A DẪN NHẬP Chúng ta đã bước qua hơn hai thập niên đầu của thế kỷ 21 Trong thời đại cuộc cách mạng công nghiệp 4 0 với sự phát triển chóng mặt của khoa học công nghệ và nền giáo dục hiện đại, dưới tác.
Trang 1A DẪN NHẬP
Chúng ta đã bước qua hơn hai thập niên đầu của thế kỷ 21 Trong thời đại cuộccách mạng công nghiệp 4.0 với sự phát triển chóng mặt của khoa học công nghệ vànền giáo dục hiện đại, dưới tác động của các phương tiện truyền thông đại chúng, và
hạ tầng thông tin liên lạc hiện đại, thì người ta có thể chế tạo ra bất cứ loại vật liệunào bền vững hơn cả kim cương Tuy nhiên, có một thứ chẳng có gì phá vỡ nổi đóchính là trí tuệ Phật pháp Kinh Kim Cang, không chỉ đem tới cho người đệ tử Phậtsức mạnh vô song về mặt tinh thần mà còn đêm đến nguồn cảm hứng vô tận chonhững ai quyết chí bước đi trên con đường tu tập
Kinh Kim Cương (hay Kim Cang), tên đầy đủ là Kim Cương Bát Nhã Ba La
Mật Đa(Vajracchedika-prajñaparamita), là một trong những bài kinh quan trọng nhất
của Phật giáo Đại Thừa, đồng thời được xem là một bài kinh căn bản của Thiền tông,
vì chứa đựng tinh hoa, cốt tủy của giáo lý Bát Nhã Đức Phật tuy đề cập đến nhiềuđiều rộng lớn khác, nhưng hầu như toàn bộ kinh chỉ để nói lên những yếu lĩnh cần có
để an trụ chân tâm và hàng phục vọng tâm Muốn thế hành giả không nên trụ chấpvào bất kỳ đối tượng nào dù đó là Phật, là Pháp hay quả vị Vô thượng Chính đẳnggiác Muốn thế hành giả phải thấy mọi sự vật và hiện tượng là hư ảo, là huyễn, là vôthường, vô ngã, không bị lạc vào đường chấp ngã mà phải nỗ lực thực hành sao chochân tâm vô trụ, an nhiên tự tại Rồi quảng kết thiện duyên, lưu bá giảng giải khiếnPhật pháp tịnh hóa nhân gian nói chung đi theo con đường tỉnh giác, mà còn giúp chocác Phật tử nói riêng có công năng chuyển hóa cái tâm, an trụ chân tâm để bước tiếptrên con đường giác ngộ giải thoát, để không bi quan trong cuộc sống, tự tin vượt mọikhó khăn trong mọi hoàn cảnh Trong nội dung bài Tiểu luận, học trò xin được trìnhbày một số hiểu biếu đơn sơ về “7 điểm Kim Cang dựa trên tiêu đề Bảy điểm KimCang” đó là Phật; Pháp; Tăng, Giới Luật, Bồ Đề, Thiện Đức và Phật Sự
B NỘI DUNG
Chương I Bối cảnh ra đời và ý nghĩa nhan đề kinh Kim Cang
1.1 Bối cảnh ra đời Kinh Kim Cang
Trang 2Khi Phật giáo được truyền vào Đông độ thì bản kinh Kim Cương này cũngđược lấy đó làm tâm ấn truyền tông của Thiền tông Trung Hoa Câu truyện Ngũ tổHoằng Nhẫn đã lấy y che cửa, giảng truyền tâm yếu của Kim Cương Kinh vàtruyền y bát cho Lục tổ Huệ Năng là minh chứng rất rõ ràng về tầm quan trọng của
nó Thiền tông tuy nói rằng “Bất lập văn tự, giáo ngoại biệt truyền, trực chỉ nhântâm, kiến tính thành Phật” nhưng vẫn lấy bản kinh này làm phương thức truyềntâm ấn, có lẽ bởi yếu chỉ của kinh là tính không, là thực tướng để đi đến Phật quả,thực tướng Niết bàn Ở việt Nam Phật Hoàng Trần Nhân Tông vị tổ thứ nhất củaThiền phái Trúc Lâm Yên Tử cũng đã từng nghe “ưng vô sở trụ, nhi sinh kỳ tâm”
mà đạt ngộ nên trong cuối bài Cư Trần Lạc Đạo Phú ngài viết: “Đối cảnh vô tâmmạc vấn thiền”
Kinh Kim Cương Bát Nhã Ba La Mật là bản kinh thứ 9 của hội thứ 16 trong
9 bộ Đại Bát Nhã Thời gian xuất hiện Kinh này có rất nhiều ý kiến khác nhau,nhưng phần đa cho rằng nó xuất hiện khoảng trước hoặc sau 100 năm côngnguyên, nhưng đều xuất phát từ bộ Đại Bát Nhã Kinh này được rất nhiều các caoTăng phiên dịch sang hán ngữ và chú sớ như: ngài Cưu Ma La Thập dịch là KimCương Bát Nhã Ba La Mật Kinh, đại diện cho tân dịch có ngài Huyền Trang dịch
là Đệ Cửu Hội Năng Đoạn Kim Cương Phẫn ngoài ra còn có các bản dịch của cácngài như Bồ Đề Lưu Chi, Chân Đế, Nghĩa Tịnh, Đạt Ma Cấp Đa Ở Việt Nam hiệnnay cũng có nhiều bản dịch như của HT Thanh Từ - Kim Cương Giảng Giải; HTTrí Quang – Kim Cương Bát Nhã Ba La Mật; HT Nhất Hạnh – Kinh Kim CươngGươm Báu Cắt Đứt Phiền Não, Đoàn Trung Còn Kinh Kim Cang và Bát NhãTâm Kinh là tóm gọn những thâm ý áo nghĩa của toàn bộ Đại Bát Nhã 600 quyển.Theo Đại Cương Kinh Kim Cương Bát Nhã của HT Thích Thiện Siêu trong tuyểntập “Vô Ngã Là Niết Bàn” ấn bản năm 2000 nói trong 32 phần, nhưng tóm tắt lại
có ba phần như sau:
Trang 31 Phần thực tướng bát nhã từ câu: “như vậy tôi nghe….” Đến câu “ trải tòa
mà ngồi” là phần thể hiện “thực tướng Bát nhã vô ngôn thuyết” ngay nơi các uynghi hàng ngày của Ngài
2 Phần quán chiếu Bát nhã từ câu: "Tu Bồ Đề tán thán Phật " cho đến câu
"Bồ-tát nên an trú như ta dạy" Đây là đoạn kinh, dựa vào văn tự ngôn ngữ, Phậtdạy về công dụng quán chiếu của Bát Nhã Trong phần này Tu-bồ-đề nêu hai câuhỏi là, làm thế nào một vị Bồ-tát khi phát tâm Bồ-đề có thể an trụ trong tâm đó vàlàm thế nào hàng phục vọng tâm, và Phật trả lời hai câu hỏi đó
3 Phần đoạn nghi: Trừ hai phần trên, tất cả đoạn kinh văn còn lại thuộc vàophần này Trong phần này Phật cũng dùng ngữ ngôn văn tự để dạy công dụng củaquán chiếu Bát Nhã mà đoạn trừ các nghi hoặc Song những mối nghi ở phần này,không phải do Tuệ mạng Tu-bồ-đề nêu lên, mà chính do Phật đón biết trước cácmối nghi hoặc sẽ ngấm ngầm khởi lên trong tâm Tôn giả, nên Phật tự lần lượt nêulên hỏi Tu-bồ-đề, rồi Phật tự lần lượt giải đáp hầu làm cho Tu-bồ-đề và kể cảchúng ta không còn chút nghi hoặc đối với lý Bát-nhã chơn không Vì vậy ở phầnkinh văn này ta thường thấy lặp đi lặp lại nhiều lần câu: "Tu-bồ-đề ư ý vân hà? Tu-bồ-đề ý ông nghĩ thế nào?" "Ư ý vân hà?" cũng còn có ý nghĩa là Phật dạy luônluôn phải hồi quang phản chiếu
1.2 Ý nghĩa về Nhan đề kinh Kim Cang
Kim Cang (Kim Cương): là một loại khoáng chất từ tinh hoa của đất đá TheoĐịa lý học 2, nguồn gốc của kim cương là chất lỏng nóng từ núi lửa chảy ra, gặpkhí hậu lạnh kết lại thành đá và trải qua một thời gian rất lâu từ 1 đến 3,3 triệunăm, mới kết tinh lại thành chất kim cương trong sán góng ánh như pha lê Quátrình hình thành rất lâu năm nên kim cương có độ cứng chắc là 10 trong khi cácloại đá khác thì độ cứng chắc chỉ từ 1 đến 9,3 Do đẹp như pha lê, bền chắc hoànhảo và rất khó kết thành nên kim cương rất quý giá và hiếm có trên thế gian Vìnhững tính chất ưu tú này, Đức Phật đã mượn để đặt tên kinh là Kinh Kim Cương
Trang 4Kim Cương chắc cứng bền vững là ý nói dù trải qua trăm kiếp nghìn đời, lưuchuyển trong sáu cõi của trời, người, a tu la, súc sinh, ngạ quỉ và địa ngục nhưngtính giác, tính hay biết của chúng ta vẫn không tan hoại hay biến mất Kim cươngtrong sáng như pha lê là biểu tượng tính Phật sáng suốt thanh tịnh của chúng ta sẽchiếu phá các màn lưới vô minh, tham ái, giận hờn, ích kỷ của thất tình, lục dục, từ
vô thủy kiếp đến nay Kim cương quý giá như vua của các loại đá là ý nói tâm củachúng ta quý giá hơn bất cứ những của cải vật chất, nhà cửa, danh lợi trên thế giannày
2 Nội dung bảy điểm Kim Cang
2.1 Phật:
Tất cả mọi người đi theo con đường của Đức Phật đều có một khao khát đểthành Phật, để đạt được đến cõi niết bàn, nhưng càng mong muốn càng khát khao màkhông đem trí tuệ của mình để lĩnh hội, không gắng sức để tu trì thì sẽ không bao giờthấy ánh sáng Phật trong tâm trí Phật trong Kim Cang đó chính là phạt tánh và phậthành:
Phật tánh là thể bất sinh bất diệt của mọi loài theo quan điểm Đại thừa Theo
đó, mọi loài đều có thể đạt giác ngộ và trở thành một vị Phật, không bị đời sống hiệntại hạn chế Có nhiều quan điểm khác nhau về phật tính, người ta tranh cãi liệu tất cảmọi loài đều có Phật tính hay không, liệu thiên nhiên vô sinh vô tri như đất đá có Phậttính hay không Đức Thế Tôn nói: Kim Cang là thí dụ tánh của mình, còn Kinh thì thí
dụ tâm của mình Nếu người rõ tâm mình, thấy tánh mình, người này tự trong thân cóKinh, trên sáu căn thường hiện ra hào quang sáng suốt, chói lòa trời đất, đầy đủ côngđức như số cát sông Hằng, sanh ra tứ quảtứ tướng, thập thánh tam hiền nhẩn đến bamươi hai tướng của đức Như lai và tám mươi việc tốt Hết thảy công đức đều từ nơimình, do tâm địa mà ra chứ không phải tìm nơi ngoài mà được:”
Nhìn lại trong lịch sử phật giáo Việt Nam, Kinh Kim Cang không những những
có ảnh hưởng trong việc tu tập và lãnh đạo đất nước đối với vua Trần Thái Tông màcòn cả Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông, Trần Minh Tông, Trần Anh Tông và Trần
Trang 5Minh Tông sau nầy nữa Năm 1321, Trần Minh Tông đã dùng Kinh Kim Cang để ra
đề thi cho các Tăng nhân Bở lẽ, các vị ấy hiểu rõ cái cốt lõi của việc trị nước an dânchính là dùng phật Tánh để trị vì đất nước Còn ý nghĩa cao cả nào hơn nếu tất cả mọingười trên thế gian đều lấy Tánh Phật mà làm quan điểm, tư tưởng sống Có lẽ chiếntranh, xung đột chẳng bao giờ xảy ra Và thế giới lại trong lành biết chừng nào Việclấy Phật Tánh làm cốt lõi của sự tu tập nên gọi là Kiến Tánh thành Phật Chỉ có conngười mới có Tánh giác này, còn lại vạn vật chỉ có cái biết thứ nhất là cái biết của tựnhiên, còn gọi là qui luật tự sinh tồn của vạn vật Vì vạn vật không có Uẩn Thức nênkhông có ý thức phân biệt suy luận để hiểu biết của cái biết thứ nhất Vạn vật tự biếttheo qui luật tự nhiên mà thôi Như thế thì Phật Tánh đối với con người là có hai cáiGiác, còn vạn vật chỉ có một cái giác Như con chó có Phật Tánh nhưng nó không cóuẩn thức ý thức phân biệt, nó không biết là nó hiện hữu nên con chó nhìn vào tấmkính thấy mặt nó thì nó sủa chống đối vì nó không biết nó là ai Nhiều người cứ nghĩTánh giác là phật Tánh là cái giác thứ nhất mà không hiểu con người còn có cái giácthứ hai nửa Chính nhờ có cái giác thứ hai nên con người tìm cách thoát ra vòng luânhồi và đạo Phật mới ra đời vì vòng luân hồi chính là cái Khổ to lớn nhất của conngười Tu đạo phật là phát triển cái biết cái giác lần thứ hai vì nhờ nó mà ta tu tậpđược
Phật hành: Hành (saṅkhāra) nói chung thì chỉ cho các hiện tượng có tính chất
thay đổi (pháp hữu vi) nhưng một cách cụ thể thì chỉ cho tất cả các "khuynh hướng"của tinh thần.Chúng được gọi là "những cái được tạo ra mang tính quyết định" bởi vìchúng được hình thành như là kết quả của sự quyết định và chúng cũng là nguyênnhân cho sự phát sinh của các hành động mang tính quyết định trong tương lai.Các
bản dịch tiếng Anh cho saṅkhāra theo nghĩa đầu tiên bao gồm pháp hữu vi,các quyết
định, các thứ được tạo ra và những cái được hình thành (hoặc, đặc biệt là khi đề cậpđến các quá trình tinh thần, những cái được hình thành mang tính quyết định)
Trang 6Theo nghĩa thứ hai (nghĩa chủ động) của từ này, hành (saṅkhāra) chỉ cho
nghiệp (sankhara-khandha) là cái dẫn đến sự sinh khởi phụ thuộc lẫn nhau, hoặc
do duyên sinh Hai câu hỏi của Tôn giả Tu Bồ Đề đối với đức Phật ở trong Kinh KimCang rằng: “Thế nào là an trú chân tâm và thế nào là hàng phục vọng tâm?”, là duyênkhởi để đức Phật chỉ bày Tuệ giác Kim Cang một cách rốt ráo cho thính chúng bấygiờ nói riêng và nói chung cho tất cả những ai đã từng có nhân duyên tu học nhiềuđời đối với Kinh Kim Cang Bát Nhã Tâm linh của con người mờ tối là do vô minh
và bị buộc ràng trong khổ đau là do phiền não Vô minh là không thấy rõ Tứ thánh
đế, không thấy rõ pháp duyên khởi, nên chấp ngã Do chấp ngã, nên phiền não sinhkhởi Phiền não là tham dục, sân hận, ngu si và kiêu mạn Vì vậy, phiền não là gốccủa khổ đau và vô minh là gốc của mê lầm và sinh tử luân hồi Nên, Kinh Kim Cang
có tác dụng chặt đứt vô minh và phiền não nơi tâm thức của người nào có nhân duyênnghe, thọ trì, đọc tụng và thực hành theo nó, khiến cho tự tâm rỗng lặng mọi ý niệm
về ngã và pháp, về phi ngã và phi pháp, làm dẫn sinh đời sống an lạc, giải thoát vàgiác ngộ hoàn toàn Nên, tác dụng của Kinh Kim Cang là làm cho tâm của hành giả
an trú vững chãi vào tuệ giác và chính Tuệ giác Kim Cang nầy có khả năng chặt đứthết thảy phiền não do chấp ngã và chấp pháp; chấp phi ngã và phi pháp để dẫn đưahành giả trở về với tuệ giác thường trú không sanh diệt
2.2 Pháp:
Pháp là Phật pháp, ngữ là lời văn, câu cú Pháp ngữ là lời pháp, câu pháphay những khẩu khí, pháp khí đặc biệt trong kinh Kim Cang Nhà thiền có công ánthì Kim Cang cũng có những khẩu khí đánh mạnh vào tâm thức, giúp chúng ta thấutriệt bản thể vốn có của tự tánh, chứng nghiệm Phật tánh chân không Pháp trongKim Cang là thiền viên đốn trực chỉ chân tâm kiến tánh thành Phật chứ khôngdùng phương tiện của hóa thành tiệm tu từ từ Mỗi kinh có mỗi phong cách phápngữ khác nhau để chúng ta nhớ về kinh đó Như nói đến Bát Nhã Tâm Kinh thìchúng ta sẽ nhớ liền pháp ngữ: “Sắc tức thị không, không tức thị sắc” Pháp ngữ
Trang 7trong kinh Pháp Hoa mà chúng ta thường biết như: “Khai thị ngộ nhập Phật trikiến”, “Chúng con không khinh các ngài đâu vì các ngài sẽ là những vị Phật tươnglai”.
Trong kinh Kim Cang, Phật giáo hóa cho hàng Bồ Tát về phương pháp hàngphục tâm và pháp trụ tâm, khuyến cáo các Bồ Tát không nên chấp vào tướng (Ngã,Nhân, Chúng Sinh, Thọ Giả) và sở dĩ được gọi là Bồ Tát là vì không chấp vào tướng
và luôn luôn giác hữu tình Ngài Tu Bồ Đề khải thỉnh rằng: “Thưa Thế Tôn, nhữngThiện nam tử, Thiện nữ nhân phát tâm Vô thượng chính đẳng chính giác, nên trụ tâmnhư thế nào và hàng phục tâm như thế nào? Phật bảo ông Tu Bồ Đề: Lành thay, lànhthay… Các đại Bồ Tát nên hàng phục tâm như vầy; đối với hết thảy các loài chúngsinh, noãn sinh, thai sinh, thấp sinh, hóa sinh, có sắc, vô sắc, hữu tưởng, vô tưởng,phi hữu tưởng, phi vô tưởng đều khiến cho được vào Vô dư niết bàn, độ hết thảy vôlượng vô biên chúng sinh nhưng thực lại không thấy có chúng sinh được độ Tu bồ đềnếu Bồ tát có ngã tướng, nhân tướng, chúng sinh tướng, thọ giả tức chẳng phải BồTát” Bồ tát là Giác hữu tình, thường tu tập các pháp như lục độ ba la mật, vì hạnhnguyện tự lợi và lợi tha mà dùng khắp phương tiện để hóa độ chúng sinh Thiện nam
tử, thiện nữ nhân là những người nam người nữ vâng giữ đầy đủ Tam quy ngũ giớimột cách trọn vẹn mới được gọi là “Thiện” theo như trong Quán Vô Lượng Thọ Kinhngười được gọi là thiện nam tử, thiện nữ nhân phải đủ bốn điều kiện như sau: 1 từtâm bất sát; 2 hiếu dưỡng mẹ cha; 3 phụng dưỡng sư trưởng; 4 tu tập thiện nghiệp
Những vị Thiện nam tử, thiện nữ nhân ấy mà phát cái tâm vô Thượng chínhđẳng chính giác tức là tâm cầu Phật quả hay gọi là tâm Bồ đề Việc phát tâm Bồ đề làrất thực khó, nhưng giữ cho tâm ấy được bất động luôn luôn cũng thực là khó Bởi vìnếu như các vị Bồ Tát còn chấp vào tứ tướng ấy là: Ngã là cái ta, cái tôi; Nhân làchấp vào cá thể nào đó, hữu tình nào đó sinh ra bỉ thử là có ta có người; Chúng sinh
là chấp vào các tướng của muôn loài hữu tình vô tình; Thọ giả là chấp vào tuổi thọdài ngắn đang sống, nếu còn chấp là còn vọng tưởng, còn vọng tưởng thì là còn mê
Trang 8còn là chúng sinh thì chân tâm Phật tính, hay Niết Bàn diệu tâm, làm sao đạt được,như thế xẽ bị vọng tưởng nôi cuốn trôi lăn trong luân hồi mà thôi.
Đức Phật đã trả lời cách hàng phục tâm bằng cách độ tất cả chúng sinh (Vọngtưởng) vào Vô dư niết bàn, mà không thấy có chúng sinh được diệt độ, cũng có nghĩa
là đưa tất cả vọng tưởng vào chỗ Vô sinh Vì sao lại không thấy có chúng sinh đượcdiệt độ? Vì Bồ tát đối với các tướng ngã - nhân - chúng sinh - thọ giả đều do tâm trụ
hư dối mà ra tức là nhận thấy rõ các pháp do duyên sinh giả lập mà có, nhận biếtđược tính không của đối tượng mà không trụ vào đó Độ sinh mà còn thấy mình hay
độ, chúng sinh được độ tức còn phân biệt chấp tướng, chưa phải là tâm Bát-nhã lytướng độ sinh Vì chấp là vọng tưởng chưa có tâm bình đẳng, vọng tưởng của mìnhcòn chư độ được, thì sao độ được chúng sinh
Tiếp theo là làm như thế nào để trụ tâm? Đức Phật dạy: Bồ Tát đối với cácPháp nên vô trụ làm các việc bố thí, bởi vì không trụ sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp
bố thí… Phúc đức lớn không thể nghĩ lường, Bồ Tát nên như thế mà trụ tâm Sau khihàng phục được tâm, đức Phật dạy cách trụ tâm Bằng cách "không trụ ở nơi sáu trầnsắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp mà làm việc bố thí" Có lẽ ở đây chỉ nói tiêu biểu vềviệc bố thí, nhưng bao gồm cả Lục độ vạn hạnh, đều cần phải không trụ tâm (khôngchấp thủ) vào sáu trần thì mới định an
Chúng sanh thường mê không giác ngộ cho nên nhiều kiếp đọa lạc ChưPhật thường giác ngộ chẳng mê cho nên thành Phật đạo Nếu có trai lành gái tínhọc hỏi đạo Phật, công trình vào đạo chia làm bốn việc, gọi là bốn câu kệ: là khôngthân, là không tâm, là không tánh, là không pháp
Trong cõi đời thực, ta thấy rằng, một số tôn giáo trở nên cực đoan vì chấptrước vào giáo pháp của mình là tối thượng, là tối linh là miên viễn cho nên đã gâykhổ đau cho nhân loại Giáo pháp của Phật chỉ là phương tiện chứ không phải cứucánh Nếu cần xả bỏ thì phải xả bỏ Giáo pháp của Phật chỉ là phương tiện chứ khôngphải cứu cánh Nếu cần xả bỏ thì phải xả bỏ Thật vĩ đại thay tư tưởng của Phật Thật
Trang 9từ bi thay giáo pháp của Phật Thật lành thay tấm lòng của Phật Cũng chính vì thế
mà khi Phật thuyết Kinh Kim Cang, vì hiểu được tấm lòng của Phật mà ngài Huệ
Mạng Tu Bồ Đề đã khóc Giống như ở Kinh Kim Cang, đức Phật đã chỉ thẳng “Thực
tính Bát Nhã Kim Cang” cho thính chúng lúc bấy giờ, tại Kỳ viên, nước Xá vệ bằngcách hỏi Tôn giả Tu bồ đề rằng: “Này Tu bồ đề! Thầy nghĩ như thế nào? Như Lai cóchứng đắc Vô thượng giác không? Có pháp nào được nói bởi Như Lai không?” Tôngiả Tu bồ đề thưa: “Đúng như con hiểu nghĩa của Ngài dạy, thì không có 308 phápnào được khẳng định gọi là Vô thượng giác và cũng không có pháp nào khẳng địnhđược nói bởi Như Lai Vì pháp được nói bởi Như Lai, pháp ấy đều không thể nắmbắt, không thể diễn đạt, không thể gọi là pháp, không thể gọi là phi pháp” Và cũng ởkinh này, một đoạn khác, đức Phật lại hỏi Tôn giả Tu bồ đề rằng: “Này Tu bồ đề!Thầy Nghĩ như thế nào, có pháp nào được nói bởi Như Lai không?
Tôn giả Tu bồ đề thưa: Không có pháp nào được nói bởi Như Lai cả” Và mộtđoạn khác của Kinh Kim Cang này, đức Phật lại nói với Tôn giả Tu bồ đề rằng: “Này
Tu bồ đề! Thầy đừng nghĩ rằng: Như Lai có ý niệm ta sẽ thuyết pháp Đừng nghĩ nhưthế Tại sao? Nếu có người nghĩ rằng, có pháp được thuyết bởi Như Lai là người ấyphỉ báng Như Lai, vì họ không lãnh hội được lời nói của Như Lai Như vậy, quanhững đoạn Kinh Kim Cang được trích dẫn, đức Phật, không những đã chỉ rõ “Thựctính Kim Cang Bát Nhã” cho thính chúng lúc bấy giờ, mà còn chỉ rõ “Pháp hành vàpháp thuyết vô trú” của Ngài đối với “Thực tính bát nhã” cho thính chúng đương hộilúc bấy giờ nữa
2.3 Tăng:
Muốn giải thoát, muốn an nhiên tự tại, hành giả phải phá chấp, không chấp trụvào đâu, dù là giáo pháp để sanh tâm mình Tâm không trụ là tâm Phật Đó là yếu chỉcủa Kim Cang Kinh Kim Cang chính là kinh phá bỏ mọi ràng buộc để đi tới thanhtịnh, giải thoát
Sự vĩ đại của một con người không nằm ở chỗ gom góp tất cả những gì đang
có trên thế gian này để làm của cải hay tài sản riêng cho mình Sự vĩ đại nằm ở chỗ
Trang 10dám xả bỏ tất cả những gì mình đang có để cống hiến cho đời Và Đức Phật chính làcon người như vậy, những bậc với ý định thiện lành
Những bậc nghiên cứu, quán chiếu và thiền định về giáo lý của Đức Phật, và ýđịnh được đặt trên con đường Pháp và giác ngộ được gọi là Tăng là “những bậc với ýđịnh thiện lành.” Có hai kiểu đức hạnh: đức hạnh hướng về các hành động trong thếgiới này, và đức hạnh tuyệt đối của việc thành tựu Chánh giác
Những người bình thường bị lạc trong sự chăm sóc và bảo vệ cái tôi và trongcác cảm xúc phiền não Dù đau đớn nào được gây ra bởi việc chăm sóc và bảo vệ cáitôi, đó là cách mà họ sống Dù họ cố gắng nhiều lần, thái độ này không thể làm họhạnh phúc hơn, và không giải thoát họ khỏi khổ đau Gần như không thể với ngườithường để hiểu được rằng khả năng của việc buông bỏ cái tôi và làm giảm khổ đau,căng thẳng và hận thù mà chúng ta cảm thấy bên trong, có thể xuất hiện Nó như thểbạn chắc hẳn rất điên rồ khi đề xuất như vậy Tuy nhiên, mặt khác, rất rõ ràng là việcnuôi dưỡng và bảo vệ cái tôi là nguồn gốc của mọi khổ đau
Bởi vậy, con đường của người tu tập và con đường của chúng sinh thôngthường trở nên khá khác biệt Mặc dù ta sống như một thành viên trong gia đình vàchăm sóc từng thành viên, ta vẫn nhận thấy bạn đang trở nên khác biệt với phần cònlại Sự tách biệt này không dựa trên kiểu thành kiến Nó là kết quả của sự thấu suốttăng lên mà ta sở hữu như là kết quả của việc giải quyết vấn đề tâm Trí tuệ ta đangvun bồi nhìn ra không chỉ vấn đề của người khác mà còn cả vấn đề của chính bạnthân mình Điều này liên quan đến việc nhìn ra cái khổ trong cuộc đời, và đâm thủngnguyên nhân của nó, thứ đang bám chấp vào cái tôi
Đọc và ngẫm Kinh Kim Cang, Chúng ta mong muốn làm việc với các vấn đềtâm lý và cảm xúc bằng cách áp dụng chánh Pháp Vì thế, chúng ta nhận Đức Phật làngười chỉ dẫn và Pháp là con đường, và chúng ta trở thành một phần của Tăng đoàncao quý Mặc dù tình yêu thương, sự chăm sóc và từ bi giành cho người khác tănglên, và chúng ta vẫn muốn có ích với người khác hơn nữa, con đường của ta trở nên
rõ ràng hơn Vì thế, chúng ta quy y Tam Bảo một cách đúng đắn hơn Đây là mục
Trang 11đích của việc nghiên cứu và thực hành của chúng ta; quy y một cách đúng đắn, khôngphải chỉ là nghi lễ Chúng ta không quy y chỉ để đi theo người khác, mà để phát triểnmối quan hệ cá nhân với các đối tượng quy y Một cách tương đối, chúng ta quy Phật
là người chỉ đường, Pháp là con đường và Tăng là những người đồng hành Một cáchtuyệt đối, chỉ có một sự quy y duy nhất, đó là giác ngộ
2.4 Giới Luật
Giới và Luật thường được xem là giống nhau, và nhiều khi được gọi chung
là Giới Luật Nhưng xét kỹ ra thì Giới và Luật cũng có phần khác nhau
Giới có nghĩa là đạo đức nói chung, đồng thời là những phép tắc, đặt ra chocác Phật tử xuất gia và cư sĩ đã thọ giới Luật có nghĩa là kỷ luật gồm những phéptắc, những phương thức qui định đời sống Tăng đoàn (sangha), và được ghi lạitrong Luật tạng Theo HT Thiện Siêu, nếu so sánh với thuốc men, thì Giới cũngnhư dược tánh, và Luật cũng như dược liệu, thang thuốc Giới là điều răn, Luật làphương thức thực hành điều răn đó
Như vậy, Giới có nghĩa rộng hơn, cũng như những nguyên tắc tổng quát,trong khi Luật có tính chất thực tiễn, đi vào chi tiết hơn Do đó, người ta quen dùngchữ " Giới " hay " Giới cấm " cho tất cả các Phật tử, và dành chữ " Giới Luật " chonhững người xuất gia tu hành
Có thể nói rằng luật pháp ra đời là từ nhu cầu thực tế của cộng đồng vànhằm phục vụ cộng đồng con người Theo luật tạng, Đức Phật chế giới khi trongTăng đoàn (cộng đồng/tập thể Tăng sĩ) có Tỷ-kheo làm những điều phi đạo đứchay những điều gây mất uy tín cho Tăng đoàn Mục đích chế giới trước hết lànhằm xử lý, giải quyết các vấn đề bất ổn trong Tăng đoàn Theo thời gian và khiđiều kiện xã hội thay đổi, giới luật Phật giáo chắc chắn có điều còn nguyên giá trịnhưng cũng có những điều (mang tính ứng phó với văn hóa xã hội) không còn phùhợp Trong xã hội loài người, hiến pháp, luật pháp của bất cứ quốc gia nào cũngthường được tu chỉnh để phù hợp với xã hội nơi nó tồn tại Do đó, việc học giớiluật Phật giáo cũng cần phải theo hướng phù hợp với thời đại ngày nay
Trang 12Theo sử liệu ghi lại thì năm thứ 13 sau khi thành đạo giới luật do Phật chế mớithật sự hình thành Căn cứ vào các văn bản giới luật chúng ta thấy rõ rằng: Giới luậtPhật chế là dành cho các vị xuất gia sống trong Tăng đoàn Đối với hàng tại gia, Phậtchỉ chế 5 giới và 8 giới (Bát quan trai giới) Về sau, Phật giáo Đại thừa thì có thêmgiới Bồ-tát cho hàng tại gia Ngoài ra, một số người theo truyền thống Đại thừa (Bắctông) cho rằng 10 điều thiện (Thập thiện) là giới cho hàng tại gia nên các đại giới đàn
có thêm phần truyền Thập thiện cho hàng tại gia Đây là điều còn tranh cãi Các bộluật hiện có không ghi chép các điều luật Phật chế để xử lý hàng tại gia ngoại trừ cáchứng xử từ chối nhận thực phẩm, tài vật từ người tại gia (úp bát) khi thấy họ có nhữnglỗi lầm quá đáng (không phải phạm giới)
Chúng ta thấy Đức Phật không muốn đặt ra nhiều giới luật bắt buộc đệ tử phảihành trì Ngài giảng giới, dạy giáo lý đơn giản và thực tiễn cho sự chứng ngộ tâmlinh, và đa số Phật chỉ chế giới khi có trường hợp vi phạm của chư tăng mà thôi Nhưvậy, giới là phương tiện để hành giả gạn lọc thân tâm, tận trừ mọi lậu hoặc, ngăn chặnnghiệp bất thiện và tiến về chân hạnh phúc Giới luật Phật giáo mang đậm tính nhânvăn, nhân bản và linh động trong sự phân biệt từng loại: khinh, trọng, tánh tướng vàtrong mỗi trường hợp mà có cách ứng xử phù hợp như khai, giá, trì, phạm Căn bảncủa việc giữ giới vẫn là tâm tự nguyện, với tâm thanh tịnh giữ gìn giới luật thì sẽmang lại an lạc cho mình và cho người khác ngay trong đời sống hiện tại
Tất cả Giới luật đức Thế Tôn đều là những chuẩn mực đạo đức làm nền tảngcho sự giải thoát mọi khổ đau, cắt đức mọi tham ái ràng buộc Vì thế Giới luậtđóng vai trò quan trọng trong việc tu tập giải thoát Hành trì Giới luật là làm theonhững lời đức Phật dạy, luôn luôn sống với sự chế ngự của Giới Bổn như Ngàitừng khuyên cáo: “Này các Tỳ kheo, ta khuyến cáo các người hướng đến Sa mônhạnh, chớ có từ bỏ mục đích này, khi đang còn công việc phải làm hơn nữa? Thânmạng của chúng ta phải được thanh tịnh, phải hộ trì các căn, biết tiếc độ trong ănuống, chú tâm cảnh giác, chánh niệm tỉnh giác…”