TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP BỘ MÔN KHOA HỌC CÂY TRỒNG NHÓM 2 HỌC PHẦN XỬ LÍ RA HOA CHUYÊN ĐỀ ĐIỀU TRA KĨ THUẬN XỬ LÝ RA HOA CAM SÀNH (Citrus bibilis var typica Hassk) TẠI HUYỆN TRÀ ÔN, TỈN.
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP
BỘ MÔN KHOA HỌC CÂY TRỒNG
NHÓM 2 HỌC PHẦN XỬ LÍ RA HOA
CHUYÊN ĐỀ:
ĐIỀU TRA KĨ THUẬN XỬ LÝ RA HOA CAM
SÀNH (Citrus bibilis var typica Hassk) TẠI
HUYỆN TRÀ ÔN, TỈNH VĨNH LONG
Giảng viên hướng dẫn:
Gs.Ts Trần Văn Hâu
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP
BỘ MÔN KHOA HỌC CÂY TRỒNG
NHÓM 2 HỌC PHẦN XỬ LÍ RA HOA
CHUYÊN ĐỀ: ĐIỀU TRA KỸ THUẬN XỬ LÝ RA HOA CAM
SÀNH TẠI HUYỆN TRÀ ÔN, TỈNH VĨNH LONG
Cán bộ hướng dẫn: Nhóm thực hiện: nhóm 2
Gs.Ts TRẦN VĂN HÂU Nguyễn Đặng Duy Chương B1708660
Trừ Khánh Duy B1811734
Đinh Minh Thắng B1708660
Trang 3Contents
MỤC LỤC
1.1.2 Khí hậu 3
1.1.3 Lượng mưa 3
1.1.4 Đất đai thổ nhưỡng 3
CHƯƠNG II: LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 4
2.1 Đặc tính thực vật 4
2.1.1 Rễ 4
2.1.2 Thân cành 4
2.1.3 Lá 4
2.1.3 Hoa 4
2.2 Đặc điểm ra hoa đậu trái ở cam quýt 4
2.2.1 Sự kích thích và phân hóa mầm hoa 4
2.2.2 Sự ra hoa và đậu trái và phát triển trái 5
2.2.3 Sự phát triển trái: 6
2.2.4 Sự rụng trái non: 6
2.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến sự ra hoa và đậu trái cam quýt 6
2.3.1 Nhiệt độ 6
2.3.2 Ánh sáng 7
2.3.3 Nước 7
2.3.4 Gió 7
2.3.5 Đất 8
2.3.6 Ảnh hưởng của dinh dưỡng đến sự ra hoa và đậu trái 8
a Đạm 8
b Lân 8
c Kali 9
2.3.7 Các chất đồng hóa trong cây 9
2.3.8 Chất điều hòa sinh trưởng 9
2.4 Biện pháp kích thích ra hoa 10
2.5 Một số sâu bệnh hại cam quýt 11
Trang 42.5.1 Sâu vẽ bùa 11
2.5.2 Ruồi đục trái 11
2.5.3 Rầy chổng cánh 12
2.5.4 Bệnh thối gốc chảy mủ 12
2.5.5 Bệnh vàng lá gân xanh 13
2.5.6 Bệnh vàng lá thối rễ 13
2.5.7 Bệnh tuyến trùng cam quýt 13
2.5.8 Bệnh loét 14
2.5.9 Rệp sáp 14
CHƯƠNG III PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP 15
3.1 Phương tiện 15
3.1.1 Thời gian thực hiện và địa điểm điều tra 15
3.1.2 Đối tượng và phương tiện điều tra 15
3.2 Phương pháp 15
CHƯƠNG IV: KẾT QUẢ THẢO LUẬN 17
4.1 Thông tin nông hộ 17
4.1.1 Diện tích canh tác của các nông hộ 17
4.1.2 Mật độ cây 17
4.1.3 Khoảng cách trồng 18
4.2 Kỹ thuật xử lí ra hoa 19
4.2.1 Phương pháp xử lí ra hoa 19
4.2.2 Bón phân giai đoạn sau thu hoạch 19
4.2.3 Bón phân giai đọa xử lí tạo mầm hoa 20
4.2.4 Bón phân giai đoạn kích thích ra hoa 21
4.2.5 Bón phân giai đoạn nuôi trái 21
4.2.6 Chất điều hòa sinh trưởng 22
4.2.7 Năng suất và giá bán 23
4.3 Đề xuất quy trình xử lí ra hoa 24
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 27
5.1 Kết luận 27
5.2 Đề nghị 27
Trang 5DANH SÁCH HÌNH
1 Bản đồ hành chính huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long 2
4.1 Biểu đồ thể hiện tỉ lệ (%) diện tích canh tác cam Sành của
các nông hộ
17
4.2 Hình 4.2 Biểu đồ thể hiện tỉ lệ (%) về phương pháp xử lí ra
hoa ở vườn canh tác cam Sành của các nông hộ
19
4.3 Hình 4.3 Biểu đồ lượng phân bón cho cam Sành giai đoạn
sau thu hoạch
19
4.4 Biểu đồ lượng phân giai đoạn tạo mầm hoa (kg/1000 m2) 20
4.5 Biểu đồ lượng phân bón cho cam Sành giai đoạn kích thích
ra hoa
21
4.6 Biểu đồ thể hiện lượng phân của các nông hộ trong thời
điểm nuôi trái (kg/1000m²)
21
4.7 Biểu đồ thể hiện tỉ lệ (%) các nông hộ có và không có sử
dụng chất điều hòa sinh trưởng cho cam Sành
22
Trang 64.2 Khoảng cách trồng cam Sành của các nông hộ 18
Trang 71
CHƯƠNG I MỞ ĐẦU
Cam quýt là loại trái cây được sản xuất nhiều nhất trên thế giới với sản lượng xấp xỉ 124 triệu tấn trong đó 53,9% tổng sản lượng cam quýt là cam, 26,5% là quýt, 12,86% là chanh, 6,69% là bưởi và còn lại là các loại trái cây cam quýt khác (FAO, 2016) , cam quýt trồng được ở vùng nhiệt đới hay bán nhiệt đới (Nguyễn Bảo Vệ và Lê Thanh Phong, 2011) Trái cam quýt được sử dụng rộng rãi vì chứa nhiều chất dinh dưỡng cần thiết cho cơ thể, nhất là vitamin
C (Trần Thượng Tuấn, 1994)
Vĩnh Long ở vị trí trung tâm của Đồng Bằng Sông Cửu Long, nằm giữa sông Tiền và sông Hậu Có quốc lộ 1A là tuyến giao thông huyết mạch nên việc gaio lưu kinh tế bằng đường bộ và đường thủy khá thuận lợi Nguồn lực tư nhiên được ưu đãi: đất đai màu mỡ, nguồn nước ngọt dồi dào, ít bị ảnh hưởng bởi lũ lụt, khí hậu ôn hòa Có những vùng trồng cây ăn trái đặc sản nổi tiếng như bưởi Năm Roi ở Bình Minh và cam Sành ở Trà Ôn cũng mới nổi lên những năm gần đây
Theo Sở Nông nghiệp và phát triển nông thô tỉnh Vĩnh Long, năm 2019 Vĩnh Long có tổng diện tích trồng cam là 10.026 ha Trong đó, huyện vùng có diện tích trồng cam sành lớn nhất là huyện Trà Ôn với diện tích là 4.356 ha Do lợi nhuận từ loại cây trồng này khá cao (đạt khoảng 120 – 150 triệu đồng/ha vào
vụ thuận, vụ nghịch lợi nhuận lên đến 300 – 350 triệu/ha) nên nhiều nông dân
đã ồ ạt chuyển đổi đất lúa sang canh tác cam Sành Tuy mô hình trồng cam sành trên đất lúa mang lại lợi nhuận cao và thu hồi vốn nhanh, song cũng tiềm ẩn nhiều rủi ro do thiếu tính bền vững xuất phát từ việc tăng dày mật độ và sử dụng quá nhiều phân hóa, thuốc bảo vệ thực vật, các chất tăng trưởng, nên hiệu quả mang lại trong thời gian ngắn (từ 2- 5 năm)
Việc sử dụng phân bón, chất kích thích sinh trưởng để xử lí ra hoa nghịch
vụ là một vấn đề đáng được quan tâm do tính bền vững và an toàn của phương thức này Chính vì thế, chuyên đề “Điều tra kỹ thuật xử lý ra hoa trên cây cam Sành tại huyện Trà Ôn tỉnh Vĩnh Long” được thực hiện nhằm mục đích tìm hiểu
kĩ thuật xử lý ra hoa, từ đó có những đánh giá về thực trạng hiện tại và đề xuất biện pháp hợp lí hơn nhằm đảm bảo tính bền vững cho mô hình canh tác cam Sành
Trang 82
1.1 Điều kiện tự nhiên
1.1.1 Vị trí địa lí
Vĩnh Long nằm ở trung tâm Đồng bằng Sông Cửu Long, ở giữa sông Tiền
và sông Hậu Phía Đông và Đông Nam của tỉnh Vĩnh Long giáp Trà Vinh, phía Tây và Tây Nam giáp Cần Thơ, Hậu Giang, Sóc Trăng; Phía Bắc giáp với Tiền Giang, Bến Tre phía Đông bắc; Tây Bắc giáp với Đồng Tháp Tổng diện tích tự nhiên là 1.526 km2, diện tích đất nông nghiệp chiếm 78.23 % (118.918 ha); trong đó, đất canh tác cây hàng năm 72.565 ha, chiếm 47.73 % diện tích tự nhiên Tỉnh Vĩnh Long có 8 đơn vị hành chính, gồm 6 huyện (Bình Tân, Long
Hồ, Mang Thít, Tam Bình, Trà Ôn, Vũng Liêm); thị xã Bình Minh và Thành phố Vĩnh Long với 109 xã, phường, thị trấn (94 xã, 5 thị trấn và 10 phường)
(Cổng thông tin điện tử tỉnh Vĩnh Long)
Trà Ôn nằm ở phía Tây Nam tỉnh Vĩnh Long, cách Thị xã Vĩnh Long khoảng 35 km và cách Thành Phố Cần Thơ khoảng 17 km theo đường chim bay Trà Ôn có mạng lưới giao thông thuỷ bộ thuận lợi, nối liền huyện với Thành Phố Hồ Chí Minh, Thành Phố Cần Thơ và các tỉnh miền Quốc Lộ 54, tỉnh lộ
901, 904, 906, 907 đi ngang qua huyện nối Trà Ôn với các tỉnh Trà Vinh, Đồng Tháp Sông Hậu nằm cặp bờ Tây của huyện, sông Mang Thít nằm ở bờ Tây Bắc của huyện nối liền sông Tiền với sông Hậu và sông Trà Ngoa nối từ sông Mang Thít xuyên ngang qua giữa huyện đến giáp tỉnh Trà Vinh (Cổng thông tin diện
tử huyện Trà Ôn)
Hình 1 Bản đồ hành chính huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long
Trang 91.1.3 Lượng mưa
Hàng năm có 2 mùa rõ rệt : Mùa khô kéo dài từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau, đây là mùa nắng gay gắt ảnh hưởng xấu đến sản xuất nông nghiệp Mùa mưa, từ tháng 5 đến tháng 11, trung bình có khoảng 115 ngày mưa, với lượng mưa khoảng 1400 - 1500 mm (Cổng thông tin diện tử huyện Trà Ôn)
1.1.4 Đất đai thổ nhưỡng
Diện tích tự nhiên là 26.714,42 ha: Đất sản xuất nông nghiệp 22.019,28
ha, chiếm 82,4% diện tích tự nhiên, trong đó: đất trồng cây hàng năm 12.701,06
ha, chiếm 57,6 % đất nông nghiệp, chủ yếu là trồng lúa và một ít trồng rau màu, đất trồng cây lâu năm, cây ăn trái 9.246,31 ha, chiếm gần 42% đất nông nghiệp (Cổng thông tin diện tử huyện Trà Ôn) Địa hình tương đối bằng phẳng, địa hình cao từ sông Hậu, sông Trà Ôn và sông Mang Thít thấp dần về phía Đông Bắc, cao trình biến thiên từ 1,25-0,5 m: vùng có cao trình từ 1-1,25 m gồm các xã ven sông Hậu và sông Trà Ôn - Mang Thít như Tích Thiện, Thiện Mỹ, Thị trấn Trà Ôn và Tân Mỹ; Vùng có cao trình từ 0,75-1 m gồm các xã Vĩnh Xuân, Thuận Thới, Hựu Thành, Trà Côn; Vùng có cao trình từ 0,5-0,75 m gồm các xã Hòa Bình, Xuân Hiệp, Nhơn Bình, Thới Hòa (Cổng thông tin diện tử huyện Trà Ôn)
Về tính chất cơ hóa, đất đai của huyện được chia thành 03 nhóm chính: Nhóm đất phèn 8.512 ha chiếm 33,33 % diện tích tự nhiên, phân bố chủ yếu ở các xã vùng trũng như Hòa Bình, Xuân Hiệp, Nhơn Bình, Thới Hòa và 1 phần của Thuận Thới, Hựu Thành, tuy là đất phèn nhưng tầng sinh phèn ở rất sâu (đất phèn nông chỉ chiếm 34%), được cải tạo và canh tác khá thuần thục, bố trí 2 - 3
vụ lúa trong năm cho năng suất khá cao; Nhóm đất phù sa 17.140 ha chiếm 67,11% diện tích tự nhiên, phân bố tập trung ở các xã ven tuyến sông Hậu và sông Mang Thít, là vùng đất phì nhiêu thuận tiện cho trồng cây ăn trái; Nhóm đất cát giồng: 185 ha chiếm 0,72% diện tích tự nhiên, phân bố tập trung ở 3 giồng cát: giồng Thanh Bạch (xã Thiện Mỹ), giồng La Ghì (xã Vĩnh Xuân) và giồng Gòn (xã Thuận Thới), chủ yếu là đất thổ cư, trồng cây lâu năm và rau màu (Cổng thông tin diện tử huyện Trà Ôn)
Trang 104
CHƯƠNG II LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 2.1 Đặc tính thực vật
2.1.1 Rễ
Rễ cây cam quýt nói chung thuộc loại rễ nấm (Micorhiza) (Nguyễn Bảo
Vệ và Lê Thanh Phong, 2011) Nấm này kí sinh trên lớp biểu bì của rễ, cung cấp nước, muối khoáng và một lượng nhỏ các chất hữu cơ Vai trò của chúng giống như những lông hút ở thực vật khác Chính vì đặc điểm này, cam quýt không ưa trồng sâu, rễ cam quýt phân bố rất nông, tương đối rộng và dày ở tầng
đất mặt (Trần Thế Tục và ctv., 1998)
2.1.2 Thân cành
Cam quýt là cây thân thân gỗ, có loại bán bụi, trưởng thành có từ 4-6 cành chính (Đường Hồng Dật, 2003) Các cành chính thường mọc ra cách mặt đất khoảng 1 mét Cành mọc từ cây trồng bằng hột có thể có gai nhưng đến giai đoạn ra hoa đậu trái thì gai ít phát triển (Trần Thượng Tuấn, 1994)
2.1.3 Lá
Lá cam quýt có hình dáng rất khác nhau: lá của cây Chỉ (Poncirus) có chia
thùy Các loài cam quýt khác thường có hình ô van, hình trứng ngược, hình thoi
có eo lá hoặc không có, eo lá to hoặc nhỏ Đa số các loài cam quýt, mép lá có răng cưa trừ quất (Trần Thế Tục, 1998)
2.1.3 Hoa
Hoa cam quýt gồm 2 loại: hoa đầy đủ và hoa dị hình Nhị có thể có phấn hoặc không có phấn Số nhị thường gấp 4 lần số cánh hoa, xếp thành hai vòng Hoa dị hình là hoa phát triển không đầy đủ cuống và cánh ngắn Hình dạng khác với hoa đầy đủ và có số lượng ít, khoảng 10-20% (Trần Thế Tục, 1998; Đường Hồng Dật, 2003)
2.2 Đặc điểm ra hoa đậu trái ở cam quýt
2.2.1 Sự kích thích và phân hóa mầm hoa
Sự kích thích mầm hoa bắt đầu sau khi dừng sinh trưởng dinh dưỡng trong thời gian nghỉ đông ở vùng á nhiệt đới hoặc trong thời gian khô hạn ở vùng nhiệt đới Trên cây trưởng thành, sự sinh trưởng của chồi dừng và tỉ lệ sinh trưởng giảm khi nhiệt độ xuống chưa đến 12,5oC Trong thời gian sinh trưởng này, mầm phát triển khả năng ra hoa Do đó, sự kích thích ra hoa bao hàm sự kiện trực tiếp chuyển từ sinh trưởng dinh dưỡng sang ra hoa (Davenport, 1990 Trích bởi Trần Văn Hâu, 2008) Nhiệt độ thấp và khô hạn là hai yếu tố kích thích đầu
Trang 112.2.2 Sự ra hoa và đậu trái và phát triển trái
Hoa hình thành và phát triển trên cành một năm tuổi Cành vượt thường ra hoa có mang lá và cành gỗ già thường ra hoa không mang lá Cây tơ, chưa ổn định thường ra hoa không tốt bằng cây trưởng thành (Trần Văn Hâu, 2008) Hoa cam quýt được chia là 2 loại: hoa đơn và hoa chùm Nhóm hoa đơn thường chỉ ra một hoa ở đầu cành, cành đơn có nhiều lá Đó là những cành có khả năng đậu trái cao Những cây nếu chăm bón đầy đủ sẽ ra nhiều loại cành này Nhóm hoa chùm có ở cành, mỗi nách là có một hoa Thông thường có từ 3-7 hoa trên một cành, thường những cành này đậu được 1-2 trái Ngoài ra còn một số nhánh hoa không có lá, mỗi chùm 4-5 hoa, loại hoa này có tỉ lệ đậu trái thấp (Đường Hồng Dật, 2003)
Sự đậu trái cam quýt bị ảnh hưởng rất mạnh bởi nhiệt độ và sự khô hạn Nhiệt độ cao hơn 35oC và sự khô hạn dễ gây rụng trái non Nhiều tác giả cho rằng sự rụng sinh lý khi trái chín có kích thước 0,5-2 cm có liên quan đến chất điều hòa sinh trưởng, nước và các chất liên carbohydrate (Trần Văn Hâu, 2008) Theo Đường Hồng Dật (2003), độ ẩm đất và không khí cũng ảnh hưởng đến sự ra hoa và đậu trái của cam quýt, nếu đủ ẩm trong mùa hè và hạn nhẹ từ tháng 12 đến tháng 2 năm sau hoa sẽ đậu trái nhiều Tháng 3-4 khô hạn làm giảm số lượng trái trên cây
Hầu hết các loại cam quýt đều tự thụ phấn, một số loài quýt có đặc tính là
tự bất thụ như Clemetine, quýt Minnoela Do đó, khi thiết kế vườn cần chú ý nguồn phấn giúp cho các cây này đậu trái Côn trùng như ong mật có khả năng thụ phấn hiệu quả hơn cả gió Thông thường một đàn ong có khả năng thụ phấn cho 0,8 ha diện tích trồng cam quýt
Trang 126
2.2.3 Sự phát triển trái:
Theo Trần Văn Hâu (2008), sự phát triển trái cam quýt theo đường con đơn giản, gồm 3 giai đoạn như các loại trái cây khác:
(1) Giai đoạn phân chia tế bào: 4 – 6 tuần sau khi ra hoa
(2) Sự phát triển kích thước trái:
- Chanh : 2 – 3 tháng
- Cam, quýt hơn 6 tháng
(3) Giai đoạn trưởng thành: ngắn hơn 2 tháng
Một vài đặc tính của trái được xác định trong hai tháng đầu sau khi ra hoa (cấu trúc, hình dạng, kích thước và bề dày của con tép) Tỉ lệ phát triển trái phụ thuộc vào số lượng trái mà cây đang mang (Trần Văn Hâu, 2008)
2.2.4 Sự rụng trái non:
Sự rụng trái non bắt đầu sau khi hoa nở cho đến 3-4 tuần sau khi hoa nở
Sự rụng trái non xảy ra nghiêm trọng khi nhiệt độ trên bề mặt lá từ 35 oC đến
40 oC hoặc khi cây bị khô hạn như ở vùng đất khô cằn Nhiệt độ cao và sự khô hạn nghiêm trọng làm cho khí khẩu bị đóng dẫn đến sự đồng hóa khí CO2 và sự rụng trái non xảy ra bởi sự mất cân bằng của Carbon (Trần Văn Hâu, 2008) Sự rụng trái cũng là quá trình thích ứng khi cây thiếu chất dinh dưỡng, nước, hoocmon cho sự tăng trưởng của chúng, buộc chúng phải rụng đi một số lượng nhất định các trái non để tập trung chất dinh dưỡng và hoocmon cho những trái khác Ngoài ra, gió cũng là nguyên nhân góp phần vào sự rụng trái non, trong thời kì cây ra trái nếu bị gió nhiều mạnh làm trái dễ bị xây xát và dễ bị rụng (Nguyễn Ngọc Tuyết, 2003)
Việc áp dụng Zn, K và SA hoặc Zn + K + SA cũng có hiệu quả trong việc cải thiện các thông số năng suất và chất lượng của trái quả cam quýt ở tất cả các điểm Mặc dù giảm rụng trái khi phun Zn, K, SA hoặc Zn + K nhưng ba lần phun lá 10μM SA + 0,25% Zn và K mỗi lần phun làm giảm rụng trái 30% và
cũng cải thiện chất lượng nước trái cây (M.Yasin Ashraf et al., 2012) (tài liệu
tiếng Anh bài 1)
2.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến sự ra hoa và đậu trái cam quýt
2.3.1 Nhiệt độ
Đa số các giống cam quýt sinh trưởng trong phạm vi nhiệt độ từ 12-39C Thích hợp nhất với quýt từ 25-37C Cam chanh sinh trưởng tốt ở 23-29C Nhiệt độ 40C kéo dài trong nhiều ngày làm cây cam quýt ngừng sinh trưởng,
Trang 13độ thấp dưới 13˚C hạn chế sự phát triển sinh dưỡng và sự phát triển của trái, và gây ra sự chậm chín (Abobatta, 2019) (tài liệu tiếng Anh bài 2)
2.3.2 Ánh sáng
Cường độ ánh sáng thích hợp cho cam quýt thay đổi từ 10,000-15,000 lux (tương đương với ánh sáng vào khoảng 8 giờ sáng và 4-5 giờ chiều) (Nguyễn Bảo Vệ và Lê Thanh Phong, 2011) Trong điều kiện bình thường, nếu thiếu ánh sáng, sự quang hợp sẽ kém, lượng cacbon hydrat tích lũy ít, sản lượng giảm, phẩm chất kém Nhưng nếu quá nhiều ánh sáng, nhiệt độ cao quá gây phát dục kém, vỏ bị nám, múi ít nước, khô và xốp (Nguyễn Hữu Đống, 2003)
2.3.3 Nước
Nước là một trong những yếu tố môi trường ảnh hưởng đến sự sinh trưởng
và phát dục của cam quýt (Nguyễn Hữu Đống, 2003) Theo Đường Hồng Dật (2003), cây cam quýt rất sợ úng Vào mùa mưa, đất bào hòa nước nên thiếu oxy làm cho bộ rễ hoạt động kém, nhiều rễ bị chết thối làm cho lá và trái non rụng nhiều
Theo Nguyễn Bảo Vệ và Lê Thanh Phong (2011), nước có vai trò quan trọng ảnh hưởng đến sự ra hoa của cam quýt Vào mùa khô, nếu cung cấp đủ lượng nước cần thiết thì cây sẽ ra hoa, ở Đồng Bằng Sông Cửu Long, nông dân trồng cam quýt thường ít tưới mà chỉ tưới khi nào muốn cây ra hoa tập trung Điều này có ảnh hưởng xấu đến sự sinh trưởng của cây, đặc biệt là ở những vùng đất cao
2.3.4 Gió
Theo Nguyễn Hữu Đống (2003), gió nhẹ trong các vườn cam quýt làm hơi nước, cacbondioxit trộn đều, có lợi cho bộ lá, ít phát sinh bệnh Trong thời kì ra trái, nếu gió mạnh làm rụng trái, xây xát thậm chí đổ ngã cây nhất là đối với cây trồng từ cành chiết Các tỉnh ven biển miền Trung vào mùa mưa bão, các trận gió lớn gây gãy cành, rụng trái làm giảm năng suất nghiêm trọng Vì vậy, khi
Trang 14Bảo Vệ và Lê Thanh Phong, 2011)
2.3.6 Ảnh hưởng của dinh dưỡng đến sự ra hoa và đậu trái
Đạm (N), lân (P), kali (K) là các chất dinh dưỡng quan trọng trong việc sản xuất cam quýt, sự thiếu hụt hoặc dư thừa có thể ảnh hưởng đến năng suất và
chất lượng trái (Davie Kadyampakeni et al.,2014) (tài liệu tiếng Anh bài 3)
a Đạm
Tình trạng dinh dưỡng của cây có liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến sự
ra hoa của cây Hàm lượng đạm cao trong cây còn tơ có thể kích thích sự sinh trưởng quá mạnh và sản xuất chồi sinh trưởng hơn là chồi sinh sản Ngược lại mức độ đạm thấp thúc đẩy ra hoa nhiều mặc dù sự đậu trái và năng suất thấp
Sự thiếu đạm nghiêm trọng sẽ sản xuất ít hoa Do đó, duy trì mức đạm trong lá tối hảo từ 2,5-2,7% sẽ cho số lượng hoa trung bình nhưng sẽ có sự đậu trái và năng suất cao nhất Đạm dạng ammonium có thể ảnh hưởng trực tiếp đến sự ra hoa thông qua sự điều chỉnh ammonia và hàm lượng polyamine trong chồi (Lovatt, 1988)
Đạm là nguyên tố có vai trò quyết định đến năng suất, phẩm chất của trái Đạm thúc đẩy sự phát triển cành lá, giúp hình thành các đọt mới trong năm Số
lá khỏe trên cành có liên quan trực tiếp đến trọng lượng và năng suất trái Nhiều nghiên cứu cho thấy một trái cam muốn phát triển bình thường cần có 45 lá Bưởi cần 60 lá, chanh cần 20 lá Một trái cam được nuôi dưỡng bởi 10 lá có trọng lượng là 70 g, 35 lá là 120 g và 50 lá nặng 180 g Tuy nhiên, lượng đạm quá mức sẽ cho trái lớn nhưng vỏ dày và phẩm chất trái kém, màu sắc trái đậm hơn, hàm lượng vitamin C có chiều hướng giảm Ngược lại nếu thiếu đạm dẫn đến năng suất bị giảm, trái nhỏ, vỏ mỏng và trái bị chết khô Lá mất diệp lục, bị ngả vàng, cành nhỏ, mảnh và bị rụng lá (Hoàng Ngọc Thuận, 2009)
b Lân
Hàm lượng chất lân thấp không thúc đẩy sự ra hoa nhưng hàm lượng chất lân trong chồi cao rất thích hợp cho sự khởi phát hoa Phân lân rất cần thiết cho cây trong quá trình phân hoá mầm hoa Nếu thiếu lân cành và lá sinh trưởng
Trang 159
kém, rụng nhiều, rễ không phát triển được Lân có ảnh hưởng đến phẩm chất trái rõ rệt Phân lân có tác dụng giảm lượng axit trong trái Hương vị trái ngon hơn, hàm lượng vitamin C giảm và vỏ trái mỏng (Hoàng Ngọc Thuận, 2009)
c Kali
Chất kali cũng cho kết quả tương tự như đối với chất lân Mức độ kali trong lá thấp có liên quan với tỉ lệ hoa cái bất thụ và điều nầy có thể thay thế bằng việc phun CYT do ảnh hưởng của kali lên mức độ CYT trong cây (Trần Văn Hâu, 2008)
Nếu cây được bón đủ kali thì sẽ cho trái to, ngọt và chịu được sự va đập trong quá trình vận chuyển Ngược lại nếu thiếu kali thì cây sẽ sinh trưởng kém, đốt ngắn, cây không lớn Quá nhiều Kali cũng gây hiện tượng hấp thu Canxi, Magiê kém, trái tuy to nhưng vỏ dày, thịt trái thô (Hoàng Ngọc Thuận, 2009)
2.3.7 Các chất đồng hóa trong cây
Lý thuyết về các sản phẩm đồng hóa dựa trên kết quả của biện pháp khoanh cành hay khấc thân đã làm tăng sự kích thích ra hoa, sự đậu trái và hàm lượng tinh bột trong cành, có lẽ do ngăn cản sự vận chuyển các sản phẩm carbohydrate trong mạch libe đến rễ Ngược lại cũng có những nghiên cứu cho rằng không có
sự liên hệ giữa hàm lượng tinh bột trong lá và chồi non với sự ra hoa ở cam quýt (Davenport, 1990 Trích bới Trần Văn Hâu, 2008) Tuy nhiên, hàm lượng carbohydrate trong rễ thấp do cây mang trái quá nhiều ở năm trước có ảnh hưởng đến sự ra chồi và ra hoa năm sau
Nghiên cứu của Iglesias (2003), bằng việc bổ sung đường sucrose bằng cách tiêm vào thân làm tăng khả năng đậu trái của cam quýt hơn 10% Việc bổ sung đường sucrose sẽ chống lại tác động làm rụng lá một phần trên cây đậu trái Khi đường sucrose được cung cấp liên tục từ khi ra hoa cho đến khi thu hoạch, nó làm tăng nồng độ đường hòa tan trong trái
2.3.8 Chất điều hòa sinh trưởng
Các chất điều hòa sinh trưởng thực vật đã được sử dụng trong sản cam quýt để ảnh hưởng đến sự ra hoa, đậu trái và rụng trái và đóng một vai trò quan trọng trong sự phát triển và rụng trái của cây Những chất này cũng đã được sử dụng để ảnh hưởng đến các yếu tố chất lượng trái cây như chất lượng vỏ và màu sắc, kích thước trái cây, chất lượng nước trái cây và để cải thiện tổng chất rắn
hòa tan trong các loài cam quýt khác nhau (Harsimrat K Bons et al., 2015) (tài
liệu tiếng Anh bài 3)
Theo Monselise và Halevy (1964) (trích bởi Trần Văn Hâu, 2008), khi phun Gibberellin lên lá trước phân hóa mầm hoa có thể ức chế sự ra hoa Do đó
Trang 16Theo Martinez et al (2004), (trích dẫn bởi Harsimrat K Bons et al., 2015)
sự ra hoa của quýt Hernandina bị giảm đến 25% và của quýt Orogrande đến 60% khi phun GA3 (6 L mỗi cây với nồng độ 20-50 mg/l)
2.4 Biện pháp kích thích ra hoa
Đặc điểm chung của các loài cam quýt là sự phân hóa hoa được tiến hành trong giai đoạn khô hạn Sau đó, việc cung cấp nước trở lại có tác dụng kích thích ra hoa đồng loạt (Nguyễn Bảo Vệ và Lê Thanh Phong, 2011)
Cây cam quýt đòi hỏi thời gian khô hạn cho sự phân hoá mầm hoa tương đối ngắn, từ 15-20 ngày đối với cây quýt đường hay 30 ngày đối với cam, bưởi
Do đó, sau thời gian cảm ứng ra hoa cần thiết, biện pháp tưới nước trong mùa khô có ý nghĩa thúc đẩy sự ra hoa nên cây cam quýt thường ra hoa vào tháng 12-1 và thu hoạch từ tháng đến tháng 8-12 Đây là mùa thuận của cây ở ĐBSCL (Trần Văn Hâu, 2005)
Theo Nguyễn Bảo Vệ và Lê Thanh Phong (2011), ở Đồng Bằng Sông Cửu Long, nông dân có thể sử dụng biện pháp kích thích ra hoa như sau: Sau khi mừa mưa chấm dứt, khoảng tháng 12 Dương lịch, tiến hành làm cỏ bờ, rút nước
ra khỏi mươn trong vườn, không tưới, thời gian kéo dài trung bình khoảng 1 tháng Khi cây có triệu chứng héo, tiến hành tưới đẫm liếp (tưới khoảng 3 ngày), bón phân, phủ liếp, vét mương, bồi liếp Khi sình khô nứt (khoảng 3 ngày nắng), thì tưới nước trở lại Trong 5-10 ngày đầu tiên, tưới nước liên tục mỗi ngày/lần,
10 ngày tiếp theo tưới 2 ngày/lần, thời gian sau tưới 3 ngày/lần cho đến khi mưa đều Khoảng 5-10 ngày sau khi tưới nước cây sẽ ra nụ hoa, trổ rộ trong khoảng 15-20 ngày sau khi tưới Vụ xử lý này cho trái khoảng tháng 10-11 đối với cam Sành Trường hợp muốn cho trái bán gần tết, có thể xiết nước trễ hơn vào khoảng tháng 2,3 Dương lịch
Theo Nguyễn Mạnh Chinh (2011), thì đối với các cây cam quýt có 2 cách
xử lý ra hoa thường làm là xiết nước và bón phân:
+ Biện pháp xiết nước: Sau khi thu hoạch tiến hành tỉa cành và bón phân Sau đó rút hết nước để khô vườn từ 20-25 ngày đến khi thấy lá hơi héo thì cho nước vào cách mặt vườn 20-30 cm trong 12h rồi rút nước ra còn cách mặt vườn 50-60 cm Trong thời gian rút nước kết hợp phun KNO3 và chất kích thích Atonik thời gian xiết nước sẽ rút ngắn cây sớm ra hoa
Trang 1711
+ Biện pháp bón phân: Sau khi thu hoạch tiến hành vệ sinh vườn sau đó bón phân đạm Ure hoặc Thioure với liều lượng cao gấp đôi bình thường, đồng thời bón phân kết hợp phun KNO3 nồng độ 0.1 %, pha thêm Auxin hoặc GA Sau khi xử lý 20-30 ngày cây sẽ ra hoa
Theo Nguyễn Danh Vàn (2008), có thể áp dụng kết hợp những biện pháp sau đây để xử lí ra hoa cam Sành trong mùa nghịch: khi càm Sành ra hoa chính
vụ vào tháng 12 âm lịch, chờ cây ra hoa thật rộ rồi bón cho mỗi cây 100 g phân đạm (cây 2-3 năm tuổi), rải phân đều và tưới nước cho phân ngấm vào đất Sau khi tưới 3 ngày thì cắt nước 1 tuần Khi đó hoa bắt đầu rụng và 2 tuần sau chỉ còn khoảng 10% số hoa, những hoa này sẽ tiếp tục đậu trái, chờ đến khi số trái này lớn cỡ đầu ngón tay thì lặt bỏ Sau khi cắt nước 20-25 ngày lá cam bắt đầu héo vào buổi trưa và chiều, đến lúc này tưới nước trở lại 3 ngày một lần và tiếp tục chăm sóc bình thường Đầu tháng 3 âm lịch tiến hành cắt nước lần 2 khoảng
2 tuần lễ, sau khi cắt nước 2 tuần lá cam bắt đầu héo giống như khi cắt nước lần
1 Đến lúc này tưới trở lại và bón cho cây them một đợt phân NPK (20-20-15) với lượng 1 bao cho 1 công Tiếp tục tưới nước hàng ngày giữ ẩm cho cây đến đầu tháng 4 âm lịch thì cây sẽ ra tược và ra hoa
2.5 Một số sâu bệnh hại cam quýt
2.5.1 Sâu vẽ bùa
Tên khoa học: Phyllocnis Citrella Stainton
Đặc điểm gây hại: Gây hại rất sớm trên các lá non, sâu đục lòn trong lá để gây hại Khi cây bị gây hại nặng, chồi non ngừng tăng trưởng và cành có thể trở nên trơ trụi không lá Ngoài ra sâu vẽ bùa còn là nguyên nhân gây bệnh loét trên cam quýt (Nguyễn Thị Thu Cúc, 2015)
Phòng trị: tỉa cành cho ra đọt non tập trung, mau thành thục để hạn chế sự phá hại của sâu Phun thuốc ngay khi lá non vừa có triệu chứng đầu tiên (25% đọt hoặc lá non) bằng các loại thuốc nhóm Abamectin hoặc Imidacloprid (Nguyễn Đức Cường, 2010)
2.5.2 Ruồi đục trái
Tên khoa học: Bactrocera dorsalis Hendel
Đặc điểm gây hại: Gây hại trên cam quýt giai vào giai đoạn trái sắp chín
Trang 1812
- Cày lật đất sau thu hoạch để diệt nhộng sống trong đất
- Đặt bẫy methyl eugenon để diện ruồi trưởng thành
- Phun bả mồi protein trộn thuốc hóa học để diệt ruồi trưởng thành trước khi
đẻ trứng, phun định kì 1 tuần/lần khi trái trưởng thành
2.5.3 Rầy chổng cánh
Tên khoa học: Diaphoria citri
Đặc điểm gây hại: Khi mật số cao, rầy chích hút làm chồi bị khô, rụng lá, ảnh hưởng đến sự phát triển của cây và ra trái Dịch ngọt do rầy chổng cánh tiết
ra tạo điều kiện cho nấm bồ hóng phát triển Sự gây hại quan trọng nhất của rầy
chổng cánh là do loài này truyền vi khuẩn Liberobater asiaticum gậy bệnh vàng
lá gân xanh trên cam quýt Rầy chổng cánh truyền bệnh từ cây này qua cây khác
từ kim chích hút và nước bọt (Nguyễn Thị Thu Cúc, 2015)
Biện pháp phòng trị (theo Nguyễn Danh Vàn, 2008):
- Không nên trồng các loại cây kiểng là kí chủ phụ của rầy chổng cánh thuộc họ cam quýt như nguyêt quế, cần thăg kim quýt,… trong hoặc gần các vườn trồng cam quýt Nên trồng cây chăn gió quanh vườn để ngăn chặn rầy bay
từ nơi này sang nơi khác Kiểm tra vườn cam quýt thường xuyên nhất là vào các đợt cây ra đọt, lá non hoặc sau cơn giông có thể đưa rầy từ nơi khác đến để phát hiện sơm và phun diệt kịp thời bằng các loại thuốc hóa học
2.5.4 Bệnh thối gốc chảy mủ
Theo Nguyễn Bảo Vệ và Lê Thanh Phong (2011), bệnh thối gốc chảy mủ
do nhiều loại nấm gây ra như: Phytophthora nicotinae var parasitica; Phytopthora citophthora Leonian; Betryodiplodia theobromae Pat,
Triệu chứng điển hình của bệnh là chảy gôm, thối rễ, thối vỏ thân nứt thân cành, mạch gỗ hóa nâu, cây suy tàn, chết dần (Lê Lương Tề và Vũ Triệu Mân, 1999)
Theo Đường Hồng Dật (2003), có thể phòng trị bệnh này bằng những biện pháp sau: tránh làm tổn thương cây, chọn gốc ghép kháng bệnh; nạo khoét mô bệnh khử trùng bằng các loại thuốc trị nấm gốc đồng Theo Nguyễn Thị Thu
Cúc và ctv (2006), có thể dùng gốc ghép cam chua hay cam ba lá; vào mùa
mưa, không nên tủ cỏ sát gốc, tốt nhất là cách gốc 30-50 cm Có thể dùng nấm
đối kháng với nấm Phytophthora sp là nấm Tricoderma hazianum để phòng trị
(Nguyễn Danh Vàn, 2008a)
Trang 1913
2.5.5 Bệnh vàng lá gân xanh
Nhiều tác giả cho rằng do vi khuẩn Liberobacter asiaticum gây ra mà rầy
chổng cánh là nguyên nhân chính lây truyền bệnh này
Triệu chứng là trên phiến lá trên các chồi non thường hẹp, mọc thẳng đứng
Lá có màu vàng nhưng gân lá còn xanh hoặc bị vàng loang lỗ Trái nhỏ, lệch tâm, hột nhỏ và nâu đen (Nguyễn Thị Thu Cúc, 2015)
Biện pháp phòng trị: giảm số lượng lượng rầy chổng cánh trong tự nhiên bằng các biện pháp hóa học hay sinh học(Vũ Công Hậu, 1999) Bón phân hữu
cơ và vô cơ đầy đủ, cân đối để cây có sức chống chịu, hồi phục nhanh kéo dài
độ tuổi khai thác trái, nhất là đối với cây chớm nhiễm Những cây già bị bệnh nặng, khô chết cần hủy bỏ, đào gốc Xử lý các chồi mắt ghép bằng Tetracycline nồng độ 1000 ppm trong 30 phút trước ckhi ghép (Lê Lương Tề và Vũ Triệu Mân, 1999)
2.5.6 Bệnh vàng lá thối rễ
Theo kết quả nghiên cứu của Phạm Văn Kim và ctv (1997), đã xác định được nguyên nhân gây ra bệnh vàng lá thối rễ trên cam quýt là nấm Fusarium solani Bên cạnh đó còn có yếu tố ngoại cảnh như tình trạng ngập úng làm rễ
kém phát triển và thúc đẩy sự gây hại của nấm
Theo Nguyễn Thị Thu Cúc và Phạm Hoàng Oanh (2002), để phòng trị bệnh vàng lá thối rễ có thể áp dụng những biện pháp sau:
- Trồng nơi đất cao, thoát nước tốt Nếu vườn thấp, phải thoát nước trong mùa mưa
-Nếu phát hiện sớm có thể cắt bỏ rễ bị thối và bôi thuốc vào vết cắt
- Bón phân chuồng hoai mục cũng hạn chế bệnh này hiệu quả
2.5.7 Bệnh tuyến trùng cam quýt
Duncan (2005), cho rằng loài tuyến trùng Tylenchulus semipentrans gây
thiệt hại năng nhất trên cam quýt trong hầu hết các loài tuyến trùng hiện diện Triệu chứng có thể ghi nhận là trong điều kiện tối ưu, cây bị nhiễm tuyến trùng cho ít trái hơn mặc dù sinh trưởng khá tốt Khi mới trồng, cam quýt nhiễn tuyến trùng triệu chứng xuất hiện chậm cho đến khi có mật số tuyến trùng cao Rễ phát triển kém, lá nhỏ và trở nên úa vàng, dễ bị héo hơn khi thiếu nước Rễ nhiễm mức độ nhẹ dày hơn so với rễ khỏe và tối màu do các hạt đất bám vào các khối trứng trên bề mặt rễ Rễ bị tấn công có thể thối nhanh chóng do bị các sinh vật thứ cấp xâm nhiễm (Duncan, 2005)
Trang 2014
Theo Nguyễn Thị Thu Cúc và Phạm Hoàng Oanh (2003), phòng trị khi mật số ấu trùng trong đất nhiều hơn 10000 con trong 500g đất Nhiều nước trên thế giới sử dụng giống kháng tuyến trùng Có thể bón phân hữu cơ cho cam quýt
để tạo điều kiện cho thiên địch của Tylenchulus semipenetrans phát triển Cũng
có thể sử dụng thuốc hóa học nhưng hiệu quả thưởng không cao và đắt tiền
2.5.8 Bệnh loét
Do vi khuẩn Xanhthomonas campetris pv Citri
Triệu chứng: xuất hiệu trên lá, trái, cành và nhất là trên lá Vết bệnh nhỏ, sủng ướt, màu xanh tốt, sau đó chuyển sang màu nâu nhạt, nhô trên mặt lá hay
vỏ trái Cành non có các đốm nâu sần sùi, nếu nặng sẽ làm khô, chết canh (Nguyễn Bảo Vệ và Lê Thanh Phong, 2011)
Biện pháp phòng trị: phun các loại thuốc gốc đồng và nhóm kháng sinh trong trường hợp bệnh phát triển nhanh (Đường Hồng Dật, 2003)
Biện pháp tròng trị: Theo Nguyễn Minh Châu và ctv (2013), ta nên thăm
vườn thường xuyên, khi mật số tấn công cao thì nên phun thuốc để phòng trị (dầu khoáng SK Enspray 99 EC, Abamectin, Ebamectin, thuốc gốc cúc hoặc các loại thuốc sinh học…)
Trang 2115
CHƯƠNG III PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP 3.1 Phương tiện
3.1.1 Thời gian thực hiện và địa điểm điều tra
- Ngày 20 tháng 3 năm 2021 tại xã Thới Hòa, huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long
3.1.2 Đối tượng và phương tiện điều tra
Đối tượng: cây Cam sành
Phương tiện: xe máy, bút, phiếu điều tra, điện thoại di động
Đối tượng điều tra: cây cam Sành
số liệu đã ghi nhận được nhập và xử lý trên phần mềm Microsoft Excel
Tham quan mô hình, quan sát cách thiết kế vườn, cách bố trí cây trồng Từ
đó rút ra được những cái hay những cái mới cũng như nhận ra được các ưu điểm
và khuyết điểm của từng mô hình để hỗ trợ cho bài tập tình huống được đặt ra Thu thập thông tin vùng điều tra:
- Điều kiện tự nhiên của vùng
- Tình hình tổng quan kĩ thuật xử lí ra hoa cây cam Sành của vùng Điều tra nông hộ:
- Địa điểm: xã Thới Hòa, huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long
- Số hộ điều tra: 5 hộ
- Phương pháp điều tra: hỏi trực tiếp người dân theo mẫu phiếu điều tra đã chuẩn bị sẵn
Quan sát thực tế tại vườn điều tra
Tổng hợp, phân tích số liệu điều tra
Viết bài báo cáo
Trang 2216
Bảng 3.1 Kế hoạch cụ thể và phân công công việc
22/2/2021 Phân công công việc, chia nội dung và tìm tài liệu tham
khảo 1/3/2021 Thiết kế phiếu điều tra và giải quyết khó khăn trong việc
tìm tài liệu tham khảo, nộp phiếu điều tra cho giáo viên chỉnh sửa
08/3/2021 Họp nhóm và hoàn thiện phần lược khảo tài liệu
13/3/2021 Chỉnh sửa và hoàn thành phiếu điều tra
20/3/2021 Tiến hành điều tra
15/4/2021 Phân công xử lí phiếu điều tra và viết bài
18//2021 Phân công powerpoint
23/4/2021 Hoàn thiện và nộp bài cho lớp trưởng
Trang 2317
CHƯƠNG IV KẾT QUẢ THẢO LUẬN 4.1 Thông tin nông hộ
4.1.1 Diện tích canh tác của các nông hộ
Hình 4.1 Biểu đồ thể hiện tỉ lệ (%) diện tích canh tác cam sành tại huyện
Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long
Theo thực tế điều tra cho thấy các hộ trồng cam sành tại huyện Trà Ôn , tỉnh Vĩnh Long phần lớn có quy mô sản xuất vừa và nhỏ Vườn có diện tích lớn nhất là 1 havà diện tích nhỏ nhất là 0,35 ha Diện tích vườn trung bình khoảng 5,175 ha Qua khảo sát số hộ có diện tích trồng từ 0,5-1 ha có tỉ lệ là 40% , hộ trồng với diện tích 0-0,5 ha là 60% Diện tích trồng cam sành của các hộ tại huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long vẫn còn nhỏ lẻ
Như vậy thì mật độ trồng cam như trên sẽ dẫn đến nhiều rủi ro và hệ lụy:Tình trạng trồng dày “đặc nghẹt” dẫn đến hệ lụy là vườn cam xuất hiện nhiều sâu bệnh, phải phun thuốc BVTV hàng tuần, khiến môi trường sản xuất không
an toàn cho nông dân và ảnh hưởng đến cả người tiêu dùng, suy thoái đất,…
4.1.2 Mật độ cây
Bảng 4.1 Mật độ cam Sành của các nông hộ trên diện tích 1000 m2
Tỉ lệ diện tích canh tác của các nông hộ
diện tích 0-5 công diện tích 5-10 công