1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

tiểu luận chế độ pháp lý về bảo đảm tiền vay và thực tiễn áp dụng tại ngân hàng vpbank – chi nhánh đông đô

28 693 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Chế Độ Pháp Lý Về Bảo Đảm Tiền Vay Và Thực Tiễn Áp Dụng Tại Ngân Hàng Vpbank – Chi Nhánh Đông Đô
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Luật Kinh Tế
Thể loại tiểu luận
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 28
Dung lượng 496,59 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong quan hệ bảo đảm tiền vay, bên bảo đảm là bên có nghĩa vụ hoặc người thứ ba cam kết bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự, bao gồm bên cầm cố, bên thế chấp, bên đặt cọc, bên ký cược, bê

Trang 1

TIỂU LUẬN:

Chế độ pháp lý về bảo đảm tiền vay

và thực tiễn áp dụng tại ngân hàng Vpbank – chi nhánh Đông Đô

Trang 2

LỜI MỞ ĐẦU

Trong bối cảnh nền kinh tế thị trường và xu hướng toàn cầu hoá, hội nhập phát triển, đất nước ta đã đạt được nhiều thành tựu to lớn góp phần nâng cao vị thế của Việt Nam trong khu vực và trên trường quốc tế Góp phần không nhỏ vào việc đưa Việt Nam đạt được những thành tựu đáng kể đó là nhò vào sự nỗ lực hết mình của các cá nhân, doanh nghiệp trong việc xây dựng và phát triển kinh tế đất nước Trong

đó, hệ thống ngân hàng thương mại giữ một vai trò rất quan trọng, có ý nghĩa chiến lược trong sự phát triển chung đó Và nói đến hoạt động ngân hàng, phải nói đến một hoạt động chủ yếu, hoạt động mang lại lợi nhuận rất cao cho ngân hàng là hoạt động tín dụng Tuy nhiên, đây cũng chính là hoạt động chứa đựng nhiều rủi ro nhất Một trong những nguyên nhân chính làm tăng rủi ro tín dụng chính là việc thực hiện chưa tốt công tác bảo đảm tiền vay Vấn đề này được đề cập rất nhiều trong các văn bản quy định pháp luật Tuy nhiên, cũng chính trong những văn bản này còn tồn tại nhiều quy định chồng chéo gây lung túng trong việc áp dụng pháp luật cho các chủ thể Đúc kết từ những cơ sở lý luận đã được học và thực tiễn có được trong quá trình thực tập tại ngân hàng Vpbank – chi nhánh Đông Đô, em đã quyết định chọn

đề tài : ” chế độ pháp lý về bảo đảm tiền vay và thực tiễn áp dụng tại ngân hàng

Vpbank – chi nhánh Đông Đô” , nhằm góp phần vào khắc phục những khó khăn

hiện tại trong công tác bảo đảm tiền vay, nâng cao hiệu quả hoạt đông tín dung tại ngân hàng Vpban- chi nhánh Đông Đô

Trang 3

hoạt động

Vốn điều lệ ban đầu khi mới thành lập là 20 tỷ VND Sau đó, do nhu cầu phát triển, theo thời gian VPBank đã nhiều lần tăng vốn điều lệ Kể từ ngày 01/10/2008, vốn điều lệ của VPBank là 2.117.474.330.000 tỷ đồng

VPBank đã có tổng số 130 Chi nhánh và Phòng giao dịch trên toàn quốc:

- Tại Hà Nội: 1 Trụ sở chính, 44 chi nhánh và phòng giao dịch

- Các tỉnh, thành phố khác thuộc miền Bắc (Bắc Ninh, Bắc Giang, Vĩnh Phúc, Thái Nguyên, Phú Thọ, Hải Dương, Hải Phòng, Quảng Ninh, Nam Định, Hòa Bình, Thái Bình): 26 Chi nhánh và Phòng giao dịch

- Khu vực miền Trung (Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Huế, Đà Nẵng, Bình Định, Bình Thuận): 25 Chi nhánh và Phòng giao dịch

- Khu vực miền Nam (TP Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Long An, Cần Thơ, Đồng Tháp, Vĩnh Long, An Giang, Kiên Giang): 35 Chi nhánh và Phòng giao dịch

2 Phạm vi và nội dung hoạt động của VP Bank

VP Bank là ngân hàng thương mại cổ phần, hoạt động kinh doanh tiền tệ, tín dụng và dịch vụ ngân hàng vì mục tiêu lợi nhuận Khách hàng quan trọng nhất của

VP Bank là các doanh nghiệp vừa và nhỏ, các hộ kinh doanh cá thể và phục vụ nhu cầu sinh hoạt tiêu dùng của dân cư Phạm vi hoạt động là địa bàn có trụ sở hoặc chi nhánh hoạt động Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng, TP Hồ Chí Minh là những thành

Trang 4

phố lớn của Việt Nam, có dân cư đông đúc, kinh tế - xã hội của vùng phát triển, tập trung đầy đủ các ngành nghề đặc biệt phát triển về du lịch, thương mại, dịch vụ Nội dung hoạt động chủ yếu của Ngân hàng là:

- Nhận tiền gửi có kì hạn và không kì hạn bằng VND và ngoại tệ của đơn vị, tổ chức kinh tế và cá nhân trong và ngoài nước

- Cho vay ngắn hạn, trung hạn và dài hạn bằng tiền VND và ngoại tệ đối với khách hàng thuộc mọi thành phần kinh tế và các tầng lớp dân cư

- Thực hiện nghiệp vụ thuê mua, hùn vốn liên doanh và mua cổ phần theo pháp luật hiện hành

- Tiếp nhận vốn ủy thác đầu tư và phát triển của các tổ chức trong nước

- Vay vốn của Ngân hàng Nhà nước và các tổ chức tín dụng khác

- Chiết khấu thương phiếu, trái phiếu và giấy tờ có giá trị

- Thực hiện Dịch vụ thanh toán giữa các khách hàng

- Thực hiện kinh doanh ngoại tệ, thanh toán quốc tế, huy động các nguồn vốn từ nước ngoài và làm các dịch vụ thanh toán quốc tế khác

Với phạm vi và nội dung hoạt động như trên VP Bank có vai trò to lớn trong việc thu hút những khoản tiền nhàn rỗi trong dân cư để đáp ứng một khối lượng lớn nhu cầu vốn tín dụng của nền kinh tế góp phần thúc đẩy nền kinh tế phát triển, tăng thu ngân sách Nhà nước Góp phần to lớn vào công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước nói chung và công cuộc hiện đại hóa công nghệ Ngân hàng nói riêng

3 Cơ cấu tổ chức của ngân hàng VPBank

Cơ cấu tổ chức của ngân hàng VPBank có thể khái quát thành một sơ đồ sau:

Trang 5

Đại hội Cổ đông

Hội đồng Quản trị

Ban điều hành

Trung tâm Westen Union

Trung tâm Đào tạo

Các phòng giao dịch

Ban Kiểm soát

Các ban tín dụng

P kiểm toán nội

bộ

Phòng thanh toán Quốc tê – Kiều

Phòng pháp chế

Văn phòng Phòng Kế toán

Trung tâm Thẻ

Trung tâm tin học

Công ty Chứng khoán VPBank

Trang 6

so với năm 2005; Tỷ lệ nợ xấu là 0,58%, tỷ lệ này gần như là thấp nhất trong toàn

hệ thống ngân hàng Thương mại Cổ phần; Lợi nhuận trước thuế và dự phòng rủi ro

là 169.430 tỷ đồng, tăng gấp đôi so với năm 2005

Năm 2007:

Tổng tài sản đạt 18.200 tỷ đồng, tăng 78% so với năm 2006; Tổng nguồn vốn huy động hơn 15.000 tỷ đồng, tăng 69% so với năm 2006; tổng dư nợ hơn 13.200 tỷ đồng, tăng 163% so với năm 2005; Tỷ lệ nợ xấu là 0,49%, tỷ lệ này gần như là thấp nhất trong toàn hệ thống ngân hàng Thương mại Cổ phần; Lợi nhuận trước thuế và dự phòng rủi ro là 313 tỷ đồng, tăng gấp đôi so với năm 2006

Năm 2008:

Tổng tài sản đạt 18.587 tỷ đồng, tăng 2.1% so với năm 2007; Tổng nguồn vốn huy động hơn 15.853 tỷ đồng, tăng 5.7% so với năm 2006; tổng dư nợ hơn 13.000 tỷ đồng; lợi nhuận trước thuế đạt gần 200 tỷ đồng, giảm hơn 36% so với năm 2007

Năm 2009

Tổng tài sản của VPBank đến cuối tháng 5/2009 đạt 20.236 tỷ đồng, tăng 1.220 tỷ đồng so với cuối năm 2008, Tổng nguồn vốn huy động của VPBank đến cuối tháng 5/2009 là 17.125 tỷ đồng tăng 8% so với cuối năm 2008 Dư nợ tín dụng đạt 13.665 tỷ đồng Lợi nhuận trước thuế lũy kế 5 tháng của riêng Ngân hàng đạt hơn 125 tỷ đồng, đạt 45% kế hoạch cả năm 2009

* Chiến lược phát triển năm 2010:

Trang 7

- Tập trung vào sản phẩm bán lẻ, cho vay tiêu dùng, các sản phẩm phục vụ doanh nghiệp vùa và nhỏ

- Đẩy mạnh phát triển dịch vụ để tăng nguồn thu từ lãi

- Kiểm soát, nâng cao chất lượng tín dụng, tích cực thu hồi nợ xấu

- Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát nhằm góp phần nâng cao chất lượng hoạt động của các chi nhánh, phòng giao dịch, đảm bảo ngân hàng hoạt động

an toàn, phát triển bền vững

- Rà soát, sắp xếp nhân sự nhằm nâng cao hiệu suất làm việc

Phấn đấu năm 2010, VPBank trở thành ngân hàng hàng đầu khu vực phía Bắc Ngân hàng trong top 5 của cả nước, một ngân hàng có tầm cỡ của khu vực Đông Nam Á về chất lượng, hiệu quả, độ tin cậy

II – Khái quát các quy định của pháp luật về các biện pháp bảo đảm tiền vay 2.1 Khái niệm bảo đảm tiền vay

Bảo đảm tiền vay được hiểu là sự thoả thuận của các bên nhằm đưa ra các biện pháp tác động mang tính chất dự phòng bảo đảm cho việc thực hiện nghĩa vụ trả nợ vay đồng thời ngăn ngừa và khắc phục những hậu quả xấu do việc bên vay

Trang 8

không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ gây ra đối với tổ chức tín dụng cho vay Giao dịch bảo đảm tiền vay được thiết lập trên cơ sở hợp đồng, các bên chủ thể có quyền tự do, tự nguyện cam kết, thoả thuận về quyền và nghĩa vụ của mình

Trong quan hệ bảo đảm tiền vay, bên bảo đảm là bên có nghĩa vụ hoặc người thứ ba cam kết bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự, bao gồm bên cầm cố, bên thế chấp, bên đặt cọc, bên ký cược, bên ký quỹ, bên bảo lãnh và tổ chức chính trị -

xã hội tại cơ sở trong trường hợp tín chấp

Bên nhận bảo đảm là bên có quyền trong quan hệ dân sự mà việc thực hiện quyền đó được bảo đảm bằng một hoặc nhiều giao dịch bảo đảm, bao gồm bên nhận cầm cố, bên nhận thế chấp, bên nhận đặt cọc, bên nhận ký cược, bên nhận bảo lãnh,

tổ chức tín dụng trong trường hợp tín chấp và bên có quyền được ngân hàng thanh toán, bồi thường thiệt hại trong trường hợp ký quĩ

biết và không thể biết về việc bên bảo đảm không có quyền dùng tài sản để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự

Bên có nghĩa vụ là bên phải thực hiện nghĩa vụ được bảo đảm đối với bên có quyền (Khoản 1,2,3,4 Điều 3 Nghị định 163/2006/NĐ – CP ngày 29 tháng 12 năm

2006 về giao dịch bảo đảm)

b Nguyên tắc bảo đảm tiền vay

TCTD có quyền lựa chọn, quyết định việc cho vay có bảo đảm bằng tài sản,

cho vay không có bảo đảm và chịu trách nhiệm về quyết định của mình

Khách hàng vay được TCTD lựa chọn cho vay không có bảo đảm bằng tài sản, nếu trong quá trình sử dụng vốn vay, TCTD phát hiện khách hàng vay vi phạm cam kết trong hợp đồng tín dụng, thì TCTD có quyền áp dụng các biện pháp bảo

đảm bằng tài sản hoặc thu hồi nợ trước hạn

Trang 9

TCTD có quyền xử lý tài sản bảo đảm tiền vay theo quy định của pháp luật

có liên quan để thu hồi nợ khi khách hàng vay hoặc bên bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ đã cam kết

Sau khi xử lý tài sản bảo đảm tiền vay, nếu khách hàng vay hoặc bên bảo lãnh vẫn chưa thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ, thì khách hàng vay hoặc bên bảo lãnh

có trách nhiệm tiếp tục thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ đã cam kết

2.2 Hợp đồng bảo đảm tiền vay

Bảo đảm tiền vay bằng tài sản trong hợp đồng tín dụng là biện pháp để bảo đảm bên có nghĩa vụ, cụ thể là bên vay thực hiện đúng các nghĩa vụ của mình đối với bên có quyền Bảo đảm tiền vay bằng tài sản có tầm quan trọng rất lớn tỏng việc bảo đảm thực hiện đúng và đầy đủ nghĩa vụ trong hợp đồng tín dụng Vì vậy mà việc bảo đảm tiền vay phải được lập thành hợp đồng bảo đảm hoặc ghi rõ trong điều khoản của hợp đồng tín dụng Điều này bảo đảm tính pháp lý và tính ràng buộc của các bên Hợp đồng bảo đảm tiền vay phải được lập thành văn bản, có thể lập thành văn bản riêng hoặc ghi trong hợp đồng tín dụng

Hợp đồng bảo đảm tiền vay bằng tài sản có thể là: hợp đồng cầm cố, hợp đồng thế chấp, hợp đồng bảo lãnh

Như vậy, văn bản là hình thức hình thức bắt buộc cho hợp đồng bảo đảm tiền vay Điều đó là do tầm quan trọng của hợp đồng bảo đảm tiền vay đối với việc thực hiện hợp đồng tín dụng và để tránh xảy ra những tranh chấp về việc thực hiện các nghĩa vụ Hợp đồng bảo đảm tiền vay có quy định cụ thể về quyền và nghĩa vụ của bên bảo đảm và bên nhận bảo đảm, về tài sản dùng để bảo đảm tiền vay…

2.2.1 Nội dung của hợp đồng bảo đảm tiền vay bằng tài sản

a Đối với hợp đồng cầm cố, thế chấp tài sản

Hợp đồng cầm cố, thế chấp tài sản có những nội dung chủ yếu sau:

+ Tên và địa chỉ các bên; ngày, tháng, năm

+ Quyền và nghĩa vụ của các bên

Trang 10

+ Nghĩa vụ được bảo đảm

+ Bên giữ tài sản, giấy tờ của tài sản cầm cố, thế chấp

+ Mô tả tài sản cầm cố, thế chấp; giá trị của tài sản cầm cố, thế chấp; nếu là tài sản cầm cố, thế chấp hình thành trong tương lai có thể mô tả khái quát về tài sản

+ Các thỏa thuận về trường hợp xử lý và phương thức xử lý tài sản cầm cố, thế chấp

+ Các thỏa thuận khác

b Đối với hợp đồng bảo lãnh

Trong bảo lãnh tiền vay bằng tài sản của bên thứ ba có hai quan hệ về nghĩa

vụ, gồm quan hệ giữa bên bảo lãnh với bên nhận bảo lãnh và quan hệ giữa bên bảo lãnh với bên được bảo lãnh Do vậy trong nội dung của hợp đồng bảo lãnh cũng có nhiều điểm khác biệt so với trong hợp đồng thế chấp hay cầm cố.Theo quy định trước đây, nội dung chủ yếu của hợp đồng bảo lãnh bao gồm:

+ Tên và địa chỉ các bên; Ngày, tháng, năm

+ Nghĩa vụ được bảo lãnh, phạm vi bảo lãnh và bên được bảo lãnh

+ Quyền nghĩa vụ của bên bảo lãnh, bên nhận bảo lãnh, bên được bảo lãnh + Cam kết của bên bảo lãnh về việc thực hiện nghĩa vụ thay cho bên được bảo lãnh

+ Tài sản bảo lãnh, giá trị tài sản bảo lãnh, trừ trường hợp bên bảo lãnh là tổ chức tín dụng và cơ quan quản lý ngân sách nhà nước; tài sản bảo lãnh là tài sản hình thành trong tương lai có thể mô tả khái quát về tài sản

+ Các thỏa thuận về trường hợp xử lý và phương thức xử lý tài sản bảo lãnh + Các thỏa thuận khác

Như vậy do trong biện pháp bảo lãnh bằng tài sản của bên thứ ba có ba chủ thể tham gia vào quan hệ bảo đảm tiền vay nên trong hợp đồng cần quy định rõ quyền nghĩa vụ của từng bên khi tham gia vào quan hệ Cần xác định rõ từng chủ thể: đâu là bên bảo lãnh, bên nhận bảo lãnh, bên được bảo lãnh để phân biệt rõ ràng

Trang 11

phạm vi quyền, nghĩa vụ của mỗi bên cũng như vai trò của mỗi bên trong hợp đồng bảo đảm tiền vay, trong hợp đồng tín dụng Cũng như với hợp đồng bảo đảm hiện nay chưa có văn bản pháp luật nào quy định về vấn đề nội dung hợp đồng bảo lãnh

2.2.2 Giao kết hợp đồng bảo đảm tiền vay bằng tài sản

Hợp đồng bảo đảm tiền vay bằng tài sản cũng là một loại hợp đồng dân sự vì vậy nó được giao kết trên nguyên tắc tự do nhưng không trái pháp luật và đạo đức

xã hội, các bên tự nguyện và bình đẳng trong giao kết hợp đồng Tuy nhiên, hợp đồng bảo đảm tiền vay tài sản là một hợp đồng mang tính đặc thù vì vậy để giao kết hợp đồng cũng cần phải thỏa mãn những điều kiện cụ thể:

Thứ nhất về chủ thể: Thể hiện nguyên tắc bình đẳng giữa mọi công dân khi tham gia giao dịch bảo đảm, không phân biệt là người mang quốc tịch Việt Nam hay người có quốc tịch nước ngoài, BLDS 2005 đã quy định các chủ thể là cá nhân,

tổ chức người nước ngoài có quyền tham gia các giao dịch bảo đảm theo nguyên tắc bình đẳng như công dân Việt Nam Tuy nhiên do bảo đảm tiền vay trong hoạt động tín dụng nên chủ thể trong hợp đồng bảo đảm tiền vay bằng tài sản ngoài việc phải

có đủ năng lực ký kết hợp đồng dân sự thì một trong hai bên chủ thể phải là tổ chức tín dụng và là chủ thể có đủ điều kiện ký kết hợp đồng tín dụng Bên chủ thể là tổ chức tín dụng này đóng vai trò là bên cho vay cho khách hàng có thể là cá nhân tổ chức vay Hai bên ký kết hợp đồng tín dụng Bên vay dùng tài sản dưới hình thức một trong các biện pháp bảo đảm để bảo đảm việc thực hiện nghĩa vụ, tức là bên vay phải có tài sản bảo đảm

Thứ nhất về chủ thể: Thể hiện nguyên tắc bình đẳng giữa mọi công dân khi tham gia giao dịch bảo đảm, không phân biệt là người mang quốc tịch Việt Nam hay người có quốc tịch nước ngoài, BLDS 2005 đã quy định các chủ thể là cá nhân,

tổ chức người nước ngoài có quyền tham gia các giao dịch bảo đảm theo nguyên tắc bình đẳng như công dân Việt Nam Tuy nhiên do bảo đảm tiền vay trong hoạt động tín dụng nên chủ thể trong hợp đồng bảo đảm tiền vay bằng tài sản ngoài việc phải

Trang 12

có đủ năng lực ký kết hợp đồng dân sự thì một trong hai bên chủ thể phải là tổ chức tín dụng và là chủ thể có đủ điều kiện ký kết hợp đồng tín dụng Bên chủ thể là tổ chức tín dụng này đóng vai trò là bên cho vay cho khách hàng có thể là cá nhân tổ chức vay Hai bên ký kết hợp đồng tín dụng Bên vay dùng tài sản dưới hình thức một trong các biện pháp bảo đảm để bảo đảm việc thực hiện nghĩa vụ, tức là bên vay phải có tài sản bảo đảm

Thứ hai là về việc đăng ký giao dịch bảo đảm: Nếu hợp đồng bảo đảm tiền vay bằng tài sản có giao dịch bảo đảm thuộc một trong các trường hợp sau thì đăng

ký giao dịch bảo đảm: Thế chấp quyền sử dụng đất; thế chấp quyền sử dụng rừng, quyền sở hữu rừng sản xuất là rừng giống; thế chấp tàu bay, tàu biển; thế chấp một tài sản bảo đảm để thực hiện nhiều nghĩa vụ; các trường hợp khác nếu pháp luật quy định (theo quy định tại điều 12.1 Nghị định 163/2006/NĐ – CP về giao dịch bảo đảm) Sở dĩ như vậy vì các tài sản này có tính chất phức tạp, ví dụ đất đai là sở hữu nhà nước, tàu bay có thể ảnh hưởng đến an ninh quốc gia… Nếu thuộc một trong các trường hợp trên mà không đăng ký giao dịch bảo đảm thì hợp đồng bảo đảm tiền vay bằng tài sản không có giá trị pháp lý

Các điều kiện trên phải được thỏa mãn thì mới có thể tiến đến giao kết hợp đồng bảo đảm tiền vay bằng tài sản Sau đó các bên thỏa thuận các điều khoản trong hợp đồng và thực hiện ký kết hợp đồng bảo đảm tiền vay Hợp đồng bảo đảm tiền vay bằng tài sản là một trong các điều kiện để ký kết hợp đồng tín dụng nhưng nó

có sự độc lập với hợp đồng tín dụng Khi hợp đồng bảo đảm tiền vay bằng tài sản

vô hiệu toàn bộ hay từng phần thì không ảnh hưởng đến hiệu lực của hợp đồng tín dụng mà giao dịch bảo đảm đó là điều kiện

2.2.3 Hiệu lực của hợp đồng bảo đảm tiền vay bằng tài sản

Xét về nguyên tắc giao dịch hợp đồng bảo đảm có hiệu lực tại thời điểm giao kết trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác Pháp luật hiện hành quy định các trường hợp bắt buộc phải đăng ký giao dịch bảo đảm Trong trường hợp ký kết

Trang 13

và thực hiện hợp đồng cầm cố, thế chấp mà bên bảo đảm có hành vi gian dối bằng cách dùng chính tài sản bảo đảm để bảo đảm cho một khoản vay tại tổ chức tín dụng khác hoặc cho bên thứ 3 thì nếu căn cứ theo điều 11.1 Nghị định 163 giao dịch bảo đảm chỉ có hiệu lực pháp lý đối với người thứ ba kể từ thời điểm đăng

ký Vì vậy những trường hợp đồng cầm cố, thế chấp tài sản trên sẽ không có giá trị pháp lý đối với bên thứ ba có quyền, lợi ích của tổ chức tín dụng nhận tài sản bảo đảm với các tài sản đã được bảo đảm tại một hợp đồng trước đó sẽ không được bảo vệ Bộ luật dân sự 2005 cũng quy định: “Trong trường hợp một tài sản được dùng để bảo đảm thực hiện nhiều nghĩa vụ dân sự mà có giao dịch bảo đảm

có đăng ký, có giao dịch bảo đảm không đăng ký thì giao dịch bảo đảm có đăng ký được ưu tiên thanh toán” Do đó, dù là tổ chức tín dụng nhận tài sản bảo đảm trước và hợp đồng bảo đảm được ký kết phù hợp với quy định của pháp luật nhưng không đăng ký tại cơ quan đăng ký giao dịch bảo đảm có thẩm quyền thì khi xử lý tài sản đó để trả nợ cho nhiều khoản vay tại các tổ chức tín dụng khác nhau, tổ chức tín dụng nhận bảo đảm có hợp đồng bảo đảm đó sẽ không được ưu tiên thanh toán trước so với tổ chức tín dụng có hợp đồng bảo đảm đã được đăng

ký tại cơ quan đăng ký giao dịch bảo đảm

2.2.4 Thực hiện hợp đồng bảo đảm tiền vay bằng tài sản

Hợp đồng bảo đảm tiền vay bằng tài sản là một loại hợp đồng dân sự vì vậy việc thực hiện nó tuân theo nguyên tắc được quy định tại điều 412 BLDS 2005 Nếu hiểu hợp đồng bảo đảm tiền vay bằng tài sản là hợp đồng phụ và hợp đồng tín dụng

là hợp đồng chính BLDS 2005 có quy định: về nguyên tắc khi hợp đồng phụ vô hiệu không đương nhiên làm mất hiệu lực của hợp đồng chính trừ trường hợp các bên có thoả thuận hợp đồng phụ là một phần không thể tách rời của hợp đồng chính(1) Với quy định này thì các hợp đồng bảo đảm tiền vay có thể làm ảnh hưởng tới hiệu lực của các hợp đồng tín dụng nếu các ngân hàng vẫn theo nếp cũ ghi rõ

(1) Điều 410 BLDS 2005

Trang 14

trong hợp đồng tín dụng và hợp đồng bảo đảm rằng: “hợp đồng bảo đảm này và các phụ lục kèm theo là một bộ phận (phần) không thể tách rời của hợp đồng tín dụng số…” Như vậy, các ngân hàng cần sửa lại nội dung trên cho phù hợp, bởi không nên để hiệu lực của hợp đồng bảo đảm lại có thể ảnh hưởng tới hiệu lực của hợp đồng tín dụng

Hợp đồng bảo đảm tiền vay bằng tài sản trong trường hợp cầm cố thế chấp tài sản là một hợp hợp đồng song vụ vì vậy nội dung thực hiện hợp đồng là: mỗi bên thực hiện nghĩa vụ của mình khi đến thời hạn, các bên không được lấy lý do bên kia chưa thực hiện nghĩa vụ với mình mà hoãn việc thực hiện nghĩa vụ (trừ trường hợp việc không thực hiện nghĩa vụ của bên kia làm cho bên này không thể thực hiện được nghĩa vụ)

Với hợp đồng cầm cố tài sản, sau khi nhận chuyển giao tài sản cầm cố bên nhận cầm cố trực tiếp giữ tài sản hoặc ủy quyền cho bên thứ ba giữ tài sản, trong cả hai trường hợp bên nhận cầm cố vẫn phải chịu trách nhiệm trước bên cầm cố về việc thực hiện nghĩa vụ theo quy định tại điều 332 BLDS 2005 Bên cầm cố tài sản

có trách nhiệm thực hiện các nghĩa vụ theo quy định tại điều 330 BLDS 2005 Trong trường hợp tài sản cầm cố bị mất, hư hỏng, mất giá trị hoặc giảm sút giá trị, trường hợp bán trao đổi, tặng cho, cho thuê, cho mượn tài sản cầm cố, đem tài sản cầm cố để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ khác trách nhiệm của bên cầm cố được quy định tại điều 17, điều 18 Nghị định 163 về giao dịch bảo đảm Trường hợp nhận cầm cố vận đơn, thẻ tiết kiệm, giấy tờ có giá bên cầm cố có quyền quy định tại điều

19 Nghị định 163

Với hợp đồng thế chấp tài sản, sau khi ký hợp đồng thế chấp tài sản tài sản thế chấp không chuyển giao cho bên nhận thế chấp mà do bên thế chấp hoặc do bên thứ ba giữ theo thỏa thuận Nếu bên thế chấp giữ tài sản thế chấp mà bán, trao đổi, tặng cho tài sản thế chấp không phải là hàng hóa luân chuyển trong quá trình sản xuất thì bên nhận thế chấp có quyền thu hồi tài sản thế chấp trừ các trường hợp quy

Ngày đăng: 05/03/2014, 14:19

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1 So sỏnh gữa cỏc giao dịch bảo đảm trong Phỏp lệnh hợp đồng kinh tế 1989 và Bộ luật dõn sự 1995  - tiểu luận chế độ pháp lý về bảo đảm tiền vay và thực tiễn áp dụng tại ngân hàng vpbank – chi nhánh đông đô
Bảng 1.1 So sỏnh gữa cỏc giao dịch bảo đảm trong Phỏp lệnh hợp đồng kinh tế 1989 và Bộ luật dõn sự 1995 (Trang 15)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w