1. Trang chủ
  2. » Nông - Lâm - Ngư

Điều tra kỹ thuật xử lí ra hoa cam sành tại huyện trà ôn, tỉnh vĩnh long

25 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 25
Dung lượng 74,29 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP BỘ MÔN KHOA HỌC CÂY TRỒNG NHÓM 2 HỌC PHẦN XỬ LÍ RA HOA CHUYÊN ĐỀ ĐIỀU TRA KĨ THUẬN XỬ LÝ RA HOA CAM SÀNH TẠI HUYỆN TRÀ ÔN, TỈNH VĨNH LONG Giảng viên hướng dẫn G.

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP

BỘ MÔN KHOA HỌC CÂY TRỒNG

NHÓM 2 HỌC PHẦN XỬ LÍ RA HOA

CHUYÊN ĐỀ: ĐIỀU TRA KĨ THUẬN XỬ LÝ

RA HOA CAM SÀNH TẠI HUYỆN TRÀ ÔN,

TỈNH VĨNH LONG

Giảng viên hướng dẫn:

GS.TS Trần Văn Hâu

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP

BỘ MÔN KHOA HỌC CÂY TRỒNG

NHÓM 2 HỌC PHẦN XỬ LÍ RA HOA

CHUYÊN ĐỀ: ĐIỀU TRA KĨ THUẬN XỬ LÝ

RA HOA CAM SÀNH TẠI HUYỆN TRÀ ÔN,

Trang 3

MỤC LỤC

CHƯƠNG I: MỞ ĐẦU 1

1.Điều kiện tự nhiên 2

1.1 Vị trí địa lí 2

1.2 Khí hậu 2

1.3 Lượng mưa 2

1.4 Đất đai thổ nhưỡng 2

2 Giới thiệu về cây cam quýt 3

2.1 Đặc tính thực vật 3

3 Đặc điểm ra hoa đậu trái ở cam quýt 4

3.1 Sự kích thích và phân hóa mầm hoa 4

3.2 Sự ra hoa và đậu trái và phát triển trái 4

3.2.1 Sự phát triển trái: 5

3.2.2 Sự rụng trái non: 5

4 Các yếu tố ảnh hưởng đến sự ra hoa và đậu trái cam quýt 6

4.1 Nhiệt độ 6

4.2 Ánh sáng 6

4.3 Nước 6

4.4 Gió 7

4.5 Đất 7

4.6 Ảnh hưởng của dinh dưỡng đến sự ra hoa và đậu trái 7

a Đạm: 7

b Lân 8

c Kali 8

4.7 Các chất đồng hóa trong cây 8

4.8 Chất điều hòa sinh trưởng 9

4.9 Biện pháp kích thích ra hoa 14

5 Một số sâu bệnh hại cam quýt 10

5.1 Sâu vẽ bùa 10

5.2 Ruồi đục trái 10

Trang 4

5.3 Rầy chổng cánh 11

5.3 Bệnh thối gốc chảy mủ 11

5.4 Bệnh vàng lá gân xanh 12

5.5 Bệnh vàng lá thối rễ 12

5.6 Bệnh tuyến trùng cam quýt (Citrus nematode) 12

5.7 Bệnh loét 13

5.8 Rệp sáp 13

Trang 5

CHƯƠNG I: MỞ ĐẦU

Cam quýt là loại trái cây được sản xuất nhiều nhất trên thế giới với sản lượng xấp xỉ 124 triệu tấn trong đó 53,9% tổng sản lượng cam quýt là cam, 26,5% là quýt, 12,86% là chanh, 6,69% là bưởi và còn lại là các loại trái cây

có múi khác (FAO, 2016) , cam quýt trồng được ở vùng nhiệt đới hay bán nhiệt đới (Nguyễn Bảo Vệ và Lê Thanh Phong, 2011) Trái cam quýt được sử dụng rộng rãi vì chứa nhiều chất dinh dưỡng cần thiết cho cơ thể, nhất là vitamin C (Trần Thượng Tuấn, 1994)

Vĩnh Long ở vị trí trung tâm của Đồng Bằng Sông Cửu Long, nằm giữa sông Tiền và sông Hậu Có quốc lộ 1A là tuyến giao thông huyết mạch nên việc gaio lưu kinh tế bằng đường bộ và đường thủy khá thuận lợi Nguồn lực

tư nhiên được ưu đãi: đất đai màu mỡ, nguồn nước ngọt dồi dào, ít bị ảnh hưởng bởi lũ lụt, khí hậu ôn hòa Có những vùng trồng cây ăn trái đặc sản nổi tiếng như bưởi Năm Roi ở Bình Minh và cam Sành ở Trà Ôn cũng mới nổi lênnhững năm gần đây

Theo Sở Nông nghiệp và phát triển nông thô tỉnh Vĩnh Long, năm 2019 Vĩnh Long có tổng diện tích trồng cam là 10.026 ha Trong đó, huyện vùng có diện tích trồng cam sành lớn nhất là huyện Trà Ôn với diện tích là 4.356 ha

Do lợi nhuận từ loại cây trồng này khá cao (đạt khoảng 120 – 150 triệu

đồng/ha vào vụ thuận, vụ nghịch lợi nhuận lên đến 300 – 350 triệu/ha) nên nhiều nông dân đã ồ ạt chuyển đổi đất lúa sang canh tác cam Sành Tuy mô hình trồng cam sành trên đất lúa mang lại lợi nhuận cao và thu hồi vốn nhanh, song cũng tiềm ẩn nhiều rủi ro do thiếu tính bền vững xuất phát từ việc tăng dày mật độ và sử dụng quá nhiều phân hóa, thuốc bảo vệ thực vật, các chất tăng trưởng, nên hiệu quả mang lại trong thời gian ngắn (từ 2- 5 năm).Việc sử dụng phân bón, chất kích thích sinh trưởng để xử lí ra hoa nghịch

vụ là một vấn đề đáng được quan tâm do tính bền vững và an toàn của phươngthức này Chính vì thế, chuyên đề “Điều tra kỹ thuật xử lý ra hoa trên cây cam Sành tại huyện Trà Ôn tỉnh Vĩnh Long” được thực hiện nhằm mục đích tìm hiểu kĩ thuật xử lý ra hoa, từ đó có những đánh giá về thực trạng hiện tại và đềxuất biện pháp hợp lí hơn nhằm đảm bảo tính bền vững cho mô hình canh tác cam Sành

Trang 6

1.Điều kiện tự nhiên

1.1 Vị trí địa lí

Vĩnh Long nằm ở trung tâm Đồng bằng Sông Cửu Long, ở giữa sông Tiền và sông Hậu Phía Đông và Đông Nam của tỉnh Vĩnh Long giáp Trà Vinh, phía Tây và Tây Nam giáp Cần Thơ, Hậu Giang, Sóc Trăng; Phía Bắc giáp với Tiền Giang, Bến Tre phía Đông bắc; Tây Bắc giáp với Đồng Tháp Tổng diện tích tự nhiên là 1.526 km2 , diện tích đất nông nghiệp chiếm 78.23

% (118.918 ha); trong đó, đất canh tác cây hàng năm 72.565 ha, chiếm 47.73

% diện tích tự nhiên Tỉnh Vĩnh Long có 8 đơn vị hành chính, gồm 6 huyện (Bình Tân, Long Hồ, Mang Thít, Tam Bình, Trà Ôn, Vũng Liêm); thị xã Bình Minh và Thành phố Vĩnh Long với 109 xã, phường, thị trấn (94 xã, 5 thị trấn

và 10 phường) (Cổng thông tin điện tử tỉnh Vĩnh Long)

Trà Ôn nằm ở phía Tây Nam tỉnh Vĩnh Long, cách Thị xã Vĩnh Long khoảng 35 km và cách Thành Phố Cần Thơ khoảng 17 km theo đường chim bay Trà Ôn có mạng lưới giao thông thuỷ bộ thuận lợi, nối liền huyện với Thành Phố Hồ Chí Minh, Thành Phố Cần Thơ và các tỉnh miền Quốc Lộ 54, tỉnh lộ 901, 904, 906, 907 đi ngang qua huyện nối Trà Ôn với các tỉnh Trà Vinh, Đồng Tháp Sông Hậu nằm cặp bờ Tây của huyện, sông Mang Thít nằm

ở bờ Tây Bắc của huyện nối liền sông Tiền với sông Hậu và sông Trà Ngoa nối từ sông Mang Thít xuyên ngang qua giữa huyện đến giáp tỉnh Trà Vinh (Cổng thông tin diện tử huyện Trà Ôn)

1.2 Khí hậu

Trà Ôn, cũng như các vùng Nam Bộ, mang tính chất khí hậu nhiệt đớigió mùa, nhiệt độ trung bình 26 – 27 0C (tháng 4 nóng nhất: 36 oC, tháng giêngnhiệt độ thấp nhất: 29oC), bình quân hàng năm có 2.600 giờ nắng, ẩm độ trungbình 80 - 83 % (độ ẩm tối đa khoảng 92 % và tối thiểu khoảng 62 %) (Cổngthông tin diện tử huyện Trà Ôn)

1.3 Lượng mưa

Hàng năm có 2 mùa rõ rệt : Mùa khô kéo dài từ tháng 12 đến tháng 4năm sau, đây là mùa nắng gay gắt ảnh hưởng xấu đến sản xuất nông nghiệp.Mùa mưa, từ tháng 5 đến tháng 11, trung bình có khoảng 115 ngày mưa, vớilượng mưa khoảng 1400 - 1500 mm (Cổng thông tin diện tử huyện Trà Ôn)

1.4 Đất đai thổ nhưỡng

Diện tích tự nhiên là 26.714,42 ha: Đất sản xuất nôngnghiệp 22.019,28 ha, chiếm 82,4% diện tích tự nhiên, trong đó: đất trồng câyhàng năm 12.701,06 ha, chiếm 57,6 % đất nông nghiệp, chủ yếu là trồng

Trang 7

lúa và một ít trồng rau màu, đất trồng cây lâu năm, cây ăn trái 9.246,31

ha, chiếm gần 42% đất nông nghiệp (Cổng thông tin diện tử huyện Trà Ôn).Địa hình tương đối bằng phẳng, địa hình cao từ sông Hậu, sông Trà Ôn

và sông Mang Thít thấp dần về phía đông bắc, cao trình biến thiên từ 1,25 - 0,5 m : Vùng có cao trình từ 1 - 1,25 m gồm các xã ven sông Hậu và sông Trà

Ôn - Mang Thít như Tích Thiện, Thiện Mỹ, Thị trấn Trà Ôn và Tân Mỹ; Vùng

có cao trình từ 0,75 - 1 m gồm các xã Vĩnh Xuân, Thuận Thới, Hựu Thành, Trà Côn; Vùng có cao trình từ 0,5 - 0,75 m gồm các xã Hòa Bình, Xuân Hiệp, Nhơn Bình, Thới Hòa (Cổng thông tin diện tử huyện Trà Ôn)

Về tính chất cơ hóa, đất đai của huyện được chia thành 03 nhóm chính : Nhóm đất phèn 8.512 ha chiếm 33,33 % diện tích tự nhiên, phân bố chủ yếu ở các xã vùng trũng như Hòa Bình, Xuân Hiệp, Nhơn Bình, Thới Hòa và 1 phần của Thuận Thới, Hựu Thành, tuy là đất phèn nhưng tầng sinh phèn ở rất sâu (đất phèn nông chỉ chiếm 34%), được cải tạo và canh tác khá thuần thục, bố trí

2 - 3 vụ lúa trong năm cho năng suất khá cao; Nhóm đất phù sa 17.140 ha chiếm 67,11% diện tích tự nhiên, phân bố tập trung ở các xã ven tuyến sông Hậu và sông Mang Thít, là vùng đất phì nhiêu thuận tiện cho trồng cây ăn quả;Nhóm đất cát giồng : 185 ha chiếm 0,72% diện tích tự nhiên, phân bố tập trung ở 3 giồng cát : giồng Thanh Bạch (xã Thiện Mỹ), giồng La Ghì (xã VĩnhXuân) và giồng Gòn (xã Thuận Thới), chủ yếu là đất thổ cư, trồng cây lâu năm

và rau màu (Cổng thông tin diện tử huyện Trà Ôn)

2 Giới thiệu về cây cam quýt

2.1 Đặc tính thực vật

a Rễ: Rễ cây cam quýt nói chung thuộc loại rễ nấm (Micorhiza)

(Nguyễn Bảo Vệ và Lê Thanh Phong, 2011) Nấm này kí sinh trên lớp biểu bì của rễ, cung cấp nước, muối khoáng và một lượng nhỏ các chất hữu cơ Vai tròcủa chúng giống như những lông hút ở thực vật khác Chính vì đặc điểm này, cam quýt không ưa trồng sâu, rễ cam quýt phân bố rất nông, tương đối rộng và

dày ở tầng đất mặt (Trần Thế Tục và ctv., 1998).

b Thân cành: Cam quýt là cây thân thân gỗ, có loại bán bụi, trưởng thành có từ 4-6 cành chính (Đường Hồng Dật, 2003) Các cành chính thường mọc ra cách mặt đất khoảng 1 mét Cành mọc từ cây trồng bằng hột có thể có gai nhưng đến giai đoạn ra hoa đậu trái thì gai ít phát triển (Trần Thượng Tuấn, 1994)

c Lá: Lá cam quýt có hình dáng rất khác nhau: lá của cây Chỉ

(Poncirus) có chia thùy Các loài cam quýt khác thường có hình ô van, hình

Trang 8

trứng ngược, hình thoi có eo lá hoặc không có, eo lá to hoặc nhỏ Đa số các loài cam quýt, mép lá có răng cưa trừ quất (Trần Thế Tục, 1998).

d Hoa: Hoa cam quýt gồm 2 loại: hoa đầy đủ và hoa dị hình Nhị có thể

có phấn hoặc không có phấn Số nhị thường gấp 4 lần số cánh hoa, xếp thành hai vòng, nhị hợp Hoa dị hình là hoa phát triển không đầy đủ cuống và cánh ngắn Hình dạng khác với hoa đầy đủ và có số lượng ít, khoảng 10-20% (Trần Thế Tục, 1998; Đường Hồng Dật, 2003)

3 Đặc điểm ra hoa đậu trái ở cam quýt

3.1 Sự kích thích và phân hóa mầm hoa

Sự kích thích mầm hoa bắt đầu sau khi dừng sinh trưởng dinh dưỡng trong thời gian nghỉ đông ở vùng á nhiệt đới hoặc trong thời gian khô hạn ở vùng nhiệt đới Trên cây trưởng thành, sự sinh trưởng của chồi dừng và tỉ lệ sinh trưởng giam khi nhiệt độ xuống chưa đến 12,5oC Trong thời gian sinh trưởng này, mầm phát triển khả năng ra hoa Do đó, sự kích thích ra hoa bao hàm sự kiện trực tiếp chuyển từ sinh trưởng dinh dưỡng sang ra hoa

(Davenport, 1990 Trích bởi Trần Văn Hâu, 2008) Nhiệt độ thấp và khô hạn làhai yếu tố kích thích đầu tiên, trong đó ở vùng nhiệt đớt là sự khô hạn còn ở vùng á nhiệt đới là nhiệt độ thấp (Davenport, 1990 và Garcia-Luis, 1992 Tríchbởi Trần Văn Hâu, 2008)

Sự phân hóa mầm hoa bao gồm sự thay đồi về mô học và hình thái học chuyển mô sinh trưởng dinh dưỡng trở thành một mô phân sinh hoa

(Davenport, 1990 Trích bởi Trần Văn Hâu, 2008) Khi mà mầm đài hoa được hình thành thì mầm hoa sẽ không biến đồi lại thành chồi dinh dưỡng nếu xử lí GA3 (Lord và Eckard, 1987 Trích bởi Trần Văn Hâu, 2008) Tình trạng sắp xếp của đỉnh tận cùng quyết định quá trình tiếp theo và sự sắp xếp của chồi bên Nếu đỉnh tận cùng hình thành đài hoa thì mầm chồi bên cũng hình thành hoa Nếu đỉnh tận cùng hình thành lá mầm thì mầm bên sẽ hình thành gai (Trần Văn Hâu, 2008)

3.2 Sự ra hoa và đậu trái và phát triển trái

Hoa hình thành và phát triển trên cành một năm tuổi Cành vượt thường

ra hoa có mang lá và cành gỗ già thường ra hoa không mang lá Cây tơ, chưa ổng định thường ra hoa không tốt bằng cây trưởng thành (Trần Văn Hâu, 2008)

Hoa cam quýt được chia là 2 loại: hoa đơn và hoa chùm Nhóm hoa đơn thường chỉ ra một hoa ở đầu cành, cành đơn có nhiều lá Đó là những cành có khả năng đậu trái cao Những cây nếu chăm bón đầy đủ sẽ ra nhiều loại cành

Trang 9

này Nhóm hoa chùm có ở cành, mỗi nách là có một hoa Thông thường có từ 3-7 hoa trên một cành, thường những cành này đậu được 1-2 trái Ngoài ra cònmột số nhánh hoa không có lá, mỗi chùm 4-5 hoa, loại hoa này có tỉ lệ đậu tráithấp (Đường Hồng Dật, 2003).

Sự đậu trái cam quýt bị ảnh hưởng rất mạnh bởi nhiệt độ và sự khô hạn Nhiệt độ cao hơn 35oC và sự khô hạn dễ gây rụng trái non Nhiều tác giả cho rằng sự rụng sinh lý khi trái chín có kích thước 0,5-2 cm có liên quan đến chất điều hòa sinh trưởng, nước và các chất liên carbohydrate (Trần Văn Hâu, 2008)

Theo Đường Hồng Dật (2003), độ ẩm đất và không khí cũng ảnh hưởng đến sự ra hoa và đậu trái của cam quýt, nếu đủ ẩm trong mùa hè và hạn nhẹ từ tháng 12 đến tháng 2 năm sau hoa sẽ đậu trái nhiều Tháng 3-4 khô hạn làm giảm số lượng trái trên cây

Hầu hết các loại cam quýt đều tự thụ phấn, một số loài quýt có đặc tính

là tự bất thụ như Clemetine, quýt Minnoela Do đó, khi thiết kế vườn cần chú

ý nguồn phấn giúp cho các cây này đậu trái Côn trùng như ong mật có khả năng thụ phấn hiệu quả hơn cả gió Thông thường một đàn ong có khả năng thụ phấn cho 0,8 ha diện tích trồng cam quýt

3.2.1 Sự phát triển trái:

Theo Trần Văn Hâu (2008), sự phát triển trái cam quýt theo đường con đơn giản, gồm 3 giai đoạn như các loại trái cây khác:

(1) Giai đoạn phân chia tế bào: 4 – 6 tuần sau khi ra hoa

(2) Sự phát triển kích thước trái:

- Chanh : 2 – 3 tháng

- Cam, quýt hơn 6 tháng

(3) Giai đoạn trưởng thành: ngắn hơn 2 tháng

Một vài đặc tính của trái được xác định trong hai tháng đầu sau khi ra hoa (cấu trúc, hình dạng, kích thước và bề dày của con tép) Tỉ lệ phát triển trái phụ thuộc vào số lượng trái mà cây đang mang (Trần Văn Hâu, 2008)

3.2.2 Sự rụng trái non:

Sự rụng trái non bắt đầu sau khi hoa nở cho đến 3 – 4 tuần sau khi hoa

nở Sự rụng trái non xảy ra nghiêm trọng khi nhiệt độ trên bề mặt lá từ 35 oC đến 40 oC hoặc khi cây bị khô hạn như ở vùng đất khô cằn Nhiệt độ cao và sự khô hạn nghiêm trọng làm cho khí khẩu bị đóng dẫn đến sự đồng hóa khí CO2

Trang 10

và sự rụng trái non xảy ra bởi sự mất cân bằng của Carbon (Trần Văn Hâu, 2008) Sự rụng trái cũng là quá trình thích ứng khi cây thiếu chất dinh dưỡng, nước, hoocmon cho sự tăng trưởng của chúng, buộc chúng phải rụng đi một sốlượng nhất định các trái non để tập trung chất dinh dưỡng và hoocmon cho những trái khác Ngoài ra, gió cũng là nguyên nhân góp phần vào sự rụng trái non, trong thời kì cây ra trái nếu bị gió nhiều mạnh làm trái dễ bị xây xát và dễ

bị rụng (Nguyễn Ngọc Tuyết, 2003)

Việc áp dụng Zn, K và SA hoặc Zn + K + SA cũng có hiệu quả trong việccải thiện các thông số năng suất và chất lượng của quả cam quýt ở tất cả các điểm Mặc dù giảm rụng trái khi phun Zn, K, SA hoặc Zn + K nhưng ba lần phun lá 10μM SA + 0,25% Zn và K mỗi lần phun làm giảm rụng trái 30% và

cũng cải thiện chất lượng nước trái cây (M.Yasin Ashraf et al., 2012)

4 Các yếu tố ảnh hưởng đến sự ra hoa và đậu trái cam quýt

4.1 Nhiệt độ

Đa số các giống cam quýt có thể sinh trưởng trong phạm vi nhiệt độ từ 12-39C Thích hợp nhất với quýt từ 25-37C Cam chanh sinh trưởng tốt ở 23-29C Nhiệt độ 40C kéo dài trong nhiều ngày làm cây cam quýt ngừng sinh trưởng, rụng lá, cành khô héo Tuy nhiên, có những giống chỉ bị hại khi nhiệt độ không khí lên tới 50-57C (Trần Thế Tục, 1998)

Nhiệt độ dưới 25 oC trong nhiều tuần lễ là yêu cầu kích thích mầm hoa (Inue, 1990 Trích bởi Trần Văn Hâu, 2008) Nhiệt độ cao trong mùa đông trong giai đoạn phân hóa mầm hoa làm giảm tỷ lệ chồi hoa và tăng tỷ lệ chồi sinh dưỡng, do đó làm giảm năng suất trái Nhiệt độ cao hơn 37˚C gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sinh trưởng và năng suất cam quýt cụ thể ở các giốngkhông hạt như cam Navel đặc biệt trong điều kiện khô hạn Cũng như bức xạ mạnh trong thời gian nhiệt độ cao làm giảm sự đậu trái và tăng rụng trái Nhiệt

độ thấp dưới 13˚C hạn chế sự phát triển sinh dưỡng và sự phát triển của trái,

Trang 11

4.3 Nước

Nước là một trong những yếu tố môi trường ảnh hưởng đến sự sinh trưởng và phát dục của cam quýt (Nguyễn Hữu Đống, 2003) Theo Đường Hồng Dật (2003), cây cam quýt rất sợ úng Vào mùa mưa, đất bào hòa nước nên thiếu oxy làm cho bộ rễ hoạt động kém, nhiều rễ bị chết thối làm cho lá vàtrái non rụng nhiều

Theo Nguyễn Bảo Vệ và Lê Thanh Phong (2011), nước có vai trò quan trọng ảnh hưởng đến sự ra hoa của cam quýt Vào mùa khô, nếu cung cấp đủ lượng nước cần thiết thì cây sẽ ra hoa, ở Đồng Bằng Sông Cửu Long, nông dân trông cam quýt thường ít tưới mà chỉ tưới khi nào muốn cây ra hoa tập trung Điều này có ảnh hưởng xấu đến sự sinh trưởng của cây, đặc biệt là ở những vùng đất cao

4.5 Đất

Đất canh tác cam quýt đòi hỏi tầng canh tác dày ít nhất 0,5 m Tốt nhất làđất thịt pha, màu mỡ, thoát nước tốt và thoáng khí do rễ cần nhiều oxy trong đất Giá trị pH tốt cho cam quýt nằm trong khoảng 4-8, tốt nhất là từ 5,5-6,5 Cam quýt đặc biệt mẫm cảm xấu với muốn B, muốn carbonate và NaCl

(Nguyễn Bảo Vệ và Lê Thanh Phong, 2011)

4.6 Ảnh hưởng của dinh dưỡng đến sự ra hoa và đậu trái

Đạm (N), lân (P), kali (K) là các chất dinh dưỡng quan trọng trong việc sản xuất cam quýt, sự thiếu hụt hoặc dư thừa có thể ảnh hưởng đến năng

suất và chất lượng trái (Davie Kadyampakeni et al.,2014).

a Đạm:

Tình trạng dinh dưỡng của cây có liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến

sự ra hoa của cây Hàm lượng đạm cao trong cây còn tơ có thể kích thích sự sinh trưởng quá mạnh và sản xuất chồi sinh trưởng hơn là chồi sinh sản Ngược lại mức độ đạm thấp thúc đẩy ra hoa nhiều mặc dù sự đậu trái và năng

Trang 12

suất thấp Sự thiếu đạm nghiêm trọng sẽ sản xuất ít hoa Do đó, duy trì mức đạm trong lá tối hảo từ 2,5-2,7% sẽ cho số lượng hoa trung bình nhưng sẽ có

sự đậu trái và năng suất cao nhất Đạm dạng ammonium có thể ảnh hưởng trựctiếp đến sự ra hoa thông qua sự điều chỉnh ammonia và hàm lượng polyamine trong chồi (Lovatt, 1988)

Đạm là nguyên tố có vai trò quyết định đến năng suất, phẩm chất của trái Đạm thúc đẩy sự phát triển cành lá, giúp hình thành các đọt mới trong năm Số lá khỏe trên cành có liên quan trực tiếp đến trọng lượng và năng suất trái Nhiều nghiên cứu cho thấy một trái cam muốn phát triển bình thường cần

có 45 lá Bưởi cần 60 lá, chanh cần 20 lá Một trái cam được nuôi dưỡng bởi

10 lá có trọng lượng là 70 g, 35 lá là 120 g và 50 lá nặng 180 g Tuy nhiên, lượng đạm quá mức sẽ cho trái lớn nhưng vỏ dày và phẩm chất quả kém, màu sắc trái đậm hơn, hàm lượng vitamin C có chiều hướng giảm Ngược lại nếu thiếu đạm dẫn đến năng suất bị giảm, trái nhỏ, vỏ mỏng và trái bị chết khô Lá mất diệp lục, bị ngả vàng, cành nhỏ, mảnh và bị rụng lá (Hoàng Ngọc Thuận, 2009)

b Lân

Hàm lượng chất lân thấp không thúc đẩy sự ra hoa nhưng hàm lượng chất lân trong chồi cao rất thích hợp cho sự khởi phát hoa Phân lân rất cần thiết cho cây trong quá trình phân hoá mầm hoa Nếu thiếu lân cành và lá sinh trưởng kém, rụng nhiều, rễ không phát triển được Lân có ảnh hưởng đến phẩm chất trái rõ rệt Phân lân có tác dụng giảm lượng axit trong trái Hương

vị trái ngon hơn, hàm lượng vitamin C giảm và vỏ trái mỏng (Hoàng Ngọc Thuận, 2009)

c Kali

Chất kali cũng cho kết quả tương tự như đối với chất lân Mức độ kali trong lá thấp có liên quan với tỉ lệ hoa cái bất thụ và điều nầy có thể thay thế bằng việc phun CYT do ảnh hưởng của kali lên mức độ CYT trong cây (Trần Văn Hâu, 2008)

Nếu cây được bón đủ kali thì sẽ cho trái to, ngọt và chịu được sự va đập trong quá trình vận chuyển Ngược lại nếu thiếu kali thì cây sẽ sinh trưởng kém, đốt ngắn, cây không lớn Quá nhiều Kali cũng gây hiện tượng hấp thu Canxi, Magiê kém, trái tuy to nhưng vỏ dày, thịt trái thô (Hoàng Ngọc Thuận, 2009)

Ngày đăng: 08/08/2022, 13:13

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w