Trong khi nỗ lực xử lý các vấn đề nảy sinh ở Biển Đông bằng biện pháphòa bình, cần kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ những lợi ích chính đáng của ta trênbiển với quyết tâm “Việt Nam
ĐẢNG LÃNH ĐẠO THỰC HIỆN ĐỐI NGOẠI, HỘI NHẬP QUỐC TẾ VÀ BIỆN PHÁP BẢO VỆ CHỦ QUYỀN BIỂN, ĐẢO CỦA TỔ QUỐC HIỆN NAY
Mục tiêu, nhiệm vụ, tư tưởng chỉ đạo và một số chủ trương, chính sách lớn về mở rộng quan hệ đối ngoại, hội nhập quốc tế của Đảng
về mở rộng quan hệ đối ngoại, hội nhập quốc tế của Đảng
I.1.1 Mục tiêu Dựa trên nội dung Đại hội XIII
Trước yêu cầu cấp thiết của công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, Đảng ta kiên định phát triển kinh tế độc lập tự chủ, đồng thời thúc đẩy kinh tế biển và bảo vệ chủ quyền biển, đảo trong quá trình hội nhập và phát triển quốc tế; bảo vệ vững chắc chủ quyền biển đảo là trách nhiệm thiêng liêng của mỗi công dân Việt Nam coi lịch sử và sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc là yếu tố bảo đảm phát triển bền vững, và Nghị quyết Đại hội XII (XI) khẳng định mục tiêu, nhiệm vụ quốc phòng, an ninh là bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ, giữ vững chủ quyền biển đảo, biên giới và vùng trời, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa Trong bối cảnh biến động phức tạp của tình hình thế giới, khu vực và trên Biển Đông, nhiệm vụ phòng thủ và bảo vệ đất nước ngày càng nhiều khó khăn, thách thức, do đó cần không ngừng củng cố và tăng cường sức mạnh quốc gia, xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân trên biển, đồng thời xây dựng thế trận lòng dân để bảo vệ vững chắc chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc, xem đây là vấn đề chiến lược, cấp bách và then chốt.
I.1.2 Nhiệm vụ Dựa trên nội dung Đại hội XIII
Cần thực hiện tốt một số giải pháp chủ yếu sau:
Một là, xây dựng và thực hiện chiến lược phát triển kinh tế biển toàn diện, có trọng tâm, trọng điểm, sớm đưa nước ta trở thành quốc gia trong khu vực mạnh về kinh tế biển, gắn với bảo đảm quốc phòng, an ninh và hợp tác quốc tế Nghị quyết số 36-NQ/TW, ngày 22/10/2018 về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 xác định: “Việt Nam phải trở thành quốc gia mạnh về biển, giàu từ biển, phát triển bền vững, thịnh vượng, an ninh và an toàn; phát triển bền vững kinh tế biển gắn liền với bảo đảm quốc phòng, an ninh, giữ vững độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ” 2 Để kinh tế phát triển tương xứng với tiềm năng của biển, gắn phát triển kinh tế biển với bảo đảm quốc phòng, an ninh, bảo vệ vững chắc chủ quyền biển, đảo cần phải tổ chức lại hoạt động khai thác hải sản theo hướng giảm khai thác gần bờ, đẩy mạnh khai thác xa bờ; thúc đẩy các hoạt động nuôi trồng, khai thác hải sản bền vững, tăng cường bảo vệ, tái sinh nguồn lợi hải sản và môi trường biển, nghiêm cấm các hoạt động khai thác mang tính hủy diệt.
Phát triển nhanh một số khu kinh tế, khu công nghiệp ven biển, ưu tiên phát triển các ngành công nghiệp năng lượng, công nghiệp hàng hải, đóng tàu, nuôi trồng, khai thác và chế biến hải sản chất lượng cao Đẩy nhanh tốc độ đô thị hóa, xây dựng các trung tâm kinh tế ven biển mạnh, tạo thế tiến ra biển, gắn với phát triển đa dạng các ngành dịch vụ, xuất khẩu, du lịch, dịch vụ nghề cá, dầu khí, vận tải biển, v.v Phát triển kinh tế các đảo, đẩy mạnh nghiên cứu khoa học, thăm dò, khai thác, nuôi trồng thủy sản gắn với bảo vệ, giữ vững độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, bảo đảm an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, mở rộng quan hệ đối ngoại, chủ động hội nhập quốc tế, nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế Xây dựng các chiến lược, quy hoạch, chương trình, dự án phát triển kinh tế - xã hội trên biển, đảo; tăng cường đầu tư các nguồn lực và hoạch định cơ chế chính sách trong phòng, chống thiên tai, thảm họa, bảo vệ môi trường biển.
Việc tập trung nỗ lực xây dựng lực lượng quản lý, bảo vệ biển, đảo vững mạnh về mọi mặt là yêu cầu thiết thực hiện nay Trong đó, lực lượng Hải quân nhân dân Việt Nam là lực lượng chuyên trách hoạt động trên biển, đóng vai trò then chốt trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ các vùng biển, đảo Bên cạnh đó, cần tăng cường lực lượng Cảnh sát biển, Biên phòng, Dân quân tự vệ biển và Kiểm ngư để đảm bảo an ninh trật tự và thúc đẩy các hoạt động kinh tế biển, từ đó hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.
Quốc gia cần ưu tiên đầu tư hiện đại hóa lực lượng bảo vệ biển và có chính sách đãi ngộ thỏa đáng, đặc biệt là lực lượng thường xuyên tuần tra trên biển và chốt giữ các đảo xa bờ Cảnh sát biển Việt Nam là lực lượng chuyên trách quản lý và thực thi pháp luật trên biển và cần tiếp tục củng cố về tổ chức, biên chế, đồng thời tăng cường trang bị hiện đại để đảm bảo hoàn thành nhiệm vụ trước mắt và lâu dài Bộ đội Biên phòng cũng cần được đầu tư đầy đủ trang thiết bị kỹ thuật và phương tiện cơ động, đáp ứng yêu cầu giữ gìn an ninh trật tự, cứu hộ cứu nạn, chống buôn lậu và các tệ nạn xã hội trên các vùng biển Dân quân tự vệ biển được xây dựng theo phương châm vững mạnh và rộng khắp, ở đâu có tàu thuyền, ngư dân hoạt động và dân cư sinh sống trên đảo thì ở đó có dân quân tự vệ biển; lấy doanh nghiệp nhà nước, hợp tác xã làm nòng cốt, tổ chức biên chế phù hợp với đặc điểm từng địa phương và bảo đảm ba tuyến là ven bờ, lộng và khơi, coi trọng lực lượng hoạt động trên biển Kiểm ngư là lực lượng được tổ chức chặt chẽ, hoạt động đúng chức năng và nhiệm vụ, nhằm phát hiện, ngăn chặn và xử lý vi phạm của tàu thuyền nước ngoài; đồng thời hỗ trợ ngư dân, đảm bảo an ninh trật tự và có vai trò quan trọng trong đấu tranh bảo vệ chủ quyền trên các vùng biển của Tổ quốc.
Việt Nam kiên quyết giải quyết các tranh chấp ở Biển Đông bằng biện pháp hòa bình trên cơ sở pháp luật quốc tế, là thành viên của Liên hợp quốc và UNCLOS, tuân thủ DOC và các tuyên bố về ứng xử trên Biển Đông; kiên trì tìm kiếm giải pháp cơ bản, lâu dài qua đàm phán, thương lượng để bảo vệ độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, vì hòa bình, ổn định và phát triển khu vực và quốc tế Những tranh chấp song phương sẽ được giải quyết song phương; tranh chấp liên quan đến nhiều bên sẽ được xử lý đa phương và phải công khai, minh bạch giữa các bên liên quan Đồng thời, trong nỗ lực xử lý các vấn đề bằng hòa bình, Việt Nam kiên quyết bảo vệ lợi ích chính đáng trên biển, với quyết tâm “không để một tấc đất, tấc biển nào bị xâm phạm”, kiên trì tìm giải pháp lâu dài và kêu gọi các bên kiềm chế, không có hoạt động làm phức tạp tình hình hay sử dụng vũ lực, tuân thủ các nguyên tắc của luật pháp quốc tế, UNCLOS và năm nguyên tắc chung sống hòa bình; tăng cường xây dựng lòng tin, hợp tác đa phương về an ninh biển, nghiên cứu khoa học và chống tội phạm; cùng nhau thực hiện nghiêm DOC và hướng tới xây dựng Bộ quy tắc ứng xử trên Biển Đông (COC) để Biển Đông thực sự là vùng biển hòa bình, ổn định, hữu nghị, hợp tác và phát triển Ở những vùng biển không tranh chấp, hoàn toàn thuộc chủ quyền và quyền tài phán của quốc gia ven biển, Việt Nam có quyền áp dụng các biện pháp cần thiết theo UNCLOS để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
Đối ngoại quốc phòng được thực hiện hiệu quả, là yếu tố then chốt trong thời bình và khi có tình huống chiến tranh, giúp giữ vững độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, duy trì hòa bình và ổn định trên Biển Đông, đồng thời góp phần ổn định chính trị-xã hội trong nước và môi trường quốc tế thuận lợi cho phát triển kinh tế Trong bối cảnh hội nhập quốc tế, vấn đề đối ngoại quốc phòng đòi hỏi hợp tác chặt chẽ trên mọi lĩnh vực, đặc biệt là giữa quốc phòng, an ninh và đối ngoại Các ngành chức năng, trọng tâm là Bộ Quốc phòng, Bộ Công an và Bộ Ngoại giao cần xây dựng và hoàn thiện cơ chế phối hợp, tập trung vào nghiên cứu cơ bản, phân tích dự báo chiến lược về tình hình thế giới, khu vực, xu hướng diễn biến của mối quan hệ quốc tế và đối tác, đối tượng của cách mạng để tham mưu cho Đảng và Nhà nước hoạch định đường lối chiến lược và các biện pháp xử lý thắng lợi các tình huống quốc phòng, an ninh và đối ngoại Đồng thời tăng cường mở rộng quan hệ hợp tác quốc phòng với các nước trong khu vực và các nước lớn trên thế giới nhằm tăng sự hiểu biết và tin cậy lẫn nhau; hải quân, cảnh sát biển cần tăng cường giao lưu với đối tác, tổ chức các hoạt động phối hợp tuần tra chung, diễn tập, cứu hộ, cứu nạn trên biển để giữ vững môi trường hòa bình, ổn định và triệt tiêu nguy cơ xung đột trên biển.
Trong năm nay, cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền về chủ quyền biển, đảo thiêng liêng của Tổ quốc; các đơn vị Hải quân, Cảnh sát biển, Biên phòng đóng quân ở khu vực ven biển và trên các đảo cần phối hợp chặt chẽ với địa phương và các cơ quan tuyên giáo để xây dựng kế hoạch tuyên truyền hiệu quả Việc tổ chức bồi dưỡng báo cáo viên, biên soạn, phát hành tài liệu tuyên truyền sâu rộng tới mọi tầng lớp nhân dân, đặc biệt cư dân ven biển, ngư dân và kiều bào ở nước ngoài, là nhiệm vụ then chốt Trong điều kiện hiện nay, công tác tuyên truyền về chủ quyền biển, đảo đòi hỏi sự tham gia và phối hợp chặt chẽ giữa các bộ, ngành, địa phương và các phương tiện thông tin đại chúng, dưới sự chỉ đạo tập trung, thống nhất của các cơ quan chức năng Trung ương Đặc biệt, cần cung cấp thông tin kịp thời, minh bạch, chính xác để mọi người dân trong nước, kiều bào và cộng đồng quốc tế hiểu về cơ sở pháp lý, bằng chứng lịch sử và sự chiếm hữu thực tế của Việt Nam trên các vùng biển, đảo ở Biển Đông, nắm vững quan điểm và lập trường của Đảng, Nhà nước về giải quyết vấn đề chủ quyền; từ đó xây dựng niềm tin, ý chí quyết tâm và sự đồng thuận của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, tranh thủ sự đồng tình ủng hộ của nhân dân thế giới nhằm bảo vệ vững chắc chủ quyền biển đảo và các hoạt động kinh tế biển.
Cùng với công tác tuyên truyền về biển, đảo, cần kết hợp chặt chẽ với phổ biến, giáo dục pháp luật để ngư dân hiểu rõ các quy định trong Luật Biển Việt Nam và pháp luật quốc tế, đặc biệt là Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982, nhằm không chỉ chấp hành mà còn kịp thời phát hiện các hành vi vi phạm pháp luật của tàu thuyền nước ngoài ở vùng biển Việt Nam; đồng thời cần sớm đưa các nội dung về chủ quyền biên giới, lãnh thổ, biển đảo vào chương trình giáo dục phổ thông và đại học, phổ biến rộng rãi nội dung về chủ quyền lãnh thổ Việt Nam trên biển tới cộng đồng người Việt Nam và quốc tế.
I.1.3 Tư tưởng chỉ đạo và một số chủ trương, chính sách lớn về mở rộng quan hệ đối ngoại, hội nhập quốc tế của Đảng
Tư tưởng chỉ đạo về mở rộng quan hệ đối ngoại, hội nhập quốc tế của Đảng?
Từ Đại hội XI đến Đại hội XIII, Đảng xác định chủ trương mở rộng quan hệ đối ngoại và hội nhập quốc tế, đồng thời xây dựng nền ngoại giao toàn diện, hiện đại với ba trụ cột là đối ngoại Đảng, ngoại giao nhà nước và đối ngoại nhân dân Chủ trương này phản ánh sự trưởng thành của nền ngoại giao cách mạng do Hồ Chí Minh sáng lập và là sự thể hiện của một chiến lược dài hạn, đồng thời đáp ứng yêu cầu cấp thiết của đối ngoại và ngành ngoại giao trong bối cảnh mới.
Những đặc trưng của nền ngoại giao Việt Nam được thể hiện bằng sự tham gia của mọi chủ thể thực hiện đối ngoại — hệ thống chính trị, các tổ chức xã hội, doanh nghiệp và nhân dân — trên mọi lĩnh vực chính trị, quốc phòng, an ninh và kinh tế - xã hội Trên mọi đối tác, địa bàn và khu vực, Việt Nam chủ động đẩy mạnh và làm sâu sắc hơn quan hệ với các nước láng giềng, đối tác chiến lược, đối tác toàn diện, đối tác quan trọng và bạn bè truyền thống Đồng thời, Việt Nam tích cực tham gia và phát huy vai trò tại các cơ chế đa phương quan trọng có tầm chiến lược nhằm tăng cường hiệu quả ngoại giao và vị thế trên trường quốc tế.
Nền ngoại giao Việt Nam hiện đại thể hiện qua sự kết hợp hài hòa giữa truyền thống, bản sắc ngoại giao của dân tộc và tư tưởng Hồ Chí Minh, được vận hành trên nền tảng thể chế ngày càng hoàn chỉnh và cơ chế phối hợp chặt chẽ giữa đối ngoại đảng, đối ngoại nhà nước và đối ngoại nhân dân; ba trụ cột đối ngoại dù có vị trí, chức năng và lợi thế riêng nhưng luôn dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo thống nhất của Đảng và sự quản lý tập trung của Nhà nước, bổ sung, hỗ trợ lẫn nhau để thực thi đường lối đối ngoại vì lợi ích quốc gia-dân tộc, phản ánh bản chất nền ngoại giao Việt Nam là tổng hòa giữa tính đảng, tính quốc gia-dân tộc và tính dân chủ-nhân dân; việc triển khai đồng bộ và phối hợp nhịp nhàng của ba trụ cột sẽ phát huy thế mạnh và tạo sức mạnh tổng hợp cho nền ngoại giao, đồng thời là truyền thống và bài học quý báu, là nghệ thuật tập hợp lực lượng của đối ngoại cách mạng Việt Nam cần tiếp tục gìn giữ và huy động trong giai đoạn mới Để xây dựng nền ngoại giao toàn diện, hiện đại, cần củng cố và hoàn thiện cơ chế phối hợp giữa các trụ cột và các cơ quan đối ngoại, đồng thời xây dựng một đội ngũ cán bộ đối ngoại toàn diện về bản lĩnh, phẩm chất và trí tuệ, hiện đại về phong cách và phương pháp làm việc, không ngừng đổi mới sáng tạo; đường lối đối ngoại Đại hội XIII kế thừa, phát triển và hoàn thiện, trở thành kim chỉ nam cho triển khai đối ngoại đồng bộ, sáng tạo và hiệu quả Để các chủ trương, định hướng đối ngoại của Đại hội XIII đi vào cuộc sống, cần sớm có chiến lược tổng thể về đối ngoại gắn kết chặt chẽ với chiến lược bảo vệ Tổ quốc và chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, từ đó thống nhất nhận thức và hành động, xây dựng và triển khai các chiến lược, đề án, kế hoạch và biện pháp đối ngoại trong từng lĩnh vực, với từng đối tác, nhằm phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị, các cấp, các ngành và toàn dân để đối ngoại đóng góp xứng đáng vào thực hiện thắng lợi tầm nhìn và mục tiêu phát triển đất nước mà Nghị quyết Đại hội Đảng XIII đã đề ra.
Biện pháp trong bảo vệ chủ quyền biển, đảo Việt Nam của Đảng và Nhà nước12 1 Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, đẩy mạnh công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức về phát triển bền vững biển, tạo đồng thuận trong toàn xã hội
Việt Nam kiên quyết bảo vệ vững chắc chủ quyền biển, đảo và xem đó là trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân, đồng thời coi đây là yếu tố bảo đảm sự phát triển bền vững của đất nước Trước bối cảnh thế giới và khu vực diễn biến phức tạp, khó lường, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã đề ra các biện pháp và chính sách đối với biển đảo nhằm khẳng định chủ quyền, tăng cường an ninh biển và khai thác hiệu quả nguồn lực biển Những nội dung này góp phần củng cố vị thế quốc gia, thúc đẩy hợp tác quốc tế và phát triển kinh tế – xã hội một cách cân bằng, bền vững.
I.2.1 Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, đẩy mạnh công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức về phát triển bền vững biển, tạo đồng thuận trong toàn xã hội
Để phát triển bền vững kinh tế biển, cần nâng cao nhận thức và tăng cường sự lãnh đạo của cấp ủy, tổ chức đảng và chính quyền trong tổ chức thực hiện, kiểm tra và giám sát quá trình triển khai các chủ trương, giải pháp liên quan Sự đồng bộ giữa các cấp và đánh giá định kỳ sẽ bảo đảm các chủ trương được thực thi đúng tiến độ, hiệu quả và có biện pháp điều chỉnh kịp thời, từ đó tăng cường đóng góp của kinh tế biển cho phát triển bền vững.
Nâng cao hiệu quả và đa dạng hóa các hình thức, nội dung tuyên truyền chủ trương của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước về biển, đảo và chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam trong toàn hệ thống chính trị, trong nhân dân, đồng bào ta ở nước ngoài và cộng đồng quốc tế; khẳng định chủ trương nhất quán của Việt Nam là duy trì môi trường hoà bình, ổn định, tôn trọng luật pháp quốc tế trên biển Phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức đoàn thể các cấp trong công tác tuyên truyền, vận động các tầng lớp nhân dân giám sát và phản biện xã hội về việc thực hiện Nghị quyết.
Việc bảo vệ chủ quyền biển, đảo là bảo vệ Tổ quốc trên hướng biển và là nhiệm vụ thường xuyên, liên tục của toàn dân, nên trong quá trình thực hiện cần nghiên cứu và bổ sung các giải pháp cho phù hợp với thực tiễn nhằm bảo vệ vững chắc chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán và lợi ích quốc gia - dân tộc trên biển; mục tiêu cuối cùng là giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước.
I.2.2 Hoàn thiện thể chế, chính sách, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch về phát triển bền vững kinh tế biển a) Các biện pháp được đưa ra tại đại hội XIII
Rà soát và hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật về biển theo hướng phát triển bền vững, bảo đảm tính khả thi, đồng bộ và thống nhất với chuẩn mực pháp lý và điều ước quốc tế mà Việt Nam tham gia Tạo hành lang pháp lý thuận lợi để huy động nguồn lực trong và ngoài nước cho đầu tư xây dựng hạ tầng, phát triển khoa học và công nghệ, nâng cao nguồn nhân lực và chuyển giao tri thức về biển Tích cực tham gia và chủ động thúc đẩy hình thành cơ chế toàn cầu và khu vực liên quan đến biển và đại dương.
Kiện toàn hệ thống cơ quan quản lý nhà nước tổng hợp và thống nhất về biển từ Trung ương đến địa phương để bảo đảm hiện đại, đồng bộ, xây dựng đội ngũ cán bộ có năng lực và chuyên môn cao; tăng cường phối hợp giữa các cơ quan ở Trung ương và địa phương trong công tác biển đảo; củng cố cơ quan điều phối liên ngành để chỉ đạo thống nhất việc triển khai Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển do Thủ tướng Chính phủ đứng đầu; nâng cao năng lực cho Bộ Tài nguyên và Môi trường trong vai trò cơ quan thường trực giúp Chính phủ, Thủ tướng quản lý nhà nước tổng thể và thống nhất về biển, đảo.
Kiện toàn mô hình tổ chức và nâng cao năng lực quản lý các đảo, quần đảo và vùng ven biển Thực hiện bố trí dân cư trên các đảo gắn với chuyển đổi mô hình tổ chức sản xuất theo hướng thân thiện với biển và bảo vệ môi trường biển.
Chính sách quản lý biển và đảo được rà soát, bổ sung và xây dựng mới đồng bộ theo hướng quản lý tổng hợp, phù hợp với hệ sinh thái biển và bảo đảm sự gắn kết hài hòa giữa bảo tồn và phát triển các vùng đất liền, vùng ven bờ, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa Khẩn trương xây dựng Quy hoạch không gian biển quốc gia và Quy hoạch tổng thể khai thác, sử dụng bền vững tài nguyên vùng bờ nhằm định hình chiến lược phát triển bền vững và ứng phó với biến đổi tự nhiên Các biện pháp đã và đang thực hiện đang được triển khai để hiện thực hóa các mục tiêu trên và tăng cường quản lý tổng hợp tài nguyên biển.
Một là, năm 1992 Bộ Chính trị đã ra Nghị quyết về kinh tế biển; năm 2007 hội nghị
Trung ương 4 khóa X đã thông qua chiến lược biển tới năm 2020; Chính phủ đã ban hành Nghị quyết triển khai chiến lược biển Việt Nam.
Hai là, “Nhà nước từng bước củng cố hệ thống văn bản pháp luật về luật biển; năm
1977, Chính phủ ra tuyên bố về lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa; năm
1982, Chính phủ công bố đường cơ sở; năm 2003, Quốc hội thông qua Luật Biển của Việt Nam; và năm 2012 tại kỳ họp thứ ba (ngày 21/6/2012) Quốc hội thông qua Luật Biển Việt Nam Đây là cơ sở pháp lý quan trọng khẳng định chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam đối với vùng biển có đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của nước ta theo quy định của luật pháp quốc tế Bên cạnh đó, Việt Nam đang tích cực tìm kiếm và sưu tầm các tài liệu chứng cứ pháp lý, lịch sử nhằm khẳng định chủ quyền biển đảo của Việt Nam.
Ba là, giữ vững chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán trên các vùng biển
Việt Nam duy trì hệ thống các nhà giàn DK trên vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của nước ta nhằm hỗ trợ cho hoạt động quản lý vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa Việt Nam.
Việt Nam có ranh giới vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa chung với hầu hết các nước quanh Biển Đông, đặc biệt là Trung Quốc và Campuchia Hiện nay, trên biển Việt Nam còn bốn vấn đề lớn liên quan đến chủ quyền lãnh thổ cần được giải quyết: bảo vệ chủ quyền trên quần đảo Hoàng Sa; bảo vệ chủ quyền và giải quyết hòa bình tranh chấp chủ quyền trên quần đảo Trường Sa giữa Việt Nam, Trung Quốc, Ma-lai-xi-a, Phi-líp-pin và Đài Loan (Trung Quốc); phân định ranh giới các vùng biển theo Công ước của Liên hiệp quốc về Luật Biển năm 1982; và xác định ranh giới ngoài của vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa.
Cổng thông tin điện tử tỉnh Cà Mau (2020) trình bày hoạt động bảo vệ chủ quyền biển đảo của Việt Nam, nhấn mạnh các nỗ lực bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ trên biển và thềm lục địa Bài viết cho thấy Việt Nam thực hiện song hành các biện pháp tuyên truyền, giáo dục pháp lý và tăng cường năng lực lãnh đạo, phối hợp với các lực lượng chức năng nhằm xử lý các tình huống xâm phạm chủ quyền một cách phù hợp với luật pháp quốc tế Đồng thời, nội dung nhấn mạnh tầm quan trọng của hợp tác quốc tế và tuyên truyền cho cộng đồng để nâng cao nhận thức về quyền lợi và nghĩa vụ trên biển Đông, hướng tới bảo đảm an ninh hàng hải và ổn định khu vực Nguồn tham khảo được ghi nhận từ Cổng thông tin điện tử tỉnh Cà Mau (2020) và liên kết truy cập: https://www.camau.gov.vn/wps/portal/?1dmy&page=trangchitiet&urile=wcm%3Apath%3A/camaulibrary/camauofsite/gioithieu/chuyende/biendaoquehuong/tulieuvanban/dsgsgagqe646
Theo 2 ổng thông tin điện tử tỉnh Cà Mau (2020), Việt Nam đang tích cực thực hiện các hoạt động bảo vệ chủ quyền biển đảo và cung cấp thông tin minh bạch về quá trình này cho người dân Bài viết nhấn mạnh các nỗ lực của nhà nước trong việc duy trì chủ quyền trên biển và đảo, thông qua biện pháp pháp lý, sự phối hợp với các cơ quan liên quan và công tác tuyên truyền, nhằm tăng nhận thức và sự đồng thuận của cộng đồng về chủ quyền quốc gia đối với vùng biển và đảo Độc giả có thể truy cập nguồn tin tại https://www.camau.gov.vn/wps/portal/?1dmy&page=trangchitiet&urile=wcm%3Apath%3A/camaulibrary/camauofsite/gioithieu/chuyende/biendaoquehuong/tulieuvanban/dsgsgagqe646
I.2.3 Phát triển khoa học, công nghệ và tăng cường điều tra cơ bản biển a) Các biện pháp được đưa ra tại đại hội XIII
VẬN DỤNG TRONG BẢO VỆ CHỦ QUYỀN BIỂN, ĐẢO CỦA TỔ QUỐC HIỆN NAY
Đánh giá thực tế bảo vệ chủ quyền biển, đảo của đất nước hiện nay
II.1.1 Vị trí, vai trò chiến lược của khu vực Biển Đông a) Vị trí
Việt Nam kiên trì bảo vệ chủ quyền biển đảo thông qua các hoạt động pháp lý, tuyên truyền và hợp tác quốc tế nhằm khẳng định quyền ưu tiên lãnh hải, bảo đảm an ninh vùng biển và đảo Bài viết “Hoạt động bảo vệ chủ quyền biển - đảo của Việt Nam” trên Cổng thông tin điện tử tỉnh Cà Mau (2020) nhấn mạnh vai trò của lực lượng chức năng, công tác tuyên truyền cho cộng đồng và sự phối hợp giữa các cấp quản lý để duy trì ổn định, nâng cao nhận thức về chủ quyền biển đảo của Tổ quốc và thúc đẩy sự tôn trọng luật pháp quốc tế.
Biển Đông nằm ở phía Đông Việt Nam, kéo dài từ vĩ tuyến 3° Bắc đến 26° Bắc và từ kinh tuyến 100° Đông đến 121° Đông Khu vực này giáp 9 nước và một vùng lãnh thổ gồm Việt Nam, Trung Quốc, Philippines, Indonesia, Brunei, Malaysia, Singapore, Thái Lan, Campuchia và Đài Loan Việt Nam giáp Biển Đông từ ba phía: Đông, Nam và Tây Nam, với bờ biển dài khoảng 3.260 km từ Quảng Ninh đến Kiên Giang; cùng với vùng biển và thềm lục địa, cứ mỗi 100 km đất liền có một km bờ biển Biển Đông có hàng nghìn đảo lớn nhỏ, trong đó hơn 250 cấu trúc địa lý khoảng 1 km² mỗi cái, gồm đảo san hô, rạn san hô vòng, bãi cạn và bãi ngầm, phần lớn không có người ở và nhiều địa hình bị ngập khi triều lên Các cấu trúc được chia thành ba quần đảo: Đông Sa ở phía Bắc, Hoàng Sa và Trường Sa, và hai quần đảo Hoàng Sa – Trường Sa có tổng cộng trên 2.570 hòn đảo thuộc chủ quyền Việt Nam, tạo thành một phòng tuyến bảo vệ đất nước từ biên giới biển Biển Đông được xem là khu vực có vai trò chiến lược đối với khu vực châu Á - Thái Bình Dương, châu Mỹ và nhiều quốc gia trên thế giới, và ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống của khoảng 300 triệu người.
Biển Đông được coi là con đường huyết mạch chiến lược cho giao thông thương mại và vận chuyển quân sự quốc tế, nằm trên tuyến đường biển huyết mạch nối liền Thái Bình Dương - Ấn Độ Dương và liên kết châu Âu - châu Á cũng như Trung Đông - châu Á Biển Việt Nam là điều kiện thuận lợi để ngành vận tải biển nước ta phát triển, thúc đẩy giao lưu kinh tế và văn hóa giữa Việt Nam với các nước trong khu vực và trên thế giới.
Dầu khí là nguồn tài nguyên lớn nhất trên thềm lục địa Việt Nam và có tầm chiến lược quan trọng đối với nền kinh tế nước ta Đến nay, trên thềm lục địa đã được xác định nhiều bể trầm tích, nổi bật là bể Cửu Long và bể Nam Côn Sơn Những bể này được đánh giá có triển vọng dầu khí lớn nhất và có điều kiện khai thác thuận lợi, mở ra cơ hội khai thác và phát triển nguồn năng lượng dài hạn cho đất nước.
7 Sở Ngoại vụ tỉnh Quảng Bình (2019), Vị trí địa lý, địa - kinh tế, địa - chính trị, địa - chiến lược của biển đảo Việt
Nam” Truy cập từ: https://sngv.quangbinh.gov.vn/3cms/vi-tri-dia-ly-dia -kinh-te-dia -chinh-tri-dia -chien-luoc- cua-bien-dao-viet-nam.htm
Trong khu vực thềm lục địa Việt Nam, tổng trữ lượng dự báo địa chất được ước tính gần 10 tỷ tấn dầu quy đổi, với trữ lượng khai thác khoảng 4-5 tỷ tấn và trữ lượng khí dự báo khoảng 1.000 tỷ m3 Bên cạnh đó, vùng ven biển Việt Nam chứa đựng tiềm năng lớn về quặng sa khoáng, gồm titan, zircon, thiếc, vàng, sắt, mangan, thạch cao và đất hiếm; đặc biệt, cát nặng và cát đen được xem là nguồn tài nguyên quý giá, thường được biết đến với các tên gọi sa khoáng titan, sa khoáng ilmenit và sa khoáng cát đen.
Biển Việt Nam có vai trò quan trọng đối với sự phát triển của đất nước:
Việt Nam có bể trầm tích ở thềm lục địa chứa dầu khí với trữ lượng lớn và triển vọng khai thác cao Ngành dầu khí nước ta dù mới ra đời đã trở thành một trong những lĩnh vực kinh tế mũi nhọn, sở hữu tiềm lực kỹ thuật, vật chất và công nghệ hiện đại hàng đầu và là nguồn xuất khẩu mang lại ngoại tệ đáng kể Sự phát triển của ngành công nghiệp khai thác dầu khí kích thích sự tăng trưởng của các ngành liên quan như công nghiệp hóa dầu, giao thông vận tải và thương mại nội địa Bên cạnh dầu mỏ, biển Việt Nam còn nhiều mỏ sa khoáng và cát thủy tinh phục vụ khai thác công nghiệp và làm vật liệu xây dựng, đồng thời tiềm năng về khí-điện-đạm và năng lượng biển như gió, mặt trời, thuỷ triều, sóng và thủy nhiệt là rất lớn.
Theo các số liệu vận tải biển, tuyến đường quốc tế qua Biển Đông được xem là nhộn nhịp thứ hai trên thế giới, với điểm gần nhất của tuyến này cách Côn Đảo (Việt Nam) khoảng 38 km Mỗi ngày có khoảng 300 tàu vận tải qua lại Biển Đông, trong đó có 200 tàu chở dầu; 50% số tàu có trọng tải trên 5.000 tấn và hơn 10% từ 30.000 tấn trở lên Đối với Việt Nam, 100% hàng hóa xuất nhập khẩu đều phải đi qua Biển Đông Nếu khủng hoảng xảy ra ở vùng biển này, tàu thuyền sẽ phải tìm đường đi mới hoặc vòng qua Nam Australia, khiến cước phí vận tải có thể tăng lên đến năm lần và làm giảm sức cạnh tranh trên thị trường thế giới.
Biển Việt Nam có vai trò quan trọng trong xây dựng thế trận quốc phòng - an ninh của đất nước:
Với vùng biển rộng và bờ biển dài, địa hình ven biển quanh co, khúc khuỷu và có nhiều dãy núi nhô ra biển, việc phòng thủ từ hướng biển mang tính chiến lược trong hệ thống an ninh quốc gia Khi chiều ngang đất liền ở nhiều khu vực như Quảng Bình chỉ khoảng 50 km, tuyến phòng thủ ven biển càng trở nên then chốt Mạng lưới sông ngòi chằng chịt chảy qua các miền, chia cắt đất liền thành nhiều đoạn và cắt ngang các tuyến giao thông chiến lược Bắc - Nam Ở nhiều nơi, núi chạy sát biển tạo thành địa hình hiểm trở, xen lẫn với những bờ biển bằng phẳng thuận tiện cho neo đậu tàu thuyền và chuyển quân bằng đường biển.
Hệ thống quần đảo và các đảo trên vùng biển nước ta, cùng với dải đất liền ven biển, tạo điều kiện thuận lợi cho xây dựng căn cứ quân sự, điểm tựa, pháo đài và trạm gác tiền tiêu; hình thành tuyến phòng thủ nhiều tầng, nhiều lớp với thế bố trí chiến lược hợp thế trên bờ và dưới nước, nhằm bảo vệ, kiểm soát và làm chủ vùng biển nước ta Biển là chiến trường rộng lớn để ta triển khai thế trận quốc phòng toàn dân và thế trận an ninh nhân dân trên biển, nhằm phòng thủ bảo vệ Tổ quốc và giữ gìn trật tự an ninh từ xa đến gần Trong đó, các khu vực biển trọng điểm như Vịnh Bắc Bộ, vùng biển quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa; khu du lịch kinh tế kỹ thuật dầu khí DK1, DK2 và vùng biển Tây Nam được xác định là các khu vực trọng yếu.
Hệ thống quần đảo và đảo trên vùng biển nước ta cùng với dải đất liên ven biển thuận lợi cho việc xây dựng các căn cứ quân sự, điểm tựa, pháo đài, trạm gác tiền tiêu, hình thành tuyến phòng thủ nhiều tầng, nhiều lớp, với thế bố trí chiến lược hợp thế trên bờ, dưới nước, tạo điều kiện thuận lợi để bảo vệ, kiểm soát và làm chủ vùng biển của đất nước Đồng thời, đây cũng là những lợi thế để bố trí các lực lượng, vũ khí trang bị kỹ thuật của các lực lượng hoạt động trên biển, ven biển phối hợp chặt chẽ với các lực lượng khác trên bờ, tạo thành thế liên hoàn biển-đảo-bờ trong thế trận phòng thủ khu vực.
Có thể thấy, Biển Đông không chỉ là địa bàn chiến lược, không gian sinh tồn (phát triển và an ninh) và chiếm vị trí địa chính trị quan trọng đối với các quốc gia trong khu vực mà còn cả của Châu Á – Thái Bình Dương và Mỹ Đặc biệt, Biển Đông đã trở thành địa bàn cạnh tranh ảnh hưởng truyền thống của các nước lớn trong lịch sử Đây cũng là nơi tích tụ, tập trung các mô hình chính trị, kinh tế xã hội và văn hóa đa dạng của thế giới, bao gồm sự giao thoa của các nền văn minh: Trung Hoa, Ấn Độ, Đông Nam Á đảo và Đông Nam Á lục địa Các tranh chấp chủ quyền biển, đảo trong Biển Đông cũng được xem là kéo dài, phức tạp, nhiều bên nhất trong lịch sử.
II.1.2 Tình hình biển đảo và nhận thức về tình hình biển đảo hiện nay
Biển đảo Việt Nam, bao gồm hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, là của Việt Nam và điều này được chứng minh bằng lịch sử cùng các tài liệu khoa học Các tư liệu khoa học và pháp lý hiện có cho thấy quá trình khai phá, chiếm hữu và thực thi chủ quyền liên tục của Việt Nam trên các quần đảo này suốt chiều dài lịch sử Tuy vậy, những năm gần đây Trung Quốc đã có nhiều hành động xâm hại đến chủ quyền biển đảo của Việt Nam, như bắt ngư dân Việt để làm ăn, tấn công tàu Việt tại vùng biển của chính Việt Nam, và ngang ngược xây dựng thành phố Tam Sa trên quần đảo Hoàng Sa.
Những hành động nói trên của phía Trung Quốc đã xâm phạm nghiêm trọng chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, đồng thời xâm phạm quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam đối với các vùng biển của nước ta Những hành động này vi phạm thỏa thuận những nguyên tắc cơ bản chỉ đạo giải quyết vấn đề trên biển giữa Việt Nam và Trung Quốc ký tháng 10/2011, trái với tinh thần Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC) và Tuyên bố cấp cao kỷ niệm 10 năm DOC, làm cho tình hình Biển Đông thêm phức tạp.
Trong bối cảnh hiện nay, nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc đang đối mặt với nhiều khó khăn và thách thức, nhưng toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta vẫn đồng lòng, phát huy sức mạnh tổng hợp để bảo vệ vững chắc chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán quốc gia trên biển, đồng thời giữ môi trường hòa bình, ổn định ở khu vực biển nhằm thúc đẩy phát triển đất nước.
II.1.3 Kết quả đạt được trong bảo vệ chủ quyền biển, đảo của đất nước
Có 5 kết quả về bảo vệ chủ quyền biển đảo mà nước ta đã đạt được: a) Tuyên Bố chủ Quyền
Vào ngày 12-5-1977, Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tuyên bố chủ quyền lãnh hải, vùng tiếp giáp, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam Việt Nam cùng các nước liên quan tiến hành đàm phán dựa trên nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền của mỗi bên và phù hợp với luật pháp và tập quán quốc tế nhằm giải quyết các vấn đề liên quan đến vùng biển và thềm lục địa của từng nước Công ước Liên hiệp quốc về Luật biển năm 1982 (UNCLOS) được xem như bản hiến pháp của biển.
Quan điểm của các bên trong vấn đề tranh chấp biển, đảo
II.2.1 Quan điểm của Việt Nam Đưa vào nội dung 1.2
Biển, đảo từ lâu được nhân dân Việt Nam khẳng định là một phần máu thịt của đất nước, là chủ quyền quốc gia, là ngư trường truyền thống và cửa ngõ giao lưu quốc tế, gắn bó mật thiết với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Bảo vệ vững chắc chủ quyền biển đảo là trách nhiệm thiêng liêng của mỗi công dân Việt Nam đối với lịch sử ông cha và tương lai con cháu, là nhân tố trọng yếu bảo đảm cho sự phát triển bền vững Tại nghị quyết Đại hội lần thứ XI năm 2011 của Đảng, mục tiêu, nhiệm vụ quốc phòng, an ninh là bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ; giữ vững chủ quyền biển đảo, biên giới, vùng trời; bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa Từ đó, Đảng và Nhà nước xác định rõ phải giữ vững chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán; giữ gìn quan hệ hòa bình, không để xảy ra xung đột và bảo đảm cho phát triển kinh tế biển.
Trên cơ sở lịch sử và pháp lý hiện có, Việt Nam khẳng định lập trường rõ ràng về Biển Đông, đặc biệt hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, với quyền được khai thác, quyền chủ quyền, quyền tài phán và thềm lục địa theo Công ước Liên Hợp Quốc về Luật biển (UNCLOS) năm 1982 Việt Nam kiên trì giải quyết mọi tranh chấp ở Biển Đông bằng biện pháp hòa bình dựa trên luật pháp quốc tế Trong quá trình tìm kiếm tiếng nói chung, các bên liên quan cần kiềm chế, duy trì ổn định và không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực, tôn trọng Hiến chương Liên Hợp Quốc và các chuẩn mực của luật pháp quốc tế, bao gồm thực hiện đầy đủ Tuyên bố ứng xử của các bên tại Biển Đông.
(DOC-2002) và Nguyên tắc 6 điểm của ASEAN về vấn đề Biển Đông (2012) và sớm xây dựng Bộ Quy tắc ứng xử ở Biển Đông (COC).
Trên biển Đông hiện nay tranh chấp diễn biến phức tạp, nổi bật là tranh chấp giữa Việt Nam và Trung Quốc về hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, cùng với các tranh chấp giữa Trung Quốc và Philippines, Indonesia, Malaysia và thậm chí tranh chấp giữa các nước ASEAN; những tranh chấp này tác động đến hòa bình, ổn định và tự do hàng hải của khu vực và nước ngoài khu vực Việt Nam có quan điểm rõ ràng: những vấn đề liên quan đến hai nước được giải quyết song phương, còn những vấn đề liên quan đến nhiều bên sẽ được bàn bạc giữa các bên liên quan Đại hội VIII của Đảng nhấn mạnh vùng biển và ven biển là địa bàn chiến lược về kinh tế và an ninh quốc phòng, có nhiều lợi thế phát triển và là cửa mở lớn để đẩy mạnh giao lưu quốc tế, thu hút đầu tư nước ngoài; khai thác tối đa tiềm năng và lợi thế của vùng biển, ven biển, kết hợp với an ninh, quốc phòng, sẽ tạo thế và lực để phát triển mạnh kinh tế - xã hội, bảo vệ và làm chủ vùng biển của Tổ quốc Tại Hội nghị Trung ương 4 (khóa X) về Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020, quan điểm chỉ đạo là đến năm 2020 phấn đấu đưa nước ta trở thành quốc gia mạnh về biển, giàu lên từ biển.
Việt Nam tích cực, chủ động ưu tiên hoạt động ngoại giao và tham gia đàm phán với các nước láng giềng để xử lý các vấn đề trên biển, đặc biệt là tranh chấp biển đảo với Trung Quốc được xem xét trên nền tảng tôn trọng pháp lý và đối thoại Việt Nam kiên trì tuân thủ UNCLOS 1982 và yêu cầu Trung Quốc tôn trọng Công ước này, đồng thời nhắc lại Thỏa thuận về những nguyên tắc cơ bản chỉ đạo giải quyết vấn đề trên biển Việt Nam – Trung Quốc do lãnh đạo hai nước nhất trí vào tháng 10 năm 2011 Việt Nam kiên quyết bác bỏ mọi yêu sách phi pháp như đường lưỡi bò ở Biển Đông và tiếp tục đấu tranh để bảo vệ chủ quyền và lợi ích hợp pháp trên vùng biển.
Việt Nam tiếp tục đẩy mạnh phát triển kinh tế biển trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa, đồng thời đảm bảo công khai, minh bạch các vấn đề tranh chấp ở biển Đông Việt Nam nỗ lực cùng các bên liên quan thúc đẩy hợp tác về an toàn trên biển, nghiên cứu khoa học biển, bảo vệ môi trường biển, cứu hộ cứu nạn và phòng chống tội phạm trên biển, nhằm tăng cường lòng tin và đóng góp cho hòa bình, thịnh vượng chung của khu vực và thế giới Việt Nam tôn trọng quyền tự do hàng hải và nỗ lực cùng các bên liên quan bảo đảm an ninh, an toàn hàng hải cho tàu thuyền qua lại Biển Đông phù hợp với Công ước Liên Hợp Quốc về Luật biển 1982, hoan nghênh nỗ lực và đóng góp của tất cả các nước vào việc duy trì hòa bình, ổn định, an ninh, an toàn và tự do hàng hải ở Biển Đông.
+ Quan điểm tất cả các bên có tranh chấp chủ quyền biển đảo với Việt Nam + Quan điểm của quốc tế (ít nhất 3 trường hợp)
II.2.2 Quan điểm của Trung Quốc
Vào năm 2009, Trung Quốc phản đối Việt Nam và Malaysia nộp báo cáo chung về ranh giới ngoài thềm lục địa lên Ủy ban Ranh giới thềm lục địa thuộc Liên Hợp Quốc theo quy định của Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển 1982 (UNCLOS 1982) Để thể hiện yêu sách trên Biển Đông, Trung Quốc đã gửi công hàm tới Tổng thư ký Liên Hợp Quốc kèm theo một bản đồ đơn phương thể hiện đường 9 đoạn đứt khúc, được gọi phổ biến là "đường lưỡi bò".
Trong văn bản công hàm đầu tiên sau hơn 60 năm, Trung Quốc khẳng định chủ quyền không thể tranh cãi đối với các đảo ở biển Nam Trung Hoa (tức Biển Đông) và các vùng nước liên quan, đồng thời có quyền chủ quyền và quyền tài phán đối với vùng nước, đáy biển và lòng đất đáy biển ở đó; đây là quan điểm nhất quán của Chính phủ Trung Quốc và được biết đến rộng rãi trong cộng đồng quốc tế Văn bản này đánh dấu lần đầu tiên Trung Quốc công bố công khai bản đồ “đường lưỡi bò” với toàn thế giới sau hơn sáu thập kỷ thể hiện lập trường về Biển Đông Các đường này chạy sát bờ biển Việt Nam, với một đoạn chỉ cách bờ nước ta khoảng 50 đến 100 km, và chồng lên phần biển của các nước ASEAN như Malaysia, Indonesia và Philippines, chiếm đến hơn 80% diện tích biển Đông.
Theo các học giả Trung Quốc, đường lưỡi bò lần đầu xuất hiện trên bản đồ các đảo trong biển Đông được Vụ Địa lý của bộ Nội Vụ thuộc Chính phủ Trung Hoa Dân quốc xuất bản tháng 02/1948 Một số người cố đẩy thời gian xuất hiện của đường lưỡi bò xa hơn mục đích giải thích có lợi cho Trung Quốc Đường lưỡi bò ban đầu gồm 11 đoạn Năm 1953 được điều chỉnh thành 9 đoạn, bỏ 2 đoạn ở Vịnh Bắc Bộ.
Yêu sách của Trung Quốc đối với một vùng biển rộng ở Biển Đông không có cơ sở lịch sử, pháp lý và thực tiễn nên không được coi là yêu sách nghiêm túc của một quốc gia; sự việc này vấp phải sự phản đối quyết liệt từ các nước liên quan, trong đó có Việt Nam Đỉnh điểm diễn ra vào ngày 22 tháng 1 năm 2013, khi Philippines đệ đơn khởi kiện Trung Quốc lên Tòa Trọng tài Thường trực Trung Quốc từ chối tham dự vụ kiện và vào tháng 12 năm 2014 công bố một văn kiện cho rằng tranh chấp không liên quan đến phân xử vì đây là vấn đề chủ quyền, chứ không phải là quyền để khai thác Tuy nhiên, việc Trung Quốc từ chối tham dự không làm cho tòa án kết thúc vụ kiện.
Không dừng lại ở đó, vào đầu tháng 5/2014, Trung Quốc đơn phương đưa giàn khoan
HD-981 cùng với một lực lượng tàu cá các loại và tàu quân sự đã xuất hiện ở khu vực Biển Đông gần quần đảo Hoàng Sa, thuộc vùng biển tranh chấp giữa Việt Nam và Trung Quốc.
Phạm Bình Minh, Bộ trưởng Ngoại giao Việt Nam, nhấn mạnh rằng hành động này là bất hợp pháp, xâm phạm chủ quyền và đi ngược lại luật pháp quốc tế; Việt Nam kiên trì theo hướng hòa bình, tuân thủ UNCLOS và nhận được sự ủng hộ của các nước trên thế giới Vào ngày 1/6/2015, tại Đối thoại Shangri-La ở Singapore, Trung Quốc tuyên bố sẽ thiết lập vùng nhận diện phòng không trên Biển Đông và đã tiến hành cải tạo đá Vành Khăn và Xu Bin nhằm hiện thực hóa kế hoạch này; các nước khu vực và cộng đồng quốc tế cho rằng đó là hành động khiêu khích nghiêm trọng của Bắc Kinh ở Biển Đông Đến năm 2016, tại Hội nghị thượng đỉnh G7, các quan chức bày tỏ quan ngại về tình hình Biển Đông, khi Trung Quốc tiếp tục thực hiện các hành động đơn phương trên khu vực và nhiều quốc gia khác tỏ rõ sự kiên quyết phản đối trước những động thái này.
II.2.3 Quan điểm của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN)
AMM-54 khai mạc ngày 2/8/2021 theo hình thức trực tuyến và ra thông cáo chung nêu rõ tình hình Biển Đông; hội nghị tiếp tục khẳng định quyết tâm giải quyết các tranh chấp một cách hòa bình, phù hợp với các nguyên tắc của luật pháp quốc tế được công nhận rộng rãi, trong đó nổi bật là Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển (UNCLOS) năm 1982.
Hội nghị nhấn mạnh sự cần thiết để các bên tranh chấp và tất cả các quốc gia phi quân sự hóa và tự kiềm chế trong mọi hoạt động, kể cả những hoạt động được nêu trong Tuyên bố về ứng xử của các bên tại Biển Đông (DOC) năm 2002, nhằm ngăn ngừa sự phức tạp hóa tình hình và leo thang căng thẳng ở Biển Đông.
Hội nghị nhấn mạnh tầm quan trọng của việc duy trì hòa bình, an ninh, ổn định và an toàn ở Biển Đông, đồng thời thúc đẩy tự do hàng hải và hàng không trong khu vực Các bên nhấn mạnh sự cần thiết của thực thi đầy đủ và hiệu quả Tuyên bố ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC) nhằm kiểm soát căng thẳng, tăng cường hợp tác và bảo đảm an toàn cho hoạt động hàng hải và hàng không Thực thi DOC một cách hiệu quả được kỳ vọng sẽ thúc đẩy đối thoại, tăng cường tin cậy và tạo điều kiện phát triển kinh tế biển, đồng thời bảo đảm tự do lưu thông và sự ổn định lâu dài ở khu vực Biển Đông.
II.2.4 Quan điểm của một vài nước trên thế giới
Phía Mỹ dưới chính quyền Tổng thống Joe Biden tiếp tục bảo vệ quan điểm được nêu từ thời Tổng thống Donald Trump, bác bỏ hầu hết các yêu sách hàng hải phi lý của Trung Quốc ở biển Đông Ngoại trưởng Mỹ Antony Blinken, ngày 11/7/2021, tuyên bố tương tự người tiền nhiệm Mike Pompeo rằng: "Không có nơi nào mà trật tự hàng hải dựa trên luật lệ bị đe dọa nhiều như ở biển Đông", đồng thời Mỹ nhấn mạnh tầm quan trọng của việc tôn trọng quyền và lợi ích của các nước khi tuân thủ luật pháp quốc tế Đáng chú ý là Mỹ đề cập đến Hiệp ước Phòng thủ Tương hỗ Mỹ - Philippines năm 1951, theo đó hai nước sẽ hỗ trợ lẫn nhau trong trường hợp bị tấn công Ông Blinken cũng kêu gọi Trung Quốc tuân thủ các nghĩa vụ theo luật pháp quốc tế, ngừng khiêu khích và tôn trọng quyền của tất cả các nước dù lớn hay nhỏ.
Nhiệm vụ của sinh viên trong góp phần bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc
Trong bài viết này, nhóm tập trung đi sâu phân tích một giải pháp duy nhất, trình bày lý do lựa chọn giải pháp đó dựa trên mục tiêu, nguồn lực và bối cảnh thực tế, đồng thời làm rõ các thuận lợi như tính khả thi, tối ưu chi phí và sự phù hợp với yêu cầu dự án, cũng như các khó khăn khi triển khai như rủi ro kỹ thuật, thiếu hụt nguồn lực hoặc thời gian hạn hẹp Kế hoạch thực hiện giải pháp được đề xuất gồm các giai đoạn thực hiện cụ thể, phân công nhiệm vụ rõ ràng, thời gian dự kiến và các tiêu chí đánh giá hiệu quả để đảm bảo quá trình triển khai diễn ra suôn sẻ và có thể điều chỉnh khi cần.
Để tuyên truyền hiệu quả về biển, đảo và biên giới, cần bám sát thực tiễn, không ngừng đổi mới nội dung và đa dạng hóa hình thức, phương pháp tuyên truyền phù hợp với trình độ nhận thức của sinh viên Đồng thời đẩy mạnh tuyên truyền về quan điểm, đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước về chủ quyền biển đảo và quyền tài phán quốc gia trên các vùng biển, đảo và quần đảo, nhằm nâng cao nhận thức và ý thức trách nhiệm của thế hệ trẻ trong bảo vệ chủ quyền và an ninh biển, đảo và lãnh thổ quốc gia.
Chú trọng tổ chức các buổi tọa đàm và hội thi tìm hiểu kiến thức về chủ quyền biển đảo trong sinh viên nhằm nâng cao nhận thức và ý thức trách nhiệm của giới trẻ đối với biển đảo Tổ quốc; tăng cường tổ chức cho sinh viên đi thăm và thực hiện các hoạt động nghiên cứu thực tế tại các vùng biển, đảo của Việt Nam để sinh viên hiểu và nắm vững các vùng, khu vực thuộc chủ quyền có lịch sử lâu đời của Việt Nam, đồng thời làm rõ chủ quyền và quyền chủ quyền đối với biển, đảo Việt Nam được xác lập trên cơ sở các điều khoản của Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982; từ đó khẳng định và củng cố niềm tin của nhân dân cả nước và cộng đồng quốc tế, đặc biệt là của thanh niên, về chủ quyền Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
Bảo vệ vững chắc chủ quyền biển, đảo Việt Nam và đảm bảo quốc phòng – an ninh trên biển là nội dung chiến lược mang tính cấp bách và then chốt hiện nay Trách nhiệm thiêng liêng này thuộc về mỗi công dân Việt Nam, gắn với lịch sử dân tộc và được thể hiện rõ qua vai trò xung kích của thế hệ trẻ nói chung và sinh viên nói riêng Đây là nhân tố quan trọng bảo đảm cho sự nghiệp xây dựng đất nước và phát triển bền vững hiện nay và trong tương lai.
Sự tham gia của sinh viên vào các hoạt động đã để lại những dấu ấn rõ nét và lan tỏa rộng khắp trong sinh viên, góp phần hình thành nên các công trình mang ý nghĩa, những món quà và phần việc thiết thực nhằm tuyên truyền sâu rộng chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc, cổ vũ ngư dân vươn khơi, bám biển và hỗ trợ các gia đình có chiến sĩ đang công tác tại các vùng đảo, nhà giàn Để thế hệ trẻ nói chung và sinh viên nói riêng làm tốt công tác bảo vệ chủ quyền biển đảo, cần tập trung vào các nội dung trọng tâm như nâng cao nhận thức, giáo dục lòng yêu nước và ý thức trách nhiệm với biển đảo, củng cố mối liên hệ giữa nhà trường, ngư dân và gia đình chiến sĩ, cũng như tích cực tham gia các hoạt động thực tiễn nhằm lan tỏa thông điệp chủ quyền và bảo vệ môi trường biển.
Đẩy mạnh hiệu quả công tác tuyên truyền, phổ biến và giáo dục đoàn viên thanh niên về chủ quyền biển đảo và trách nhiệm, nghĩa vụ bảo vệ chủ quyền biển đảo trong tình hình mới bằng nội dung đa dạng, cập nhật và hình thức truyền thông phù hợp với thanh niên Nội dung tuyên truyền được hệ thống hóa với các khía cạnh pháp lý, lịch sử và thực tiễn liên quan đến biển đảo, giúp đoàn viên nhận thức rõ chủ quyền và các yếu tố tác động đến an ninh biển Các phương pháp giáo dục và truyền thông được đổi mới, tăng cường ứng dụng công nghệ, mạng xã hội và các hoạt động thực tế nhằm nâng cao mức độ tiếp cận và sự thấu hiểu Đồng thời khuyến khích đoàn viên tham gia tích cực vào các hoạt động tuyên truyền, học tập và tham gia bảo vệ chủ quyền biển đảo, thể hiện trách nhiệm và nghĩa vụ trong tình hình mới.
Tiếp tục thực hiện có hiệu quả các chương trình, phong trào gắn với biển, đảo của Đoàn Thanh niên
Chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ khoa học trẻ có đầy đủ phẩm chất đạo đức và tài năng để thực hiện công tác nghiên cứu và đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển đảo của đất nước Đội ngũ này được tuyển chọn và đào tạo bài bản, có ý thức trách nhiệm cao và tinh thần đổi mới, đáp ứng các yêu cầu nghiên cứu khoa học phục vụ bảo vệ chủ quyền biển đảo Việc phát triển nguồn lực trẻ nâng cao trình độ khoa học, khả năng phân tích và năng lực ứng phó với các thách thức trên biển, đồng thời đóng góp vào sự nghiệp bảo vệ chủ quyền và phát triển quốc gia Thông qua đầu tư vào nhân lực trẻ, chúng ta xây dựng nền tảng khoa học vững chắc cho sự nghiệp bảo vệ biển đảo và sự phát triển bền vững của đất nước.
Bồi đắp, củng cố niềm tin và ý chí quyết tâm bảo vệ chủ quyền biển đảo Tổ quốc đối với thế hệ trẻ.
Cần có các hình thức ghi nhận, biểu dương và khen thưởng cụ thể đối với sinh viên khi tham gia bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc; đồng thời ban hành chính sách hỗ trợ cho sinh viên về các dự án bảo vệ, phát triển kinh tế biển và cải thiện đời sống của nhân dân trên các vùng đảo, quần đảo Đây là việc làm thiết yếu và cần được thực hiện thường xuyên, liên tục nhằm khích lệ, động viên sinh viên và tạo môi trường để họ tích cực tìm hiểu kiến thức, hăng hái tham gia bằng các hành động cụ thể nhằm góp phần bảo vệ biển, đảo của Tổ quốc.
Biển và đảo không chỉ là lãnh thổ thiêng liêng mà còn là không gian sinh tồn và động lực để đất nước vươn lên cùng các cường quốc năm châu Việc bảo vệ vững chắc chủ quyền biển đảo là bệ phóng cho Việt Nam phát triển và khẳng định vị thế của Tổ quốc trong thế kỷ XXI Trong nhiệm vụ đầy vinh quang đó, thế hệ trẻ, đặc biệt là sinh viên, là lực lượng xung kích trong bảo vệ Tổ quốc và chủ quyền biển đảo Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII nhấn mạnh tăng cường giáo dục thế hệ trẻ về lý tưởng cách mạng, đạo đức, lối sống văn hóa, nâng cao lòng yêu nước và tự hào dân tộc, nuôi dưỡng ước mơ, hoài bão và khát vọng vươn lên, từ đó phát huy vai trò quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lê nin và tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh, đồng thời phát huy truyền thống ngoại giao hòa hiếu và nhân văn của dân tộc, Đảng ta đã không ngừng phát triển và hoàn thiện đường lối đối ngoại qua các giai đoạn cách mạng Đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hoà bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, đa phương hóa và đa dạng hóa, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế vì lợi ích quốc gia - dân tộc là sợi chỉ đỏ xuyên suốt quá trình đổi mới và được nhận thức ngày càng sâu sắc Việc thực hiện đúng đắn đường lối này đã góp phần giữ vững môi trường hoà bình, ổn định, thuận lợi cho công cuộc đổi mới, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, đồng thời nâng cao vị thế của đất nước Bên cạnh đối ngoại về kinh tế và tích cực hội nhập, nước ta luôn phát huy truyền thống yêu nước, kiên quyết bảo vệ từng tấc đất, tăng cường tuyên truyền về biển, đảo và kiên cường trong các lập trường trước chủ quyền biển đảo; đồng thời tích cực truyền dạy cho thế hệ trẻ về tầm quan trọng của biển, đảo đối với sự phát triển của đất nước Mục tiêu mà Đảng hướng tới trong giải quyết các tranh chấp trên vùng biển đảo là duy trì khu vực Biển Đông ổn định, hoà bình, hợp tác và phát triển, và vì vậy chúng ta cần kiên trì, kiên quyết đấu tranh theo đúng đường lối, quan điểm, chính sách của Đảng, Nhà nước, dựa trên nội lực và sức mạnh tổng hợp của cả quốc gia Việc nắm vững và tuyên truyền sâu rộng các quan điểm của Đảng đối với công tác bảo vệ chủ quyền biển đảo trong tình hình mới là nhiệm vụ của mỗi cán bộ, đảng viên.