập cho giấy tráng phủ chuẩn

Dữ liệu CMYK trên màn hình đã tạo hồ sơ màu Để biểu diễn các dữ liệu CMYK theo một tiêu chuẩn in đã được xác định, đầu tiên dữ liệu sẽ đi qua hồ sơ màu của máy in rồi chuyển đến hồ sơ màu cả màn hình Hồ sơ màu của máy in sẽ chuyển dữ liệu CMYK thành Lab, sau đó giá trị Lab này sẽ được hồ sơ của màn hình ghi nhận ra chuyển sang RGB để hiển thị trên màn hình Dữ liệu CMYK từ một nguồn chưa biết sẽ được hiển thị chính xác trên màn hình và sẽ được in ra theo một tiêu chuẩn in đã được xác định

Dữ liệu CMYK trên máy in thử đã được tạo ra hồ sơ

Cũng giống như trên màn hình Đầu tiên dữ liệu CMYK sẽ đi qua hồ sơ màu của một tiêu chuẩn in cụ thể rồi chuyển qua dữ liệu Lab Giá trị Lab này chuyển sang hồ sơ của máy in thử rồi chuyển sang CMYK của máy in thử

Kiểm soát chất lượng trong in thử

Tái tạo màu sắc của thiết bị đầu ra được điều khiển bằng cách sử dụng một thang kiểm tra Mở rộng quá trình này, nó có thể được sử dụng để kiểm soát in thử Mục đích không chỉ để kiểm soát thiết bị đầu ra mà còn tương tác với các profile quản lý màu Thử nghiệm này cho phép dự đoán rõ ràng việc in offset sẽ được mô phỏng trên máy in thử như thế nào Nếu giấy tráng phủ tiêu chuẩn được sử dụng để in thử, sau đó wedge kiểm soát cũng phải tuân thủ các giá trị màu của giấy tráng phủ chuẩn

I.8 Chu trình làm việc đơn giản với dữ liệu CMYK

Chuyển đổi màu với hồ sơ màu

Mỗi hồ sơ màu chứa một bảng dữ liệu và RGB, CMYK của thiết bị tạo ra với các giá trị Lab tương ứng Không gian màu Lab như một giao diện chuyển đổi màu cho các profile màu Ví dụ, scan (RGB) in ra (CMYK) theo chuẩn ISO thì hồ sơ máy scan (RGB) chuyển sang Lab rồi Lab chuyển qua hồ sơ máy in (CMYK) trên giấy tráng phủ.

Hệ thống quản lí màu đảm bảo thông qua các hồ sơ màu từng giá trị RGB của scan sẽ được gán giá trị CMYK của máy in với cùng giá trị Lab Do không gian màu Lab mô tả màu sắc theo thị giác của người nên việc chuyển đổi từ giá trị màu scan ->màu in cũng đảm bảo.

Bởi vì mỗi profile màu đều kết nối với không gian màu Lab, việc chuyển đổi giữa các không gian màu cũng có thể được thực hiện thông qua không gian màu, vì vậy việc chính xác của profile màu quyết định đến sự phục chế màu Tuy nhiên, nếu các điều kiện tạo ra hồ sơ thay đổi như độ sáng, độ tương phản, tính ổn định của thiết bị… thì phục chế màu không còn chính xác Khi đó hồ sơ màu cần được khảo sát lại

Việc chuyển đổi màu giữa các thiết bị được thực hiện thông qua giao diện của không gian màu Lab

Màu làm việc chính xác với dữ liệu CMYK

Phần lớn công việc quản lí màu liên quan đến việc mô phỏng màu của tờ in cuối cùng trên màn hình và máy in thử, việc quản lí màu chính là xử lí các dữ liệu CMYK trong mối liên hệ đến khoảng không gian màu phục chế được trên giấy, làm việc với các không gian màu RGB và chuẩn bị dữ liệu RGB để in

Không có một chuẩn chung và bắt buộc cho máy scan, màn hình, máy in Một mảng quan trọng trong việc vận hành hệ thống quản lí màu là điều chỉnh riêng biệt các thiết bị này theo tiêu chuẩn CMYK cho in offset

Làm việc với máy scan đã có profile và dữ liệu CMYK

Dữ liệu RGB sau khi scan sẽ được chuyển qua profile màu của máy scan rồi chuyển thành giá trị Lab Các dữ liệu Lab này chuyển sang dữ liệu CMYK theo hồ sơ mày của máy in offset chuẩn trên loại giấy tráng phủ Sản phẩm cuối cùng là bộ dữ liệu CMYK được tối ưu hóa theo tiêu chuẩn in offset trên giấy tráng phủ

Quá trình tạo ra dữ liệu RGB bằng máy scan Profile máy scan: chuyển giá trị RGB sang Lab

Prolie máy in offset chuẩn trên giấy tráng phủ từ giá trị Lab sang RGB

Kết quả: Dữ liệu CMYK tối ưu được thiết lập cho giấy tráng phủ chuẩn

Dữ liệu CMYK trên màn hình đã tạo hồ sơ màu Để biểu diễn các dữ liệu CMYK theo một tiêu chuẩn in đã được xác định, đầu tiên dữ liệu sẽ đi qua hồ sơ màu của máy in rồi chuyển đến hồ sơ màu cả màn hình Hồ sơ màu của máy in sẽ chuyển dữ liệu CMYK thành Lab, sau đó giá trị Lab này sẽ được hồ sơ của màn hình ghi nhận ra chuyển sang RGB để hiển thị trên màn hình Dữ liệu CMYK từ một nguồn chưa biết sẽ được hiển thị chính xác trên màn hình và sẽ được in ra theo một tiêu chuẩn in đã được xác định

Dữ liệu CMYK trên máy in thử đã được tạo ra hồ sơ

Cũng giống như trên màn hình Đầu tiên dữ liệu CMYK sẽ đi qua hồ sơ màu của một tiêu chuẩn in cụ thể rồi chuyển qua dữ liệu Lab Giá trị Lab này chuyển sang hồ sơ của máy in thử rồi chuyển sang CMYK của máy in thử

Kiểm soát chất lượng trong in thử

Tái tạo màu sắc của thiết bị đầu ra được điều khiển bằng cách sử dụng một thang kiểm tra Mở rộng quá trình này, nó có thể được sử dụng để kiểm soát in thử Mục đích không chỉ để kiểm soát thiết bị đầu ra mà còn tương tác với các profile quản lý màu Thử nghiệm này cho phép dự đoán rõ ràng việc in offset sẽ được mô phỏng trên máy in thử như thế nào Nếu giấy tráng phủ tiêu chuẩn được sử dụng để in thử, sau đó wedge kiểm soát cũng phải tuân thủ các giá trị màu của giấy tráng phủ chuẩn.

Chu trình làm việc đơn giản với dữ liệu CMYK

Trong một kế hoạch quản lý màu đơn giản với dữ liệu CMYK của một tiêu chuẩn in đã được xác định (trong trường hợp này là giấy tráng phủ) các quy trình được mô tả kết hợp với nhau để tạo ra hình dưới:

Khi bắt đầu một dự án in, nó sẽ xác định loại giấy nào sẽ được sử dụng và tiêu chuẩn nào sẽ được sử dụng để in thử Điều này được ghi trong hợp đồng với nhà cung cấp dịch vụ

Các dữ liệu hình ảnh kỹ thuật số và tương tự được cung cấp với thông tin này

Dữ liệu CMYK khách hàng cung cấp được chuyển đổi trực tiếp Còn dữ liệu RGB sẽ đi qua hồ sơ của KGM RGB để chuyển thành giá trị Lab tương ứng rồi được chuyển sang hồ sơ màu của máy in offset chuẩn Dữ liệu vẽ tay hay ảnh chụp sẽ được scan (RGB) rồi đưa qua hồ sơ màu của máy scan chuyển về Lab sau đó chuyển qua CMYK của máy in Để hiện thị hình ảnh CMYK trên màn hình, toàn bộ hình ảnh CMYK sẽ phải chuyển sang hồ sơ màu của máy in rồi chuyển thành Lab rồi chuyển sang hồ sơ màu của màn hình để đổi Lab sang RGB

In màu để khách hàng kí duyệt được thực hiện trên máy in thử giả lập máy in thật Quá trình chuyển đổi được lặp đi lặp lại nhiều lần nhưng thay vì chuyển sang hồ sơ màu của màn hình thì nó chuyển sang hồ sơ của máy in thử

Khi xuất phim hay hay ghi kẽm, dữ liệu CMYK không chuyển đổi do vậy bản in thử đóng vai trò của một bản in thật để khách hàng kí duyệt.

Quản trị màu với dữ liệu RGB

Việc chuyển đổi thành giá trị CMYK để in Ofset không phải lúc nào cũng là mục tiêu chính cho xử lí ảnh kỹ thuật số Trong trường hợp này, không gian màu RGB là trung tâm của việc quản lý màu sắc Tất cả các ảnh được lưu vào máy tính bằng máy quét, máy ảnh kỹ thuật số hoặc hình ảnh từ CD phải được chuyển đổi sang không gian màu RGB được xác định, trừ khi chúng đã tồn tại ở dạng RGB Hình ảnh minh họa dưới đây cho thấy quá trình xử lý ở máy ảnh bán chuyên nghiệp với các hình chụp ở không gian màu sRGB Khi hình ảnh được hiển thị trên màn hình hay in ra trên máy in thử, trước hết chúng phải đi qua hồ sơ màu sRGB rồi mới đi đến hồ sơ màu của thiết bị xuất ra

Quy trình làm việc với các dữ liệu RGB và sự chuyển đổi dữ liệu trong hệ thống chế bản: nếu một không gian màu RGB khác nhau được sử dụng trong suốt quá trình xử lý hình ảnh, một sự thay đổi màu sắc sẽ xảy ra trong quá trình chuyền dữ liệu, như mô tả trong hai bức ảnh này

Dưới đây: DQ-Tool (Digital Quality-Tool) từ Hiệp hội Công nghiệp Nhiếp ảnh Đức: Ấn tượng màu sắc của tông màu da trong không gian màu sRGB (giữa) và các không gian màu ECI-RGB (bên phải)

Phá vỡ điểm ảnh khi chuyển đổi dữ liệu RGB

Chuyển đổi không gian màu là một trong những điểm quan trọng nhất trong quản lý màu sắc: nếu thiết bị tiếp nhận một hình ảnh RGB sử dụng không gian màu làm việc RGB khác với không gian màu của hình ảnh thì các giá trị RGB của ảnh sẽ được biên dịch sai, và khi chuyển đổi sang CMYK, sẽ bị pha trộn màu sắc.

Quản lý màu với hồ sơ đã được nhúng

Để chuyển tới thiết bị phục chế hồ sơ màu của thiết bị tạo ra hình ảnh, hồ sơ màu của thiết bị phải được nhúng vào file ảnh khi ảnh được lưu Nếu ảnh không có hồ sơ màu thì người kỹ thuật viên có thể xác lập thông số quản lý màu trong chương trình ứng dụng (như Photoshop) để giả định hồ sơ màu nhúng cho chúng

Các file đã nhúng hồ sơ màu được mô tả trong minh họa sau

Khi ảnh được nhúng hồ sơ màu RGB và được mở lên đúng không gian màu thì sẽ không có sự sai lệch màu xảy ra

Các hồ sơ nhúng trong dữ liệu CMYK

Các hồ sơ màu được nhúng trong các hình ảnh RGB cho chuẩn bị in thường được ưu tiên sử dụng Bằng cách nhúng hồ sơ màu, hình ảnh mới được đảm bảo chuyển đổi chính xác sang hồ sơ màu CMYK của thiết bị in chuẩn

Nếu các hình ảnh CMYK với các hồ sơ màu đã nhúng được đặt trong một chương trình có các thông số quản lý màu không chính xác thì hình ảnh sẽ bị sai màu Các chương trình như Adobe InDesign CS2 hoặc mới hơn có sẵn các thiết lập màu sắc tiêu chuẩn để ngăn cản sự sai lệch màu của hình ảnh được nhập vào Với các phiên bản trước đó cần phải được thiết lập bởi người có kinh nghiệm và kiến thức về quản lí màu

Cùng với các file ảnh định dạng thông thường, các file PDF cũng được đánh dấu với các chuẩn CMYK mà chúng được tạo ra Trong định dạng PDF/X việc đánh dấu nhận dạng này là yêu cầu bắt buộc khi chuyển file PDF đi in.

Phân chia sản xuất và truyền thông

Khi làm việc với dữ liệu RGB, sự chuyển đổi dữ liệu giữa hai giai đoạn sản xuất là một điểm quan trọng trong quản lý màu sắc Trong thực tế, dữ liệu cho những giai đoạn tiếp theo của sản xuất được chuyển đổi Hình minh họa sau đây cho thấy việc sử dụng các hồ sơ màu và chuyển đổi dữ liệu ở các giai đoạn khác nhau của quá trình sản xuất cho đến các tệp PDF đã in bao gồm bản in thử, phim hoặc bản kẽm và tờ in phù hợp với bản in thử

Qui trình tiêu biểu trong việc chỉnh sửa hình ảnh

RGB với dữ liệu được nhúng hồ sơ màu Adobe

RGB từ máy ảnh KTS, việc hiển thị trên màn hình và chuyển đổi dữ liệu với hồ sơ màu Adobe RGB được nhúng Để chuyển vào chương trình dàn trang hay cho việc in ấn, hình ảnh AdobeRGB được chuyển đổi sang không gian màu in CMYK tiêu chuẩn

Không gian màu này được mô phỏng trên một màn hình đã có hồ sơ màu và file PDF CMYK được nhúng hồ sơ màu của máy in offset

Bản in thử để khách hàng ký cần phải được làm chính xác từ file PDF

Quá trình xuất phim hay ghi bản không yêu cầu quản lý màu

Trong khi in sản lượng, người thợ in điều chỉnh màu sắc trên máy in để đạt được sự phù hợp tối ưu giống với tờ in thử

Quản lý màu sắc không chỉ là kỹ thuật quan trọng cho việc sử dụng màu sắc hiệu quả và đảm bảo, mà còn là phương tiện truyền đạt giữa tất cả các công đoạn làm việc Vai trò và nhiệm vụ của quản lý màu được xác định qua các gian đoạn của quá trình làm việc sau:

1 Thợ chụp ảnh: chụp ra các hình ảnh có dữ liệu RGB;

2 Thiết kế đồ họa/chế bản: chuyển đổi dữ liệu hình ảnh RGB sang CMYK, bố cục, và hình ảnh in thử theo tiêu chuẩn in offset;

3 Thợ in: điều chỉnh việc in phù hợp để tạo ra tờ in giống với mẫu in thử

Thợ chụp ảnh cung cấp dữ liệu RGB với 1 hồ sơ đã được nhúng cho người thiết kế đồ họa hoặc chế bản

Sau đó, dữ liệu RGB sẽ được chuyển đổi từ không gian làm việc RGB (từ hồ sơ nhúng) sang không gian màu CMYK tiêu chuẩn thích hợp với máy in Dữ liệu CMYK PDF/X và bài mẫu sau đó được chuyển tiếp

Các dữ liệu PDF / X và bài mẫu được kiểm tra bởi các thợ in Sau đó, thợ in sẽ điều chỉnh cho phù hợp với bài mẫu

Thiết kế đồ họa / chế bản: với hồ sơ được nh ú ng

Vui l ò ng gửi cho ch ú ng t ô i dữ liệu CMYK ở định dạng PDF / X Mẫu in thử phải tuân theo loại giấy cho in sản lượng v à c á c hồ sơ ti ê u chuẩn

Vui lòng gửi cho chúng tôi hình ảnh RGB

Thợ chụp h ì nh: Đính kèm các hình ảnh ở KGM AdobeRGB và nhúng tất cả các profile có liên quan giấy như điều kiện in thật

Thiết kế đồ họa / Repro: Đính k è m dữ liệu CMYK dưới dạng PDF / X, c ù ng với bản in thử kí mẫu trong tiêu chuẩn KGM tráng phủ ớ nh ú ng trong c á c tệp tin một mẫu in thử trong kh ô ng gian m à u ti ê u chuẩn

Trong khi đó, giá thành ngày càng giảm của máy quét cao cấp, máy ảnh kỹ thuật số và máy in hiện nay tạo ra những trường hợp khác nhau cho người đảm nhận từng giai đoạn sản xuất:

1 Người thiết kế đồ họa nhập hình ảnh từ máy ảnh kỹ thuật số vào bố cục và cung cấp dữ liệu in, kể cả màu in, cho đến máy in.

2 Một bộ phận xử lý ảnh chuyên nghiệp và tạo ra bài mẫu.

3 Bộ phận sản xuất phối hợp liên lạc với thợ chụp ảnh, nhà thiết kế đồ hoạ, chế bản và thợ in.

Các quy trình quản lý màu cơ bản đều có thể so sánh trong từng trường hợp Chi phí cho việc kiểm soát chất lượng của bộ phận sản xuất cao hơn của các người thiết kế đồ họa Cùng với việc xử lý kỹ thuật các hồ sơ, sự phù hợp giữa tất cả công đoạn đóng một vai trò lớn Về cơ bản, giai đoạn tiếp theo của quá trình sản xuất cho biết giai đoạn trước và giai đoạn hiện tại truyền đạt những gì sẽ được phân phối

Một bản xem trước nhanh của chương sau

Nó liên quan đến quy trình làm việc đã được kiểm chứng bởi các công ty lớn và nhỏ hoạt động ở Châu Âu và Hoa Kỳ

Với tiêu chuẩn quốc tế ISO 12647 và các thông số kỹ thuật từng quốc gia, có một khuôn khổ cho các tổ chức công nghiệp như FOGRA, CGATS, SWOP, GRACoL, Liên đoàn Công nghiệp In và Truyền thông Đức và the European Color Initiative (ECI) đã phát triển các công cụ và phương pháp kiểm soát hữu ích Chương tiếp theo dành riêng cho ISO 12647, GRACoL và SWOP cùng với các công cụ thích hợp

Các hồ sơ chuẩn (ECI, Adobe, GRACoL, SWOP) và các thanh kiểm tra để kiểm soát in thử FOGRA (trên) và IDEAl- liance (dưới) là những công cụ cơ bản trong thực tiễn để thực hiện các tiêu chuẩn ISO 12647, GRACoL và SWOP, chương tiếp theo.

Các loại giấy với chất làm tăng độ trắng quang học trong chuỗi hồ sơ

Ví dụ sau đây cho thấy ảnh hưởng của chúng trên một số quy trình quản lý màu cơ bản

Trong quản lý màu sắc, nếu hồ sơ màu cho việc in offset được dựa trên một bài in tham chiếu, trên giấy có chứa nhiều chất làm trắng quang học, màu sắc trên màn hình hiển thị và tờ in thử sẽ được tái sản xuất ngã xanh

Nếu giấy tham chiếu cho hồ sơ của máy in thử có chứa nhiều chất làm trắng quang học, sự tái tạo màu sẽ ngã vàng Các hồ sơ in thử cố gắng bù trừ cho các giấy ngã xanh Ở đây, để so sánh, màu sắc trung tính ban đầu

ISO 12647, GRACOL VÀ SWOP CHO TÁCH MÀU, IN THỬ VÀ

Vai trò của tiêu chuẩn ISO

Trong ngành công nghiệp sản xuất, tiêu chuẩn và qui tắc đóng một vai trò lớn khi các công ty khác nhau làm việc cùng nhau Trong ngành in và quản lý màu, danh sách các tiêu chuẩn quốc tế ngày càng quan trọng trong những năm qua

Các tiêu chuẩn quốc tế được xây dựng bởi tổ chức Tiêu chuẩn Quốc tế (International Standards Organization) viết tắt là ISO - trong đó các đơn vị, các cơ quan quốc gia cho các khu vực khác nhau đang hoạt động Tại Đức, nó là Viện Tiêu chuẩn Đức (Deutsches Institut für Normung, DIN) Nhiều tiêu chuẩn ISO được dịch sang tiếng Đức và sau đó xuất bản qua DIN Các tiêu chuẩn DIN và tiêu chuẩn ISO có thể được lấy bởi mọi người từ www.iso.org, dưới dạng in hoặc dưới dạng tệp PDF

Nếu các tiêu chuẩn quốc tế được xác định và có các sản phẩm cụ thể làm việc theo các tiêu chuẩn này thì đây là lợi thế của người sử dụng vì không một nhà sản xuất nào có thể thay đổi một cách bừa bãi các tiêu chuẩn này Ví dụ, đối với ISO 15930, còn được gọi là PDF / X, là tiêu chuẩn với các thông số chính xác về thành phần của các tập tin PDF để in Mặc dù Adobe phát triển định dạng PDF và xây dựng các tính năng này cho các chương trình ứng dụng và RIP của riêng mình nhưng Adobe vẫn không thể tự ý thay đổi tiêu chuẩn PDF / X và loại trừ sự cạnh tranh của nó

Sau đây là một bản tóm tắt ngắn gọn về các tiêu chuẩn ISO được lựa chọn có liên quan đến việc quản lý màu và in ấn:

ISO 12642 cho test chart để tạo hồ sơ

Trong tiêu chuẩn này, thành phần của test chart để tạo ra các hồ sơ màu được xác định trước Nếu các bảng màu tiêu chuẩn này được xác định trước được in và đo, các giá trị đo này có thể được sử dụng để tạo các hồ sơ với tất cả chương trình hỗ trợ các biểu đồ này Cùng với các bảng mẫu thử ISO 12642 nhà sản xuất cung cấp trong từng trường hợp hồ sơ riêng biệt, tuy nhiên, không được hỗ trợ bởi các nhà sản xuất khác Nếu bạn muốn so sánh các chương trình khác nhau để tạo hồ sơ, nên sử dụng các bảng màu của ISO 12642.

ISO 12640 cho đặc điểm dữ liệu

ISO 12640 được giới hạn ở định dạng dữ liệu đo màu từ bảng màu thử nghiệm theo tiêu chuẩn ISO 12642 nên được lưu sau khi đo Trước đó, nhiều chương trình được sử dụng cho việc tạo các cấu hình màu sắc lưu dữ liệu này trong các định dạng của riêng nó Dữ liệu đo màu được lưu theo quy định của tiêu chuẩn ISO 12640 có thể được nhập bởi các chương trình khác nhau để tạo ra hồ sơ màu.

ISO 15076 / ICC cho các hồ sơ màu

Trước đây chỉ có tiêu chuẩn ICC được áp dụng cho hồ sơ màu, được phát triển và được xác định trong ngành công nghiệp đồ họa của các nhà sản xuất khác nhau Từ năm 2003, sự hợp tác giữa ISO và ICC tạo ra sự đồng phát triển tốt hơn.

Tiêu chuẩn ISO này mô tả các yêu cầu dữ liệu PDF đang được gửi đến máy in Do đó, có một sự khác biệt giữa PDF/X-1a và PDF/X-3 CMYK và màu spot được cho phép sử dụng trong các tập tin PDF Với PDF/X-3, các đối tượng chữ, đồ họa hoặc hình ảnh có thể chứa bất kỳ profile (thậm chí profile của RGB ).

File PDF chuẩn bị cho in có thể được tạo nhanh và đơn giản trong một vài chương trình với một cách xuất file là PDF/X

ISO 12647 dành cho tách màu, in thử và in sản lượng

Trong một thời gian dài trong quản lý màu sắc đã có một lạm phát của các profile cho việc tách hình ảnh RGB, soft proof trên màn hình và các bản in thữ kỹ thuật số Kết quả khác nhau đã đạt được tùy thuộc vào nơi những hình ảnh đã được tách ra và in thử ISO 12647 đảm bảo mọi thứ đều ở đúng nơi được xác định trước rằng bảng tách màu CMYK của hình ảnh RGB nên hướng đến bốn loại giấy khác nhau Nếu dữ liệu in ấn và bản in được sản xuất theo cách này thì máy in có khả năng in cho phù hợp Vì vậy, nó không phải là cần thiết cho các máy in để tạo hồ sơ cá nhân cho máy của họ Trong một thời gian dài theo tiêu chuẩn ISO 12647 chỉ biết đến các chuyên gia quản lý màu được chỉ định Sáng kiến tập thể của FOGRA, bvdm và ECI, được hỗ trợ bởi Adobe và các nhà cung cấp dịch vụ in thử phải được bắt đầu mà công cụ mạnh mẽ là khi đó có sẵn cho toàn bộ chi nhánh, mà đơn giản hóa quản lý màu sắc dựa trên tiêu chuẩn ISO 12647 đáng kể.

ISO 12647 được chia ra làm nhiều phần nhưng quan trọng nhất là

12647-1: các thuật ngữ và định nghĩa

12647-7: in thử kĩ thuật số

Tổng quan về công cụ xung quanh ISO 12647

Hình minh họa dưới đây cho thấy một bản tóm tắt của các công cụ xung quanh ISO 12647, trong đó có sẵn tại thời điểm bắt đầu in

Profiles từ Adobe và ECI trong quy trình sản xuất

Các profile từ phần mềm Adobe hoặc ECI được sử dụng trong chế bản Trước khi tài liệu hoàn thành đã được hiệu chỉnh riêng cho in Điều quan trọng là phải làm rõ với các máy in loại giấy nào sẽ dùng để in Dữ liệu hình ảnh RGB sau đó được tách ra với profile Adobe/ECI chính xác cho các loại giấy. Điều profile Adobe/ECI tương tự được sử dụng cho các soft proof trên màn hình để cung cấp cho một bản xem trước chính xác của các kết quả cuối cùng Khi dữ liệu PDF được tạo ra dành riêng cho in ấn, profile được sử dụng cho in thử và máy in sản lượng Các bản in thử có chứa một control bar, trong đó cho thấy profile Adobe/ECI mà không gian màu đã được mô phỏng Các thang kiểm tra màu CMYK cho phép kiểm soát các bản in bất cứ lúc nào

Người chụp hình không cần quan tâm tới không gian màu của máy in nhưng họ phải nhúng tất cả các hồ sơ RGB của máy chụp hình

Profile Adobe/ECI được áp dụng cho chế bản: Tách màu , soft proof, và in thử kĩ thuật số (trong đó bao gồm một chuẩn ISO được xác định và các thang kiểm tra màu CMYK)

Người thợ in kiểm tra dữ liệu PDF và đo các thang kiểm tra màu CMYK của bản in thử Sau đó họ điều chỉnh cho thích hợp với bản in thử

Các chương trình ứng dụng cho kiểm soát chất lượng trong sản xuất và trong các ấn phẩm chuyên đề được mô tả của các loại giấy ISO Các đặc tính dữ liệu

FOGRA hoặc tên của profile ECI được sử dụng luân phiên.

II.4 Media Wedge CMYK trong quy trình sản xuất

Bước quan trọng nhất cho việc quản lý màu sắc hiệu quả là thông tin liên lạc giữa chế bản và in về tiêu chuẩn in thử trong một sản phẩm in Làm việc hiệu quả và an toàn chỉ có thể khi một bản in thử chứa các dữ liệu in trong chế bản và một bản in thử tại các máy in sản lượng cho các kết quả giống nhau Trước khi thang kiểm tra màu có thể được sử dụng để kiểm soát các bản in thử, người quản lý sản xuất tại cơ quan và các chuyên gia tư vấn khách hàng tại các nhà máy in cần phải đồng ý với bản in thử dựa trên các hồ sơ Adobe/ECI Sau đó các thang kiểm tra màu CMYK của Ugra/FOGRA phục vụ cả trong chế bản và các máy in như một điều khiển cho in thử Để kiểm soát, thang kiểm tra màu trên các bản in thử được đo bằng một máy đo màu Kết quả đo sau đó được so sánh trong bốn loại với các tham số cho các loại giấy theo tiêu chuẩn ISO 12647 Đối với mỗi loại có những dung sai màu sắc khác nhau, dựa trên các tiêu chuẩn ISO 12647-7 Với thực tế tất cả các giải pháp in thử thang kiểm tra màu CMYK có thể được output tự động cho tờ in cuối cùng Thang kiểm tra ngày càng được sử dụng rộng rãi trong hệ thống in thử, vì vậy người dùng không cần phải bổ sung nó Để đánh giá các thang kiểm tra màu, có một số nhà cung cấp tự động đưa ra kết quả đo trên máy in nhãn Với một quang phổ scan, toàn bộ quá trình, bao gồm in nhãn, chỉ khoảng hai phút.

Nếu nhãn sau đó được gắn vào bản in thử, điều này sẽ ngăn chặn một bản in thử không chính xác được sử dụng trên các máy in Việc tiếp nhận kiểm soát các bản in thử là một trong những giai đoạn quan trọng nhất nếu thợ in muốn tránh thời gian điều chỉnh không cần thiết trên máy in và tránh sự khiếu nại vê màu sắc

In thử được đánh dấu và điều khiển riêng là phương pháp an toàn nhất, nếu dịch vụ chế bản muốn đảm bảo rằng các bản in thử đúng với hợp đồng với sự hướng dẫn công nghiệp từ FOGRA và các tổ chức khác.

Việc kiểm soát một bản in thử có thể thực hiện trong chế bản trước khi tờ in thử được giao đến bộ phận khác, thợ in nhận bản in thử từ các nguồn khác nhau

II.5 Các ứng dụng của Altona Test Suite

Bộ sản phẩm ứng dụng Altona

Test Suite là một trong những công cụ quan trọng nhất để tối ưu hóa quy trình sản xuất trong chế bản và tại các máy in Nó bao gồm ba file Measure,

Visual và Technical cùng với một tập hợp các bản in tài liệu tham khảo ISO

Các file Visual và technical

Với các file Visual và Technical cả các phần mềm có thể được kiểm tra, trong đó tập tin PDF được nhập hoặc tiếp tục thực hiện trong suốt quá trình sản xuất Đặc biệt, các chương trình đồ họa và layout, máy in màu, hệ thống in thử, hệ thống quy trình làm việc PDF tại các máy in cũng như RIP từ imagesetters

Tham khảo tài liệu bản in cho file Visual

Các bản in tài liệu tham khảo Visual phục vụ công tác kiểm soát hình ảnh của màn hình, hệ thống in thử và máy in, khi sản xuất tương ứng với ISO 12647 Trong chế bản, công tác quản lý màu sắc với các profile Adobe / ECI đang hoạt động một cách chính xác khi màn hình và các hệ thống in thử hiển thị sự tái tạo màu giống nhau như các bản in tham chiếu Nếu máy in có thể nhanh chóng và chắc chắn in lại các bản in tham chiếu, sau đó họ có thể đạt được bản kiểm soát thử với thang màu CMYK.

Các thang kiểm tra màu CMYK, Ugra/

FOGRA có sẵn trong các định dạng khác nhau Với các phiên bản nhỏ hơn các phạm vi được đo độc lập

Các phiên bản gần đây, có thể đo một dải với quang phổ.

Các File Measure kể cả bản in tham chiếu

Trong các file này, các test form có mặt cho sự bao gồm các đặc điểm in ấn và để tạo hồ sơ ICC Lĩnh vực lớn trong các bản in tham chiếu Measure và hiển thị tông nguyên CMYK với màu sắc tối ưu theo tiêu chuẩn ISO 12647

II.6 Tái tạo màu cho các loại giấy ISO khác nhau

Mỗi loại giấy có những đặc điểm riêng khi nói đến tái tạo màu sắc, liên quan đến cường độ của tái tạo màu sắc cũng như của màu giấy

Nếu màn hình và hệ thống in thử hiển thị sự tái tạo màu sắc trên bản in như bản in Altona tham chiếu, sau đó hệ thống quản lí màu trong chế bản được thiết lập một cách chính xác

Nếu các máy in có thể in lại thang màu Altona tham chiếu tốt, sau đó chúng có thể đạt được các bản in thử tương xứng với các bản in tham chiếu.

Các bản in tham chiếu cho các file Visual

Các ứng dụng của Altona Test Suite

Bộ sản phẩm ứng dụng Altona

Test Suite là một trong những công cụ quan trọng nhất để tối ưu hóa quy trình sản xuất trong chế bản và tại các máy in Nó bao gồm ba file Measure,

Visual và Technical cùng với một tập hợp các bản in tài liệu tham khảo ISO

Các file Visual và technical

Với các file Visual và Technical cả các phần mềm có thể được kiểm tra, trong đó tập tin PDF được nhập hoặc tiếp tục thực hiện trong suốt quá trình sản xuất Đặc biệt, các chương trình đồ họa và layout, máy in màu, hệ thống in thử, hệ thống quy trình làm việc PDF tại các máy in cũng như RIP từ imagesetters

Tham khảo tài liệu bản in cho file Visual

Các bản in tài liệu tham khảo Visual phục vụ công tác kiểm soát hình ảnh của màn hình, hệ thống in thử và máy in, khi sản xuất tương ứng với ISO 12647 Trong chế bản, công tác quản lý màu sắc với các profile Adobe / ECI đang hoạt động một cách chính xác khi màn hình và các hệ thống in thử hiển thị sự tái tạo màu giống nhau như các bản in tham chiếu Nếu máy in có thể nhanh chóng và chắc chắn in lại các bản in tham chiếu, sau đó họ có thể đạt được bản kiểm soát thử với thang màu CMYK.

Các thang kiểm tra màu CMYK, Ugra/

FOGRA có sẵn trong các định dạng khác nhau Với các phiên bản nhỏ hơn các phạm vi được đo độc lập

Các phiên bản gần đây, có thể đo một dải với quang phổ.

Các File Measure kể cả bản in tham chiếu

Trong các file này, các test form có mặt cho sự bao gồm các đặc điểm in ấn và để tạo hồ sơ ICC Lĩnh vực lớn trong các bản in tham chiếu Measure và hiển thị tông nguyên CMYK với màu sắc tối ưu theo tiêu chuẩn ISO 12647

Tái tạo màu cho các loại giấy ISO khác nhau

Mỗi loại giấy có những đặc điểm riêng khi nói đến tái tạo màu sắc, liên quan đến cường độ của tái tạo màu sắc cũng như của màu giấy

Nếu màn hình và hệ thống in thử hiển thị sự tái tạo màu sắc trên bản in như bản in Altona tham chiếu, sau đó hệ thống quản lí màu trong chế bản được thiết lập một cách chính xác

Nếu các máy in có thể in lại thang màu Altona tham chiếu tốt, sau đó chúng có thể đạt được các bản in thử tương xứng với các bản in tham chiếu.

Các bản in tham chiếu cho các file Visual

Cường độ cao nhất của màu sắc có thể đạt được trên loại giấy 1/2 cho giấy bóng và giấy tráng phủ mờ Trên loại giấy 3 LWC, cường độ của màu sắc có phần giảm sút và trên các loại giấy 4 và 5 tái tạo màu sắc kém.

Hơn nữa, các loại giấy khác nhau được xác định trước cho các loại giấy ISO Loại 1/2 (tráng phủ) và loại 4 (không tráng phủ) Loại 3 (LWC) đặc biệt là loại 5 (không tráng phủ, ngã vàng) Các màu giấy có ảnh hưởng đến sự tái tạo của tất cả các màu sắc và chỉ có thể bù trừ một phần cho việc quản lý màu sắc Các minh họa dưới đây cho thấy các bản in tham chiếu chỉ ra rằng từ các bộ ứng dụng Altona Trước khi in, các bức ảnh màu được điều chỉnh với các profile ECI-ISO cho các loại giấy tương ứng Do đó, những tờ in hiển thị các khả năng cũng như những hạn chế của quản lý màu sắc In trên các loại giấy không tráng phủ(4 và 5) cho thấy, ngay cả với quản lý màu sắc, màu sắc hơi nhạt màu.

Lớp mực in và mật độ tông nguyên

Một yếu tố quan trọng cho tái tạo màu trong in offset là độ dày mực lớp Đo trực tiếp độ dày lớp mực chỉ có thể trong điều kiện phòng thí nghiệm Tuy nhiên, một chỉ số chất lượng tốt là đo độ dày bằng máy đo densitometer Độ dày của màu tông nguyên

Nguyên lí đo của máy đo mật độ:

Tia sáng đi qua lớp mực (không trong suốt) bị hấp thụ một phần , phần còn lại sẽ phản xạ trên bề mặt giấy in.

Phần ánh sáng phản xạ này đi qua lớp mực này một lần nữa, lại bị hấp thụ một phần, phần ánh sáng còn lại không bị hấp thụ sẽ đi đến bộ cảm nhận của máy đo.

Bởi vì in offset sử dụng một hỗn hợp của mực và nước, quá trình in ấn là tùy thuộc vào biến động không thể tránh khỏi Đây là một kết quả của sự tương tác giữa giấy, màu in, nước, phụ gia, tình trạng máy móc, vv Có những biến động trong phạm vi hợp đồng in tương ứng và khác nhau giữa hợp đồng in khác nhau Ngay cả thợ in có tay nghề cao, với nỗ lực rất lớn, duy trì quá trình in ấn của mình một cách nhất quán, sự biến động lớn hơn nhiều so với một hệ thống in thử được thường xuyên chỉnh quang phổ Các thợ đứng máy in cần phải điều chỉnh sự bù đắp cho những biến động, do đó kết quả của mình phù hợp của các bản in thử được cung cấp Thợ in đạt được điều này bằng các cách khác nhau của độ dày mực lớp cho mỗi màu

Vì lý do này, không có giá trị mục tiêu rõ ràng trong tiêu chuẩn ISO 12647 cho mật độ tông nguyên của các loại giấy Các ví dụ dưới đây minh họa cho mật độ W{QJ QJX\rQ khác nhau như một quy luật, WѭѫQJWKtFK tốt đӃQFiFEҧQ LQWKӱcó thể đạt được Xin lưu ý có những phương pháp khác nhau trong khu vực (Status and Filter) để đo mật độ.

Màu in tạo một lớp mực trên giấy tráng phủ.

Có thể tạo ra lớp mực dày và mật độ tông nguyên

Màu in thấm sâu vào giấy không tráng phủ

Dotgain / TVI của các loại giấy

Dot gain là yếu tố quan trọng thứ hai ảnh hưởng đến việc tái tạo màu Dot gain (Tonal Value Increase – TVI) chỉ ra như thế nào để gia tăng diện tích điểm tram ở vùng trung gian.

Trên thực tế gia tăng tầng thứ không chỉ phụ thuộc vào giấy mà còn sử dụng mực in, các phương pháp mà bản in được sản xuất, và nhiều thông số kỹ thuật khác.

Mật độ tông nguyên trên giấy tráng phủ của các màu process

Mật độ tông nguyên trên giấy không tráng phủ của các màu process

Mật độ tông nguyên trên giấy in báo của các màu process

Tram 40% trên file Tram 56% sau khi in ra

Vì lý do này, chúng ta không phải gia tăng tầng thứ cho máy in, thay vì gia tăng tầng thứ cho toàn bộ quá trình in bao gồm máy móc, giấy, màu, và các thông số kỹ thuật khác.

Vai trò của quá trình điều khiển máy in và chắc chắn rằng gia tăng tầng thứ từ các loại giấy khác nhau vẫn còn trong giới hạn định trước theo chuẩn ISO 12647 Nếu nó có thể tương ứng với một hợp đồng in thử dựa trên các hồ sơ Adobe/ECI Sự gia tăng tầng thứ sẽ được kiểm soát Tuy nhiên, không thê tránh khỏi sự gia tăng tầng thứ ở in offset Nếu thợ in thiết lập máy in phù hợp với hợp đồng in thử, có thể bù trừ cho sự gia tăng nhỏ không thể tránh khỏi bởi các mât độ tông nguyên quá thấp hoặc quá cao.

Việc đo gia tăng tầng thứ được thực hiện bởi máy đo mật độ. Đường nét đứt: đường lí tưởng trên file Đường cong nét liền màu xanh: đường gia tăng tầng thứ sau in (Giấy loại 1/2) Đường cong màu xanh nét liền: Đường dotgain lí tưởng Đường màu xanh nét đứt: phạm vi dung sai theo chuẩn ISO 12647-2 (Giấy loại 1/2)

Vì dotgain phụ thuộc vào một số tham số, dotgain lý tưởng và dung sai ± 4% được xác định trước trong ISO 12647-2 với nửa tông Nhìn chung, các quy tắc áp dụng mà dotgain của các màu CMY và màu K nửa tông là 3% Sai số không nên vượt quá 5%

Các profile Adobe/ECI đại diện cho bản in với các đường cong gia tăng tầng thứ lý tưởng theo chuẩn ISO 12647-2 Điều này đảm bảo rằng một bản in thử dựa trên profile Adobe/ECI có thể đạt được, nếu thợ in kiểm soát được sự gia tăng tầng thứ tuân theo tiêu chuẩn ISO 12647.

Vì vậy chúng ta có thể kiểm soát được gia tăng tầng thứ trong sản xuất, một thang kiểm tra được in trên mỗi tờ in Có độ lệch lớn giữa các bản in thử dựa trên hồ sơ ISO và tờ in cuối cùng, các thang kiểm tra màu in được kiểm tra sau để xác định nếu mật độ tông nguyên và gia tăng tầng thứ nằm trong sai số cho phép theo chuẩn ISO 12647-2.

Sự sai lệch nhỏ giữa các bản in thử của bản in thử kí mẫu và tờ in cuối cùng

Dot Gain / TVI của các loại giấy theo ISO 12647-2

Cân bằng xám

Cân bằng xám trong in

Cân bằng xám trong in biểu thị tỷ lệ cân bằng giữa các màu CMY kết hợp tạo ra màu xám trung tính theo chuẩn

12647-2, màu xám trung tính này không được tạo ra bởi các thành phần bằng nhau của mỗi màu Màu xám được tạo ra khi màu C có tỷ lệ nhiều hơn hai màu M và Y Tiêu chuẩn ISO không có giá trị rõ ràng cũng như dung sai cho cân bằng xám Nếu các thợ in in ra màu tông nguyên và gia tăng tầng thứ phù hợp với tiêu chuẩn ISO thì sự cân bằng xám tự điều chỉnh Hơn nữa, thiết lập mỗi đặc tính dữ liệu FOGRA có sự cân bằng xám được xác định trước theo ý mình, vì vậy mà cân bằng xám được tạo ra trong in khi điều chnhr phù hợp với bản in thử dựa trên dữ liệu đắc tính của FOGRA hoặc profile của Adobe/ECI

Cân bằng xám trong in thử

Dữ liệu đặc tính FOGRA được xác định rõ ràng cân bằng xám Trước khi ra đời các đặc tính dữ liệu FOGRA đã có nhiều chuẩn in thử khác nhau có thể bằng mọi cách khác nhau để tham chiếu FOGRA trong cân bằng xám Vì lý do này một bản in thử dựa trên các tiêu chuẩn in thử ISO của các dữ liệu in CMYK trước đó có thể khác nhau từ các bản in thử trước đó hoặc các tờ in sản lượng.

Bởi vì các loại giấy chuẩn ISO dựa trên các màu giấy khác nhau, cân bằng xám trong bộ dữ liệu đặc tính FOGRA không phải là hoàn toàn giống hệt nhau Nhìn vào các thang kiểm tra màu góc bên phải phía trên là dải màu đen thuần túy và bên dưới là dải màu đen được tạo bởi ba màu CMY Giống như tấtcả các dải màu trong thang kiểm tra màu CMY, các dải màu CMY cũng bắt nguồn từ test chart ISO 12642

Tông nâu được tạo từ 50% CMY

Màu xám trung tính được tạo từ 60% C, 50% M, 50% Y

Nếu các bản tách màu của hình ảnh CMY xảy ra với một profile ECI-ISO, sau đó cân bằng xám của dữ liệu CMYK phù hợp nhất với một bản in thử dựa trên profile ECI-ISO

Cân bằng xám trong tái tạo màu

Chế bản, trong việc tái tạo hình ảnh, phải xem xét tỷ lệ không bằng nhau của các màu in Tông màu xám trung tính trong artwork được quét hoặc trong một hình ảnh RGB cũng được xuất hiện trung tính trên các bản in thử sau này Nếu một bản in thử được thực hiện dựa trên hồ sơ ECI-ISO, sau đó một sự cân bằng xám chính xác có thể được sản xuất trong việc tái tạo khi tách màu với hồ sơ ECI-ISO Dữ liệu in không được tách ra với hồ sơ ECI-ISO, đôi khi đòi hỏi một sự điều chỉnh, vì vậy cần hiển thị sự cân bằng xám cùng trên một bản in thử ISO như một bản in thử sớm hơn

Giá trị Lab của màu tông nguyên trong ISO 12647

Khi người thợ in điều chỉnh việc in thử, sẽ kiểm soát mật độ vùng tông nguyên và gia tăng tầng thứ bằng máy đo mật độ Đây là công cụ tốt nhất cho việc kiểm soát suốt quá trình điều chỉnh cho in thử Tuy nhiên, ở nơi mà máy đo màu ở vùng tông nguyên nhạy sáng hơn Trường hợp khi không chỉ có độ dày lớp mực mà còn có sự kết hợp giữa của các tông nguyên là vô cùng quan trọng Ví dụ, nó có thể tốt trong trường hợp một màu hơi Green và hơi Cyan có cùng độ dày lớp mực trong phép đo với máy đo mật độ, mặc dù, màu sắc hiển thị trong cả 2 lần khác nhau

Nếu so sánh tông nguyên trong in thử và in khô theo nguyên tắc về màu sắc trong tiêu chuẩn ISO 12647 Phép đo mật độ chuẩn từ in thử ko cho phép so sánh các màu cụ thể trong in và in thử Phép đo tông nguyên rất cần thiết trong kiểm tra in cho thợ in Khi toàn bộ quá trình in được tối ưu hoá để càng gần với thông số trong chuẩn ISO 12647.Chỉ bằng cách này nó mới có thể kiểm soát các màu in, nếu được áp dụng phù hợp theo chuẩn ISO 12647 trong giá trị màu Lab của nó

Những dải màu CMY không được xây dựng, chúng được tạo ra từ một sự cảm nhận thị giác hoàn hảo tương thích với các dải màu đen thuần túy trong in offset Ví dụ: các dải màu CMY đậm hơn và xanh hơn màu đen thuần túy trên bản in thử theo FOGRA39/ISOocatedv2

Các dải CMY trên thang kiểm tra màu CMYK xuất hiện ở dưới bên phải Phụ thuộc vào hồ sơ ISO mà không cần tạo ra một sự kết hợp chính xác của các dải màu của màu đen bên trên Điều này đặc biệt đúng với dải màu CMY tối hơn trên bản in thử chính xác, ngã màu green hơn

Hình: 2 màu C có mật độ giống nhau Điều này được thể hiện trong phép đo màu không gian màu Lab

Phép tính giá trị tông nguyên của Lab trong the Context of Assessment Đối với nhiều nhà vận hành, phép tính Lab trong tông nguyên là 1 việc khoa học không thể làm một cách bình thường được Cần lưu ý rằng, một người đánh giá trường hợp mâu thuẫn giữa người in và khách hàng, ước lượng màu săc in thử tốt bằng thang kiểm tra trên tờ in Đối với người thợ in ở phía an toàn, xác định kiểm tra mật độ tông nguyên của màu cơ bản được thể hiện phù hợp trong thông số Lab theo ISO 12647 Đây là trọng lượng mực tiêu chuẩn hoặc mật độ được sử dụng phù hợp với tiêu chuẩn

Với giấy không tráng phủ, mực in dễ thấm hút, vì vậy cần giữ độ dày lớp mực thấp nhất có thể.

Tiêu chuẩn trong tái tạo màu

Bởi vì cùng chi tiết hình ảnh CMYK sẽ được tái tạo khác nhau trên các loại giấy khác nhau, vì vậy cần cố gắng bù trừ trước in này tốt nhất có thể Với điều này, gia tăng tầng thứ sau này sẽ được xem xét khi quét, tương tự như việc tách màu được điều chỉnh cho các loại giấy khác nhau Trong hệ thống quản lý màu, profile tiêu chuẩn in độc lập xác định tất cả thông số tách màu

Trong tách màu, quan hệ của K với 3 màu C M Y, đóng vai trò quyết định Các tone màu Lab giống nhau có thể tái tạo trên cùng một loại giấy với giá trị

Do C M Y có tỷ lệ nhất định kết hợp với nhau tạo màu trung tính, chúng có thể được thay thế bằng cách hoà trộn các màu này để tạo ra màu đen

Quá trình này là lý tưởng cho giấy không tráng phủ và giấy in báo Bởi vì giấy thấm mực cao nên tổng lượng mực của giấy không tráng phủ thấp

Tổng độ dày lớp mực là 230%

Tổng độ dày lớp mực là 186%

Bằng cách tách màu với profile cho kiểm soát tiêu chuẩn in Đây là profile tạo ra màu đen phù hợp với loại giấy in

Quá trình này là thêm màu đen cho vùng tối, vùng trung tính, để đạt được sự gia tăng tương phản với một màu đen đầy đủ hơn Đây là quá trình được sử dụng tốt, giấy tráng phủ khó thấm hút với mực in, vì vậy cho phép tổng lượng mực tốt hơn.

TAC và tạo màu đen

Tổng lượng mực được gọi là TAC Độ dày lớp mực của mỗi màu trong vùng tối nhất của motif cùng được thêm vào Tone màu tối nhất trong hình ảnh CMYK cho giấy in báo offse cuộn, ví dụ, TAC = 240% Trong giấy nghệ thuật, độ dày lớp mực từ 330%-370%, việc cung cấp máy quét được tối ưu cho hình ảnh và máy in bằng người chế bản chuyên nghiệp Không có tài liệu tham khảo ISO tiêu chuẩn nào của Để định hướng, chúng tôi minh hoạ lại 1 lần nữa các bước để tạ ra không gian màu LCH từ 0 và 180 độ

Sự khác biệt duy nhất trong đồ hoạ được chia ra như hình bên dưới

Trong giấy tráng phủ, lớp mực in cao Để có độ tương phản cao, tổng mực in phải cao

Các phần của không gian màu LCH với các thế hệ màu đen khác nhau

Hàng trên thể hiện một màu đen dài, hàng dưới thể hiện một đoạn ngắn.

Bên trái thể hiện sự hoà trộn màu, ở trung tâm là độ bão hòa của màu, bên phải là màu đen tách màu Lời đề nghị cho tách màu trong sách này là mang tính tham khảo, thu thập từ các kiến nghị của ECI, kinh nghiệm cá nhân, thảo luận với người chế bản chuyên nghiệp, thợ in cũng như tài liệu chuyên môn

Khái niệm cơ bản để tạo ra màu đen Để tạo ra màu đen là phương pháp với bản tách màu đen từ Lab hoặc hình ảnh RGB được chuyển đổi sang CMYK Trong suốt quá trình này được giữ bí mật nhà sản xuất trong máy scan dạng trống Ngày nay, với sự xuất hiện của chương trình tiêu chuẩn như photoshop và công cụ quản lý màu - giải pháp chi phí thấp để tách màu trên máy tính Đáng tiếc, những công cụ này thường cung cấp các lợi ích và chức năng khác nhau, cho các qui trình tương tự, các thuật ngữ khác nhau Do đó, các thuật ngữ trong đây không phải chính xác trong tất cả các chương trình

Tóm tắt điệu kiện tạo màu đen

II.12.1 Màu đen dài và ngắn

Chiều dài của màu đen cho biết vùng sáng trong hình ảnh màu CMY được thay thế hoặc bổ sung bằng màu đen Hiệu ứng màu đen ngắn chỉ vùng tối của hình ảnh, nơi mà trong khi một long black kéo dài dọc theo toàn bộ trục ánh sáng

II.12.2 Độ rộng và hẹp của màu đen

Chiều rộng của màu đen mô tả mức độ màu đen thay thế CMY trong vùng bão hoà Màu đen hẹp chỉ thay thế giá trị CMY cho màu trung tính Màu đen rộng cũng ảnh hưởng đến vùng bão hoà Chiều rộng màu đen cho phép giảm thiếu tối đa lượng mực, ví dụ như giấy in báo Tuy nhiên, mối nguy hiểm từ “gray-out” Có thể tác động tiêu cực, đặc biệt là tông màu da

Trong thực tế, nhiều chế bản chuyên nghiệp thích làm việc với màu đen dài, hẹp hơn

Trong sản xuất và in ấn liệt kê danh sách về những thuận lợi:

II.12.3 Cân bằng xám chính xác trong in

Thậm chí nếu mật độ tông nguyên cho C, M, Y chênh lệch ít so với việc chỉnh sửa in, màu trung tính trong in sẽ chính xác hơn với màu đen dài vì chúng được tạo thành chủ yếu từ màu đen

II.12.4 Không “Graying-out” cho tông da

Với màu đen hẹp, “graying out” bị hạn chế với màu da

Hàng trên thể hiện một màu đen hẹp, hàng dưới thể hiện màu đen rộng

Bên trái thể hiện sự hoà trộn màu, , ở trung tâm là độ bão hòa của màu , bên phải thể hiện sự tách màu đen

II.12.5 Áp dụng cho tất cả loại giấy

Bởi vì độ dày lớp mực cao nhất nằm trong vùng trung tính, vùng đen của một motif, màu đen dài, hẹp có thể thực hiện với độ dày lớp mực cao nhất khác nhau theo các loại giấy khác nhau Đối với vùng có độ dày lớp mực dưới 280%, chiều rộng của màu đen có thể tăng.

Mối quan hệ của màu K với CMY

Bên cạnh chiều dài và chiều rộng của màu đen, mối quan hệ của nó với 3 màu khác quan trọng trong việc tối ưu hoá màu đen tiêu chuẩn cho các loại giấy khác nhau

Trong nhiều chương trình kiểm soát màu đen tiêu chuẩn là biểu đồ thể hiện các trục màu xám với mực in màu đen trong mối quan hệ với mực in CMY Hình dưới đây thể hiện các cấp độ màu đen khác nhau trong cùng trục xám: dải màu trên đầu thể hiện in kết hợp tất cả các màu, dải ở giữa chỉ có màu đen, dải ở dưới là sự hoà trộn của 3 màu CMY Trong biểu đồ thể hiện giá trị đường cong tone màu đen và 3 bản tách màu khác

Hàng ở trên thể hiện màu đen dài, rộng Tông trung tính và không bão hoà Màu đen được thay thế bằng CMY

Màu đen được in trước CMY, đây cũng được gọi là phương pháp UCR

Hàng ở dưới thể hiện màu đen ngắn, hẹp Chỉ ảnh hưởng đến vùng shadow khi thêm vào CMY Loại này được gọi là UCA

Hình ở trên thể hiện màu đen được phát triển dựa theo sự tồn tại của màu xám Điều này được biểu hiện trong sơ đồ bên trái, một đường cong dốc của màu đen Đường cong của 3 màu CMY gần trùng nhau Giá trị tông trong dải CMY rõ ràng nhợt nhạt hơn bản tách màu đen

Hình ảnh màu đen phát triển dựa trên giá trị 3 màu CMY tăng một cách nhanh chóng Dải màu khi tách màu CMY làm cho tối hơn trong vùng sáng và tone trung gian khi tách màu đen.

UCR và GCR

Maximum Black Điều này chỉ xảy ra khi độ dày lớp mực cao nhất trong tách màu đen Bởi vì màu đen là quan trọng nhất trong độ tương phản của motif, mật độ màu đen lớn nhất của chuẩn cho phép là 95%

Thuật ngữ chế bản mô tả sự bổ sung của 3 màu CMY trong vùng trung gian và vùng tối của motif Bằng cách này đạt được màu đen mong muốn

UCR mô tả màu đen hẹp Độ dài màu đen thường được tính toán bằng chương trình tự động Với những vùng có độ phủ mực thấp, UCR chỉ thay thế CMY với màu đen ở vùng trung gian Nếu sử dụng UCR với vùng có độ dày cao hơn 300%, chương trình sẽ tự động tạo ra UCA cho vùng tối của motif

Skeleton Black (or Ghost Key)

Thuật ngữ sử dụng cho màu đen ngắn, hẹp với độ phủ mực cao và UCA Màu đen được xem như xương sống trong việc tạo ra vùng tối và vùng trung gian của chi tiết để đạt được sự tương phản tối đa

Hình minh họa, bên trái, hiển thị thành phần của một bản in với skeleton black

Tạo ra màu đen bằng UCR và độ dày lớp mực cao nhất là 330% Bởi vì độ phủ mực trên 300%, chỉ có UCR xuất hiện ở vùng trung gian, vùng tối có UCA

II.14.1 UCR and GCR: sự quan trọng của màu giấy

GCR cũng nhữ UCR, thay thế CMY bằng màu đen để tạo ra độ bão hoà cao hơn Hầu hết chương trình về độ bão hoà của quốc tế đều có GCR mạnh hay yếu Với GCR mạnh thì màu đen dài, rộng Với GCR mạnh và vùng tráng phủ thấp, có thể giảm lượng mực in cao nhất Sự kết hợp này phù hợp cho giấy không tráng phủ hoặc giấy báo Tuy nhiên một GCR mạnh có thể dẫn đến graying out, trong tông màu da nếu có nhiều màu đen hơn dự định so với quá trình tách màu Một GCR yếu thường có màu đen ngắn và tương đối hẹp Ý nghĩa của màu giấy

Nếu màu giấy được in, màu trung tính sẽ ảnh hưởng đến cảm nhận trong tái tạo hình ảnh Trong cách tái tạo cổ điển, người quét có kinh nghiệm sẽ bù trừ màu giấy với điều chỉnh màu sắc của máy scan Việc tách màu với ICC profile thích hợp làm giảm thời gian và nổ lực điều chỉnh, hơn nữa cho phép xem trước kết quả in sau khi điều chỉnh

Hình ảnh trên được thiết lập với màu đen dài và rộng (GCR) Trong hình bên phải, người thợ in sử dụng nhiều màu đen hơn Bởi vì GCR, tình trạng mức độ xám xảy ra trong toàn bộ motif

Hình này thiết lập xây dựng màu đen dài, hẹp (UCR) Hình bên phải in quá nhiều màu đen, màu xám gây ra bởi UCR, xảy ra màu trung tính trong tone màu

Hình bên trên thể hiện quét màu RGB, Hình bên trái thể hiện profile cá nhân với giấy ngã xanh, và bên phải giấy ngã vàng

II.14.2 UCR và GCR trong chương trình khác

Trong chương trình tính toán của ICC profile có các nhà sản xuất khác nhau, sử dụng thuật ngữ, hộp thoại, qui trình tính khác nhau khi đề cập đến UCR và GCR Đây là một ví dụ từ chương trình phổ biến của đức, PrintOpen and ProfileMaker

Cột bên tráicho màu đen ngắn và hẹp với TAC là 360%

Cột bên phải cho màu đen với TAC là 360%

Prinect Profile Editor/PrintOpen from Heidelberg:

Với UCR độ rộng và độ dài của màu đen được điều chỉnh riêng biệt Giá trị của CMY thay thế màu đen được xác định trước

GCR trong PrinOpen, giá trị màu GCR được xác định trước Người dùng có thể điều khiển giá trị CMY bằng cách thay thế màu

Trong ProfileMaker chiều dài và rộng của màu đen giá trị của màu đen và giá trị của CMY có thể được thay thế và điều chỉnh

Cài đặt cho GCR cổ điển, bạn nên bắt đầu sớm với màu đen trong thay thế CMY có thể điều chỉnh một cách riêng biệt mở rộng toàn bộ chiều rộng và chọn thay thế CMY bằng màu đen dưới “Separation”

Sự tạo ra màu đen trong hồ sơ EIC

Các minh họa trên trang này cho thấy các thiết lập cho màu đen tạo ra trong hồ sơ EIC, mỗi bản được tạo ra với phần mềm PrintOpen 4 của

Heidelberg Vào thời điểm chương trình lên phiên bản 5, nó đã được đổi tên thành "Prinect Profile Toolbox" Tất cả các hồ sơ được tính toán với một màu đen dài ISOcoated_v2 có chiều rộng màu đen là 9 và tối đa đen 330% ISOcoated_v2_300 màu đen tạo ra tương tự nhưng tối đa đen là 300% ISOwebcoated và ISOuncoated có thể so sánh màu đen tạo ra với chiều rộng màu đen là 5 (hẹp)

Cả hai ảnh chụp màn hình hiển thị các cài đặt cơ bản trong phần mềm Các sơ đồ dưới đây minh họa việc tách các màu trung tính (vô sắc) từ trắng sang màu đen no Sự khác nhau nhỏ giữa các màu hữu sắc được tính toán chủ yếu qua mô tả dữ liệu FOGRA27-29, đại diện cho các bản in thử nghiệm của Altona Test Suite

Thiết lập việc tạo ra màu đen của EIC profiles trong PrintOpen

Tách màu với tổng lượng mực 350%

Các thiết lập tạo ra màu đen phần lớp giống nhau với ISOcoated Chỉ có tổng lượng mực giảm còn 300%

Với cái này và ISOuncoated yellow- ish, giống như thiết lập cho ISOcoated, nhưng tổng lượng mực là

Tiêu chuẩn profile cho ống đồng, continuous form và newsprint

Cùng với ECI-ISO profiles cho in offset theo tiêu chuẩn ISO 12647-2, bây giờ cũng có các tiêu chuẩn profiles cho các quy trình in ấn và các tham số khác cho media wedge CMYK Một khi nguyên tắc hoạt động của ECI-ISO profiles cho in offset được hiểu, sau đó tách màu và in thử cho ống đồng, liên tục hoặc in báo không còn chỉ là một bí mật được giữ bởi các nhà chuyên môn Các dữ liệu mô tả sẵn và các tiêu chuẩn profiles được hướng tới các tiểu mục của ISO 12647

Quality Initiative in Newsprint (QUIZ) theo ISO 12647-3

Tổ chức IFRA điều hành QUIZ (Quality Initiative in Newsprint) với nhiều nhà in báo và nhà xuất bản báo chí Ở đây, các biểu đồ kiểm tra được in theo tiêu chuẩn ISO 12647-3 và dữ liệu đặc tính được tạo ra Các kết quả tốt nhất được tính trung bình và được cung cấp cho người dùng như ISOnewspaper26v4.icc trên trang web www.ifra.com Vào thời điểm in, không có bản in tham khảo có sẵn

ProcessStandard Rotogravure (PSR) theo ISO 12647-4

Dưới chữ viết tắt PSR, các máy in ống đồng khác nhau đã phát triển các tiêu chuẩn profiles lại với nhau, trong thời gian in, đại diện cho bốn loại giấy khác nhau Đó là giấy LWC, tương ứng với loại 3 in offset, giấy SC và giấy in báo được nâng cấp Sau đó là giấy mỏng, giấy không tráng phủ

- PSRgravureMF.icc có thể dowload từ trang web www.eci.org

Continuous form, or tractor-feed, là một biến thể đặc biệt của in offset , chủ yếu được sử dụng cho forms (checks, invoices, etc.) dot gains đạt cao hơn với tờ rời hoặc offset cuộn, được mô tả bởi ECI-ISO profiles Các bản in tham khảo trong Altona Test Suite

Có thể downloaded từ www.eci.org.

Lịch sử của FOGRA39

Tiêu chuẩn dữ liệu về đặc tính FOGRA39 và FOGRA39 / ISOcoated_v2 profiles từ Adobe / ECI có một người tiền nhiệm FOGRA27 mô tả dữ liệu và ECI ISOcoated profiles được dựa trên quá trình sản xuất của Altona Test Suite vào mùa đông 2003/2004 Trong hai năm tiếp theo FOGRA, cùng với các nhà in và nhà cung cấp lớn như Heidelberger Printing Machines, thực hiện một số so sánh giữa bản in theo ISO với FOGRA27

Tính trung bình các bản in xuất sắc nhất cho thấy một số khác biệt rất nhỏ từ FOGRA27 Ví dụ, màu cyan của FOGRA27 nằm trong dung sai của ISO 12647-2, nhưng ở phía màu greanish (hơi xanh lá) H ầu hết màu cyan nằm trong dung sai của

ISO 12647-2 nhưng ở phía bluish (hơi xanh dương)

Ngoài ra, ủy ban kỹ thuật ISO 130, duy trì các tiêu chuẩn ISO 12647, đã tiến hành một số nghiên cứu quốc tế về màu sắc thứ cấp trong các bản in theo ISO, cho thấy bản thân tiêu chuẩn ISO cần một số biện pháp bảo vệ nhẹ Điều này đã dẫn đến, trong năm 2006, một sửa đổi được gọi là ISO 12647-2

In thử cho hình ảnh, cùng với FOGRA27/ ISOcoated và FOGRA39/ ISOcoated_v2 dẫn đến kết quả rất giống nhau, như có thể thấy trong hình ảnh ở cuối trang này Sự khác biệt nhỏ ở vùng hơi xanh dương, ở FOGRA39 thì hơi đỏ / tím Vì vậy, cập nhật từ FOGRA27 lên FOGRA39 là m ột sự tối ưu chi tiết của một phương pháp làm việc đã được thiết lập

Chuyển đổi FOGRA27/ISOcoated sang FOGRA39/ISOcoated_v2 thường không cần thiết Tuy nhiên, khi cần thiết họ thường làm với DeviceLink profiles, sẽ được mô tả ở chương 6 trong Digital Color Management

In thử theo FOGRA27/ ISOcoated In thử theo FOGRA39

Tổ chức mới nhất từ Mỹ: SWOP, GRACoL và G7

Vào thời điểm ấn bản thứ ba đem đi in, thị trường Mỹ về tiêu chuẩn tách màu, in thử và in đang dần dần phát triển Ở một số điểm, có những sự phát triển tương tự như việc thực hiện ISO 12647 ở Đức và Châu Âu, ở những nước khác xu hướng đang nổi lên

Các tổ chức GRACoL, SWOP and IDEAlliance

Chữ viết tắt nổi tiếng nhất ở Hoa Kỳ là SWOP dành cho tiêu chuẩn in offset cuộn SWOP là một tổ chức của các doanh nghiệp ngành công nghiệp liên quan đến các đặc điểm về kiểm soát dữ liệu, in thử và kiểm soát in cho in offset cuộn GRACoL là viết tắt của General Requirement for Applications in Commercial offset Lithography (Yêu cầu chung đối với các ứng dụng trong in offset thương m ại) Đây chủ yếu là các hướng dẫn và thông số kỹ thuật cho dữ liệu, in thử và kiểm soát in trong in offset tờ rời IDEAlliance là một tổ chức dưới sự phát triển và hợp tác của SWOP và GRACoL

Tiêu chuẩn dữ liệu về đặc tính cho in offset tờ rời và offset cuộn

Trong một thời gian dài không có dữ liệu tiêu chuẩn hoá ở Mỹ cho các loại giấy khác nhau Ở đó chỉ tồn tại dữ liệu đặc trưng TR001 cho việc in offset cuộn trên giấy màu vàng, trên cơ sở SWOP profiles, ví dụ như đã được triển khai với các ứng dụng của Adobe kể từ năm 2000 Kể từ tháng 10 năm 2006, hiện nay có ba bộ dữ liệu tiêu chuẩn khác nhau ở Mỹ: một cho giấy tráng phủ, được sử dụng chủ yếu trong offset tờ rời, và hai cho loại giấy chủ yếu được sử dụng trong in offset cuộn Dữ liệu mới hiện có tại www.gracol.org cho phép tải xuống miễn phí Bảng dưới đây cho thấy một so sánh các dữ liệu về đặc tính và profiles từ FOGRA / ECI với dữ liệu của Mỹ

Bảng hiện thị đặc tính dữ liệu FOGRA tương đương với Mỹ

Bộ phận phân loại giấy thông dụng ở Mỹ khác với loại giấy ở Châu Âu Các hạng chính là loại 1, loại 2, loại 3, v.v , trong đó số thấp cho thấy chất lượng giấy cao hơn Loại 1, với dữ liệu về đặc tính tương ứng GRACoL2006_coated1, tương đương với giấy tráng phủ ở Châu Âu Các giấy loại 3 tương đương với các giấy của LWC trong in offset cuộn, mặc dù giấy trắng có độ mát hơn đáng kể so với ISO 12647-2 và hơi mát hơn so với dữ liệu FOGRA28 (tương đương với tiêu chuẩn ISO 12647-2) Giấy LWC được sử dụng nhiều nhất trong việc in offset cuộn trên toàn thế giới là giấy trắng, trong khu vực dữ liệu SWOP2006_coated3 và ít màu vàng hơn dữ liệu FOGRA28 Các giấy loại 5 không có chính xác tương đương trong tiêu chu ẩn ISO 12647-2 Đây là những giấy offset cuộn rất óng vàng với một lớp phủ rất đơn giản Không gian màu có thể đạt được nhỏ hơn so với SWOP2006_coated3 hoặc FOGRA28 và gần như chính xác với không gian màu FOGRA40 / eciSC.

In thử kỹ thuật số theo GRACoL và SWOP

Với việc giới thiệu dữ liệu về đặc tính mới tại Hoa Kỳ, hướng dẫn xác nhận các hệ thống in thử kỹ thuật số phù hợp với GRACoL và SWOP đã được điều chỉnh vào tháng 11 năm 2006 Các tiêu chuẩn này dựa trên tiêu chuẩn ISO 12647-7 và có các hướng dẫn chứng nhận các giải pháp in thử nên sao chép các đặc tính dữ liệu GRACoL và SWOP bằng màu sắc chính xác nhất có thể

Thang kiểm tra màu IDEAlliance ISO 12647-7

IDEAlliance công bố một dải kiểm soát trong tháng 12/ 2007, cũng dựa trên ISO 12647-7,với tất cả nhà sản xuất in thử kỹ thuật số nên thêm vào trên tờ in thử Đây là một sản phẩm tương đương của Mỹ với UGRA/FOGRA media wedge CMYK thì có thể sử dụng tự do bởi người dùng cũng như nhà sản xuất hệ thống in thử

Việc đánh giá được thực hiện, giống như media wedge, với quang phổ và so sánh các giá trị được đo với các giá trị đích của dữ liệu về đặc tính tương ứng với vật liệu in (GRACoL và SWOP)

Tại thời điểm in không có dung sai bắt buộc đối với việc đánh giá dải kiểm soát màu IDEAlliance ISO 12647-7,

IDEAlliance khuyến cáo rằng chế bản và in thỏa thuận về dung sai của chúng, dựa trên mức chất lượng cho sản phẩm Một điểm khởi đầu tốt là dung sai của ISO 12647-7, cũng được sử dụng cho media wedge FOGRA ở châu Âu

Kiểm soát in thử có thể xảy ra trong chế bản trước khi in thử thực hiện, cũng như tại các máy in nhận bản in thử từ các nguồn bên ngoài khác nhau.

GRACoL / SWOP profiles trong sản xuất workflow

GRACoL/ SWOP profiles được sử dụng trong chế bản Trước khi tài liệu đã hoàn thành được chuẩn bị cho in, điều quan trọng là phải làm rõ với máy in loại giấy nào sẽ được sử dụng Dữ liệu hình ảnh RGB sau đó được tách màu với GRACoL / SWOP profiles đúng cho loại giấy GRACoL / SWOP profiles giống nhau được sử dụng để làm bản in thử tạm thời trên màn hình để xem trước chính xác kết quả cuối cùng Khi dữ liệu PDF được tạo ra để in, cùng một profiles được sử dụng để in thử cho máy in Bản in thử có chứa một thang kiểm tra trong đó hồ sơ GRACoL / SWOP cho thấy không gian màu nào đang được mô phỏng Dải kiểm soát màu IDEAlliance cho phép kiểm soát bản in thử bất cứ lúc nào

Thợ chụp ảnh không cần phải quan tâm đến không gian màu in, nhưng cần chắc chắn nhúng profile cho không gian màu làm việc RGB trong tập hình ảnh

Các profiles GRACoL / SWOP được áp dụng trong chế bản: tách màu, soft và in thử kỹ thuật số (bao gồm xác định GRACoL / SWOP tham khảo và dải kiểm soát màu IDEAlliance)

Kiểm tra dữ liệu PDF và đo dải kiểm soát màu IDEAlloance trên bản in thử Sau đó điều chỉnh để in giống với in thử

Sự hiệu chuẩn G7 của quy trình in

IDEAlliance và các tổ chức khác ở Hoa Kỳ đề nghị phương pháp G7 để hiệu chuẩn các quy trình in, tại thời điểm in ấn bản tiếng Anh này không dựa trên tiêu chuẩn ISO 12647-2 Mục đích của phương pháp G7 là để đạt được kết quả trực quan tương tự nhất có thể, trong điều kiện của sự chuyển bậc và cân bằng xám, với khác nhau nhất của quy trình in và các loại giấy khác nhau Cơ sở của phương pháp G7 là K và CMY được gọi là "Neutral Print Density Curves" hoặc NPDC, được đo bằng bản in về cân bằng xám trong không gian màu CIE Lab và sự chuyển đổi trong density, nên đáp ứng các đặc điểm kỹ thuật nhất định

Các trình tự chi tiết có thể được đọc trong

"G7 How To Guide", được tải về miễn phí Ngoài ra, có phần mềm "IDEALink Curve" từ

IDEAlliance, tải về miễn phí, tạo điều kiện thuận lợi cho việc tạo ra đường cong hiệu chỉnh tương thích G7 cho PostScript RIPs PostScript RIPs là các chương trình đặc biệt chuyển đổi dữ liệu in ra các dấu chấm màn hình Trong in offset, RIP điều khiển hệ thống CtP, trong in kỹ thuật số, nó được kết nối trực tiếp với máy in và in trên ống đồng với trục khắc

Dữ liệu về đặc tính GRACoL và SWOP tương ứng với in offset được hiệu chỉnh theo phương pháp G7 So sánh dữ liệu về đặc tính này với dữ liệu của FOGRA, mà tại thời điểm đem đi in mô tả chính xác nhất việc thực hiện in offset theo tiêu chuẩn ISO 12647-2, cho thấy dữ liệu châu Âu và Mỹ đối với giấy tráng phủ rất gần với nhau

Phương pháp tham chiếu để tạo đường cong G7 chính xác cho RIP được thực hiện trong phần mềm “IDEALink Curve”

Biểu đồ P2P được in và đo với một quang phổ kế

Phần mềm sau đó tính các đường cong G7 chính xác để đạt được các đường cong mật độ in trung tính tối ưu NPDC

FOGRA / ISO 12647-2 so với G7

Sự so sánh giữa các phương pháp của FOGRA / ISO 12647-2 và G7 để hiệu chuẩn và kiểm soát quy trình in offset phù hợp với tiêu chuẩn in thử kỹ thuật số cho thấy có sự khác biệt cơ bản Mục tiêu của phương pháp FOGRA là đạt được dot gains có thể nhất trong tiêu chuẩn ISO 12647-2 Dot gains trong in offset được dao động theo giấy đã sử dụng, mực in được sử dụng, điều kiện của máy in và các yếu tố khác Việc hiệu chỉnh chuẩn CtP để đạt được dot gains tối ưu phù hợp với tiêu chuẩn ISO 12647 là một điểm khởi đầu tốt để xác định, trong quá trình sản xuất in đang diễn ra, nếu dot gains dao động vẫn nằm trong ISO 12647-2 hoặc nếu các biện pháp cần thiết để kiểm soát dot gains tăng Sức mạnh của phương pháp dựa vào dot-gain để hiệu chuẩn quy trình in là liên kết tối ưu để dựa vào dot-gain kiểm soát quy trình theo các giá trị đích của ISO

Vào thời điểm đem đi in, dot gains chỉ đóng một vai trò rất nhỏ trong G7 để in offset Đối với việc hiệu chuẩn CtP, chúng không có hiệu quả và đối với việc kiểm soát trong sản xuất liên tục, chúng ta nên quan sát dot gains sau khi hiệu chuẩn G7 đã được thực hiện mà không xác định hướng dẫn và dung sai

Mặt khác, G7 có chứa một phương pháp độc lập với nhà sản xuất để đo sự cân bằng xám cũng như lightness ở nửa tông trong quá trình sản xuất Vào thời điểm in, phương pháp của FOGRA/ISO 12647-2 cần phải bắt kịp trong lĩnh vực này

Quy trình G7 cũng có thể được áp dụng cho mọi loại quá trình in để đạt được hình ảnh thị giác tương tự để in offset hoặc in thử dựa trên GRACoL/ SWOP Vào thời điểm này, FOGRA đã không đưa một khuyến nghị về cách bất kỳ quá trình in có thể được tối ưu hóa để phù hợp với FOGRA39/ ISOcoated_v2

Ngày đăng: 09/08/2022, 06:29

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w