1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Đề tài vai trò của yếu tố địa chính trị trong việc hình thành và phát triển liên minh châu âu giai đoạn 1956 – 1995

32 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 32
Dung lượng 320,18 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sự liên kết vững mạnh giữa các EU hình thành không chỉ bởikhu vực địa lý mà họ còn hợp tác dựa trên mối quan hệ về chính trị.. Bởi thế, địachính trị giữ vai trò quan trọng trong việc hìn

Trang 1

HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN

KHOA QUAN HỆ QUỐC TẾ

~~~~~~*~~~~~~

TIỂU LUẬN MÔN: ĐỊA CHÍNH TRỊ THẾ GIỚI

Đề tài Vai trò của yếu tố địa chính trị trong việc hình thành và phát triển Liên minh châu Âu giai đoạn 1956 – 1995

Lê Trần Hương Giang 2051070015

Hà Nội, tháng 6 năm 2021

Trang 2

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT 4

MỞ ĐẦU 5

1 Tính cấp thiết của đề tài 5

2 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 5

3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 6

4 Kết cấu của đề tài 6

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 7

1.1 Khái niệm địa chính trị 7

1.2 Lịch sử phát triển tư tưởng địa – chính trị 7

1.3 Các xu hướng địa chính trị 8

1.3.1 Xu hướng địa chính trị hợp nhất 8

1.3.2 Xu hướng địa chính trị phân mảnh 8

1.3.3 Xu hướng địa chính trị văn hoá 9

1.3.4 Xu hướng địa chính trị tài nguyên 9

1.3.5 Xu hướng địa chính trị biển đảo 9

CHƯƠNG 2: CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN ĐỊA CHÍNH TRỊ CHÂU ÂU GIAI ĐOẠN 1946 – 1995 10

2.1 Địa lý tự nhiên 10

2.2 Lịch sử 12

2.3 Tác động của yếu tố địa lý trong quá trình vận động lịch sử châu Âu 14

2.4 Kinh tế 16

2.5 Văn hoá 18

CHƯƠNG 3: QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA LIÊN MINH CHÂU ÂU GIAI ĐOẠN 1946 – 1995 19

3.1 Quá trình nhất thể hoá châu Âu 19

3.1.1 Hiệp ước Paris năm 1951 – Sự hình thành Cộng đồng than thép châu Âu 19

3.1.2 Cộng đồng châu Âu 20

3.1.3 Liên minh châu Âu 21

3.1.4 Liên minh châu Âu sau hiệp ước Maastricht và trước hiệp ước Lisbon 21

Trang 3

3.2 Cơ cấu tổ chức của EU 22

3.2.1 Uỷ ban châu Âu 22

3.2.2 Hội đồng châu Âu 23

3.2.3 Hội đồng bộ trưởng 23

3.2.4 Nghị viện châu Âu 23

3.2.5 Toà án Công lý châu Âu 24

3.3 Vì sao châu Âu là trung tâm địa – chính trị của thế giới thế kỷ XX 25

CHƯƠNG 4: ĐÁNH GIÁ VÀ BÀI HỌC TỪ QUÁ TRÌNH NHẤT THỂ HOÁ EU 26

4.1 Đánh giá về quá trình hình thành và phát triển của EU 26

4.2 Bài học từ quá trình hội nhập châu Âu cho ASEAN và Việt Nam: 27

KẾT LUẬN 29

TÀI LIỆU THAM KHẢO 31

Trang 4

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

XHCN Xã hội chủ nghĩa

CNXH Chủ nghĩa xã hội

TBCN Tư bản chủ nghĩa

EU Liên minh châu Âu

ECSC Cộng đồng than thép châu Âu

EAEC Cộng đồng năng lượng nguyên tử châu ÂuEEC Cộng đồng kinh tế châu Âu

QMV Phương thức bỏ phiếu theo đa số

EP Nghị viện châu Âu

EJC Tòa án Công lý châu Âu

NATO Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây DươngCOMECON Hội đồng tương trợ Kinh tế

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Cũng như nhiều các tổ chức quốc tế khác, EU là một khối các nước châu

Âu hợp lại nhằm mục đích cùng nhau phát triển và đặc biệt là hạn chế chiếntranh, xung đột Sự liên kết vững mạnh giữa các EU hình thành không chỉ bởikhu vực địa lý mà họ còn hợp tác dựa trên mối quan hệ về chính trị Bởi thế, địachính trị giữ vai trò quan trọng trong việc hình thành và thúc đẩy liên minh châu

Âu, đặc biệt trong giai đoạn 1946-1995 khi liên minh này có bước chuyển mìnhmạnh mẽ, tạo ra những dấu chân đầu tiên trên hành trình của mình

Có rất nhiều cách nhìn, nhiều góc độ khác nhau về việc hình thành và pháttriển mở rộng EU Nhưng yếu tố địa - chính trị đóng một vai trò quan trọng, làyếu tố then chốt trong quá trình hình thành nên Liên minh châu Âu Đặc biệt sauChiến tranh thế giới lần thứ 2, khi mà nhiều quốc gia trong khu vực châu Âugánh chịu hậu quả nặng nề, sự phân chia quyền lực chính trị cũng như các khuvực địa lý diễn ra mạnh mẽ

Chính vì thế, việc nghiên cứu sự hình thành và phát triển của EU trongnhững năm từ 1946-1995 là vô cùng cấp thiết để có thể nắm bắt những kiến thức

cơ bản về sự tác động của địa chính trị làm thay đổi biên giới, lãnh thổ, tàinguyên, mối quan hệ, đối ngoại giữa các nước trong khối liên minh Từ đó cócái nhìn khách quan và sâu rộng hơn về khối các nước EU sau này

2 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích: nghiên cứu và tìm hiểu về vai trò của yếu tố địa chính trị trong

việc hình thành và phát triển Liên minh Châu Âu từ năm 1946 đến 1995

Nhiệm vụ: Đầu tiên, chúng ta phải có cái nhìn khái quát về yếu tố địa

chính trị để rồi phân tích tầm quan trọng của các đặc điểm châu Âu giai đoạn1946-1995 ảnh hưởng đến sự hình thành địa chính trị khu này, tạo bàn đạp hìnhthành Liên minh châu Âu Tiếp theo, cần làm rõ quá trình phát triển của EU quacác năm, cơ cấu tổ chức, vận hành EU để thấy được hệ thống chính trị đặc trưngcủa tổ chức qua ba giai đoạn tiêu biểu Cuối cùng là lý giải được lí do châu Âu

Trang 6

được coi là trung tâm địa chính trị thế giới thế kỉ XX Từ đó, có thể đánh giá,đưa ra kết luận về vai trò của địa chính trị trong quá trình nhất thể hóa Liênminh cũng như rút ra bài học cho ASEAN và Việt Nam trong hành trình hộinhập khu vực.

3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu là Liên minh châu Âu, đặc biệt là các lĩnh vực, yếu

tố có tác động trực tiếp đến địa chính trị châu Âu trong giai đoạn nửa cuối thế kỉ

XX

4 Kết cấu của đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục viết tắt và tài liệu tham khảo, nộidung chính của tiểu luận được chia thành 4 chương chính như sau:

Chương 1: Cơ sở lý luận của đề tài

Chương 2: Các yếu tổ ảnh hưởng đến địa chính trị châu Âu giai đoạn1946-1995

Chương 3: Quá trình hình thành và phát triển Liên minh châu Âu

Chương 4: Đánh giá và rút ra một số bài học

Trang 7

từng khẳng định: “Chính trị của một quốc gia nằm ở trong địa lý của nó” Vì

thế, địa chính trị được xem là lĩnh vực thiết yếu, quan trọng đối với đường lốiphát triển quốc gia và chính sách quan hệ quốc tế

Để hiểu rõ về khái niệm “địa chính trị”, ta có thể tham khảo một số địnhnghĩa của các nhà nghiên cứu Từ điển bách khoa Le Petit Larousse illustré của

Pháp đã định nghĩa: “Địa chính trị nghiên cứu các mối quan hệ giữa các dữ liệu

địa lý với nền chính trị của các quốc gia” Từ điển bách khoa Britannica cũng

nêu lên khái niệm của đỉa chính trị là “sự phân tích những ảnh hưởng của địa lý

đến các mối quan hệ quyền lực trong chính trị quốc tế Trong việc hoạch định chính sách quốc gia, các nhà lý thuyết địa chính trị đã tìm cách chứng minh tầm quan trọng của những điều đáng chú ý như việc xác lập được đường biên giới quốc gia, quyền tiếp cận các đường biển quan trọng và quyền kiểm soát những khu vực đất liền có tầm quan trọng chiến lược”.

1.2 Lịch sử phát triển tư tưởng địa – chính trị

Tư tưởng địa - chính trị xuất hiện trong đời sống xã hội từ rất lâu về trước

Nó gắn liền với việc tìm kiếm lãnh thổ, đảm bảo an ninh quốc phòng và vấn đềđối ngoại của một quốc gia

Một số quan điểm đã trở thành cơ sở quan trọng cho sự ra đời và phát triển

của khoa học địa – chính trị ngày nay Ví dụ như:

· Alfred Thayer Mahan (1840-1914) nêu tư tưởng trong việc khẳng địnhtầm quan trọng của quốc gia hải đảo, đại dương

· Kar Haushofer (1869-1946) công nhận quan niệm về “miền đất tráitim” của Holfor Mackinder,…

Trang 8

Theo đó, địa – chính trị đã trải qua quá trình vận động với nhiều biến đổi,

sự phát triển ấy có thể được chia thành năm thời kỳ sau:

- Vào giai đoạn trước thế kỷ XVII, con người sống phụ thuộc vào thiênnhiên và bản năng Hoạt động sản xuất chiến tranh gắn thế giới duy tâm với cácyếu tố địa lý

- Từ thế kỷ XVII đến 1875, đây là thời kỳ phát triển khoa học kỹ thuật, chếtạo vũ khí Nhờ ưu thế trong khoa học kỹ thuật, tài nguyên, của cải, châu Âu trởthành vùng đất văn minh, với trách nhiệm “khai hoá văn minh” cho các dân tộckhác và mở ra thời kỳ thống trị trên thế giới

- Vào thời kỳ 1875-1945, khoa học kỹ thuật ngày càng có tầm ảnh hưởngtrong đời sống và nghiên cứu khoa học Các quốc gia thôn tính lẫn nhau, khẳngđịnh vị thế, gây ra nhiều mâu thuẫn, xung đột

- Trong gian đoạn 1945-1991, địa – chính trị được đón nhận với cái nhìnkhách quan hơn vào những năm 60 của thế kỷ XX Chiến tranh thế giới thứ haikết thúc, chế độ XHCN và TBCN cạnh tranh, yếu tố tư tưởng, chính trị từ đó cóvai trò tác động tới quá trình vận động địa – chính trị

- Thời kỳ từ 1991 đến nay, các yếu tố địa lý giảm vai trò, theo đó là sự biếnđộng phức tạp của nội hàm địa – chính trị Nghiên cứu về địa chính trị ngày naycần xét nhiều phương diện không gian, thời gian theo yếu tố địa lý của nó

1.3 Các xu hướng địa chính trị

1.3.1 Xu hướng địa chính trị hợp nhất

Địa chính trị hợp nhất đề cập tới xu hướng địa chính trị muốn thôn tính,

sáp nhập hoặc gây ảnh hưởng với các lãnh thổ khác thông qua việc mở rộnglãnh thổ Đây là xu hướng thể hiện cụ thể trong các chính sách của các nước lớn,cội nguồn của nó nằm trong tư tưởng truyền thống của các cường quốc, cũng là

xu hướng chung nhất trong lịch sử địa chính trị thế giới

1.3.2 Xu hướng địa chính trị phân mảnh

Khác với xu hướng địa chính trị hợp nhất có nguy cơ xung đột cao, một xuhướng đối lập ra đời ở các nước nhỏ Đó là xu hướng địa chính trị phân mảnh

Trang 9

với mục đích gây tan rã các đế quốc và giành độc lập cho các quốc gia – dân tộcquy mô nhỏ Đây được coi là xu hướng lấy địa chính trị chống lại địa chính trị.

1.3.3 Xu hướng địa chính trị văn hoá

Xu hướng này được coi là xu hướng bất ổn, nguy hiểm đối với thế giới do

sự lợi dụng của những kẻ phát động chiến tranh, khủng bố để chia cắt về mặt địachính trị

1.3.4 Xu hướng địa chính trị tài nguyên

Tài nguyên thiên nhiên được coi là định hướng địa chính trị của các nướclớn Tuy nhiên, đây cũng là nguồn gốc của nhiều cuộc xung đột từ xa xưa, bởi

nó liên quan trực tiếp đến sự phát triển và an ninh một quốc gia Vì vậy, tàinguyên thiên nhiên được vẽ thành một tấm bản đồ với mục đích cung cấp nhữngthông tin về bạo lực hay đưa tới một cái nhìn khách quan cho các nhà hoạchđịnh chính sách phát triển đất nước

1.3.5 Xu hướng địa chính trị biển đảo

Xu hướng địa chính trị biển đảo được bắt nguồn từ lý thuyết về sức mạnhbiển của Alfred Thayer Mahan và lý thuyết “miền đất trái tim” của Mackinder

Nó nhấn mạnh vai trò sức mạnh biển - yếu tố được coi là giúp cho quốc gia trởthành cường quốc hùng mạnh Đây là vấn đề mang tính quốc tế, bất kỳ quốc giabiển nào muốn xây dựng chính sách địa chính trị biển đảo đúng đắn đều phải tôntrọng luật pháp trong nước và luật biển quốc tế

Trang 10

CHƯƠNG 2 CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN ĐỊA CHÍNH TRỊ CHÂU ÂU GIAI

ĐOẠN 1946 – 1995 2.1 Địa lý tự nhiên

Đặc điểm địa lí, hình dạng và phạm vi lãnh thổ:

Châu Âu nằm ở phía Tây của lục địa Á – Âu, được bảo phủ quanh mìnhbởi biển và đại dương Châu Âu có diện tích khoảng 10,5 triệu km2, được hìnhthành từ một nhóm các bán đảo liên kết với nhau, hai bán đảo lớn nhất là châu

Âu “lục địa” và bán đảo Scandinavia ở phía Bắc cách nhau bởi biển Baltic PhíaĐông châu Âu ngăn cách với châu Á bởi dãy Uran, tạo thành lục địa Á-Âu PhíaBắc giáp Bắc Băng Dương Phía Tây giáp Đại Tây Dương, Nam giáp Địa TrungHải và biển Đen

Địa Trung Hải là biển tách châu Âu với châu Phi Biển khá lớn, bị chia cắtphức tạp, có nhiều biển nhỏ và kín, ăn sâu vào đất liền Địa Trung Hải tiếp giápvới nhiều quốc gia của Tây Á, Nam Âu và Bắc Phi, lại nằm trên đường biểnquốc tế từ Đại Tây Dương sang Ấn Độ Dương, nên có vị trí hết sức quan trọng

về mặt kinh tế và chính trị

Cấu trúc địa hình châu Âu đa dạng, gồm nhiều đảo và bán đảo, đường bờbiển bị chia cắt mạnh tạo thành nhiều biển, vịnh ăn sâu vào đất liền, tạo ra cáchải cảng tự nhiên và các quần đảo lớn ngoài khơi, điều kiện rất thuận lợi choviệc vận tải đường thủy và đánh bắt cá Với chiều dài bờ biển hơn 37.000 km,châu Âu có một tỉ lệ biển cao hơn so với các lục địa hoặc tiểu lục địa khác Nếu

so sánh với bờ biển châu Phi, tuy dài nhưng do địa hình tương đối thẳng nên lạikhông có được những hải cảng tốt, vì thế trình độ phát triển của châu Phi rấtkhác so với châu Âu

Tài nguyên thiên nhiên, và khí hậu:

Đồng bằng và đất thấp chiếm ⅔ diện tích ở châu Âu Chủ yếu phân bố ởphía đông lục địa, bao gồm đồng bằng Nga và đồng bằng Đức-Ba Lan Địa hìnhnhư vậy thuận lợi cho phát triển ngành nông nghiệp trồng trọt với nhiều loại cây

Trang 11

lương thực như lúa mì, lúa mạch, khoai tây Vùng đồng bằng rộng mở ở châu

Âu đã trở thành những khu vực thuận lợi cho việc định cư lâu dài Các núi caotập trung ở Nam Âu và Bắc Âu, trong đó khu vực các núi cao trên 2000m chỉchiếm khoảng 1,5% diện tích lãnh thổ Các dãy núi Xcandinavi, Pirene, Anpo,Cacpat, Bancang thuận lợi thúc đẩy ngành du lịch Ngoài ra, những “hàng rào”

tự nhiên này đã tạo ra an ninh vững chắc cho công cuộc phát triển ổn định ở khuvực

Vị trí địa lí có ảnh hưởng to lớn đến sự hình thành khí hậu ở châu lục này.Tất cả các lãnh thổ nằm ở bờ tây lục địa và trên các vĩ độ cận nhiệt và ôn đới,trong năm thường chịu ảnh hưởng của áp cao chí tuyến và gió tây ôn đới hoạtđộng quanh năm Gió tây thổi từ biển vào, lãnh thổ bị chia cắt mạnh làm cho hơinước từ biển dễ dàng xâm nhập sâu vào trong đất liền Lượng mưa lớn quanhnăm thuận lợi cho phát triển nền nông nghiệp thâm canh đạt năng suất cao, chỉmột bộ phận nhỏ phía Bắc có khí hậu hàn đới giá lạnh gây khó khăn trong sảnxuất và trồng trọt

Cấu trúc địa chất và sông ngòi:

Kiến tạo địa hình châu Âu rất đa dạng và phong phú Sự hình thành vàphân bố các mỏ khoáng sản ở châu Âu có liên quan rõ rệt đến cấu trúc địa chất

và điều kiện kiến tạo của châu lục Các khu vực tiền Cambri có nhiều sắt,mangan, coban, chì Đặc biệt, ở Nga vùng Kursk là nơi có nhiều mỏ sắt lớn, tạothành vùng “dị thường từ tính Kursk” Trữ lượng thăm dò đạt 25 tỷ tấn Tại đớiuốn nếp Cổ sinh tập trung nhiều chì, kẽm, đồng, bạc, boxit; ở vùng núi Ural,nam Ba Lan, Đức, Ireland, Tây Ban Nha Tại đới uốn nếp Tân sinh cũng cónhiều loại chì, kẽm, vàng tập trung ở Hi Lạp và Serbia-Montenegro Mỏ trầmtích châu Âu rất giàu than đá, tập trung đặc biệt nhiều nhất ở Anh, Đức, Ba Lan,

Bỉ, bắc Pháp Về dầu mỏ và khí đốt, châu Âu có nhiều nhất ở vùng đồng bằngĐông Âu Tài nguyên cung cấp nguồn nguyên liệu cho các ngành công nghiệpnặng: luyện kim, chế tạo máy, hóa chất và các ngành kinh tế công nghiệpkhác…

Trang 12

Hệ thống kênh đào và sông ngòi ở châu Âu rất phát triển Đường phânthủy giữa các lưu vực sông thấp nên dễ xây dựng các kênh đào nối liền các sôngvới nhau, nhờ đó việc giao thông đường sông rất thuận lợi Đa số các sông ởchâu Âu đều là sông ngắn Toàn châu Âu chỉ có 20 con sông dài hơn 1000km;trong đó có 4 sông dài trên 2000km, đó là: Volga (3700km), Danube (2850km),Ural (2534 km), Dnepr (2200km) Sông Volga là sông dài và nhiều nước nhấttại châu Âu, là con sông có giá trị kinh tế về nhiều mặt: khai thác thủy điện, sửdụng nước cho sản xuất công nghiệp, nông nghiệp, đời sống dân cư, giao thôngvận tải, đánh bắt và nuôi trồng thủy sản Năm 1953, nhờ xây dựng kênh đàoVolga - Don, sông Volga đã trở thành con đường thủy nối liền năm biển vớinhau: Baltic, Bạch Hải, Adobe, biển Đen và Caspi Sông Danube là con sôngquốc tế quan trọng chảy qua nhiều nước ở Trung Âu, trên hai bờ sông có nhiềuthành phố lớn vì thế sông có còn có giá trị về du lịch.

Những con đường giao thông liên lạc chạy từ Bắc xuống Nam, xuyên quacác dãy núi đã nối liền Bắc Âu với khu vực Địa Trung Hải Con đèo Moravia vàBrenner cùng với tuyến đường chủ chốt xuyên Pháp nối liền với châu thổ sôngRhone làm nên những hành lang quan trọng nhất Ở phía Đông, con đường vậntải nối giữa hai con sông Dvina và Dnepr đã liên kết biển Baltic và biển Đen lạivới nhau Có thể nói đặc điểm này của địa hình châu Âu có tác dụng hai mặt:ngăn chặn sự bành trướng nhưng lại có tác dụng giao thông liên lạc giữa các khuvực

2.2 Lịch sử

Trong lịch sử thế giới, châu Âu luôn là địa bàn tranh giành quan trọng củacác cường quốc Khu vực này cũng không ít lần trở thành đối tượng chinh phụccủa các đế quốc: Đế quốc Mông Cổ, đế quốc Ottoman hay đế quốc Nga Sahoàng

Thực chất kể từ sau Thế chiến II mà đặc biệt hơn sau Chiến tranh lạnh,khu vực vốn liền khối là châu Âu bị phân chia thành hai nửa Đông Âu và Tây

Âu Xét theo tiền đề Địa chính trị, biên giới chia cắt Đông Âu và Tây Âu là

Trang 13

đường biên giới phía cực Đông của khối NATO Khái niệm Đông Âu bao trùmtất cả các quốc gia nằm dưới quyền ảnh hưởng và kiểm soát của Liên Xô CònTây Âu là khu vực của Liên minh Châu Âu sau này và khối NATO Sự phânchia này chỉ mang tính chất ước lệ còn về căn bản đây vẫn là một khu vực địa lý

có tính thống nhất cao Từ khởi thủy, không có một đường biên nào phân cắtchâu Âu, nếu có thì chỉ là những chướng ngại vật nhân tạo như “Bức tườngBerlin”

Châu Âu sau Chiến tranh thế giới lần thứ 2:

Sau chiến tranh thế giới lần thứ 2, châu Âu bị chia thành hai hệ thống xãhội chính trị rõ rệt Hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa gồm Ba Lan, Rumani,Tiệp Khắc, Bungari, Anbani, Nam Tư, Cộng hòa dân chủ Đức và Liên Xô doLiên Xô đứng đầu Còn lại là các cường quốc Anh, Pháp, Đức, Italia, Châu Âuphản ánh rõ rệt nhất cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa tư bảnbao gồm việc chạy đua quân sự, chạy đua kinh tế trong thời kỳ chiến tranh lạnhkéo dài sau giai đoạn này

Từ năm 1945 đến 1950 các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu lần lượt ra đờivới thiết chế chính trị nhà nước xã hội chủ nghĩa Ở giai đoạn này, Liên Xô vàcác nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu tiến hành khôi phục kinh tế, hàn gắn vếtthương chiến tranh Từ năm 1950 đến 1970, Liên Xô và các nước Đông Âu tiếnhành xây dựng chủ nghĩa xã hội và thu được nhiều thắng lợi Những năm 70 củathế kỉ XX là đỉnh cao nhất, hưng thịnh nhất của chủ nghĩa xã hội thế giới.Nhưng những năm 80, chủ nghĩa xã hội thế giới bắt đầu khủng hoảng trầmtrọng Ở Liên bang Nam Tư diễn ra cuộc nội chiến sắc tộc và tôn giáo làm sụp

đổ Cộng hòa XHCN Liên bang Nam Tư Ở Liên Xô năm 1985, M.Goócbachốplên nắm chính quyền tiến hành cải tổ kinh tế, cải tổ nhà nước những tất cả đềuthất bại làm nhà nước xã hội chủ nghĩa Liên Xô sụp đổ năm 1991 Chính phủcác nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu buộc phải chấp nhận chế độ chính trị đađảng Chế độ xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu và Liên Xô lần lượt sụp đổ, tạo nên

Trang 14

“cơn chấn động chính trị” lớn nhất trong lịch sử phong trào cộng sản và côngnhân quốc tế

Chiến thắng của phe Đồng minh tại châu Âu đã chứng kiến việc quyền lựctại Trung Âu được chia sẻ giữa Liên bang Xô Viết, Anh Quốc, Hoa Kỳ và Pháp.Các nước tư bản ở Tây Âu sau chiến tranh thế giới lần thứ 2 cũng như chủ nghĩa

tư bản thế giới chuyển sang chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà nước Năm 1949,Hoa Kỳ và một số nước Tây Âu thành lập liên minh quân sự NATO Mục đíchcủa NATO là để ngăn chặn sự phát triển của chủ nghĩa cộng sản Sự thành lậpNATO dẫn đến việc hình thành khối Warszawa do Liên Xô đứng đầu để làm đốitrọng Điều này nhanh chóng dẫn đến sự hình thành các khối Đông-Tây trongchiến tranh Lạnh khi mà khối Warszawa đối mặt với khối NATO và được ngăncách qua “Bức tường Berlin”

Hội nghị Yalta đã chứng kiến sự phân chia lại quyền lực và ảnh hưởng ởchâu Âu- vùng trung tâm chú ý của cuộc chiến tranh lạnh giữa 2 khối Đông-Tây

Sự kiện bức tường Berlin sụp đổ năm 1989 và Nhà nước xã hội chủ nghĩa Liên

Xô sụp đổ năm 1991 đã đánh dấu cho sự kết thúc của Chiến tranh Lạnh Trongkhi khối hiệp ước Quân sự Warszawa đã bị giải thể thì khối NATO vẫn tiếp tụctồn tại và mở rộng sang các nước Trung-Đông Âu, Mỹ Các nước Tây Âu triệt

để sử dụng NATO để bành trướng sự ảnh hưởng Chính sự sụp đổ của chế độ Xãhội Chủ nghĩa ở Đông Âu và Liên Xô là nguyên nhân căn bản nhất khiến cơ cấuđịa-chính trị khu vực Trung - Đông Âu, châu Âu và toàn cầu thay đổi kéo theonhững thay đổi hết sức quan trọng trên thế giới

2.3 Tác động của yếu tố địa lý trong quá trình vận động lịch sử châu Âu

Học thuyết Miền đất trái tim (Halford J Mackinder):

· Theo Halford J Mackinder, nhân tố địa lý đóng một vai trò cơ bản nhất,bởi vì không giống các nhân tố khác, nó là yếu tố cố định nhất Dân số có thểtăng hoặc giảm, nguồn lực nhiên nhiên có thể cạn kiệt, các hệ thống chính trị cóthể thay đổi, nhưng vị trí của các châu lục, hải đảo, biển và đại dương hầu nhưkhông thay đổi trong lịch sử loài người

Trang 15

· Mackinder cho rằng bằng cách tập hợp đất đai và biển cả, cùng với cácvùng đất phì nhiêu và đường giao thông tự nhiên, sẽ làm gia tăng sự phát triểncủa các đế quốc và dẫn đến kết cục một một đế quốc thế giới Quan điểm nàycủa ông càng được củng cố thêm sau Thế chiến I: nếu Đức chinh phục được Nga

và Pháp thì Đức đã có thể thiết lập được sức mạnh biển của mình trên một cơ sởrộng lớn hơn bất cứ cơ sở nào trong lịch sử Ông nhận thấy những cuộc chiếntranh lớn của lịch sử đều là kết quả trực tiếp hoặc gián tiếp của sự tăng trưởngkhông đồng đều của các quốc gia

· Với học thuyết về “Miền đất trái tim”, Mackinder mô tả châu Âu và châu

Á như là một lục địa lớn và ông gọi đó là hòn đảo thế giới Ông xác định trungtâm Bắc-Trung của lục địa Á-Âu là “khu vực trục” của nền chính trị thế giới Nóchính là “miền đất trái tim” hay trục của “đảo thế giới” Á-Âu Nó được che chắnxung quanh, ngăn cách với biển cả, có khả năng tự cung, tự cấp Con đường bộduy nhất có khả năng tiếp cận là khu vực Đông Âu Trong quan điểm củaMackinder, Đông Âu có vai trò chìa khóa để mở đường cho việc làm chủ thếgiới Ông cho rằng : “Ai cai trị được Đông Âu thì sẽ khống chế được ‘miền đấttrái tim’; ai cai trị được ‘miền đất trái tim’ thì sẽ khống chế được hòn đảo thếgiới; ai cai trị được hòn đảo thế giới thì sẽ khống chế được cả thế giới.”

· Về cơ bản, Mackinder cho rằng “miền đất trái tim” này tương đương vớilãnh thổ của Liên Xô, trừ phía đông sông Yenisei Tại thời điểm đó (1943), Thếchiến II đang diễn ra ác liệt Và ông cho rằng nếu Liên Xô đánh thắng Đức, thìLiên Xô sẽ trở thành cường quốc trên đất liền lớn nhất trên địa cầu Trong Thếchiến II, các nhà chiến lược Hoa Kỳ đã vay mượn quan điểm địa chiến lược thếgiới của Mackinder để xây dựng và thực hiện chính sách “kiềm chế” nước Nga

Xô viết Học thuyết của Mackinder đã có ảnh hưởng rất mạnh đến các cườngquốc trong hai cuộc chiến tranh thế giới cũng như thời kì chiến tranh Lạnh vàkéo dài cho đến tận ngày nay

Ảnh hưởng của sức mạnh trên biển đối với lịch sử (Mahan):

Trang 16

· Trong khi đất liền của trái đất đã được phân định chủ quyền, thì phần lớnbiển và đại dương vẫn là khu vực “sân chung” của loài người Chính vì thế, biểnlại là khu vực dễ trở thành đối tượng tranh chấp

· Những cuộc chiến tranh trong lịch sử cũng thể hiện sức mạnh của biển khichính yếu tố này là ngòi châm cho những lần đụng độ khốc liệt giữa các quốcgia Điểm qua có thể kể đến như cuộc chiến tranh lần thứ hai (1665-1667) giữaAnh và Hà Lan; cuộc chiến giữa Anh và Pháp trong liên minh chống các tỉnhhợp nhất (1672-1674); chiến tranh của liên minh Augsburg (1668-1697); chiếntranh giữa Anh và Tây Ban Nha (1739); chiến tranh trên biển ở Châu Âu (1779-1782)

· Một ví dụ khác về nước Anh, vào thế kỉ XVIII, một mặt Anh phải đươngđầu với Hà Lan và các cường quốc phương Bắc; mặt khác nó phải chống lạiPháp và khu vực Đại Tây Dương Tuy nhiên, Anh đều thành công khi phảiđương đầu với liên minh Pháp và phương Bắc bằng việc chia cắt khối liên minhnày qua đường biển Manche Các cuộc chiến tranh hải quân giữa Anh và Pháp ởthế kỉ XVIII, với ưu thế đường biển và có thủy quân mạnh hơn, hải quân nướcAnh đã có khả năng đánh thắng nước Pháp, từ đó ngăn chặn hiệu quả cuộc xâmchiếm và phong tỏa

· Trong thế kỉ XIX, mọi sự giao thương với bên ngoài đều được tiến hànhthông qua các hải cảng của đất nước, việc buôn bán bằng tàu biển đòi hỏi cáchải cảng và hành trình buôn bán đó cần được đất nước bảo vệ Để đảm bảo choviệc vận tải bằng tàu biển, các quốc gia đều có xu hướng tìm kiếm và xây dựngđồn bốt tiền tiêu dọc đường đi Và thế là quá trình thực dân hóa và thành lập cácthuộc địa đã diễn ra để bảo đảm cho các đế quốc biển có nền giao thương trênbiển vững mạnh

=> Công trình nghiên cứu của Mahan và Mackinder tuy khai thác các yếu tốkhác nhau trên biển (Mahan tập trung vào sức mạnh hải quân; Mackinder nói về

“Miền đất trái tim”) nhưng cả hai đều nhấn mạnh về vai trò sức mạnh biển củamột quốc gia trong chiến lược phát triển hay nói cách khác, trong việc bànhtrướng đất nước Quan điểm đề cao tầm quan trọng của sức mạnh trên biển của

Ngày đăng: 08/08/2022, 14:15

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w