Quá trình hình thành Cuối chiến tranh thế giới thứ hai, các nước đồng minh bắt đầu nghiên cứu việctrợ giúp các nước phục hồi kinh tế sau chiến tranh, 44 nước trong đó có Liên xôcũ đã tha
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA KINH TẾ - QUẢN TRỊ KINH DOANH
¾¾¾¾¾¾¾¾¾¾¾¾¾
BÀI TẬP NHÓM MÔN TÀI CHÍNH PHÁT TRIỂN
NHỮNG THÀNH CÔNG VÀ THẤT
BẠI CỦA IMF
Th.s TRẦN BÁ TRÍ 1 Trương Tấn Khoa 4073933
2 Tống Ngọc Minh Luân 4073946
3 Trác Minh Phú 4074116
4 Đặng Duy Tân 4074129
Trang 2Cần Thơ – 2010
MỤC LỤC Trang
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ IMF 3 1 Quá trình hình thành và phát triển của IMF 3 1.2 Quá trình hình thành 3 1.2 Các mục tiêu của IMF 4 1.3 Nguồn vốn của IMF 5
2 Cơ cấu tổ chức 5 CHƯƠNG 2: NHỮNG THÀNH CÔNG CỦA IMF 8 2.1 IMF là trung tâm hỗ trợ và đào tạo kỹ thuật 8 2.2 Cho vay ưu đãi đối với các nước nghèo 8 2.3 IMF: Phao cứu sinh trong cuộc khủng hoảng kinh tế 2009 10
CHƯƠNG 3: NHỮNG THẤT BẠI CỦA IMF 13
3.1 Không làm tốt vai trò dự báo khủng hoảng 13
3.2 Phụ thuộc vào Mỹ và một số nước Châu Âu quá nhiều 15
3.3 Lạc quan quá mức 15
3.4 Tiêu chuẩn kép 16
3.5 Đối mặt với khả năng hết tiền 16
CHƯƠNG 4: NHỮNG VẤN ĐỀ ĐƯỢC KỲ VỌNG Ở IMF 18
4.1 Những sự thay đổi phù hợp 18
4.2 Đối mặt với thách thức 20
Trang 3CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ IMF
1 Quá trình hình thành và phát triển của IMF
1.1 Quá trình hình thành
Cuối chiến tranh thế giới thứ hai, các nước đồng minh bắt đầu nghiên cứu việctrợ giúp các nước phục hồi kinh tế sau chiến tranh, 44 nước (trong đó có Liên xôcũ) đã tham dự Hội nghị tài chính và tiền tệ của Hội quốc liên tổ chức tại BrettonWoods (Mỹ) từ 1-22/7/1944 để soạn thảo điều lệ Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF)
Ngày 27/12/1945, điều lệ thành lập IMF đã được 29 nước ký kết Ngày 1/3/1947 IMF bắt đầu hoạt động và tiến hành cho vay khoản đầu tiên ngày 8/5/1947.
Trụ sở chính của IMF ở Washington D.C và có hai chi nhánh tại Paris và Geneve Một nước có thể trở thành thành viên của IMF nếu nó sẵn sàng gắn bó, trung thành với các chức năng và nguyên tắc chủ đạo của IMF.
Từ l945 đến nay con số thành viên của IMF lên tới 184 Quốc gia.
Việt Nam gia nhập IMF vào ngày 21/9/1956 Hạn mức đóng góp cổ phầncủa Việt Nam là 329.1 triệu SDR, trị giá khoảng 475.3 triệu USD Nghĩa vụ nợtài chính của Việt Nam đối với IMF tính đến ngày 30/11/2005 khoảng 148,36triệu SDR
Số lượng thành viên tăng đều đặn, không có biến động chứng tỏ uy tín củaIMF theo năm tháng là không thay đổi và ngày càng được củng cố
Trang 4Biểu đồ :
Sự phát triển về số lượng thành viên của IMF 1945-2002
( số lượng nước)
Nguồn: Quỹ tiền tệ quốc tế là gì, Viện nghiên cứu IMF, Tháng 6.
Theo nhận định chung thì IMF được xem là một tổ chức uy tín lớn có tínhđộc lập cao và cho rằng Quỹ đề ra những chính sách kinh tế tối ưu cho các nướcthành viên theo đuổi và áp đặt các quyết định cho các nước thành viên và sau đógiám sát việc thực hiện Nhưng trái lại, chính các nước thành viên đã định ra cácchính sách mà IMF phải thực hiện Các mệnh lệnh đi từ Chính phủ các nướcthành viên đến IMF mà không có lệnh ngược lại Khi đưa ra các quy định vềnghĩa vụ của từng thành viên đối với Quỹ hoặc đưa ra những điều mục của hợpđổng cho vay với một thành viên nào đó, IMF không tự hành động mà chỉ đóngvai trò trung gian giữa ý kiến đại đa số thành viên của quỹ đối với các nước thànhviên đó
1.2 Các mục tiêu của IMF:
Thúc đẩy hợp tác quốc tế thông qua một thiết chế thường trực có tráchnhiệm cung cấp một bộ máy tư vấn và cộng tác nhằm giải quyết các vấnđề tiền tệ quốc tế
Tạo điều kiện mở rộng và tăng trưởng cân đối hoạt động mậu dịch quốc tế
và nhờ đó góp phần vào việc tăng cường và duy trì ở mức cao việc làm,thu nhập thực tế và việc phát triển nguồn lực sản xuất của tất cả các thànhviên, coi đó là mục tiêu quan trọng nhất của chính sách kinh tế
Trang 5 Tăng cường ổn định ngoại hối nhằm duy trì một cách có trật tự hoạt độnggiao dịch ngoại hối giữa các thành viên và tránh việc phá giá tiền tệ đểcạnh tranh
Hỗ trợ việc thành lập một hệ thống thanh toán đa phương giữa các nướcthành viên và xoá bỏ các hạn chế về ngoại hối gây phương hại tới sự tăngtrưởng của mậu dịch quốc tế
Tạo niềm tin cho các nước thành viên bằng cách cung cấp cho họ nguồnlực dự trữ của quỹ được đảm bảo an toàn và tạo cơ hội cho họ sửa chữamất cân đối trong cán cân thanh toán quốc tế
Rút ngắn thời gian và giảm bớt mức độ cân bằng trong cán cân thanhtoán của các nước thành viên
1.3 Nguồn vốn của IMF:
Chủ yếu là vốn cổ phần của các nước thành viên và tích luỹ của IMF Banđầu, mức cổ phần đóng góp phụ thuộc vào tỷ trọng kim ngạch xuất nhập khẩucủa nước đó so với kim ngạch xuất nhập khẩu của thế giới Ngoài ra, trongtrường hợp cần thiết, IMF cũng có thể vay vốn trên thị trường tài chính quốc tế
để phục vụ cho các hoạt động của mình Đến ngày 31/8/2004, tổng vốn cổ phầncủa IMF là 311 tỷ USD
Giữa năm 2009 thì IMF đang thực hiện hình thức hiệp định vay song phươngnhằm củng cố thêm nguồn vốn cho vay các nước thành viên để đối phó với cuộckhủng hoảng kinh tế toàn cầu Đồng thời, IMF cũng lần đầu tiên phát hành kỳphiếu có trả lãi để bổ sung nguồn vốn cho vay của mình Mục tiêu là tăng nguồnvốn của Quỹ lên 750 tỷ USD
Các nước thành viên có cổ phần lớn trong IMF là Mỹ (17,46%), Đức (6,11%),Nhật bản (6,26%), Anh (5,05%) và Pháp (5,05%)
2 Cơ cấu tổ chức
Cơ cấu hiện hành của IMF gồm có Hội đồng Quản trị, Hội đồng Điều
hành, Tổng Giám đốc, các Phó Tổng Giám đốc và các cán bộ Quỹ
Trang 6Cơ quan lãnh đạo cao nhất của IMF là Hội đồng quản trị Hội đồng quảntrị gồm đại diện của các nước thành viên và do mỗi nước bổ nhiệm, 5 năm 1 lần.Hiện nay IMF có 182 ủy viên ban quản trị, mỗi ủy viên đại diện cho 1 nước khácnhau Hội đồng quản trị họp mỗi năm 1 lần Trong kỳ họp, Hội đồng quản trị phêchuẩn báo cáo hàng năm về hoạt động của IMF, xem xét việc kết nạp thành viênmới và khai trừ thành viên ra khỏi tổ chức, xem xét việc thay đổi vốn pháp định
Cơ quan chấp hành của IMF là Hội đồng giám đốc (còn gọi là Hội đồngđiều hành) Hội đồng giám đốc gồm 22 giám đốc chấp hành trong đó 6 giám đốc
do 5 nước có mức đóng góp lớn nhất và Arập xêút bổ nhiệm, 16 giám đốc do Hộinghị toàn thể bầu ra có tính đến khu vực địa lý
Ủy ban lâm thời (Imterm Committee) Hội đồng quản trị của IMF là cơquan tư vấn về các vấn đề quan hệ tiền tệ được thành lập tháng 10 năm 1974.Thành viên của Ủy ban lâm thời là các Bộ trưởng Tài chính của 22 thành viên.Nhiệm vụ chính của Ủy ban lâm thời là kiểm tra việc quản lý hệ thống tiền tệ thếgiới và kiến nghị với Hội đồng quản trị Nếu Hội đồng quản trị thấy cần thiết, cóthể cải tổ Ủy ban lâm thời thành cơ quan thường trực có quyền thông qua nghịquyết
Một Ủy ban khác là Ủy ban phát triển (Development Committee), phốihợp giữa IMF và ngân hàng phát triển thế giới cố vấn cho Hội đồng quản trị vềnhững nhu cầu đặc biệt của nước nghèo
Bởi vì các ủy viên của Hội đồng quản trị và các ủy viên của Hội đồnggiám đốc đều bận bịu với công việc ở nước mình nên họ chỉ gặp mặt trong cáccuộc họp định kỳ hàng năm để cùng giải quyết các vấn đề của IMF
IMF có khoảng 2600 nhân viên, đứng đầu là Giám đốc điều hành, đồngthời cũng là Chủ tịch Hội đồng điều hành (hội đồng tự bầu chủ tịch của mình).Theo truyền thống, Giám đốc điều hành là người Châu Âu, nếu không thì cũngphải là người Mỹ Hiện nay, Tổng giám đốc IMF là ông Michel Camdessus quốctịch Pháp, nhận chức tháng 1/1992, phó tổng giám đốc là Richard Erb người Mỹ.Nhân viên của IMF là người của khoảng 120 nước và đa phần là nhà kinh tế học,song cũng có cả các nhà thống kê, bác học, các chuyên gia về tài chính côngcộng và thuế khoá, các nhà ngôn ngữ học, nhà văn và các nhân viên phục vụ Ða
Trang 7số các nhân viên đều hoạt động tại trụ sở nhỏ ở Paris, Geneve, Tokyo, tại trụ sởcủa Liên hợp quốc ở NewYork hoặc tại các văn phòng của IMF được thành lậptạm thời ở các nước thành viên Khác với các giám đốc chấp hành là những đạidiện của từng nước thành viên, các nhân viên của Quỹ chỉ là nhân viên quốc tế,
họ có trách nhiệm thực thi chính sách của IMF chứ không đại diện cho lợi íchcủa bất cứ quốc gia nào
CHƯƠNG 2: NHỮNG THÀNH CÔNG CỦA IMF
Trang 82.1 IMF là trung tâm hỗ trợ và đào tạo kỹ thuật
IMF đã thành lập được các chương trình hỗ trợ và đào tạo kỹ thuật cho cácnước thành viên thường được IMF cung cấp miễn phí nhằm giúp những nước nàycủng cố khả năng thiết lập và thực hiện các chính sách hiệu quả Hỗ trợ kỹ thuậtđược cung cấp trong một số lĩnh vực bao gồm chính sách tài khoá, chính sáchtiền tệ và tỷ giá hối đoái, giám sát và điều hành hệ thống tài chính ngân hàng vàcuối cùng là số liệu thống kê
Các hỗ trợ này được thực hiện bằng nhiều cách: có thể thông qua các nhânviên dưới hình thức công tác kỳ hạn hoặc bổ nhiệm chuyên gia từ vài tuần tới vàinăm (nếu việc sử dụng chuyên gia kéo dài, các nước có thể được yêu cầu đónggóp tài chính) IMF cũng cung cấp các hỗ trợ dưới hình thức báo cáo chẩn đoán
kỹ thuật (diagnostic), các khoá đào tạo, hội thảo, thảo luận chuyên đề, tư vấn trựctuyến từ trụ sở của Quỹ
Các hỗ trợ và đào tạo kỹ thuật được IMF triển khai theo vùng với haitrung tâm hỗ trợ kỹ thuật đã được thiết lập ở Thái Bình Dương và Caribbe Trungtâm thứ 3 được mở tại Đông Phi vào năm 2002 với mục tiêu có 4 trung tâm kháctại vùng Hạ Sahara châu Phi Bên cạnh việc cung cấp các khoá đào tạo tại trụ sở,IMF cũng tổ chức các khoá học và hội thảo tại các học viện hoặc chương trìnhcủa từng nước hoặc từng khu vực Hiện nay IMF có 4 trung tâm đào tạo tại cáckhu vực Châu Mỹ La tinh (Brazil), Châu Phi (Tunisia), Singapore và Áo IMFcòn tổ chức các chương trình đào tạo song phương, đặc biệt là với Trung Quốc
và Quỹ tiền tệ Arab (Arab Monetary Fund)
2.2 Cho vay ưu đãi đối với các nước nghèo:
IMF cũng hoạt động tích cực trong việc giảm đói nghèo cho các quốc giatrên thế giới một cách độc lập hoặc trong sự hợp tác với Ngân hàng thế giới WB(World Bank) và các tổ chức khác
Trong những năm qua, IMF đã phát triển được nhiều công cụ cho vay(facility) phù hợp với từng tình trạng của mỗi quốc gia thành viên Các nướcnghèo có thể vay với lãi suất ưu đãi hỗ trợ phát triển và xoá đói nghèo PRGF(Poverty Reduction and Growth Facility) và sáng kiến hỗ trợ các nước nghèođang mắc nợ nặng nề HIPC (Heavily Indebted Poor Countries Initiative) dựa trên
Trang 9các nghiên cứu về chiến lược giảm đói nghèo PRSP (Poverty Reduction StrategyPapers) do nước sở tại tiến hành dưới sự cố vấn của các tổ chức xã hội và các đốitác phát triển bên ngoài nhằm đưa ra một cơ cấu chính sách kinh tế xã hội toàndiện phục vụ cho việc thức đẩy phát triển và giảm đói nghèo Khả năng vay củacác nước thành viên phụ thuộc vào quota mà nước đó đóng góp cho IMF Trongnhững năm gần đây, các khoản vay lớn nhất của IMF được thực hiện qua PRGFvới lãi suất chỉ 0,5% và thời hạn từ 5,5 đến 10 năm.
Ngoài ra IMF có các khoản cho vay không ưu đãi được cung cấp thôngqua 4 công cụ: Stand-By Arrangements (SBA), Extended Fund Facility (EFF),Supplemental Reserve Facility (SRF) và Compensatory Financing Facility(CFF)
- SBA được thiết lập để giúp giải quyết khó khăn về cán cân thanh toán trongngắn hạn và cung cấp nguồn lực lớn nhất của IMF Độ dài của SBA thường từ 12đến 18 tháng với thời hạn hoàn trả từ 2 năm 3 tháng đến 4 năm
- EFF ra đời năm 1974 nhằm giúp đỡ các kho khăn kéo dài về cán cân thanh toánđòi hỏi cải cách cơ bản cơ cấu nền kinh tế Các khoản dàn xếp thông qua EFF vìvậy kéo dài từ 3 năm trở lên với thời hạn hoàn trả từ 4 năm rưỡi đến 7 năm
- SRF ra đời năm 1997 nhằm tài trợ ngắn hạn với quy mô lớn, xuất phát từ sựmất lòng tin thị trường đột ngột do các nền kinh tế mới nổi những năm 90 làmcác luồng vốn đầu tư bị rút về hàng loạt, đòi hỏi sự hỗ trợ tài chính lớn hơn bất
cứ hoạt động nào của IMF trước đó Thời hạn hoàn trả vốn từ 1 năm rưỡi đến 2năm, có thể yêu cầu gia hạn 6 tháng
- CFF được thiết lập năm 1963 nhằm hỗ trợ các nước có giá trị xuất khẩu giảmtạm thời hoặc chi phí nhập khẩu ngũ cốc tăng lên do giá hàng hoá thế giới biếnđộng Các điều kiện khác gần giống như công cụ SBA
Ngoài ra IMF cũng cung cấp các hỗ trợ khẩn cấp (emergency assistance)đối với các trường hợp gặp thảm hoạ thiên nhiên và xung đột vũ trang Một vàitrường hợp có thể được nhận các khoản cho vay ưu đãi Thời hạn hoàn trả từ 3năm 3 tháng đến 5 năm
2.3 IMF: Phao cứu sinh trong cuộc khủng hoảng kinh tế 2009
Trang 10IMF đã đạt được thành công ngoài dự kiến khi xây dựng gói kích thích tàikhóa quy mô tới 2% GDP toàn cầu, điều phối các chính sách vĩ mô trên bình diệntoàn cầu, khắc phục những yếu kém của hệ thống tài chính quốc tế trong thờigian vừa qua.
15/9/2008, Ngân hàng Mỹ Lehman Brothers sụp đổ chính thức báo hiệukhủng hoảng thế giới đã bắt đầu Với hệ lụy là hàng trăm ngân hàng phá sản chỉtrong thời gian ngắn, hàng vạn con mắt đã đổ dồn về phía IMF và World Bank Cũng tại thời điểm đó, một lần nữa người ta lại thấy xuất hiện những nhữngyêu cầu giải tán cơ quan tài chính lớn nhất thế giới này với lí do hoạt động kémhiệu quả…
4/10/2009, 1 năm sau cuộc khủng hoảng, Hội nghị thường niên của IMFđược tổ chức tại Istanbul, Thổ Nhĩ Kỳ nhưng với một vị thế khác hẳn trước đó.Bất chấp những phản đối kịch liệt mà tổ chức này gặp phải trong quá trình hoạtđộng, IMF đã vươn lên trở thành vị cứu tinh cho cuộc khủng hoảng Những nước
mà trước đây chỉ trích IMF mạnh mẽ nhất thì nay cũng tự nguyện chấp thuận sựdẫn dắt của tổ chức tài chính này Không ai được lợi từ khủng hoảng kinh tế,nhưng rõ ràng sau đợt suy thoái lần này, IMF chính là kẻ chiến thắng
Quả thật, "nhờ" có cuộc khủng hoảng kinh tế lần này mà vai trò của IMFmới được nhìn nhận một cách đúng đắn hơn Không chỉ bơm hàng trăm tỷ USDvào các nền kinh tế đang lâm vào cảnh khó khăn, IMF còn giúp các nước này đặt
ra các nền móng vững chắc cho cải cách kinh tế và tài chính, vốn đang trở nêncấp thiết hơn lúc nào khác
Nói cách khác, vị thế của IMF trong cuộc khủng hoảng lần này có thể nhìnnhận với "vai trò kép" Một mặt, họ ném cho các quốc gia đang chìm sâu trongkhủng hoảng chiếc phao cứu sinh, chiếc phao này không giúp họ nhảy ra khỏimặt nước nhưng ít nhất sẽ giúp họ tồn tại; mặt khác IMF chỉ cho các nước nàynhững lối thoát mà họ cần phải tiến hành để có thể tự mình thoát ra khỏi khủnghoảng Các chương trình cải cách của IMF đang được triển khai ở các thị trườngmới nổi tại Trung Âu như Hungary, Belarus, Serbia, Romania… là minh chứng
rõ ràng nhất cho chính sách này của IMF
Trang 11Chức năng thứ 2 của IMF trong cuộc khủng hoảng tài chính lần này là kháđặc biệt Mặc dù IMF không có công cụ ràng buộc pháp lý nào với các quốc giathành viên trong việc tuân theo các khuyến nghị về cải cách hệ thống ngân hàng,đưa ra các gói kích cầu , vai trò cố vấn chính sách đúng đắn cho các quốc giachấp hành và giúp họ nhận thức được tầm quan trọng của chính sách đó là vôcùng quan trọng Giữa sự hoảng loạn và hoang mang tột độ, IMF nổi lên với vaitrò là thực thể duy nhất đủ bình tĩnh để phân tích tình hình, đánh giá các tác động
và đưa ra được những lời khuyên đúng đắn Một cách hình tượng, nếu phải bầumột vị thuyền trưởng có đủ các phẩm chất cần thiết để lèo lái con tàu kinh tế-tàichính đang lung lay dữ dội trong tâm bão, sẽ không có ai xứng đáng hơn IMF.Trên thực tế, nhiều khi cũng không hẳn quốc gia nào cũng sẵn sàng trướccác cải cách của IMF mà có thể bị buộc phải "tự nguyện chấp thuận" để đối lấycác khoản viện trợ như cái cách mà tổ chức tài chính này vẫn áp dụng trong cácgiai đoạn khủng hoảng trước đây Tuy nhiên, rõ ràng các quốc gia cũng chẳng dại
gì mà lựa chọn những giải pháp mà không đem lại lợi ích gì cho họ Hơn thế nữa,khi mà phải tìm đến với IMF – tổ chức hợp với World Bank có biệt danh “bộ đôi
ma quỷ của Bretten Wood”, các nước đang phát triển chắc hẳn cũng không cònsự lựa chọn nào khác nữa rồi
Tại hội nghị thường niên của Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) ở Istanbul (ThổNhĩ Kỳ) năm 2009 , IMF không tập trung vào chủ đề cần phải cải tổ thể chế vàđịnh hướng hoạt động như thế nào để có lý do tiếp tục tồn tại cùng với Ngânhàng Thế giới (WB) thì ở hội nghị này lại là việc tận dụng cơ hội như thế nào đểphục hồi lại vai trò và gây dựng thêm thanh thế
- Đối với việc vươn tới mục tiêu nói trên thì cơ hội mới hội tụ được cả thiên thời,địa lợi và nhân hòa đối với IMF Có thể thấy sự biểu hiện của nó trên bốnphương diện:
Thứ nhất, nguồn thực lực tài chính của IMF đang thật dồi dào nhờ sự hậuthuẫn của các thành viên và việc bán một phần tư khối lượng vàng dự trữ củaIMF Với khả năng tài chính mới ấy, IMF có thể thực hiện nhiều chương trình tín