TRƯỜNG KHOA TIỂU LUẬN Chủ đề VẤN ĐỀ DÂN TỘC VÀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH DÂN TỘC CỦA TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU HIỆN NAY Họ tên học viên Lớp , 2021 MỤC LỤC Trang MỞ ĐẦU 1 NỘI DUNG 2 Chương 1 Lý luận chung về v.
Trang 1KHOA …
TIỂU LUẬNChủ đề: VẤN ĐỀ DÂN TỘC VÀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH DÂN TỘC CỦA TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU HIỆN NAY
Họ tên học viên:……….
Lớp:……….,
- 2021
Trang 21.2 Quan điểm giải quyết vấn đề dân tộc ở Việt Nam 4
Chương 2 Thực trạng việc thực hiện chính sách dân tộc của tình
2.1 Khái quát tình hình đồng bào dân tộc thiểu số trên
2.2 Các chương trình, đề án, chính sách của tỉnh đối với
2.3 Những khó khăn còn tồn tại trong việc thực hiện chính
sách dân tộc của tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu hiện nay 13
Chương 3 Giải pháp thực hiện chính sách dân tộc của tỉnh Bà
3.1 Tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến các chủ
trương, chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước 153.2 Tiếp tục triển khai và thực hiện có hiệu quả các văn
bản chỉ đạo của Trung ương về công tác dân tộc 17
3.3
Cụ thể hóa chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước thành các chương trình, dự án, các kế hoạch phát triển kinh tế xã hội ở địa phương và cơ sở 183.4 Phát huy vai trò của các cấp, các ngành trong thực
hiện chính sách dân tộc ở địa phương 20
2
Trang 3MỞ ĐẦU
Trong quá trình lãnh đạo cách mạng nước ta, Đảng Cộng sản Việt Nam
đã vận dụng một cách sáng tạo những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về dân tộc và quan hệ dân tộc, đề ra chính sáchnhằm đoàn kết các dân tộc anh em trong cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộctrước đây và trong sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước
Mác-Hiện nay, trước những diễn biến phức tạp, khó lường của tình hình thếgiới, các thế lực thù địch đang tìm đủ mọi cách lợi dụng vấn đề dân tộc, tôngiáo, nhân quyền để chống phá cách mạng nước ta, vì thế, cần có sự nhậnthức đầy đủ, sâu sắc hơn về vấn đề dân tộc và tổ chức thực hiện tốt công tácdân tộc nhằm xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc vì sự nghiệp dân giàunước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh
Tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu thuộc khu vực miền Đông Nam bộ, địa phươngnày hiện có 7.434 hộ đồng bào dân tộc thiểu số, với 31.722 nhân khẩu, chiếm3% dân số toàn tỉnh (1.076.000 người) với 28 thành phần dân tộc thiểu số nhưTày, Thái, Mường, Khơ me, Hoa, Nùng, Chăm, Cơ ho, Ra Glai, Cơ tu…
Trong những năm gần đây, nhiều chính sách an sinh, phát triển kinh tếgiành riêng cho người đồng bào đã được triển khai đến từng xóm ấp, bản làng,nhờ đó đời sống kinh tế và tinh thần của bà con đã được cải thiện, nâng cấp vàkhông ngừng phát triển Các giải pháp hỗ trợ giành cho người đồng bào như hỗtrợ đất sản xuất, hỗ trợ về vốn, cây con giống, công tác đào tạo nghề, tạo việc làm,nâng cao thu nhập, xoá đói giảm nghèo, chăm sóc sức khoẻ, hỗ trợ về giáo dục…đều được thực hiện thường xuyên và phát huy hiệu quả Bên cạnh những thànhtựu đã đạt được, công tác dân tộc ở tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu cũng gặp không ít khókhăn Lợi dụng sự thiếu thốn về đời sống vật chất, đặc điểm tâm lý, trình độ nhậnthức, phong tục tập quán của đồng bào dân tộc thiểu số và những yếu kém, sơ hởtrong quá trình thực hiện chính sách dân tộc, tôn giáo của Đảng và Nhà nước ta,các thế lực thù địch đã tăng cường hoạt động tuyên truyền, phát triển đạo tráiphép, kích động tư tưởng chia sẽ khối đoàn kết dân tộc Do đó, nghiên cứu vấn đề
Trang 4“Vấn đề dân tộc và thực hiện chính sách dân tộc của tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu
hiện nay ” làm đề tài tiểu luận có ý nghĩa cả về lý luận và thực tiễn sâu sắc.
NỘI DUNG CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ VẤN ĐỀ DÂN TỘC 1.1 Dân tộc và vấn đề dân tộc
Hiện nay, khái niệm dân tộc thường được hiểu theo hai nghĩa phổ biến
như sau:
Thứ nhất, dân tộc (tộc người) là một cộng đồng người có mối liên hệchặt chẽ và bền vững, có chung nguồn gốc, đặc điểm sinh hoạt kinh tế, cóngôn ngữ riêng và những nét văn hóa đặc thù, có ý thức tự giác tộc người Vídụ: dân tộc Kinh (Việt), dân tộc Tày, dân tộc Thái ở Việt Nam…
Thứ hai, dân tộc (quốc gia dân tộc) là một cộng đồng người ổn địnhđược hình thành trong lịch sử; trên cơ sở cộng đồng về lãnh thổ, ngôn ngữ,kinh tế, văn hoá, có chung ý thức về dân tộc và tên tự gọi của dân tộc mình
Ví dụ: dân tộc Việt Nam (có 54 tộc người), dân tộc Trung Hoa, dân tộc Lào…
Dân tộc là cộng đồng người bao gồm nhiều thành phần, tộc người sinhsống trong một quốc gia mang tính ổn định và có sự cấu kết bền vững Tính
ổn định, bền vững đó được xác định trên các cơ sở: Cùng chung một lãnh thổ,cùng nhau lao động sản xuất để phát triển Dân tộc có chung một phương thứcsản xuất sinh hoạt kinh tế, cộng đồng về kinh tế là cơ sở liên kết các bộ phận,các thành viên của dân tộc lại, tạo nền tảng vững chắc của dân tộc Dân tộc cóngôn ngữ chung làm công cụ giao tiếp giữa các thành viên của cộng đồngtrong lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hoá, tình cảm … Dân tộc có chung mộtnền văn hoá, tinh thần, phản ánh sự ổn định, bản sắc văn hoá truyền thống củamỗi dân tộc
Lịch sử phát triển của nhân loại đã chứng minh rằng, không phảingay từ khi loài người xuất hiện là có dân tộc, mà dân tộc là sản phẩm củaquá trình phát triển lâu dài trong lịch sử loài người, khi điều kiện kinh tế -
4
Trang 5xã hội phát triển đến giai đoạn nhất định thì dân tộc mới hình thành Trướckhi cộng đồng dân tộc xuất hiện, loài người đã trải qua những hình thứccộng đồng từ thấp đến cao như: thị tộc, bộ lạc, bộ tộc Theo V.I.Lênin, ởcác nước phương Tây chỉ khi chủ nghĩa tư bản ra đời, cộng đồng bộ tộcmới phát triển thành dân tộc Bởi vì, chỉ có trên cơ sở phát triển của lựclượng sản xuất, nền kinh tế sản xuất hàng hoá tiền tệ mới có thể ra đời vàlàm xuất hiện thị trường dân tộc Lúc đó, hàng rào ngăn cách giữa cácvùng, các bộ tộc lần lượt sụp đổ, tình trạng cát cứ địa phương bị phá vỡ vàdân tộc xuất hiện hoặc là trên cơ sở một bộ tộc, hoặc là do sự hợp nhấtnhiều bộ tộc Loại hình dân tộc đó do giai cấp tư sản thống trị, nên đượcgọi là dân tộc tư sản Ở một số nước phương Đông, cộng đồng dân tộc xuấthiện trước chủ nghĩa tư bản do có sự thúc đẩy của nhiều yếu tố cố kết tựnhiên và xã hội trong quá trình đấu tranh dựng nước và giữ nước Loại hìnhdân tộc này được gọi là dân tộc tiền tư bản.
Trên con đường phát triển của lịch sử từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa
xã hội, loại hình dân tộc tư sản và dân tộc tiền tư bản sẽ trải qua sự cải biếnsâu sắc để trở thành dân tộc xã hội chủ nghĩa trong đó giai cấp công nhânđóng vai trò lãnh đạo, nhân dân lao động trở thành chủ thể tích cực quyết địnhmọi vấn đề liên quan đến vận mệnh và sự tiến bộ của dân tộc
Như vậy, dân tộc là một cộng đồng người ổn định hình thành nhân dânmột nước, có lãnh thổ, quốc gia, nền kinh tế thống nhất, quốc ngữ chung và có ýthức về sự thống nhất của mình, gắn bó với nhau bởi quyền lợi chính trị, kinh tế,truyền thống văn hoá và truyền thống đấu tranh chung trong suốt quá trình lịch
sử lâu dài.
Vấn đề dân tộc là vấn đề về mối quan hệ giữa các tộc người trong một quốcgia và giữa các quốc gia dân tộc với nhau trên tất cả các lĩnh vực kinh tế,chính trị, văn hoá, xã hội
Giải quyết vấn đề dân tộc thực chất là xác lập mối quan hệ công bằng,bình đẳng giữa các tộc người trong một quốc gia và giữa các quốc gia dân tộc
về các vấn đề: lãnh thổ, kinh tế, văn hoá, xã hội … Trong một quốc gia dân
Trang 6tộc có nhiều thành phần dân tộc thì các thành phần dân tộc đều bình đẳng nhưnhau, quyền bình đẳng đó phải được thể chế bằng pháp luật Quan hệ giữa cácquốc gia dân tộc với nhau là quan hệ bình đẳng đôi bên cùng có lợi, khôngcan thiệp vào công việc nội bộ của nhau Tuy nhiên, vấn đề dân tộc luôn gắnliền với vấn đề giai cấp, lợi ích của giai cấp, do đó, cách thức giải quyết vấn đềdân tộc trong các phong trào dân tộc đều mang tính giai cấp sâu sắc.
Sự ra đời và phát triển của chủ nghĩa tư bản đã làm nảy sinh hai xu hướngcủa phong trào dân tộc trong giải quyết vấn đề dân tộc Xu hướng thứ nhất, khichủ nghĩa tư bản ra đời xoá bỏ chế độ cát cứ phong kiến, hình thành một quốcgia dân tộc độc lập, thống nhất, có một Chính phủ, một hiến pháp, thị trườngthống nhất phục vụ cho sự phát triển của chủ nghĩa tư bản, kích thích đời sốngdân tộc và các phong trào dân tộc theo hướng tư bản chủ nghĩa Xu hướng thứhai, mở rộng tăng cường quan hệ kinh tế phá bỏ sự ngăn cách giữa các dân tộcbằng nhiều thủ đoạn khác nhau, trong đó có cả thủ đoạn vũ trang xâm lược thuộcđịa, đặt ách áp bức của chủ nghĩa thức dân cũ và mới lên các dân tộc thuộc địa
và phụ thuộc, chống lại các phong trào đấu tranh đòi độc lập dân tộc, điều đó tấtyếu dẫn đến mâu thuẫn đối kháng giữa chủ nghĩa thực dân, đế quốc với các dântộc thuộc địa, phụ thuộc ngày càng gay gắt
Trong xã hội xã hội chủ nghĩa, tình trạng bóc lột giai cấp dần dần đượcthủ tiêu, tình trạng áp bức dân tộc cũng dần mất theo Giai cấp công nhân, nôngdân, tầng lớp trí thức và các tầng lớp lao động khác thuộc các dân tộc trong mộtquốc gia cùng làm chủ Nhà nước, làm chủ xã hội Mối quan hệ giữa các dân tộctrong chế độ xã hội chủ nghĩa là các dân tộc xích lại gần nhau trên cơ sở tựnguyện và bình đẳng tạo điều kiện giúp đỡ nhau phát triển
Như vậy, vấn đề dân tộc có tầm quan trọng đặc biệt với tất cả các quốcgia trên thế giới, là vấn đề hết sức nhạy cảm và phức tạp Giải quyết đúng haysai vấn đề dân tộc sẽ quyết định đến sự ổn định, phát triển hay khủng hoảng,tan rã của một quốc gia dân tộc Chỉ có đứng vững trên lập trường giai cấpcông nhân mới có thể giải quyết đúng đắn vấn đề dân tộc
1.2 Quan điểm giải quyết vấn đề dân tộc ở Việt Nam
6
Trang 7Tình hình dân tộc ở Việt Nam
Nước ta gồm 54 dân tộc Dân tộc đông nhất là dân tộc Kinh, chiếm87% dân số, 53 dân tộc còn lại chiếm 13% dân số 10 dân tộc có số dân từdưới 1 triệu đến 100 ngàn là: Tày, Nùng, Thái, Mường, Khơme, Mông, Dao,Giarai, Bana, Êđê; 20 dân tộc có số dân dưới 100 ngàn, 16 dân tộc có số dân
từ dưới 10 ngàn đến 1000, 6 dân tộc có số dân dưới 1000 như: Cống, Si La,Péo, Rơ Măm, Ơ Đu, Brâu
Đồng bào các dân tộc thiểu số ở nước ta cư trú trên địa bàn rộng lớnchiếm ¾ diện tích đất nước, chủ yếu là miền núi, trên toàn tuyến biên giới,một số ở đồng bằng và hải đảo Ở nhiều tỉnh như Cao Bằng, Lạng Sơn, HàGiang, Tuyên Quang, Yên Bái, Lào Cai, Sơn La, Lai Châu…, các dân tộcthiểu số chiếm hơn 70% dân số, trong đó Cao Bằng khoảng 92% Tình trạng
cư trú xen kẽ ngày càng tăng là một trong những nét nổi bật của tình hình dântộc ở nước ta trước kia cũng như hiện nay Tình trạng đó ngày càng tăng Do
đó, sự thống nhất hữu cơ giữa các dân tộc và quốc gia trên mọi mặt của đờisống xã hội ngày càng được củng cố và phát triển
Tuy gồm 54 dân tộc, nhưng yếu tố liên kết tạo nên tính cộng đồngchung quốc gia đạt tới mức độ bền vững, tính cộng đồng đó được hình thành,củng cố trong suốt chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước, hình thành nêntruyền thống anh hùng cách mạng, chủ nghĩa yêu nước Việt Nam
Từ khi có sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, tính cộng đồngdân tộc được củng cố phát triển lên một tầm cao mới: dân cư các dân tộc ýthức rằng, sự nghiệp giành và giữ vững nền độc lập thống nhất Tổ quốc, côngcuộc cải tạo xã hội cũ và xây dựng xã hội mới là sự nghiệp chung, quyền lợithiêng liêng của tất cả các dân tộc, vì vậy tinh thần đoàn kết toàn dân, đoànkết dân tộc ngày càng được củng cố phát triển
Thực trạng giải quyết vấn đề dân tộc ở Việt Nam
“Quyền bình đẳng, đoàn kết giữa các dân tộc ngày càng được củng cố;nền kinh tế nhiều thành phần từng bước được hình thành và phát triển; các lĩnhvực xã hội như giáo dục và đào tạo, y tế, văn hóa đạt được những kết quả quan
Trang 8trọng; hệ thống chính trị ở các vùng dân tộc miền núi bước đầu được tăngcường; an ninh quốc phòng được giữ vững Bên cạnh đó vẫn còn tồn tại một sốhạn chế như: Kinh tế ở vùng đồng bào dân tộc còn chậm phát triển, lúng túngtrong chuyển dịch cơ cấu, tập quán canh tác lạc hậu; chất lượng sản phẩmthấp, tiêu thụ khó; tình trạng du canh, du cư, di dân tự do diễn biến phức tạp,tình trạng thiếu đất canh tác khá trầm trọng; kết cấu hạ tầng thấp kém Về xãhội, giáo dục và văn hoá, tỷ lệ đói nghèo còn cao, 70% số họ đói nghèothuộc khu vực miền núi; chênh lệch về mức sống giữa các vùng, các dân tộcngày càng gia tăng, Gia Lai gấp 4,29 lần, Kon Tum 1,95 lần, Hà Giang 2,1lần; chất lượng hiệu quả giáo dục đào tạo còn thấp; chăm sóc sức khoẻ chođồng bào gặp nhiều khó khăn; một số tập tục lạc hậu đang có xu hướng pháttriển, bản sắc văn hoá đang bị mai một Về chính trị: hệ thống chính trị cơ sởvùng đồng bào dân tộc còn yếu; trình độ cán bộ thấp, 10 dân tộc chưa có cán
bộ trình độ đại học, 5 dân tộc chưa có cán bộ trung học, 40 dân tộc chưa cócán bộ sau đại học; hoạt động của cấp uỷ, chính quyền và đoàn thể ở nhiềunơi hiệu quả chưa cao; một số nơi tôn giáo phát triển không bình thường”1
Quan điểm giải quyết vấn đề dân tộc ở Việt Nam hiện nay
Trên cơ sở lý luận Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đềdân tộc, Đảng xác định 5 quan điểm chính sách giải quyết vấn đề dân tộc
Một là, vấn đề dân tộc và đoàn kết dân tộc là vấn đề chiến lược
cơ bản, lâu dài, đồng thời là vấn đề cấp bách hiện nay của cách mạngViệt Nam
Hai là, các dân tộc trong đại gia đình Việt Nam bình đẳng, đoàn kết,
tương trợ, giúp nhau cùng phát triển, cùng nhau phấn đấu thực hiện thắng lợi
sự nghiệp công nghiệp hoá – hiện đại hoá đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổquốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa Kiên quyết đấu tranh với mọi âm mưu thủđoạn chia rẽ dân tộc của các thế lực thù địch
Ba là, phát triển toàn diện chính trị, kinh tế, văn hoá xã hội và an ninh
– quốc phòng trên địa bàn vùng dân tộc và miền núi; gắn tăng trưởng kinh tế
1 1 Văn kiện Hội Nghị BCHTW lần thứ bảy khoá IX, Nxb CTQG, H 2003.
8
Trang 9với giải quyết các vấn đề xã hội, thực hiện tốt chính sách dân tộc; quan tâmphát triển, bồi dưỡng nguồn lực; chăm lo xây dựng dội ngũ cán bộ dân tộcthiểu số, giữ gìn và phát huy những giá trị, bản sắc văn hoá truyền thống cácdân tộc thiểu số trong sự nghiệp phát triển chung của cộng đồng các dân tộcViệt Nam thống nhất.
Bốn là, ưu tiên đầu tư phát triển kinh tế – xã hội các vùng dân tộc miền
núi, khai thác có hiệu quả tiềm năng thế mạnh của từng vùng, đi đôi với bảo
vệ bền vững môi trường, sinh thái, phát huy nội lực tinh thần tự lực, tự cườngcủa đồng bào các dân tộc, đồng thời tăng cường sự hỗ trợ của Trung ương và
sự tương trợ, giúp đỡ của các địa phương trong cả nước
Năm là, công tác dân tộc và thực hiện chính sách dân tộc là nhiệm vụ
của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, của các, cấp các ngành, của toàn bộ hệthống chính trị
- Mục tiêu cụ thể của công tác dân tộc
Về kinh tế, phát triển kinh tế, xoá đói, giảm nghèo, nâng cao mức sốngcủa đồng bào dân tộc
Về văn hoá, giáo dục, y tế, nâng cao trình độ dân trí, chăm sóc sức
khoẻ, nâng cao mức hưởng thụ văn hoá của đồng bào dân tộc
Về đội ngũ cán bộ và hệ thống chính trị, xây dựng đội ngũ cán bộ dân
tộc thiểu số tại chỗ có phẩm chất và năng lực; củng cố hệ thống chính trị ở
cơ sở trong sạch, vững mạnh
Về an ninh, quốc phòng, giữ vững an ninh, quốc phòng ở vùng dân tộc
và miền núi; kết hợp kinh tế - xã hội với đảm bảo an ninh, quốc phòng ở cácđịa bàn xung yếu, ngăn chặn việc lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo để pháhoại khối đại đoàn kết giữa các dân tộc, làm mất ổn định xã hội
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VIỆC THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH DÂN TỘC CỦA TÌNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU
2.1 Khái quát tình hình đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh
Bà Rịa – Vũng Tàu
Trang 10Tỉnh Bà – Rịa Vũng Tàu nằm ở khu vực miền Đông Nam Bộ, phía Tâygiáp thành phố Hồ Chí Minh, phía Bắc giáp tỉnh Đồng Nai, Phía Đông giáptỉnh Bình Thuận, phía Nam giáp biển Đông, với 305 km chiều dài bờ biển,trong đó có nhiều bãi tắm đẹp Đây là điều kiện thuận lợi để phát triển mạnh
mẽ về du lịch biển đảo Người dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu có đời sống vănhóa, phong tục tập quán, nghệ thuật tôn giáo, tín ngưỡng… rất phong phú và
đa dạng, trong đó tiêu biểu nhất là yếu tố văn hóa biển
Là vùng đất có những của biển kín gió rất thuận lợi về giao thông đườngthủy, Bà Rịa – Vũng Tàu là nơi lưu dân người Việt từ miền Trung vào khai phásớm nhất Nam Bộ, khoảng thế kỷ XVII Từ đó cho đến giữa thế kỷ XIX, bộ mặtcủa vùng đất Bà Rịa – Vũng Tàu đã có những thay đổi sâu sắc Từ một nơihoang vu, biển cả mênh mông, đồi núi, rừng rậm đã trở thành ruộng đồng, làngmạc trù phú Tài nguyên đất, rừng, biển đã được khai thác để phục vụ cuộc sốngngày càng sung túc hơn của con người Quá trình khẩn hoang lập ấp cũng là thờigian hình thành các tín ngưỡng làm chỗ dựa về tinh thần, vừa đem đến cho cưdân Nơi đây từ rất sớm, tín ngưỡng dân gian vừa là chỗ dựa tinh thần, vừa đemđến cho các cư dân miền biển Bà Rịa – Vũng Tàu một không gian hội hè saunhững ngày lao động mưu sinh
Bà Rịa – Vũng Tàu nằm ở vị trí rất đặc biệt là cửa ngõ của các tỉnhmiền Đông Nam Bộ hướng ra biển Đông, có ý nghĩa chiến lược về đườnghàng hải quốc tế, có hệ thống cảng biển lớn là đầu mối tiếp cận với các nướctrong khu vực Đông Nam Á và thế giới Nguồn tài nguyên thiên nhiên phongphú, đa dạng là tiềm năng để phát triển nhanh và toàn diện các ngành kinh tếnhư: dầu khí, cảng và vận tải biển, sản xuất - chế biến hải sản và đặc biệt là
du lịch… Có giao thông đường bộ, đường biển, đường hàng không phát triểnkhá đồng bộ… là điều kiện thuận lợi để giao lưu, phát triển du lịch, thươngmại và hợp tác đầu tư trong và ngoài nước
Hiện nay, Tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu có 8 đơn vị hành chính cấp huyện,trong đó có 2 thành phố, 01 thị xã, 05 huyện với 82 xã, phường thị trấn (trong
đó có 3 xã thuộc khu vực III đặc biệt khó khăn; 11 thôn, ấp đặc biệt khó
10
Trang 11khăn) Đến thời điểm năm 2018 trên địa bàn tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu có 28dân tộc thiểu số với 7434 hộ, 31.722 nhân khẩu, chiếm gần 3% dân số toàntỉnh Các dân tộc thiểu số bao gồm: Hoa (2469 hộ, 10.045 nhân khẩu), Châu
Ro (2.319 hộ, 8.406 nhân khẩu), Khmer (708 hộ, 2.515 nhân khẩu) Tày (350
hộ, 1.308 nhân khẩu), Nùng (278 hộ, 1052 nhân khẩu), Mường (210 hộ, 776nhân khẩu), Chăm (57 hộ, 227 nhân khẩu), Thái (55 hộ, 221 nhân khẩu), SánDìu (36 hộ, 130 nhân khẩu), Thổ (19 hộ, 70 nhân khẩu), HMông (1 hộ, 2 nhânkhẩu), Ê Đê (8 hộ, 36 nhân khẩu), Cơ ho (1 hộ, 8 nhân khẩu), Xtiêng (5 hộ,
33 nhân khẩu), Dao (9 hộ, 51 nhân khẩu), Sán Chay (11 hộ, 33 nhân khẩu),Hrê (3 hộ, 13 nhân khẩu), Mnông (1 hộ, 6 nhân khẩu), Co (2 hộ, 4 nhânkhẩu), Cơ Lao (3 hộ, 9 nhân khẩu), Ra-Glai (3 nhân khẩu), Bru-Vân Kiều (1
hộ, 1 khẩu), Chu – Ru (1 khẩu), La Chí (1 khẩu), Pà Thẻn (1 nhân khẩu), Ngái(1 nhân khẩu), Ơ Đu ( 1 nhân khẩu), người nước ngoài (26 hộ, 86 nhân khẩu),người Kinh có vợ hoặc chồng là đồng bào dân tộc (22 hộ, 508 nhân khẩu).Trong số 28 dân tộc thiếu số dân tộc Hoa có số lượng đông nhất; dân tộcChâu Ro - dân tộc có thời gian cư trú, sinh sống lâu đời nhất được xem là dântộc bản địa; 5 dân tộc có trên 1000 người, 25 dân tộc còn lại có dưới 1000người Đồng bào các dân tộc chủ yếu di cư từ các vùng, miền khác nhau đếnđịnh cư, sinh sống xen kẽ với đồng bào người Kinh và tập trung chủ yếu ở cáchuyện Xuyên Mộc, Châu Đức, thị xã Phú Mỹ và thành phố Vũng Tàu
2.2 Kết quả thực hiện các chương trình, đề án, chính sách của Trung ương và địa phương đối với đồng bào dân tộc
Trong thời gian qua, thực hiện các quan điểm chỉ đạo của Trung ương, căn
cứ thực trạng của địa phương Tỉnh ủy Bà Rịa – Vũng Tàu đã xây dựng Chươngtrình hành động số 45-Ctr/TU, ngày 04/6/2003 thực hiện Nghị quyết 24-NQ/TWkhóa IX về công tác dân tộc; Kế hoạch số 93-KH/TU ngày 02/4/2010 thực hiệnKết luận 57-KL/TW ngày 03/11/2009 của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Nghịquyết Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương khóa IX Nhằm cụ thể hóacác quan điểm chỉ đạo nêu trên của Trung ương, Tỉnh Ủy, Uỷ ban nhân dân tỉnh
Bà Rịa – Vũng Tàu đã ban hành nhiều văn bản triển khai thực hiện, ưu tiên bố trí
Trang 12nguồn kinh phí thực hiện các chính sách dân tộc đưa vào kế hoạch phát triển kinh
tế xã hội hàng năm của tỉnh đó là:
Đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng: Thực hiện Chương trình 135 giai đoạn
I, II, III và Đề án phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu sốcủa tỉnh Từ năm 1999 đến năm 2018 Ủy Ban Nhân dân tỉnh đã bố trí 664.398triệu đồng để đầu tư phát triển hạ tầng thiết yếu vùng đồng bào dân tộc, vùngđặc biệt khó khăn
Chính sách hỗ trợ trực tiếp: Từ năm 2003 đến nay tỉnh đã bố trí113.329 triệu đồng để thực hiện các chính sách, Chương trình 134, 135,Chương trình mục tiêu quốc giá và Đề án của tỉnh về phát triển kinh tế - xãhội vùng đồng bào dân tộc thiểu số Nguồn vốn hỗ trợ trực tiếp tập trung vàocác nội dung như xây mới, sửa chữa nhà ở, xây công trình vệ sinh, lắp đặtđiện, nước sinh hoạt cho các hộ dân
Chính sách hỗ trợ phát triển sản xuất: Tập trung chủ yếu vào các nộidung hỗ trợ đất sản xuất, giống vật nuôi và cây trồng, vay vốn, mở các lớp tậphuấn chuyển giao khoa học kỹ thuật trồng trọt và chăn nuôi Thời gian quathực hiện Đề án phát triển kinh tế - xã hội cho đồng bào dân tộc thiểu số giaiđoạn I và giai đoạn II của tỉnh có 46 hộ dân được hỗ trợ đất sản xuất với16,33ha (bình quân mỗi hộ được 3.550 m2); có 2252 hộ nghèo được hỗ trợ vềgiống vật nuôi, cây trồng với số tiền 13.252 triệu đồng Chương trình 135 giaiđoạn II và giai đoạn III của Chính phủ đã hỗ trợ cho 1.556 lượt hộ nghèo trênđịa bàn các xã, thôn, ấp đặc biệt khó khăn với tổng kinh phí 14.615 triệuđồng Thực hiện quyết định 32/2007/QĐ-TTg ngày 05 tháng 3 năm 2007 đã
hỗ trợ 29 hộ nghèo đồng bào dân tộc đặc biệt khó khăn có nhu cầu vạy vốnvới kinh phí 145 triệu đồng
Chính sách phát triển giáo dục và đào tạo: phát triển giáo dục đào tạocho con em đồng bào người kinh cũng như đồng bào các dân tộc thiểu sốđược xem làm nhân tố quan trọng để nâng cao dân trí, cải thiện chất lượngnguồn nhân lực, đảm bảo phát triển bền vững Hiện nay trên toàn tỉnh khôngcòn tình trạng học ca ba, trường lớp, phòng học được đầu tư theo hướng
12