Sử dụ ng các tài liệ u nhân họ c chính về nông dân Malay và phân tích sự đị nh chế hóa ngành nhân họ c ở Malaysia, bài viế t làm rõ sự liên tụ c và đứ t quãng giữ a các thế hệ.. Ngư ợ c
Trang 1CHUYÊN MỤ C
KHOA HỌ C XÃ HỘ I THẾ GIỚ I
ZAWAWI IBRAHIM
Bùi Thế Cư ờ ng(Chuyể n ngữ )
Đã có mộ t sự quan tâm liên tụ c củ a nhân họ c đố i vớ i nông dân Malay trong suố t 70 năm qua, tạ o ra khố i tài liệ u lý thuyế t và thự c nghiệ m phong phú Bài viế t trình bày
mộ t phả hệ họ c về sả n xuấ t tri thứ c kéo dài suố t bố n thế hệ các nhà nhân họ c Hai thế hệ đầ u chủ yế u là các nhà nhân họ c phư ơ ng Tây – trư ớ c hế t là Raymond Firth và Michael Swift – làm việ c trong thờ i cuố i thuộ c đị a Hai thế hệ sau là các nhà nhân họ c
bả n đị a, đố i diệ n mộ t cách có ý thứ c vớ i di sả n tri thứ c quá khứ đồ ng thờ i mở ra nhữ ng đư ờ ng hư ớ ng nghiên cứ u mớ i Sử dụ ng các tài liệ u nhân họ c chính về nông dân Malay và phân tích sự đị nh chế hóa ngành nhân họ c ở Malaysia, bài viế t làm rõ
sự liên tụ c và đứ t quãng giữ a các thế hệ Ghi nhậ n thự c tế các họ c giả bả n đị a đã
đư ợ c thừ a hư ở ng di sả n to lớ n từ nhữ ng ngư ờ i thầ y phư ơ ng Tây, bài viế t cũng lậ p luậ n rằ ng nổ i lên mộ t sự độ t phá về chấ t trong cuố i thậ p niên 1970 và thậ p niên
1980 Các nhà nhân họ c bả n đị a đã chuyể n sang nghiên cứ u hậ u-nông dân
và mở ra nhữ ng lĩnh vự c nghiên cứ u mớ i
vớ i nhữ ng chủ đề rộ ng hơ n về biế n đổ i nông nghiệ p, tính hiệ n đạ i tư bả n chủ nghĩa, sự hình thành tư tư ở ng và nề n chính trị đư ơ ng đạ i.
ĐẶ T VẤ N ĐỀBài viế t nhậ n diệ n và phác họ a mộ t phả
hệ họ c củ a sả n xuấ t tri thứ c về nông dânMalay, mộ t hư ớ ng đặ c biệ t quan trọ ng và
có ả nh hư ở ng trong nhân họ c xã hộ i Về
mặ t phân tích, có thể chia thành bố n thế
(*) Nguyên tác: Zawawi Ibrahim 2010 The
Anthropology of the Malay Peasantry: Critical
Reflections on Colonial and Indigenous
Scholarship Asian Journal of Social Sciences.
Volume 38 Issue 1 Brill 2010 (pp 5-36).
Ngư ờ i dị ch và Tạ p chí Khoa họ c Xã hộ i
(TPHCM) cả m ơ n tác giả và Nhà xuấ t bả n Brill
đã cho phép dị ch sang tiế ng Việ t và in lạ i ở
Việ t Nam Bả n dị ch là mộ t sả n phẩ m củ a Đề
tài khoa họ c cấ p Nhà nư ớ c Chuyể n dị ch cơ
cấ u xã hộ i trong phát triể n xã hộ i và quả n lý
phát triể n xã hộ i vùng kinh tế trọ ng điể m phía
Nam đế n năm 2020, Mã số KX.02.20/11-15.
Zawawi Ibrahim Giáo sư tiế n sĩ, Khoa Khoa
họ c Xã hộ i và Nhân văn, Universiti Brunei
Darussalam.
Bùi Thế Cư ờ ng Giáo sư tiế n sĩ, Việ n Khoa
họ c Xã hộ i vùng Nam Bộ ; Giáo sư thỉ nh giả ng
Việ n Nghiên cứ u châu Á, Universiti Brunei
Darussalam.
Trang 2hệ Hai thế hệ đầ u liên quan đế n hai nhà
nhân họ c Anh, Raymond Firth và họ c trò
củ a ông, Michael Swift Cả hai nghiên
cứ u và công bố các chuyên khả o dân tộ c
họ c củ a mình về xã hộ i Malay, tậ p trung
vào nông dân Ngư ợ c lạ i, hai thế hệ
nhân họ c sau hình thành từ bên trong
Thế hệ thứ ba đư ợ c xem là ‘nhữ ng
ngư ờ i bả n đị a tiên phong’ trong ‘nhân
họ c xã hộ i về ngư ờ i Malay’ (Shamsul,
2003b, tr 21) Đó là Abdul Kahar Bador,
Syed Husin Ali, và Mokhzani Abdul
Rahim Cả ba đề u trở thành giáo sư , và
giố ng như Swift, đề u làm nghiên cứ u
sinh nhân họ c ở Trư ờ ng Kinh tế London
(London School of Economics), đề u
giành họ c vị tiế n sĩ ở cùng mộ t việ n,
cùng mộ t thầ y hư ớ ng dẫ n, Sir Raymond
Firth (tài liệ u đã dẫ n) Swift cũng là thầ y
hư ớ ng dẫ n nghiên cứ u sinh cho S Husin
Ali ở Đạ i họ c Malaya (King and Wilder,
2003, tr 64) Abdul Kahar Bador và S
Husin Ali còn là ngư ờ i sáng lậ p Khoa
Nhân họ c và Xã hộ i họ c đầ u tiên củ a
Malaysia ở Đạ i họ c Malaya, còn
Mokhzani thì đư a môn nhân họ c vào
chư ơ ng trình phát triể n nông thôn củ a
Khoa Kinh tế họ c và Quả n trị công cũng
ở đạ i họ c này Ở đó, rố t cuộ c ông trở
thành Trư ở ng Khoa và sau đó là Phó
Hiệ u trư ở ng Tuy S Husin Ali là họ c giả
xuấ t sắ c nhấ t và ‘chính trị ’ nhấ t, song cả
ba đề u có đóng góp tạ o nên ‘tri thứ c mớ i’
về nông dân Malay (xem Mokhzani, 1973;
Abdul Kahar Bador, 1978; Syed Husin Ali,
1964, 1072, 1975)
Trong mộ t khả o cứ u mớ i đây nhan đề
Nhân họ c hiệ n đạ i củ a Đông Nam Á,
Victor King và William Wilder (2003, tr
159-170) chỉ đề cậ p đế n nhữ ng công
trình củ a S Husin Ali, xem là đạ i diệ ncho nghiên cứ u đị a phư ơ ng/bả n đị a vềnông dân Malay Thiế u sót đáng kể nhấ ttrong khả o cứ u củ a họ là gầ n như không
hề có bấ t kỳ mộ t thả o luậ n nào về đónggóp củ a ‘thế hệ thứ tư ’ các nhà nhân họ c
bả n đị a trong lĩnh vự c nghiên cứ u này.Thế hệ đó chủ yế u là nhữ ng nhà nhân
họ c Malay trẻ hơ n, hoàn thành luậ n ántiế n sĩ ở Khoa Nhân họ c và Xã hộ i họ c
Đạ i họ c Monash dư ớ i sự hư ớ ng dẫ n củ aSwift, ngư ờ i là Trư ở ng Khoa cho đế n khi
từ trầ n năm 1985 Rấ t lâu trư ớ c khi khả o
cứ u củ a King và Wilder ra đờ i năm 2003,
đã có nhiề u bài viế t củ a thế hệ thứ tư vềnông dân Malay đư ợ c tổ ng quan và trích
dẫ n rộ ng rãi Hầ u hế t các nhà nhân họ c
bả n đị a ấ y đề u có ‘hành trình nông dân’riêng củ a mình, và có nhữ ng đóng gópđáng trân trọ ng trong lĩnh vự c này Họ đã
vư ợ t lên đầ y thuyế t phụ c nhữ ng lý thuyế t
và kế t quả nghiên cứ u thự c nghiệ m màthầ y họ thờ i thuộ c đị a trao truyề n lạ i(1).Phầ n lớ n các nhà nhân họ c thế hệ này
đề u chuyể n sang cái chúng ta gọ i là
‘nghiên cứ u hậ u nông dân’ peasantry studies)(2)
(post-Bài viế t này điể m lạ i di sả n củ a các thế
hệ nhân họ c sả n xuấ t tri thứ c về nôngdân Malay Mụ c đích là bổ khuyế t chocông trình củ a King và Wilder, đánh giá
đầ y đủ hơ n di sả n tri thứ c ban đầ u củ acác thế hệ trư ớ c Tiế p theo, tậ p trungvào thế hệ thứ tư , nhữ ng diễ n ngôn củ a
họ trong mố i liên hệ vớ i diễ n ngôn củ anhữ ng ngư ờ i thầ y củ a họ thờ i kỳ thuộ c
đị a
DI SẢ N NHÂN HỌ C CỦ A FIRTH VÀ SWIFT
Di sả n nhân họ c củ a Firth và Swift bao
gồ m nhữ ng tư tư ở ng bề n vữ ng về tri
Trang 3thứ c lý thuyế t cũng như thự c nghiệ m về
nông dân Malay Nhữ ng ý tư ở ng củ a họ
không nhấ t thiế t là mộ t hệ thố ng tri thứ c
hữ u cơ hoặ c đã phát triể n đầ y đủ Mộ t
vài chủ đề - như cấ u trúc kinh tế và phát
triể n kinh tế - đư ợ c chú trọ ng hơ n nhữ ng
chủ đề khác Trong khi mộ t vài nhậ n xét
nhân họ c củ a họ về văn hóa nông dân
Malay và quan hệ củ a văn hóa ấ y vớ i
kinh tế là chư a hoàn chỉ nh, họ đã cả m
nhậ n đư ợ c và luậ n chứ ng cho nhữ ng
chủ đề đư ơ ng thờ i lớ n hơ n củ a quá trình
hiệ n đạ i hóa Malay Ghi nhậ n đặ c thù
thờ i đạ i họ làm việ c, cầ n thấ y rằ ng cả
Firth và Swift đề u đã nắ m bắ t đư ợ c
nhữ ng giai đoạ n đầ u tiên củ a việ c tái
kiế n tạ o nông dân Malay bở i nhà nư ớ c
thự c dân và nhà nư ớ c hậ u thuộ c đị a,
cũng như là sự xâm nhậ p tư bả n vào
nề n kinh tế Hơ n nữ a, là nhà nhân họ c,
quan tâm thự c nghiệ m trư ớ c tiên củ a họ
là độ ng năng củ a nhữ ng quá trình kinh
tế -xã hộ i và chính trị vi mô diễ n ra ở cấ p
độ làng trong xã hộ i Malay Như ta thấ y,
điề u này không phả i lúc nào cũng có
nghĩa là họ bỏ qua mố i liên kế t vi mô và
vĩ mô khi phân tích sự đị nh hình biế n đổ i
khố i kế t quả thự c nghiệ m về nông dân
Malay (cả ở cấ p độ vi mô lẫ n vĩ mô) và
dã mà cả nhữ ng ấ n phẩ m liên quan khác
Đố i vớ i Firth, chuyên khả o chủ yế u củ a
ông, Malay Fisherman (Ngư dân Malay)
(1968), chỉ là phầ n nhỏ trong sự nghiệ pnghiên cứ u nhân họ c củ a ông, trongđóng góp củ a ông về xã hộ i nông dân vànhân họ c kinh tế nói chung (Xem Firth,
1929, 1939, 1952, 1957, 1959, 1963,
1964, 1966 [1946], 1968, 1970, 1975).Swift tậ p trung rõ hơ n vào nông dânMalay cả về lý thuyế t lẫ n thự c nghiệ m
Ngoài cuố n Malay Peasant Society in Jelebu (Xã hộ i nông dân Malay ở Jelebu)
(1965), nhữ ng công trình khác củ a ông
tậ p hợ p trong mộ t tuyể n tậ p (Swift, 2003).Trong lờ i nói đầ u tuyể n tậ p này, Shamsul(2003b, tr 20) viế t: “Nế u so sánh vớ ichuẩ n mự c ‘hoặ c xuấ t bả n hoặ c chế t’
củ a thế giớ i hàn lâm Anh-Mỹ ngày nay,
ta thán phụ c nhậ n ra rằ ng ông đạ t đư ợ c
mộ t phạ m vi rộ ng lớ n trong mộ t tuyể n tậ p
mư ờ i công trình nghiên cứ u – mộ t thư ớ c
đo thự c sự cho tài năng củ a ông Ôngthự c sự xuấ t chúng trong việ c thể hiệ nnhữ ng luậ n giả i phứ c tạ p mộ t cách sáng
rõ bằ ng ngôn ngữ mà ai cũng hiể u đư ợ c”.Cũng trong lờ i nói đầ u cho cuố n tuyể n
tậ p trên, Firth (2003) ghi nhậ n đóng góp
củ a Swift như sau: “Vớ i thờ i gian, trò đã
vư ợ t thầ y, không chỉ trong tri thứ c về xã
hộ i Malay mà cả về đư ờ ng hư ớ ng nhân
họ c kinh tế mà anh ta đã chọ n” Như ngFirth nói thêm: “Vì Swift thư ờ ng dè dặ tkhi tuyên bố công khai, nên trí tuệ phântích sắ c sả o củ a Swift thể hiệ n trong các
Trang 4bài nói hoặ c thư từ rõ hơ n trong các ấ n
phẩ m” (tài liệ u đã dẫ n) Điề u này gây cho
ta khó khăn khi cố gắ ng đánh giá toàn bộ
bề rộ ng và ả nh hư ở ng củ a Swift trong di
sả n
Nhậ n xét củ a Firth về Swift cũng có thể
lư ợ m lặ t trong cả m tư ở ng củ a họ c trò
củ a Swift và nhữ ng ngư ờ i khác S Husin
Ali nhậ n xét, trong khi ông có quan hệ
“yêu ghét lẫ n lộ n” và hay tranh cãi vớ i
Swift lúc Swift hư ớ ng dẫ n ông làm thạ c
sĩ ở Đạ i họ c Malay, rõ ràng nhữ ng bài
giả ng củ a Swift về phân tầ ng xã hộ i và
hình thành tư bả n trong nông thôn Malay
đã gợ i mở nhiề u khiế n ông có nhữ ng suy
nghĩ bư ớ c đầ u cho nghiên cứ u về phân
tầ ng xã hộ i ở làng Bagan (S Husin Ali,
1964) Tư ơ ng tự , nghiên cứ u sinh củ a
Swift ở Đạ i họ c Monash đề u nhớ đế n
nhữ ng nhậ n xét và biệ n bác trí tuệ sắ c
sả o củ a Swift trong chuỗ i seminar ở
Khoa Nhân họ c hoặ c ở Trung tâm
Nghiên cứ u Đông Nam Á Khi họ c trò
mình ra bả o vệ , Swift ‘bả o vệ ’ họ mộ t
cách rấ t có lý, như ng cũng tạ o cơ hộ i
cho họ tự bả o vệ trư ớ c nhữ ng phê phán
củ a ngư ờ i phả n biệ n Cuố i thậ p niên
1960 và đầ u thậ p niên 1970, trong chuỗ i
seminar hàng tuầ n về hiệ n đạ i hóa vớ i
các nghiên cứ u sinh, Swift thư ờ ng giớ i
thiệ u nhữ ng công trình lý thuyế t mớ i nhấ t,
nhân họ c, ngay cả khi điề u đó có nghĩa
là phả i mờ i chuyên gia khác đế n giả ng
giả i thêm mộ t hoặ c nhiề u buổ i Trong
quá trình hình thành câu hỏ i nghiên cứ u,
tìm kiế m cơ sở lý thuyế t liên quan và viế tluậ n án, Swift luôn tạ o tự do tố i đa chosinh viên phát triể n suy nghĩ độ c lậ p, sựcan đả m và trí sáng tạ o
Firth tiế n hành hai chuyế n điề n dã về
cộ ng đồ ng ngư dân Malay ở Kelantan và
Bắ c Terengganu, tậ p trung vào Perupok
ở Kelantan Công trình đầ u tiên tiế n hànhngay trư ớ c cuộ c xâm lư ợ c củ a Nhậ t(1939-1940) và kéo dài suố t 23 năm sautrong bố i cả nh Malaysia mớ i độ c lậ p(Firth, 1966; Dahlan, 1976, tr 103-116;Wan Hashim 1988, tr 132; Ishak Shari,
1990, tr 35-142; King and Wilder, 2003,
tr 159) Trong chuyế n điề n dã đầ u tiên,
nề n kinh tế ngư nghiệ p vẫ n còn mangtính Malay và về cơ bả n là “phi-tư bả nchủ nghĩa”, dự a trên công nghệ thô sơ
cổ truyề n Trong chuyế n điề n dã sau,Firth đã có thể quan sát việ c sử dụ ngcông nghệ ngư nghiệ p hiệ n đạ i, quá trình
tư bả n hóa, sự mở rộ ng thị trư ờ ng, vaitrò củ a các đị nh chế tín dụ ng và sự xuấ thiệ n ngày càng đông đầ u nậ u gố c Hoa(Firth 1966) Tấ t cả nhữ ng yế u tố trêngây xói mòn nhanh chóng nề n kinh tếđánh bắ t cá truyề n thố ng và cấ u trúc giai
cấ p kèm theo
Về phầ n mình, nhữ ng năm 1954-1956Swift điề n dã ở các cộ ng đồ ng mẫ u hệ ởlàng Kemin, Jelebu, Negeri Sembilan(bang mẫ u hệ duy nhấ t ở bán đả oMalaysia) Ở đó ông thư ờ ng phả i đố i mặ t
vớ i nhữ ng khó khăn nghiêm trọ ng củ athờ i kỳ giớ i nghiêm (Firth 2003, tr 8)
Nề n kinh tế nông dân lúa nư ớ c truyề nthố ng ngày càng bị tác độ ng bở i sựthư ơ ng mạ i hóa các nông sả n có giá caonhư cao su Điề u này dẫ n đế n nhữ ng hệquả đố i vớ i hệ thố ng thân tộ c và sự phân
Trang 5hóa xã hộ i nông dân Swift (1965, tr 1-2,
173) cũng trả i qua thờ i kỳ quá độ chuyể n
từ hệ thố ng thân tộ c và quyề n lự c cổ
truyề n sang nhà nư ớ c và cấ u trúc hành
chính hiệ n đạ i Ông thư ờ ng xuyên đi
khả o sát từ 1957 đế n 1960 khi đế n dạ y ở
Khoa Nghiên cứ u Malay Đạ i họ c Malay ở
Singapore và sau đó ở Kuala Lumpur
Ấ n phẩ m điề n dã nhân họ c chính củ a
ông, Malay Peasant Society in Jelebu
(Xã hộ i nông dân Malay ở Jelebu), ra
mắ t năm 1965 Swift tiế p tụ c sự nghiệ p
như là mộ t nhà nhân họ c Úc, lúc đầ u ở
Sydney sau đó ở Melbourne Ông có
đóng góp rấ t căn bả n cho sự phát triể n
nhân họ c Úc (và gián tiế p cho nhân họ c
Malaysia) suố t trong 20 năm cho đế n khi
ông từ trầ n quá sớ m năm 1985 Trong
nhữ ng năm 1962-1963, Swift có cơ hộ i
hoàn thành “mộ t tham vọ ng ấ p ủ bao
năm” là điề n dã ở Minangkabau Năm
1971, ông điề n dã lạ i ở Jelubu trong sáu
tháng Năm 1974-1975, ông là giáo sư
thỉ nh giả ng tạ i Đạ i họ c Kebangsaan
Malaysia Năm 1977-1979, cùng vớ i mộ t
nhà đị a lý họ c ở Đạ i họ c Melbourne, ông
thự c hiệ n dự án nghiên cứ u đị nh lư ợ ng
về các khu đị nh cư đô thị Malay ở
Kuantan, Pahang Ông qua đờ i khi đang
hợ p tác vớ i S Hunsin Ali tiế n hành mộ t
dự án nghiên cứ u ở việ n nghiên cứ u mớ i
thành lậ p tạ i Đạ i họ c Malaya, Việ n
Nghiên cứ u Cấ p cao (Institut Pengajian
Tinggi) (Firth, 2003, tr 13-14)
Nhữ ng chuyên khả o dự a trên nghiên cứ u
thự c nghiệ m củ a Firth và Swift là hình
mẫ u cho kiể u nghiên cứ u dự a trên điề n
dã trong nhữ ng thậ p niên giữ a thế kỷ XX
Ngoài ra, vớ i tính cách là giả ng viên, cả
hai đề u có sự nghiệ p xuấ t sắ c Di sả n là
rấ t đáng kể Trên lĩnh vự c lý thuyế t, đã
có nhữ ng tranh luậ n lớ n về ý nghĩa sựnghiệ p củ a họ Tổ ng quan về nhân họ chiệ n đạ i trong khu vự c, King và Wilder(2003, tr 173) cho rằ ng nghiên cứ u nôngdân theo kiể u củ a Firth và Swift “chắ cchắ n đã khiế n chúng ta chú ý đế n nhữ ngquá trình ả nh hư ở ng đế n các cộ ng đồ nglàng” Tuy nhiên, King và Wilder cũngphê phán di sả n này Theo họ , di sả ncũng ‘xác nhậ n’ rằ ng nhân họ c hậ u chiế n
ở Malaysia và Đông Nam Á “cầ n vư ợ tqua mố i quan tâm về các đơ n vị xã hộ i
và văn hóa tự trị , đóng kín…”, ở đó, “cácnhà nhân họ c này, vố n chủ yế u sử dụ ngphân tích chứ c năng luậ n, cấ u trúc luậ n
và văn hóa, thư ờ ng chỉ mở rộ ng tầ mnhìn đế n khu vự c xung quanh hoặ c thithoả ng đế n cấ p độ quố c gia… và tiế p tụ c
tậ p trung trư ớ c hế t vào tình huố ng đị aphư ơ ng”
Không thể bỏ qua nhậ n xét đó mà không
có điề u chỉ nh căn bả n Đơ n giả n làkhông chính xác nế u dán cái nhãn chứ cnăng luậ n chính thố ng cho Firth và Swift,
ít nhấ t theo kiể u củ a Radcliffe-Brown hayEvans-Pritchard Vì mộ t điề u, Firth vàSwift liên tụ c nhậ n diệ n và phân tích
độ ng năng và nhữ ng quá trình biế n đổ itrong các cộ ng đồ ng mà họ nghiên cứ u,điề u không phả i sở trư ờ ng củ a chủnghĩa chứ c năng cổ điể n Họ tin tư ở ng
mạ nh mẽ vào ‘các quan niệ m duy lý’ chiphố i nhữ ng lự a chọ n như ng đồ ng thờ inhấ n mạ nh rằ ng toàn bộ diễ n ngôn ‘tínhduy lý’ phả i đư ợ c trung giớ i (mediated)qua việ c thấ u hiể u quan hệ giữ a hệthố ng kinh tế và xã hộ i, và không đơ ngiả n hiể u như là cái phụ thuộ c vào kinh
tế (xem Firth, 1968, 1970) Ngay cả trong
Trang 6nhậ n xét phê phán về nhân họ c Marxist,
Firth đánh giá cao “… giá trị phân tích
củ a các ý tư ở ng Marxist cơ bả n về các
xã hộ i phi tư bả n chủ nghĩa và phi
phư ơ ng Tây…,” như “các quá trình biế n
đổ i cấ p tiế n… từ thờ i kỳ thuộ c đị a, sự
bành trư ớ ng củ a thị trư ờ ng, sự phát triể n
củ a lao độ ng làm thuê và sự nổ i lên củ a
các giai cấ p xã hộ i mớ i và xung độ t giai
cấ p” (xem King and Wilder, 2003, tr 179)
Làm như vậ y, Firth (1975, tr 52-53) chú
ý đế n “ý nghĩa cơ bả n củ a các yế u tố
kinh tế , đặ c biệ t là quan hệ sả n xuấ t;
quan hệ củ a các cấ u trúc quyề n lự c; sự
hình thành các giai cấ p và sự đố i lậ p vớ i
lợ i ích củ a các giai cấ p ấ y; đặ c trư ng
tư ơ ng đố i về mặ t xã hộ i củ a hệ tư tư ở ng;
độ ng lự c mang tính điề u kiệ n hóa củ a
mộ t hệ thố ng áp đặ t lên các thành viên
củ a nó” Không thể nào dán cái nhãn
chứ c năng luậ n cho nhữ ng quan điể m
như thế dù theo bấ t kỳ cách nào
Trong nghiên cứ u lặ p lạ i công trình
Malay Fishermen (Ngư dân Malay), Firth
(1966, tr 344) nhậ n diệ n sự nổ i lên củ a
mộ t giai cấ p taukeh mớ i đạ i diệ n cho mộ t
“tầ ng lớ p quý tộ c kinh tế trong các cộ ng
đồ ng đánh bắ t cá” Ông ghi nhậ n nhữ ng
nhóm khác nhau trong quá trình tư sả n
hóa các nhà tư bả n Malay – chủ sở hữ u
và doanh nhân – nhữ ng ngư ờ i đầ u tư
công nghệ mớ i vào ngành thủ y sả n Mộ t
số họ kế t hợ p vớ i vố n củ a thư ơ ng nhân
ngư ờ i Hoa, thể hiệ n “… sự nổ i lên củ a
nhữ ng nhà kinh doanh không đi biể n
(non-seagoing), nhữ ng ngư ờ i gầ n như
hoàn toàn thố ng trị các phư ơ ng tiệ n sả n
xuấ t và tiêu thụ ” (Dahlan, 1976, tr 110)
Điề u này chỉ ra rằ ng ngành thủ y sả n
đang trở thành mộ t kiể u kinh doanh hoàn
toàn mớ i khác hẳ n kiể u ngư nghiệ ptruyề n thố ng (Firth, 1966, tr 7) Xem xétquan sát củ a Firth, Jomo (1986, tr 119)
kế t luậ n: “Xu hư ớ ng tích tụ đấ t trongnông nghiệ p tư ơ ng tự xu hư ớ ng trongngư nghiệ p, ít nhấ t là ở vùng duyên hả iphía Đông… Biế n đổ i quan hệ sả n xuấ ttrong ngư nghiệ p cũng tác độ ng đế n thunhậ p tư ơ ng đố i củ a ngư dân, vì mứ c độbóc lộ t tăng lên theo hư ớ ng có lợ i cho tư
bả n”
Hai mư ơ i năm trư ớ c đó, Firth (1966, tr.323) cũng nhậ n xét “Trong điề u kiệ n hiệ n
đạ i, vớ i quá trình tư bả n hóa mạ nh mẽ ,
lợ i nhuậ n thu về lớ n hơ n nhiề u nhờ giả mđáng kể phầ n dành cho lao độ ng” Làngư ờ i biệ n hộ cho việ c ‘kinh tế ’ phả iphụ c tùng ‘các mụ c tiêu xã hộ i’ (Firth,
1968, tr 86), trong trư ờ ng hợ p đang nổ ilên sự tậ p trung kinh tế và khác biệ t xã
hộ i trong ngành thủ y sả n Malay ‘hiệ n đạ i’,Firth (1966, tr 348) chỉ ra rằ ng “… cácquá trình kinh tế , đang làm tăng khoả ngcách giữ a giớ i kinh doanh tư bả n và ngưdân không có tài sả n, không hề đư ợ cgiả m nhẹ tí nào bở i mạ ng lư ớ i thân tộ ctrong hệ thố ng xã hộ i đị a phư ơ ng… Mố idây thân tộ c chẳ ng hề có vị thế gì trongtính toán kinh tế củ a họ , mặ c dù có thểlàm giả m cư ờ ng độ củ a nó” Và ông kế tluậ n: “Điề u bộ c lộ rõ trong phân tích là
sứ c mạ nh củ a các độ ng lự c kinh tế trongviệ c tạ o ra kiể u xã hộ i mớ i Lúc đầ u ítnhấ t thì nhữ ng độ ng lự c kinh tế này cũngkhông tự độ ng; chúng vậ n hành thôngqua sự lự a chọ n củ a các cá nhân” (1966,
Trang 7bằ ng chứ ng về tích tụ ruộ ng đấ t và sự
nổ i lên củ a nhóm nông dân sở hữ u đấ t
giàu có, trong đó có cả giớ i tinh hoa
chính trị đị a phư ơ ng, tư ơ ng phả n vớ i sự
hiệ n diệ n củ a mộ t giai cấ p các tá điề n
(tenant), lao độ ng làm thuê và nhữ ng
ngư ờ i mư ớ n đấ t (sharecropper) Giả i
thích củ a ông về quá trình này đi trư ớ c
nhữ ng luậ n giả i củ a ‘nhân họ c kinh tế
mớ i’, đặ c biệ t là củ a Henry Bernstein về
‘sứ c ép tái sả n xuấ t’ như là mộ t phầ n củ a
các điề u kiệ n củ a hộ gia đình nông dân
bị bủ a vây trong nhữ ng tiề n đề củ a tư
bả n (Bernstein, 1976, 1979) Swift giả i
thích: “Mộ t đặ c điể m tấ t yế u nữ a củ a quá
trình này là sự thư ơ ng mạ i hóa nề n kinh
tế đế n mứ c mọ i nhu cầ u và nghĩa vụ đề u
có xu hư ớ ng đư ợ c trung giớ i hóa qua
tiề n bạ c, điề u… trở thành tấ t yế u ngay cả
cho mộ t sự tồ n tạ i đơ n giả n hàng ngày
Trong hoàn cả nh như vậ y, có đư ợ c thu
nhậ p thặ ng dư trên mứ c chi tiêu dùng
thông thư ờ ng là vô cùng quan trọ ng
Ngư ờ i nông dân bình dân không có
thặ ng dư như thế chỉ còn cách bán đấ t
để trang trả i nhữ ng nhu cầ u vư ợ t quá
nguồ n lự c củ a mình Ngư ợ c lạ i, ngư ờ i có
thặ ng dư không chỉ vư ợ t qua đư ợ c
nhữ ng chi phí độ t xuấ t ấ y mà không phả i
hi sinh mộ t phầ n vố n sả n xuấ t, mà còn
có thể mua đư ợ c tài sả n củ a ngư ờ i khác,
thư ờ ng là giá rẻ , khi có cơ hộ i Vì đấ t là
tài nguyên khan hiế m, phả i trả tiề n để có
nó, và vì giờ đây anh ta thu nhậ p ít hơ n
trư ớ c, nên ngư ờ i nông dân đã bán đấ t
có rấ t ít hy vọ ng kiế m đư ợ c nhiề u hơ n,
và đố i mặ t vớ i khả năng trở thành ngư ờ i
đi mư ớ n đấ t hoặ c phả i bỏ ra thành phố ”
Swift rút ra nhữ ng bài họ c giá trị về sự
chuyể n biế n ả nh hư ở ng đế n các xã hộ i
nông dân: “Bằ ng cách nghiên cứ u nề nkinh tế vớ i tính cách là mộ t lĩnh vự c độ c
lậ p vớ i cấ u trúc xã hộ i, ta có thể chỉ ra
rằ ng có mộ t quá trình bên trong tạ o nêntích tụ sở hữ u vào tay mộ t số ít ngư ờ i đikèm vớ i phân hóa kinh tế ngày càng tănglên… sẽ có mộ t sự dị ch chuyể n khỏ itrạ ng thái quân bình trong xã hộ i nôngdân, và giả đị nh rằ ng xu hư ớ ng này sẽtiế p diễ n không bị tác độ ng bở i nhữ ng
độ ng lự c khác, thì cái ta sẽ chứ ng kiế n là
mộ t giai cấ p ngày càng đông đả o nhữ ngngư ờ i mư ớ n đấ t vị thế thấ p và mộ t nhómnhỏ ngư ờ i giàu kiể m soát phầ n tài sả n
xã hộ i ngày càng lớ n” (tài liệ u đã dẫ n, tr.168)
Swift cũng không ngầ n ngạ i chuyể n từphân tích ở cấ p độ vi mô sang cấ p độ vĩ
mô Chẳ ng hạ n, ông nói: “bằ ng chứ ngtrên toàn cõi Malaya chỉ ra rằ ng sự tích
tụ sở hữ u là hiệ n tư ợ ng phổ biế n… Chấ pnhậ n mộ t quan điể m chung hơ n, tôi cho
rằ ng sự tăng dân số liên tụ c dẫ n đế ntình trạ ng thiế u đấ t trên cả nư ớ c Quy
mô dân số thấ p trư ớ c kia và tăngtrư ở ng dân số hiệ n nay giả i thích choviệ c vì sao đang bắ t đầ u thể hiệ n ra dư ớ i
dạ ng phổ biế n ở Malaya mộ t đặ c điể mchung củ a các nề n kinh tế nông dân là
nó bao gồ m giai cấ p đị a chủ thố ng trị và
tá điề n nghèo khổ ” (tài liệ u đã dẫ n, tr.168-169)
Về mặ t này, Swift nhậ n ra mộ t sự chuyể n
dị ch đấ t từ tay nông dân vào tay giai cấ ptrên hay giai cấ p quan chứ c, và nhậ nthấ y có mộ t giớ i chủ đấ t vắ ng mặ t, tứ ckhông nhấ t thiế t là nông gia Nói ngắ n
gọ n, ông đã là mộ t chứ ng nhân sắ c sả otrư ớ c sự phân hóa giai cấ p sôi sụ c trong
đờ i số ng nông thôn đư ơ ng đạ i, từ ngư ờ i
Trang 8nông dân (orang kampong) đế n nhiề u
loạ i ngư ờ i trong “giai cấ p trên” Ông chỉ
ra rằ ng trong khi sự phân hóa giai cấ p
trong nông dân gầ n như hoàn toàn mang
tính kinh tế (ngư ờ i giàu, trung bình,
nghèo), thì sự khác biệ t vớ i ‘giớ i ăn
lư ơ ng’ (salariat) – nhữ ng ngư ờ i mà vị thế
củ a họ dự a trên vị trí trong chính phủ và
mứ c họ c vấ n - lạ i không thuầ n túy mang
tính kinh tế , dù rằ ng giớ i quan chứ c
Malay thu nhậ p cao hơ n nông dân
Rấ t lâu trư ớ c James Scott (1976, 1985),
là ngư ờ i đào sâu ý tư ở ng về “cuộ c đấ u
tranh giai cấ p hàng ngày” ở nông thôn,
Swift (1965, tr 152) đã đư a ra nhữ ng
diễ n giả i liên giai cấ p đó (‘ý tư ở ng giai
cấ p’) giữ a mộ t số giai cấ p nông dân hoặ c
trong quan hệ quan chứ c-nông dân, đặ c
trư ng bở i mộ t sự pha trộ n giữ a ‘thù đị ch’,
‘yêu ghét lẫ n lộ n’, ‘thầ n phụ c’ và ‘kính
trọ ng’ (tài liệ u đã dẫ n, tr 149-162) Ở
cấ p độ làng, ông chỉ ra hệ thố ng phân
tầ ng dự a trên kinh tế trong xã hộ i Malay
“đư ợ c đẩ y mạ nh lên như thế nào bở i tổ
chứ c thân tộ c về cơ bả n là bình đẳ ng”
(tài liệ u đã dẫ n, tr 166) Thêm nữ a, quan
hệ giữ a các giai cấ p xã hộ i đư ợ c xử lý
thông qua mộ t số công cụ phi kinh tế hay
văn hóa nhấ n mạ nh vào khía cạ nh đạ o
đứ c dự a trên sự rộ ng lư ợ ng, phụ thuộ c
lẫ n nhau, chia sẻ , và cả mộ t ý nghĩa về
sự bình đẳ ng nữ a Theo Swift, nhữ ng giá
trị này chẳ ng hề làm cho bóc lộ t giai cấ p
biế n mấ t, cũng chẳ ng hề khuyế n khích
mộ t ý thứ c hay đị nh hư ớ ng cấ p tiế n nào
cho ngư ờ i nông dân: “… nhữ ng giá trị đó
chẳ ng hề nêu lên yêu sách nào đòi mộ t
sự thay đổ i trong toàn bộ tổ chứ c xã hộ i”
(tài liệ u đã dẫ n, tr 154) Do đó, “… các
giá trị bình đẳ ng củ a làng… không có
tính cấ p tiế n theo hư ớ ng cấ u trúc, mà về
bả n chấ t là bả o thủ …” mặ c dù chúng vậ nhành, theo mộ t cách nào đó ít thự c chấ t,như là mộ t tác nhân san đồ ng xã hộ i vềtài sả n giữ a mộ t số giai cấ p xã hộ i (Swift,
1967, tr 241) Nhữ ng ý tư ở ng ban đầ u
đó về giai cấ p sau này đư ợ c ZawawiIbrahim phát triể n thành mộ t diễ n ngônphứ c thể hơ n khi mở rộ ng việ c nghiên
cứ u về ‘ý thứ c giai cấ p’ củ a vô sả n Malay(Zawawi, 1998c) Ban đầ u, Swift giảthuyế t nề n kinh tế tiề n tệ tăng trư ở ng ởNegeri Sembilan sẽ là yế u tố cơ bả n làmgiả m tính mẫ u hệ adat perpatih Tuy
nhiên, sau này ông gắ n sự đi xuố ng củ a
hệ thố ng adat truyề n thố ng vào sự tăng
trư ở ng và phát triể n củ a bộ máy hànhchính chính phủ hiệ n đạ i, đặ c biệ t là vaitrò củ a bộ máy quan liêu tậ p trung gồ mnhữ ng viên chứ c có họ c vấ n và đư ợ cđào tạ o để quả n lý ngành tư pháp và lĩnh
vự c đấ t đai, hoặ c để thự c hiệ n các chínhsách và dự án phát triể n “ thông qua
mộ t hệ thố ng tôn ti các viên chứ c ở cấ pquậ n và chính quyề n bang” (Swift, 1965,
tr 79, 172-173; xem thêm King andWilder, 2003, tr 164)
Lĩnh vự c cuố i cùng mà Swift có đóng góp
là nghiên cứ u giá trị văn hóa và sự hiệ n
đạ i hóa ở Malay Ông nhậ n xét (Swift,
1965, tr 91): “Chủ nghĩa đị nh mệ nh(fatalism), thể hiệ n dư ớ i hình thái tôngiáo, biể u hiệ n rấ t rõ trong thái độ kinh tế
củ a ngư ờ i Malay Ngư ờ i Malay, nế u rơ ivào tình huố ng xấ u, thư ờ ng thiên theo
hư ớ ng buông xuôi, và nói anh ta khôngmay mắ n, đây là ý Trờ i Trong hoạ t độ ngkinh tế , điề u này thể hiệ n rấ t rõ trong
khái niệ m rezeki, sự giàu có kinh tế củ a
mộ t ngư ờ i là do siêu nhiên quyế t đị nh”
Trang 9Nế u điề u nói trên tỏ ra là ‘kiể u nhà
phư ơ ng Đông họ c’, thì ông đã có nhữ ng
luậ n giả i sâu hơ n trong mộ t bài viế t sau
này (Swift, 2003, tr 21) khi nhấ n mạ nh
rằ ng rezeki “… cũng khẳ ng đị nh tầ m
quan trọ ng củ a may mắ n trong lĩnh vự c
kinh tế Mộ t nông dân không thành công
như hàng xóm không thấ y phả i cho rằ ng
anh ta thiế u nỗ lự c hay khả năng, mà
cho rằ ng mình không có rezeki Nế u mộ t
ngư ờ i khở i sự kinh doanh nhỏ , hoặ c thí
nghiệ m mộ t giố ng lúa mớ i mà thấ t bạ i,
thì ‘anh ấ y không có rezeki’ Khái niệ m
rezeki rút cụ c lạ i là mộ t khái niệ m tôn
giáo, như ng trong đờ i số ng hàng ngày
thì điề u này đặ c biệ t là có rấ t ít tính tôn
giáo Đơ n giả n điề u này việ n ra để giả i
thích mọ i việ c bằ ng thuậ t ngữ sự may
mắ n, và bỏ qua việ c nỗ lự c cả i thiệ n vị
thế củ a mộ t ngư ờ i, bở i vì dù thế nào
chăng nữ a ngư ờ i ta cũng không thể kiể m
soát đư ợ c điề u đó”
So sánh đị nh hư ớ ng kinh tế củ a ngư ờ i
Malay và ngư ờ i Hoa, Swift nhậ n xét cách
nhìn củ a ngư ờ i Hoa ‘về căn bả n có tính
dài hạ n’, ngư ợ c lạ i, ngư ờ i Malay ‘quan
tâm đế n cái trư ớ c mắ t’ Vớ i ngư ờ i Hoa,
“giàu có là đáng mong muố n không phả i
chỉ để tiêu dùng mà để tích lũy, để gầ y
dự ng mộ t tài sả n cho thế hệ sau” Đố i
vớ i ngư ờ i Malay, “sự giàu có là cự c kỳ
đáng mong muố n như ng là để tiêu dùng”
Như ng ngay sau đó, Swift cũng nói
“Ngư ờ i Malay đị nh hư ớ ng vào ngắ n hạ n,
điề u này tự nó không phả i là không có
tính kinh tế hay không hợ p lý, như ng nó
làm yế u tính cạ nh tranh so vớ i các nhóm
hay cá nhân có đị nh hư ớ ng dài hạ n”
(1965, tr 29) Cầ n ghi nhậ n, lậ p luậ n này
liên quan đế n diễ n ngôn dai dẳ ng về sự
phát triể n và chậ m phát triể n củ a Malay,
và như ta sẽ thấ y dư ớ i đây, quan sáttrên củ a Swift đã khuyế n khích vài nhànhân họ c bả n đị a quan tâm xem xét.Tóm lạ i, cả Firth và Swift đã mở ranhữ ng cánh cử a tìm hiể u độ ng năng kinh
tế -xã hộ i, chính trị và văn hóa quan trọ ngtác độ ng đế n nhữ ng biế n đổ i trong nôngthôn Malay từ cuố i thậ p niên 1930 đế ngiữ a thậ p niên 1960 Họ c trò củ a hai ôngtiế p tụ c mở rộ ng thêm nhữ ng cánh cử anày, đặ t ra nhữ ng câu hỏ i mớ i và cố
gắ ng tìm kiế m nhữ ng câu trả lờ i mớ i.THẾ HỆ NHÂN HỌ C BẢ N ĐỊ A ĐẦ U TIÊN
Ở mứ c độ lớ n, S Husin Ali và Mokhzani
đề u tậ p trung vào mở rộ ng cơ sở thự cnghiệ m cho nhữ ng vấ n đề và quá trìnhdiễ n ra ở nông thôn Malay mà các thầ yngư ờ i Anh quan tâm Thế hệ bả n đị a đầ utiên không thể hiệ n xuấ t phát điể m lýthuyế t cấ p tiế n nào Trong khi lý thuyế txung độ t ngày càng chiế m lĩnh xã hộ i họ c,thì chư a thấ y quan điể m Marxist hay tânMarxist nào xuấ t hiệ n trong nhân họ c.Trong hai ngư ờ i, do các ấ n phẩ m mà S.Husin Ali nổ i tiế ng hơ n về họ c thuậ t so
vớ i Mokhzani Cả hai cũng có nhữ ng lự achọ n khác nhau về cuố i đờ i Là bạ n thân
và có quan hệ bà con vớ i Swift, sau khinghỉ hư u Mokhzani làm kinh doanh, vàtheo Shamsul (2003b, tr 21), “Có lẽ ông
là nhà nhân họ c đầ u tiên trên thế giớ i mà
đồ ng thờ i là triệ u phú” Luậ n án tiế n sĩ
củ a Mokhzani (1973) chỉ mớ i xuấ t bả n
gầ n đây (2006), vào thờ i điể m quan tâmnghiên cứ u về nông dân đã giả m Tuynhiên, công trình củ a Mokhzani nêu lên
“mộ t sự kế t nố i bị bỏ qua” trong nghiên
cứ u nông dân Malay, vì ông đư a ra mộ t
Trang 10bộ dữ liệ u vi mô để hiể u như thế nào mà
các hình thái cho vay nặ ng lãi đã dẫ n
đế n nợ nầ n, thúc đẩ y quá trình kép tích
tụ và mấ t đấ t trong xã hộ i nông thôn
(xem Jomo, 1986, tr 49-54)
Sau thờ i kỳ đầ u làm việ c dư ớ i sự hư ớ ng
dẫ n củ a Swift, S Husin Ali nghiên cứ u
vấ n đề khác biệ t hóa xã hộ i nông dân mà
ông đã làm trong luậ n văn cao họ c vớ i
bố n tháng điề n dã ở làng Bagan, Johor
Dự a trên phát triể n củ a Weber đố i vớ i
phân tầ ng xã hộ i củ a Mác, S Husin Ali
làm rõ không chỉ khía cạ nh giai cấ p trong
sự phân tầ ng mà cả cấ u trúc vị thế củ a
cộ ng đồ ng nông thôn Malay ở Bagan
Ông đị nh vị Bagan vừ a như là mộ t phầ n
củ a cấ u trúc hành chính quố c gia vừ a
như là mộ t phầ n củ a nề n kinh tế thị
trư ờ ng rộ ng lớ n hơ n, nhữ ng đặ c trư ng
củ a sự gộ p nhậ p nông dân mà Firth và
Swift đã nhìn nhậ n Tuy nhiên, chắ c chắ n
là S Husin Ali thự c sự mang tính thự c
nghiệ m hơ n trong việ c khám phá bả n
chấ t giai cấ p khi ông khả o cứ u dự a trên
“… vị trí đố i vớ i tư liệ u sả n xuấ t” (tài liệ u
đã dẫ n, tr 10) Ông có đóng góp lớ n về
phư ơ ng pháp luậ n khi phân loạ i 149 hộ
gia đình trong mẫ u thành 5 giai cấ p Đó
là: đị a chủ , đị a chủ kiêm chủ điề u hành
sả n xuấ t, chủ điề u hành sả n xuấ t, tá điề n
kiêm chủ điề u hành sả n xuấ t hoặ c ngư ờ i
lao độ ng nông gia, tá điề n hoặ c ngư ờ i
lao độ ng làm thuê (landlords,
landlord-cum-owner operators, owner-operators,
owner operator-cum-tenants or farm
labourers, tenants or farm labourers)
Giố ng Swift, ông cố gắ ng nhậ n diệ n
nhữ ng ngư ờ i ở nông thôn mà không làm
nông nghiệ p Trong nghiên cứ u so sánh
sau này về lãnh đạ o nông dân, S Husin
Ali ghi nhậ n mộ t tình hình ‘phứ c tạ p hơ n’,trong đó “tích tụ sở hữ u trong ba khu vự ckhông dẫ n đế n mộ t hệ thố ng hai giai cấ p
rõ ràng gồ m đị a chủ và tá điề n” Ôngcũng phân loạ i 4 nhóm vị thế ở Bagan:giáo sĩ Muslim, quan chứ c làng, nhânviên chính phủ (chẳ ng hạ n giáo viên), vàngư ờ i có thu nhậ p cao (chẳ ng hạ n đị achủ ) (tài liệ u đã dẫ n, tr 69)
Trong luậ n án tiế n sĩ ở Trư ờ ng Kinh tếLondon dư ớ i sự hư ớ ng dẫ n củ a Firth, S.Husin Ali (1975) tiế p tụ c hoàn thành
hư ớ ng nghiên cứ u phân tầ ng bằ ng cách
tậ p trung vào phân tích sự lãnh đạ o ởnông thôn Malay trong ba cộ ng đồ nglàng: Kangkong (mộ t làng trồ ng lúa vàđánh bắ t cá ở Kedah), Kerdau (mộ t làngtrồ ng lúa và cây cao su ở Pahang), và lạ i
ở Began (mộ t làng trồ ng cây cao su và
dừ a ở Johor) Ông điề n dã ở đó từ 1964
đế n 1969 Ông chỉ ra sự thay đổ i trong
cả m nhậ n củ a thanh niên về nhữ ng nhàlãnh đạ o ‘truyề n thố ng’, nhữ ng thay đổ i
do hậ u quả củ a biế n đổ i, họ c vấ n và di
độ ng xã hộ i Ông cũng quan sát thấ y sựtăng cư ờ ng ‘vị thế ’ củ a mộ t số vị trí lãnh
đạ o truyề n thố ng, như penghulus, do
nhữ ng vị trí này đư ợ c gộ p nhậ p vào bộmáy hành chính quan liêu hiệ n đạ i.Giố ng như Firth và Swift, S Husin Alicũng nhậ n thấ y rằ ng họ c vấ n và giàu cóngày càng trở thành chỉ báo thố ng trị củ alãnh đạ o ‘mớ i’, hợ p thành “…mộ t tamgiác giữ a đị a chủ , cán bộ đả ng và quanchứ c chính phủ ” Điề u này đặ c biệ t đúng
đố i vớ i các văn phòng chính trị ở nôngthôn, nơ i nố i kế t nông dân Malay vớ i các
đả ng chính trị ở cấ p quố c gia (tài liệ u đã
dẫ n, tr 162) ‘Nhữ ng nhà lãnh đạ o mớ i’đang hình thành
Trang 11Không ai hoài nghi S Husin Ali đã tiế p
nố i nhữ ng kế t quả thự c nghiệ m và phân
tích củ a các bậ c tiề n bố i Firth và Swift
Như ng có lẽ quan trọ ng hơ n là ông đã đề
xuấ t nhữ ng câu hỏ i nghiên cứ u căn bả n
cho sau này
Trư ớ c hế t, công trình củ a ông về biế n
đổ i khuôn mẫ u lãnh đạ o đã nhậ n diệ n
chính xác mộ t số biể u hiệ n mớ i xuấ t hiệ n
củ a ‘nề n chính trị bả o trợ ’ (patronage
politics) và vai trò căn bả n củ a nó trong
lãnh đạ o chính trị đị a phư ơ ng (tài liệ u đã
dẫ n, tr 152) Phát hiệ n đó đi trư ớ c
UMNO cho nông dân Malay dư ớ i hình
thứ c các chư ơ ng trình phát triể n nông
thôn là mộ t yế u tố xúc tác quan trọ ng để
duy trì sự ủ ng hộ chính trị và bả o đả m
cho các cán bộ lãnh đạ o UMNO ở đị a
phư ơ ng, nhữ ng ngư ờ i thự c thi các
chư ơ ng trình phát triể n đó, có đư ợ c mộ t
quyề n lự c bả o trợ đáng kể ”
Thứ hai, nghiên cứ u củ a ông cũng đi
trư ớ c khoả ng mộ t thậ p niên công trình
đư ợ c chào đón củ a James Scott
Weapons of the Weak (Vũ khí củ a Kẻ
yế u), công bố năm 1985 S Husin Ali
(1975, tr 97) chỉ ra “… nhữ ng biể u hiệ n
củ a xung độ t giai cấ p trong khung khổ
lờ i nói…” và nhữ ng hình thái ‘ngáng trở ’
(foot dragging) củ a nông dân Malay như
là mộ t phầ n trong ‘cuộ c đấ u tranh giai
cấ p hàng ngày’ chố ng lạ i ngư ờ i giàu (tài
liệ u đã dẫ n, tr 97-98) “Mộ t số nông dân
biể u lộ khinh thư ờ ng đị a chủ , họ tứ c giậ n
Ở Kerdau và Bagan, nông dân nghèolàm nhữ ng thủ thuậ t gây hạ i cho cây cao
su củ a chủ đấ t”
Mặ t khác, ông cũng nhậ n thấ y tớ i mộ tđiể m, ngư ờ i nông dân nghèo tuyệ t vọ ng
có xu hư ớ ng …“hư ớ ng đế n ngư ờ i giàu
có liên quan về mặ t thân tộ c và hàngxóm” và mong muố n không gây ranhữ ng trở ngạ i cho mộ t xã hộ i hài hòa
(hidup bermasyarakat)” (tài liệ u đã dẫ n,
tr 99)
Thứ ba, S Husin Ali (1972, tr 111) cũng
can thiệ p vào diễ n ngôn về rezeki và tư
tư ở ng đị nh mệ nh củ a nông dân Malay.Theo ông, có tình trạ ng quá nhấ n mạ nh
vào khía cạ nh rezeki trong Islam Ông
viế t: “… đồ ng thờ i Islam cũng dạ y tín đồ
sử dụ ng trí tuệ và nỗ lự c củ a họ để khắ cphụ c khó khăn và quyế t đị nh vị trí cũngnhư tư ơ ng lai củ a chính mình, đây là
điề u liên quan đế n ikhtiar Sẽ là đị nh kiế n
nế u nói mọ i ngư ờ i Malay – hay mọ i nôngdân Malay – đề u theo thuyế t đị nh
mệ nh … Niề m tin vào ‘số phậ n’ và ‘sựgiàu có do may mắ n mang tính siêunhiên’ (divine lot) không thể tố lên như lànguyên nhân củ a nghèo khổ hay củ a ‘lạ c
hậ u kinh tế ’ Các khái niệ m trên cầ n
đư ợ c đặ t vào đúng chỗ củ a chúng trong
nỗ lự c giả i thích hành vi kinh tế củ angư ờ i Malay”
NHÌN LẠ I SỰ THAY ĐỔ I KHUNG HÌNHNGHIÊN CỨ U NÔNG DÂN