Các loại lỗi chính tả và biện pháp khắc phục được đề cập nhiều trong các giáo trình Tiếng Việt thực hành nêu ở mục 2.1., các công trình nghiên cứu về lỗi đã được xuất bản thành sách, cá
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan toàn bộ nội dung và số liệu trong luận văn này do tôi
tự nghiên cứu, khảo sát và thực hiện Kết quả luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Học viên
Hồ Thị Hạnh
Trang 4Đặc biệt, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất đến cô hướng dẫn - TS Bùi Thị Ngọc Anh, cô đã dành nhiều thời gian, tâm huyết chỉ bảo, giúp đỡ để tôi có thể hoàn thành luận văn thạc sĩ này
Nhân đây, tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn tới gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã ủng hộ, động viên, giúp đỡ tôi trong thời gian học tập và hoàn thành luận văn
Xin chân thành cảm ơn
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 CƠ SỞ LÍ THUYẾT VÀ THỰC TIỄN LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 13
1.1 Cơ sở lí thuyết 13
1.2 Cơ sở thực tiễn 32
1.3 Tiểu kết chương 1 34
Chương 2 LỖI CHÍNH TẢ TRONG BÀI TẬP LÀM VĂN CỦA HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 36
2.1 Thực trạng lỗi chính tả trong bài tập làm văn của học sinh THPT 36
2.2 Nguyên nhân mắc lỗi chính tả 52
2.3 Giải pháp khắc phục lỗi chính tả 53
2.4 Tiểu kết chương 2 58
Chương 3 LỖI DÙNG TỪ TRONG BÀI TẬP LÀM VĂN CỦA HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 60
3.1 Thực trạng lỗi dùng từ trong bài tập làm văn của học sinh THPT 60
3.2 Nguyên nhân mắc lỗi dùng từ 68
3.3 Giải pháp khắc phục lỗi dùng từ 70
3.4 Tiểu kết chương 3 75
KẾT LUẬN 76
TÀI LIỆU THAM KHẢO 79 PHỤ LỤC
Trang 6DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
2 THPT Trung học phổ thông
3 TT GDTX Trung tâm Giáo dục thường xuyên
4 TT GDNN Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp
Trang 7DANH MỤC BẢNG
Bảng 1 1 Bảng chữ cái tiếng Việt 16
Bảng 1 2 Chữ cái tiếng Việt có chứa dấu phụ 17
Bảng 1 3 Chữ ghép tiếng Việt 17
Bảng 1 4 Chữ ghi nguyên âm đôi trong tiếng Việt 17
Bảng 1 5 Kí hiệu thanh điệu tiếng Việt 18
Bảng 1 6 Quy tắc ghi âm đầu tiếng Việt 21
Bảng 1 7 Quy tắc ghi âm đệm tiếng Việt 22
Bảng 1 8 Quy tắc ghi nguyên âm tiếng Việt 22
Bảng 1 9 Quy tắc ghi âm cuối tiếng Việt 23
Bảng 1 10 Quy tắc ghi các bán nguyên âm cuối tiếng Việt 23
Bảng 2 1 Các loại lỗi chính tả 36
Bảng 2 2 Các kiểu lỗi ghi sai con chữ, dấu thanh 39
Bảng 2 3 Lỗi ghi sai phụ âm đầu 40
Bảng 2 4 Tổng hợp một số mẹo chữa lỗi sai phụ âm đầu phổ biến 55
Bảng 3 1 Các loại lỗi dùng từ 61
Bảng 3 2 Một số dạng bài rèn luyện từ 72
Trang 8DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 2 1 Tỉ lệ các loại lỗi chính tả 38
Biểu đồ 2 2 Tỉ lệ học sinh mắc lỗi chính tả 38
Biểu đồ 2 3 Các kiểu lỗi ghi sai con chữ, dấu thanh 39
Biểu đồ 2 4 Các kiểu lỗi ghi sai phụ âm đầu 41
Biểu đồ 3 1 Tỉ lệ các loại lỗi dùng từ 61
Biểu đồ 3 2 Tỉ lệ học sinh mắc lỗi dùng từ 62
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
1.1 Lỗi ngôn ngữ nói chung và lỗi học tiếng Việt của người bản ngữ
nói riêng lâu nay luôn là một vấn đề lớn được các nhà ngôn ngữ học lẫn các nhà sư phạm hết sức quan tâm Từ thực tiễn đó mà nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước vẫn không ngừng cố gắng xây dựng lí thuyết, tìm ra các nguyên nhân, giải pháp hữu hiệu để khắc phục lỗi cho người học Tuy nhiên, thực tế cho thấy hiện tượng viết sai chính tả, dùng từ không chính xác không chỉ xuất hiện trên các trang báo, biển hiệu, quảng cáo, mạng xã hội, mà còn xuất hiện ngay cả trong nhà trường
1.2 Có một thực trạng là hiện nay học sinh Trung học phổ thông
(THPT) thường xuyên mắc các lỗi ngôn ngữ Những lỗi ngôn ngữ mà học
sinh vẫn thường mắc phải trong bài tập làm văn của mình là: viết tắt (ck
-chồng, vk- vợ, bít-biết, rùi/roài-rồi, v.v.); chêm xen các từ ngữ tiếng Anh (we- chúng ta, I– tôi, but- nhưng, all-tất cả, v.v.); nhầm lẫn phụ âm đầu (r/d/gi, ch/tr, x/s, v.v.); v.v Nếu như các lỗi ngôn ngữ này của học sinh không được
giáo viên chấn chỉnh và định hướng kịp thời sẽ làm cho tiếng Việt dần mất đi
sự trong sáng vốn có của nó
1.3 Xuất phát từ thực tiễn giảng dạy ở Trung tâm Giáo dục nghề
nghiệp - Giáo dục thường xuyên (GDNN – GDTX), tôi nhận thấy học sinh ở đây thường mắc các lỗi chính tả và lỗi dùng từ trong phân môn Làm văn Việc nghiên cứu, tìm hiểu thực trạng lỗi trong các bài tập làm văn của học sinh, tìm
ra nguyên nhân, giải pháp khắc phục là vô cùng cần thiết Kết quả nghiên cứu một mặt góp phần giảm bớt lỗi làm văn của học sinh THPT nói chung và học sinh trường Trung tâm GDNN-GDTX Mỹ Đức nói riêng, hướng tới trang bị cho học sinh có một nền tảng kiến thức ngôn ngữ tốt hơn, mặt khác giúp giáo viên điều chỉnh hướng dạy học cho phù hợp hơn và hiệu quả hơn
Trang 10Mặc dù đã có khá nhiều công trình nghiên cứu về lỗi trong việc sử dụng ngôn ngữ của học sinh, tuy nhiên nhưng chưa có công trình nào nghiên cứu về lỗi trong bài tập làm văn của học sinh GDNN-GDTX
Vì những lí do nêu trên, chúng tôi lựa chọn vấn đề: KHẢO CỨU LỖI
BÀI TẬP LÀM VĂN LỚP 10 VÀ GIẢI PHÁP KHẮC PHỤC (Trường
hợp học sinh Trung tâm Giáo dục Nghề nghiệp – Giáo dục thường xuyên huyện Mỹ Đức, Hà Nội) làm đề tài nghiên cứu của luận văn Nghiên cứu này
có ý nghĩa trong thực tiễn giảng dạy: vừa giúp giáo viên thấy được những lỗi học sinh thường mắc phải để có định hướng giảng dạy, bồi dưỡng thêm trong quá trình giảng dạy phân môn làm văn, vừa giúp học sinh có được những giải pháp hiệu quả để khắc phục những lỗi phổ biến khi viết văn
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
2.1 Khái quát chung về lịch sử nghiên cứu lỗi
Nghiên cứu lỗi ngôn ngữ xuất hiện từ những năm 30 của thế kỷ XX nhưng phải đến khi lí thuyết thụ đắc ngôn ngữ của Chomsky ra đời thì việc nghiên cứu lỗi ngôn ngữ mới có bước phát triển mới Các nhà nghiên cứu trên thế giới bắt đầu đưa ra các quan điểm về việc học tiếng, đồng thời quan tâm nhiều đến lỗi và phân tích lỗi của người học Nhiều học thuyết ra đời xuất phát từ lỗi: thuyết hành vi (Skinner 1957); lí thuyết phân tích lỗi của S.P Corder (1967, 1981); lí thuyết ngôn ngữ trung gian (William Nemser 1971), Đến những năm 1970, phân tích lỗi trở thành một phần được thừa nhận trong ngôn ngữ học ứng dụng mà công lớn thuộc về S.P Corder Trước Corder, các nhà ngôn ngữ học cũng nhận ra lỗi của người học, phân loại chúng và xác định các lỗi nào phổ biến nhưng lại không chú ý nhiều đến vai trò của lỗi trong giảng dạy
Lỗi ngôn ngữ được nghiên cứu trên các đối tượng khác nhau: người học học tiếng mẹ đẻ (bản ngữ); người học ngôn ngữ thứ hai và người học ngoại ngữ Lỗi và nguyên nhân gây lỗi của mỗi đối tượng học có những điểm chung song cũng có những điểm đặc trưng riêng
Trang 11Đối với tiếng Việt, các loại lỗi ngôn ngữ được trình bày khá cụ thể, chi
tiết trong các cuốn giáo trình Tiếng Việt thực hành được biên soạn để dạy cho các đối tượng sinh viên thuộc các chuyên ngành, lĩnh vực khác nhau Có thể
kể đến các giáo trình Tiếng Việt thực hành của các tác giả/ nhóm tác giả, như:
Bùi Minh Toán, Lê A, Đỗ Việt Hùng (1996); Nguyễn Minh Thuyết (cb), Nguyễn Văn Hiệp (1997); Hữu Đạt (2002); Hoàng Anh (chủ biên), Phạm Văn Thấu (2005); Trịnh Thị Chín (2006, Giáo trình dùng trong các trường THCN); Hoàng Kim Ngọc (2010); Trường Đại học Nội vụ Hà Nội (2011, Giáo trình dành cho học sinh hệ Trung học); Nguyễn Quang Ninh (2013, cuốn
A, Giáo trình dành cho sinh viên khối Khoa học xã hội và nhân văn); Các
cuốn giáo trình Tiếng Việt thực hành của các tác giả trên đều có những đặc
điểm khá thống nhất về mặt nội dung, đều đề cập đến vấn đề: chính tả tiếng Việt; việc sử dụng/ từ ngữ sao cho chính xác, hiệu quả; hướng dẫn cách đặt câu đúng ngữ pháp; tạo lập các kiểu loại văn bản; Trong đó, giáo trình đưa
ra cách phân loại các kiểu lỗi (chính tả, dùng từ, ngữ pháp, phong cách ) và đưa ra một số mẹo, các dạng bài tập nhằm khắc phục lỗi cho người học Nhìn chung, lỗi mà mỗi tác giả thống kê, phân loại ở các giáo trình không hoàn toàn giống nhau về số lượng tuy nhiên về cơ bản, nội dung có nhiều điểm tương đồng
2.2 Lịch sử nghiên cứu lỗi chính tả và lỗi dùng từ
Lỗi chính tả và lỗi dùng từ của học sinh là đối tượng nghiên cứu chính
mà luận văn hướng tới Vì thế, trong phần dưới đây, chúng tôi chỉ tập trung điểm lại lịch sử nghiên cứu hai loại lỗi này
Có thể thấy rằng, bản thân hai loại lỗi chính tả và dùng từ đã được các nhà nghiên cứu quan tâm dưới nhiều góc độ khác nhau: lỗi trên báo in, báo điện tử, biển hiệu quảng cáo, lỗi với việc giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt (Trương Thị Kiên (2012), Lê Thị Tuyên (2017), ); ứng dụng công nghệ thông tin để phát hiện lỗi chính tả (Nguyễn Thái Ngọc Duy (2004)); Đặc biệt, trong giáo dục nhà trường, việc nghiên cứu thực trạng, lí giải
Trang 12nguyên nhân gây lỗi, đưa ra các giải pháp khắc phục được rất nhiều nhà giáo dục học cũng như ngôn ngữ học quan tâm
2.2.1 Lỗi chính tả
a Các loại lỗi chính tả và biện pháp khắc phục được đề cập nhiều trong
các giáo trình Tiếng Việt thực hành (nêu ở mục 2.1.), các công trình nghiên
cứu về lỗi (đã được xuất bản thành sách), các cuốn từ điển chính tả, như:
Chữa lỗi chính tả cho học sinh (1982) và Mẹo giải nghĩa từ Hán Việt và chữa lỗi chính tả (2000) do Phan Ngọc biên soạn; Mẹo luật chính tả của Lê Trung
Hoa (1984); Từ điển chính tả của Hoàng Phê (1995); Chính tả tiếng Việt của Hoàng Phê (1999), Từ điển chính tả tiếng Việt phổ thông của Nguyễn Văn Khang (2003); Từ điển Chính tả học sinh của Nguyễn Như Ý (2014); Từ điển
chính tả tiếng Việt của nhóm tác giả Hà Quang Năng, Hà Thị Quế Hương
(2017); Từ điển chính tả tiếng Việt của Nguyễn Văn Khang (2018); Các
công trình này có dung lượng và mức độ chuyên sâu khác nhau Có loại từ điển chính tả hướng đến mọi đối tượng cần tra cứu, có từ điển lại chỉ biên soạn cho một số đối tượng cụ thể (học sinh, học sinh tiểu học, ) Tuy nhiên, mục tiêu chung của các công trình nghiên cứu, các cuốn từ điển trên đều hướng đến giúp người học tiếng Việt dễ dàng tra cứu, học tập, hạn chế các lỗi chính tả khi sử dụng
Về phân loại lỗi chính tả, mỗi tác giả có cách phân loại riêng tùy theo tiêu chí lựa chọn và quan điểm cá nhân Theo nhóm tác giả Bùi Minh Toán,
Lê A, Đỗ Việt Hùng (1996), có 2 loại lỗi chính tả cơ bản: sai về nguyên tắc
chính tả hiện hành (vị trí đánh dấu thanh điệu, không nắm được quy tắc phân
bổ các kí hiệu cùng biểu thị một âm, không nắm được quy tắc viết hoa) và sai cách phát âm chuẩn (sai phụ âm đầu, phần vần, thanh điệu) Sau này, nhiều
tác giả khác khi biên soạn giáo trình Tiếng Việt thực hành (Nhóm tác giả
Trường Đại học Nội vụ Hà Nội (2011), Nguyễn Quang Ninh (2013), ) và các thế hệ sinh viên, học viên khi thực hiện khóa luận, luận văn cũng đều thống nhất quan điểm, kế thừa và tiếp thu cách phân loại lỗi chính tả trên Tác giả
Trang 13Nguyễn Minh Thuyết và Nguyễn Văn Hiệp (1997) chia lỗi chính tả thành 3
loại lỗi: lỗi về thanh điệu, lỗi về phụ âm đầu và lỗi về vần Vấn đề về viết hoa
và phiên âm tiếng nước ngoài được nhóm tác giả đặt thành nội dung riêng bên cạnh lỗi chính tả Khác với các tác giả trên, nhóm tác giả Lê Phương Nga và
Đặng Kim Nga (2005) trong Tài liệu Phương pháp dạy học tiếng Việt ở tiểu
học dùng để đào tạo giáo viên tiểu học trình độ cao đẳng và đại học sư phạm,
nêu ra 4 loại lỗi chủ yếu mà học sinh mắc phải: Lỗi chính tả do học sinh
không nắm vững cấu trúc của âm tiết tiếng Việt (quét → quyét; khuếch →
khuyếch; huênh → huyênh,…); Lỗi chính tả do học sinh không nắm vững quy
tắc chính tả tiếng Việt (quanh → qoanh / quoanh; ghế → gế; nghĩ → ngĩ, );
Lỗi chính tả do ảnh hưởng lỗi phát âm của phương ngữ hoặc do không nắm
vững chính âm (long lanh → nong nanh (Bắc Bộ), luôn luôn → luông luông,
máy bay → mái bai (Nam Bộ); que củi → que cũi (Thanh Hóa), ); Lỗi chính
tả do học sinh không hiểu mối quan hệ giữa chữ và nghĩa (Tổ quốc → Tổ
cuốc, để dành → để giành,…);
Sau khi phân loại lỗi, các công trình trên cũng đưa ra nhiều biện pháp, giải pháp khắc phục, như: tra từ điển, học một số mẹo, luyện kĩ năng phát âm đúng, Tác giả Lê Phương Nga và Đặng Kim Nga cho rằng: “Trong dạy học chính tả, cần tuân theo nguyên tắc phối hợp phương pháp tích cực với phương pháp ‘tiêu cực’”; “Phương pháp tích cực là cách dạy giúp học sinh hình thành một cách có ý thức hoặc không có ý thức những kĩ năng nói, viết đúng ngay
từ đầu Phương pháp ‘tiêu cực’ là cách dạy trong đó giáo viên giúp học sinh phát hiện các lỗi sử dụng lời nói, phân tích lỗi, chữa lỗi, từ đó giúp các em tránh được các lỗi sử dụng lời nói” Trong chính tả, nguyên tắc trên sử dụng
để phòng ngừa lỗi Theo đó, “giáo viên không chỉ cho học sinh viết nhiều và cung cấp các quy tắc, các mẹo chính tả để các em biết viết đúng, mà còn cần thống kê, phân loại lỗi chính tả học sinh thường mắc, giúp các em biết chữa lỗi, từ đó hạn chế dần các lỗi chính tả trong bài viết của các em” [47; 153];
Trang 14Nhìn chung, mỗi biện pháp mà các nhà nghiên cứu, các nhà giáo dục học đưa ra đều có những ưu, nhược điểm nhất định Không phải mọi biện pháp đều có thể áp dụng cho mọi đối tượng mà nó còn phụ thuộc vào đặc điểm tâm, sinh lí lứa tuổi và khả năng nhận thức của người học
b Lỗi chính tả được đề cập ở mọi cấp học trong giáo dục nhà trường, đặc biệt là tiểu học
Ở giai đoạn tiểu học, trẻ được dạy nhiều về chữ cái, đánh vần, đọc và viết sao cho đúng chính tả Đây là cơ sở nền tảng để học sinh tiếp thu, lĩnh hội, lưu trữ các kiến thức cho các cấp học tiếp theo Nhận thức được vai trò quan trọng của cấp học này, giáo viên rất chú trọng đến việc rèn luyện chính
tả cho học sinh Đó cũng là lí do mà có khá nhiều các nghiên cứu tập trung vào việc khai thác, phân tích lỗi chính tả ở cấp tiểu học mà ít quan tâm đến các cấp học khác Có thể kể đến hàng loạt các khóa luận, luận văn Thạc sĩ Khoa học Giáo dục nghiên cứu về lỗi chính tả, như: Nguyễn Văn Bản (2010) [5]; Luận văn Thạc sĩ Ngữ văn của Trương Diệu Thừa (2011) [72]; Nguyễn Thị Vân Anh (2014) [4], Nguyễn Thị Thanh Nga (2016) [48]; Do đặc thù của học sinh ở mỗi vùng miền mà lỗi mắc phải cũng không hoàn toàn trùng nhau, đặc biệt là học sinh sống ở nơi mà tiếng nói mang đậm dấu ấn địa phương
Trái lại, hầu như có rất ít các công trình nghiên cứu về lỗi chính tả ở các bậc học khác: THCS, THPT và Cao đẳng, Đại học Có lẽ do định kiến rằng ở các cấp học này, học sinh đã nắm vững mọi quy tắc chính tả và ít mắc
lỗi? Ngoài các cuốn giáo trình Tiếng Việt thực hành dành cho bậc Đại học,
chúng tôi mới chỉ tiếp cận được một vài luận văn Đáng chú ý là Luận văn
Thạc sĩ Khoa học Ngữ văn Lỗi chính tả của học sinh tỉnh Lai Châu (Trường
THPT dân tộc nội trú tỉnh, Trường THPT chuyên Lê Quý Đôn) của Phùng Thị
Kim Oanh (2015) Luận văn khảo sát tại trường THPT trên hai nhóm đối tượng học: người Kinh học tiếng Việt và người dân tộc thiểu số học tiếng Việt Nghiên cứu này một lần nữa cho thấy tùy đối tượng học mà kết quả
Trang 15thống kê các loại lỗi có thể khác Theo đó, các biện pháp khắc phục lỗi cũng cần phải linh hoạt thay đổi cho phù hợp với từng đối tượng cụ thể
Thực tiễn cho thấy, lỗi chính tả hết sức phong phú, và chịu tác động bởi nhiều nhân tố: trình độ, nghề nghiệp, độ tuổi, vùng miền, Đặc biệt, nó phản ánh bức tranh đa dạng về phương ngữ, thổ ngữ tiếng Việt trên mọi miền đất nước Đối với những phương ngữ, thổ ngữ mà người nói khó khăn trong việc phát âm đúng thanh điệu thì người học dễ bị nhầm lẫn khi viết dấu thanh; đối với những vùng nói biến âm âm đầu hay bộ phận cấu tạo nào đó của phần vần thì dễ mắc lỗi viết âm ở vị trí đó Để giải quyết vấn đề này một cách có hiệu quả thì cần thiết phải có những nghiên cứu, khảo sát trên các đối tượng cụ thể
- đối tượng mục tiêu mà các nhà giáo dục nhắm tới
2.2.2 Lỗi dùng từ
Lỗi dùng từ được đề cập đến trong các bài nghiên cứu lẻ tẻ về một vài hiện tượng hay tập hợp trong các cuốn sổ tay, sách bài tập hay từ điển, chẳng
hạn: Bài tập tiếng Việt thực hành của Trần Trí Dõi (1997); Rèn luyện ngôn
ngữ của Phan Thiều (1998); Dạy Tập làm văn ở trường tiểu học của Nguyễn
Trí (2000); Sổ tay dùng từ tiếng Việt của Hoàng Văn Hành, Hoàng Phê, Đào Thản (2002); Lỗi từ vựng và cách khắc phục của nhóm Hồ Lê, Trần Thị Ngọc Lang, Tô Đình Nghĩa (2005); Từ điển lỗi dùng từ của Hà Quang Năng (cb, 2007); và các cuốn giáo trình Tiếng Việt thực hành do nhiều tác giả khác
nhau biên soạn
Về lỗi dùng từ, các nhà nghiên cứu đưa ra nhiều cách phân loại khác nhau Nhóm tác giả Bùi Minh Toán, Lê A, Đỗ Việt Hùng (1996) phân loại các
lỗi dùng từ thành 4 kiểu: lỗi về âm thanh và hình thức cấu tạo của từ, lỗi về
nghĩa của từ, lỗi về kết hợp từ và lỗi về phong cách [68] Các tác giả Nguyễn
Minh Thuyết và Nguyễn Văn Hiệp (1997) đưa ra 3 loại lỗi thông thường về
dùng từ: lặp từ, dùng từ không đúng nghĩa và dùng từ không hợp phong cách [71] Nhóm tác giả Hồ Lê, Trần Thị Ngọc Lang, Lê Đình Nghĩa (2005) cũng
chia thành 3 kiểu loại lỗi từ vựng chính nhưng nội dung lại có những điểm
Trang 16khác: lỗi viết sai âm gây ra những lẫn lộn về nghĩa; lỗi do hiểu sai từ; và lỗi
do sự phối hợp nghĩa giữa một số từ hoặc không ăn khớp, hoặc bị hụt hẫng, bị
trùng lặp [43] Hà Quang Năng (2007) đề cập đến 5 dạng lỗi cơ bản: dùng sai
vỏ âm thanh, dùng từ sai ý nghĩa, dùng lặp từ, dùng thừa từ và thiếu từ, dùng sai phong cách và sai từ loại [45], Ngoài các yêu cầu trên, tác giả này còn
bổ sung yêu cầu là từ được dùng đúng và hay thì còn cần phải: tránh dùng từ sáo rỗng, công thức; tránh dùng từ địa phương một cách tùy tiện và tránh lạm dụng từ Hán Việt
Về giải pháp khắc phục lỗi dùng từ, một số nghiên cứu mới chỉ dừng lại ở việc trình bày thực trạng chung về vấn đề mắc lỗi dùng từ của học sinh
mà chưa đưa ra được các biện pháp cụ thể; một số khác thì đưa ra một số giải pháp nhất định, chủ yếu là các thao tác dùng và rèn luyện từ (Lựa chọn, thay thế từ; nhận xét, phân tích, đánh giá từ ngữ; ) Chẳng hạn, Nguyễn Trí (2000) tuy có đề cập đến việc rèn luyện kĩ năng viết cho học sinh tiểu học thông qua môn Tập làm văn nhưng tác giả không đề cập đến các lỗi dùng từ
và cách khắc phục cụ thể; nhóm tác giả Nguyễn Minh Thuyết (cb) và Nguyễn Văn Hiệp (1996) có đề cập đến một số lỗi sai về dùng từ và cách chữa trên diện rộng nên nhiều chỗ chưa thật phù hợp với đối tượng THPT; Có thể thấy rằng, tương tự như vấn đề chính tả, do vốn từ tiếp nhận và mức độ trải nghiệm, tích lũy tri thức ở mỗi độ tuổi khác nhau nên khó xây dựng những cuốn sổ tay hướng dẫn dùng từ chi tiết, phù hợp với từng nhóm tuổi/ cấp học
Thông thường, để hiểu và dùng đúng từ, người học thường tìm đến các cuốn Từ
điển tiếng Việt để tra cứu
Ngoài các công trình nêu trên, có thể kể đến các luận văn, khóa luận, như: Đào Thị Thanh (2011) [64]; Nguyễn Thị Thanh Nga (2016) [48]; Nguyễn Kiều Oanh (2016) [55]; Các nghiên cứu này bước đầu thu được những kết quả nhất định nhờ khảo sát kĩ một nhóm đối tượng cụ thể trên một phạm vi vùng miền
Trang 17Xét thấy, vấn đề nghiên cứu về lỗi chính tả và dùng từ không mới, song vẫn còn rất ít các nghiên cứu về các loại lỗi này ở các bậc trên tiểu học, trong
đó có THPT Do đó, còn nhiều vấn đề băn khoăn, cần giải quyết: Có những
loại lỗi nào mà học sinh đến cấp học này vẫn còn mắc? Đó có phải vẫn là những lỗi phổ biến ở mọi cấp học hay không? Trong thời đại mới, liệu có phát sinh các lỗi ngôn ngữ mới mà các thế hệ trước không có? Cần có giải pháp gì khắc phục lỗi cho phù hợp và có hiệu quả đối với học sinh ở lứa tuổi này?, Kế thừa những kết quả nghiên cứu trên, luận văn tiếp tục triển khai
nghiên cứu lỗi chính tả và dùng từ trong bài tập làm văn của học sinh lớp 10 tại Trung tâm GDNN-GDTX huyện Mỹ Đức, trên cơ sở đó đưa ra giải pháp khắc phục lỗi cho học sinh Điều này đặc biệt quan trọng vì khi học sinh khắc phục được lỗi chính tả và dùng từ trong bài tập làm văn ở đầu cấp học, có thể giúp học sinh giảm thiểu lỗi ở những cấp học cao hơn
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu luận văn này là khảo sát, phân loại và miêu tả lỗi trong các bài tập làm văn của học sinh trên cơ sở điều tra thực tế bài kiểm tra môn Làm văn của học sinh lớp 10 tại Trung tâm GDNN-GDTX huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội; từ đó đề xuất các giải pháp khắc phục lỗi giúp học sinh đạt kết quả cao hơn trong môn tập làm văn nói riêng, trong diễn đạt bằng văn bản nói chung ở những giai đoạn tiếp theo
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Từ mục đích nghiên cứu, luận văn đưa ra các nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể sau đây:
- Thứ nhất, tổng quan tình hình nghiên cứu về lỗi và lỗi ngôn ngữ, xây
dựng cơ sở lí thuyết cho việc thực hiện các nội dung nghiên cứu của đề tài;
- Thứ hai, khảo sát, thống kê và phân loại các loại lỗi trong các bài
tập làm văn của học sinh lớp 10 tại Trung tâm GDNN-GDTX huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội;
Trang 18- Thứ ba, tìm hiểu nguyên nhân, cơ chế gây lỗi phổ biến;
- Thứ tư, đề xuất phương pháp, cách thức khắc phục lỗi, chữa một số
loại lỗi phổ biến trong các bài tập làm văn nhằm nâng cao hiệu quả của giờ
dạy phân môn Làm văn nói riêng và môn Ngữ văn trong nhà trường phổ thông
nói chung, đáp ứng yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện bộ môn theo Chương trình Ngữ văn lớp 10 mới hiện hành
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là những lỗi tiếng Việt thể hiện trong các bài tập làm văn của học sinh người Kinh đang học lớp 10 tại Trung tâm GDNN-GDTX huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, luận văn chỉ tập trung khảo sát hai loại lỗi: lỗi chính tả và dùng từ trong bài tập làm văn của học sinh lớp 10 tại Trung tâm GDNN-GDTX huyện Mỹ Đức
+ Sở dĩ chúng tôi chỉ chọn học sinh lớp 10 là vì: (i) Khối 10 có số học sinh chiếm tỉ lệ cao nhất trong trong toàn trường, chiếm 89.4% (210/235 học sinh); (ii) Đây là giai đoạn đầu cấp THPT nên việc nghiên cứu và kịp thời chỉ
ra các lỗi và hướng khắc phục cho học sinh sẽ rất có ý nghĩa để giúp các em hoàn thiện kĩ năng viết ở những lớp cao hơn
+ Có nhiều lỗi ngôn ngữ có thể cùng xuất hiện trong bài tập làm văn của học sinh, tuy nhiên do thời gian có hạn nên chúng tôi chỉ khảo sát lỗi chính tả và lỗi dùng từ trong bài tập làm văn của học sinh Đây là những lỗi tiêu biểu, phổ biến hơn cả ở học sinh lớp 10 tại Trung tâm GDNN-GDTX
- Về dữ liệu khảo sát: Hiện nay, Trung tâm GDNN-GDTX huyện Mỹ Đức, Hà Nội có tổng số 235 học sinh, trong đó học sinh khối lớp 10 là 210 học sinh thuộc biên chế ở 7 lớp Để có được kết quả khái quát và chính xác nhất, chúng tôi tiến hành cho học sinh làm bài kiểm tra tập làm văn Các bài
Trang 19kiểm tra này được thiết kế theo Chương trình Ngữ văn năm 2005 (chương trình cũ) hiện đang được áp dụng trong giảng dạy cho khối 10 tại Trung tâm
5 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài luận văn này, chúng tôi kết hợp sử dụng các phương pháp và thủ pháp nghiên cứu sau đây:
5.1 Phương pháp điều tra thực tế
Chúng tôi đã khảo sát tình hình mắc lỗi chính tả và lỗi dùng từ qua 210 bài tập làm văn của 210 học sinh lớp 10 tại Trung tâm GDNN-GDTX huyện
Mỹ Đức, Hà Nội Mỗi bài kiểm tra đều có 3 dạng đề khác nhau: tự sự, thuyết minh, nghị luận (thuộc chương trình lớp 10) Mỗi bài học sinh làm trong vòng
45 phút Trung bình mỗi bài thi có độ dài từ 500 – 700 chữ
5.2 Phương pháp phân tích lỗi
Luận văn sử dụng phương pháp phân tích lỗi của ngôn ngữ học ứng dụng để nhận diện, miêu tả, giải thích cơ chế mắc đối với từng kiểu loại lỗi, từ
đó đề xuất các giải pháp sửa lỗi
5.3 Thủ pháp thống kê
Thủ pháp này được sử dụng để thống kê các loại lỗi xuất hiện trong các bài tập làm văn của học sinh và phân loại chúng thành các kiểu loại theo các tiêu chí cụ thể
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ góp phần:
- Cung cấp nguồn ngữ liệu thực tế góp phần minh chứng và làm phong phú thêm lí thuyết về lỗi, lỗi ngôn ngữ;
- Qua việc nghiên cứu một cách hệ thống, toàn diện thực trạng lỗi ngôn ngữ gắn với bài tập làm văn của học sinh lớp 10 tại Trung tâm GDNN-GDTX huyện Mỹ Đức, Hà Nội, luận văn đưa ra giải pháp sát hợp với đối tượng này, giúp học sinh tự khắc phục lỗi khi tạo lập các dạng văn bản
Trang 20- Ba là, luận văn là một gợi ý cho giáo viên cách khắc phục một số lỗi ngôn ngữ phổ biến cho học sinh lớp 10 nói riêng và học sinh THPT nói chung
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Phụ lục, luận văn triển khai thành 3 chương như sau:
- Chương 1: Cơ sở lí thuyết và thực tiễn liên quan đến đề tài
- Chương 2: Lỗi chính tả trong bài tập làm văn của học sinh trung học phổ thông
- Chương 3: Lỗi dùng từ trong bài tập làm văn của học sinh trung học phổ thông
Trang 21Chương 1
CƠ SỞ LÍ THUYẾT VÀ THỰC TIỄN LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1.1 Cơ sở lí thuyết
1.1.1 Lỗi ngôn ngữ
1.1.1.1 Khái niệm lỗi ngôn ngữ
Các nhà nghiên cứu đưa ra khá nhiều các khái niệm khác nhau về lỗi ngôn ngữ
Khi nghiên cứu về việc dạy ngoại ngữ, S.P Corder – một trong những
nhà nghiên cứu đầu tiên đưa ra lí thuyết phân tích lỗi, đã đưa ra khái niệm: “Lỗi
là kết quả của sự thể hiện không thành công Lỗi không phải là một vấn đề phải vượt qua hay là những cái gì sai trái, hay là điều gì đáng xấu hổ phải xóa
bỏ Thực ra, lỗi là một phần của việc học và qua lỗi có thể phát hiện ra những chiến lược mà người học đã sử dụng để học một ngoại ngữ Lỗi cung cấp cho chúng ta những sự hiểu biết, những cái nhìn giá trị, những kinh nghiệm quý báu về quá trình học một ngoại ngữ” [89; 20] Theo ông, khái niệm này cũng
đúng với việc học ngôn ngữ thứ nhất
Trong cuốn “777 Khái niệm ngôn ngữ học”, Nguyễn Thiện Giáp (2010)
cho rằng: “Khi một đơn vị ngôn ngữ được sử dụng như là kết quả học tập còn
thiếu sót hoặc chưa đầy đủ thì học viên được coi là phạm lỗi Lỗi là hình thức không đúng về ngữ pháp” [25; 245-246]
Trong luận văn này, chúng tôi quan niệm: Lỗi ngôn ngữ là một phát
ngôn, một hình thức biểu đạt hoặc một kết cấu ngữ pháp mà đa số người bản ngữ hay một giáo viên ngôn ngữ thấy rằng không thể chấp nhận được vì chúng được sử dụng một cách không hợp lý hoặc thiếu vắng trong diễn đạt, dẫn đến hiện tượng trống nghĩa hoặc mơ hồ về nghĩa
1.1.1.2 Quan điểm về phân tích lỗi
Mặc dù Pit Corder tập trung vào lỗi ngôn ngữ của người học ngoại ngữ song có nhiều quan điểm của ông cũng phù hợp với lỗi ngôn ngữ của người bản ngữ học tiếng mẹ đẻ Trong luận văn này, luận văn tiếp thu một số quan
Trang 22điểm về phân tích lỗi dựa trên lí thuyết của Pit Corder Bên cạnh đó, chúng tôi cũng có những điều chỉnh cho phù hợp với đối tượng nghiên cứu của mình
a Quan điểm phân tích lỗi của Pit Corder
Hướng phân tích lỗi quan tâm chủ yếu tới quá trình thụ đắc ngôn ngữ
và quá trình giao tiếp Theo Pit Corder, việc phân tích lỗi là việc nghiên cứu
và phân tích các lỗi do người học ngôn ngữ gây ra, bao gồm việc thu thập các mẫu ngôn ngữ của người học, xác định lỗi trong các mẫu, miêu tả lỗi, phân loại lỗi và đánh giá mức độ nghiêm trọng của lỗi [88; 80]
Về mục đích của việc phân tích lỗi, Pit Corder cho rằng phân tích lỗi không chỉ quan tâm đến mục đích tìm lỗi và chữa lỗi (mục đích ứng dụng) mà còn phải quan tâm đến việc giải thích cơ chế thể hiện ngôn ngữ của người học (mục đích lí thuyết) [87]
b Quá trình phân tích lỗi
Có thể chia quá trình phân tích lỗi làm 3 giai đoạn:
(i) Giai đoạn thứ nhất: Nhận diễn lỗi
Dựa vào ngữ liệu thu được từ người học, tiến hành nhận diện lỗi, chẳng hạn: lỗi phổ biến và lỗi đặc trưng; lỗi hệ thống và lỗi không hệ thống; Lỗi phổ biến là loại lỗi mà người học thường hay mắc phải, mắc giống nhau một cách có hệ thống; còn lỗi đặc trưng là lỗi mang những nét riêng của từng nhóm hoặc cộng đồng người học (lứa tuổi, vùng miền, văn hóa cộng đồng, ) Lỗi hệ thống là lỗi mà người học lặp đi lặp lại nhiều lần theo cùng một cách
thức, lỗi không hệ thống (lầm) là lỗi do nhầm lẫn gây nên
(ii) Giai đoạn thứ hai: Miêu tả lỗi
Sau khi nhận diện lỗi, tiến hành xem xét, thống kê, phân loại lỗi Có thể phân loại theo các tiêu chí khác nhau, như: đơn vị mắc lỗi, vị trí mắc lỗi, , ví
dụ: Lỗi ngôn ngữ có thể là: lỗi ngữ âm, lỗi chính tả, lỗi từ vựng, lỗi ngữ
pháp, ; Lỗi ngữ pháp có thể chia thành nhiều loại lỗi: lỗi đại từ nhân xưng, lỗi động từ, lỗi tính từ, lỗi quan hệ từ, ; Lỗi chính tả có thể mắc ở các vị trí
khác nhau của âm tiết: lỗi viết phụ âm đầu, lỗi ở âm chính, lỗi ở âm cuối, ;
Trang 23Lỗi ngôn ngữ nói chung có thể chia thành: lỗi lược bỏ, lỗi thêm vào, lỗi cấu
tạo sai và lỗi dùng sai vị trí Trong mỗi loại lỗi đó, tiếp tục quan sát, phân
thành các tiểu nhóm nhỏ hơn căn cứ vào những đặc điểm chung và khác biệt giữa chúng
(iii) Giai đoạn thứ ba: Giải thích lỗi
Giải thích lỗi có thể coi là bước quan trọng nhất trong quá trình phân tích lỗi Chỉ khi nhận thức được cơ chế gây ra từng loại lỗi (vì sao chúng xuất hiện và chúng xuất hiện như thế nào) thì mới có thể đưa ra các nguyên tắc, biện pháp để khắc phục lỗi Đối với người học bản ngữ, lỗi có thể do nguyên nhân khách quan (những bất hợp lý trong hệ thống ngôn ngữ, lỗi do người dạy, ) hoặc nguyên nhân chủ quan đem lại (người học chưa nắm được hết các quy tắc chính tả, khả năng nghe và tái hiện âm thanh chưa chính xác, ít trau dồi kiến thức ngôn ngữ, phong cách giao tiếp trong các ngữ cảnh khác nhau, )
c Ý nghĩa của việc phân tích lỗi
Xét về ý nghĩa, phân tích lỗi là thủ thuật mà các nhà nghiên cứu và giáo viên sử dụng để biết được trình độ của người học, biết được người học cần phải học cái gì, từ đó lên chương trình học, biên soạn tài liệu, bài luyện cho phù hợp Lỗi cũng phản ánh việc người học học ngôn ngữ như thế nào và sử dụng chiến lược nào để học ngôn ngữ
1.1.2 Chữ Quốc ngữ
1.1.2.1 Nguyên tắc xây dựng chữ Quốc ngữ
Chữ Quốc ngữ (chữ viết tiếng Việt) là loại chữ viết ghi âm được xây dựng trên cơ sở chữ cái Latinh theo nguyên tắc âm vị học “Để đảm bảo nguyên tắc này, chữ Quốc ngữ phải thỏa mãn ít nhất hai điều kiện: Mỗi âm chỉ do một kí hiệu biểu thị; mỗi kí hiệu luôn luôn chỉ có một giá trị, tức biểu thị chỉ một âm duy nhất ở mọi vị trí trong từ” [68; 227]
Bộ chữ này được hình thành bởi các tu sĩ Dòng Tên trong quá trình truyền đạo Công giáo tại Việt Nam đầu thế kỷ XVII Giáo sĩ Alexandre de Rhodes là người có công hệ thống hóa và định chế hóa chữ Quốc ngữ qua
Trang 24cuốn từ điển Dictionarium Annamiticum Lusitanum et Latinum in năm 1651
Bảng 1 1 Bảng chữ cái tiếng Việt STT Chữ
Trang 25Bảng 1 2 Chữ cái tiếng Việt có chứa dấu phụ Chữ đã có Dấu phụ Chữ mới
Chữ Quốc ngữ dùng chữ ghép để ghi các biến thể vị trí của các nguyên
âm đôi trong tiếng Việt:
Bảng 1 4 Chữ ghi nguyên âm đôi trong tiếng Việt STT Chữ ghi nguyên âm đôi STT Chữ ghi nguyên âm đôi
1 i + ê = iê 5 ư + ơ = ươ
2 y + ê = yê 6 ư + a = ưa
3 i + a = ya 7 u + ô = uô
4 y + a = ya 8 u + a = ua
Trang 26c Dấu thanh điệu
Vì Tiếng Việt có 6 thanh điệu nên chữ Quốc ngữ có thêm 5 ký hiệu để ghi ở các vị trí trên hoặc dưới các con chữ để biểu thị các thanh tương ứng:
Bảng 1 5 Kí hiệu thanh điệu tiếng Việt STT Tên thanh điệu Kí hiệu Ví dụ
1 Thanh ngang (không có kí hiệu) ma
a Dùng nhiều kí hiệu để biểu thị một âm
Dưới đây là một số trường hợp mà cùng một âm nhưng lại được biểu thị bằng nhiều kí hiệu khác nhau:
- Phụ âm /k/ được biểu thị bằng ba kí hiệu: c, k, q
- Phụ âm // được biểu thị bằng hai kí hiệu: g, gh
- Phụ âm /ŋ/ được biểu thị bằng hai kí hiệu: ng, ngh
- Nguyên âm /i/ được biểu thị bằng hai kí hiệu: i, y
- Nguyên âm đôi /ie/ được biểu thị bằng bốn kí hiệu: iê, yê, ia, ya
- Nguyên âm đôi /ɯɤ/ được biểu thị bằng hai kí hiệu: ươ, ưa
- Nguyên âm đôi /uo/ được biểu thị bằng hai kí hiệu: uo, ua
b Dùng một kí hiệu để biểu thị nhiều âm
- Chữ a là kí hiệu chủ yếu dùng để biểu thị nguyên âm /a/ nhưng trong
một số trường hợp nó lại biểu thị các âm khác nhau:
Trang 27+ Khi a đứng trước u và y trong âm tiết (vần au và ay) thì biểu thị âm /ă/ Ví dụ: đau, tay,
+ Chữ a khi kết hợp với âm cuối nh, ch (vần anh, ach) thì biểu thị âm // Ví dụ: mách, anh,
+ Chữ a trong tổ hợp kí hiệu ia lại biểu thị yếu tố thứ hai trong nguyên âm đôi /ie/ Ví dụ: chia, mía,
+ Chữ a trong tổ hợp kí hiệu ua thì biểu thị yếu tố thứ hai trong nguyên âm đôi /uo/ Ví dụ: mua, cua,
- Chữ o là kí hiệu chủ yếu dùng để biểu thị nguyên âm /ɔ/ nhưng:
+ Khi o đứng trước a, ă, e (trong oa, oă, oe) thì nó biểu thị âm đệm /-w̯-/ Ví dụ: hoa, loắt choắt, khoe,
+ Khi o đứng sau a, e (trong vần ao, eo) thì nó biểu thị bán nguyên âm cuối /-u̯/ Ví dụ: ao, bèo,
Những bất hợp lí này là do chữ Quốc ngữ vi phạm nguyên tắc tương ứng 1-1 giữa kí hiệu và âm thanh, vi phạm tính đơn trị của kí hiệu Chính vì thế mà chính tả tiếng Việt cũng có những xáo trộn nhất định, gây ra khó khăn, nhầm lẫn cho người học
1.1.3 Chính tả tiếng Việt
“Chính tả được hiểu là quy tắc viết từ (từ thường, từ hoa, từ vay mượn, từ
viết tắt, số từ, con số ngày, giờ, tháng, năm, v.v hay cách thức dùng dấu chấm câu (dấu: chấm, phẩy, than, hỏi, chấm hỏi, chấm lửng, hai chấm, ba chấm (chấm lửng); dấu ngoặc: đơn, kép, vuông; dấu gạch: ngang, dưới, chéo và cách thức ghi dấu thanh như thanh: ngang, huyền, hỏi, ngã, sắc, nặng.” [15; 109]
Tác giả Phương Nga & Đặng Kim Nga (2005) cho rằng: “Chính tả là
phép viết đúng, là lối viết hợp với chuẩn, là hệ thống quy tắc về cách viết thống nhất cho các từ của một ngôn ngữ, cách viết hoa tên riêng, cách phiên
âm tên riêng nước ngoài Chính tả là những quy ước của xã hội trong ngôn ngữ nhằm làm cho người viết và người đọc hiểu thống nhất nội dung của văn bản Sự quy ước có tính chất xã hội trong chính tả không cho phép vận dụng các quy tắc chính tả một cách linh hoạt có tính chất sáng tạo” [47; 148]
Trang 28Nói cách khác, chính tả bao gồm việc viết chuẩn các con chữ ghi các
âm (phụ âm, nguyên âm, bán âm) và dấu các thanh trong thành phần âm tiết; quy tắc viết tên riêng, từ vay mượn, các loại dấu câu và một số quy tắc khác (ghi số, thứ, ngày, tháng, ) Đối với vấn đề viết các chữ ghi âm tiếng Việt thì cần phải nắm được đặc điểm âm tiết và các quy tắc ghi các thành phần trong âm tiết tiếng Việt Các vấn đề chính tả còn lại được quy định trong các văn bản mang tính pháp quy do các tổ chức, cơ quan Nhà nước
có thẩm quyền ban hành
1.1.3.1 Nguyên tắc ghi các thành phần trong âm tiết
a Đặc điểm âm tiết tiếng Việt
Tiếng Việt là ngôn ngữ đơn lập, phân tiết tính Vì thế, các âm tiết được tách bạch rõ ràng trong dòng lời nói Theo đó, các chữ dùng để biểu thị âm tiết cũng được viết rời, cách biệt nhau
Cấu tạo của âm tiết tiếng Việt có cấu trúc hai bậc, bao gồm các thành phần đoạn tính và siêu đoạn tính Thành phần siêu đoạn tính là thanh điệu, bao trùm lên cả âm tiết Thành phần đoạn tính gồm phụ âm đầu và phần vần Phần vần cấu tạo có thể gồm ba bộ phận: âm đệm, âm chính và âm cuối Trong cấu tạo âm tiết, âm chính và thanh điệu là hai thành phần bắt buộc, không thể thiếu; các thành phần khác có thể vắng mặt trong một số kiểu loại âm tiết Dạng đầy đủ của âm tiết được mô hình hóa như sau:
Sơ đồ 1 1 Sơ đồ âm tiết tiếng Việt
Thanh điệu
Phụ âm đầu Phần vần
Âm đệm Âm chính Âm cuối
Trang 29b Quy tắc ghi các thành phần âm tiết tiếng Việt
* Phụ âm đầu
Bảng 1 6 Quy tắc ghi âm đầu tiếng Việt
TT Âm vị Chữ
1 /b/ b Kết hợp với mọi nguyên âm bê, bơ, bự
2 /m/ m Kết hợp với mọi nguyên âm mi, mơ, mụ
3 /f/ ph Kết hợp với mọi nguyên âm phi, phá, phố
4 /v/ v Kết hợp với mọi nguyên âm về, vần, vồng
5 / t h / th Kết hợp với mọi nguyên âm thị, thơ, thư
6 /t/ t Kết hợp với mọi nguyên âm tê, tư, tôi
7 /d/ đ Kết hợp với mọi nguyên âm đê, đa, đo
8 /n/ n Kết hợp với mọi nguyên âm nền, nơ, nô
9 /s/ x Kết hợp với mọi nguyên âm xin, xa, xô
11 /l/ l Kết hợp với mọi nguyên âm lên, lá, lúc
12 / / tr Kết hợp với mọi nguyên âm trên, trứng, trọc
13 // s Kết hợp với mọi nguyên âm sên, sang, sung
14 / / r Kết hợp với mọi nguyên âm rì rào, rung rinh
15 /c/ ch Kết hợp với mọi nguyên âm chi, chào, chú
16 / / nh Kết hợp với mọi nguyên âm nhịn, nhớ, nho
17 /k/
k Khi kết hợp với các nguyên âm
dòng trước: /i, e, , ie/ (i, ê, e, iê)
kí, kê, kén, kiến
q Khi kết hợp với các nguyên âm
mà trước nó có âm đệm /-w-/ (u)
ngh Kết hợp với các nguyên âm dòng
trước: /i, e, , ie/ (i, ê, e, iê)
nghi, nghệ, nghe, nghiêng
ng Khi kết hợp với các nguyên âm
dòng giữa và dòng sau
ngan, ngô
19 // kh Kết hợp với mọi nguyên âm khỉ, khá, khổ
20 //
gh Kết hợp với các nguyên âm dòng
trước: /i, e, , ie/ (i, ê, e, iê)
ghi, ghế, ghé, ghiền
g Khi kết hợp với các nguyên âm dòng giữa và dòng sau
gang, gỗ
22 /h/ h Kết hợp với mọi nguyên âm hè, hư, học
* Âm đệm
Trang 30Bảng 1 7 Quy tắc ghi âm đệm tiếng Việt
/-w̯-/
o
Kết hợp với âm chính // (e) xòe, hoen, khoèo,
Kết hợp với âm chính // (a trong
anh, ach)
oanh, oách,
Kết hợp với âm chính /a/ (a) hoa, xoan, xoài,
Kết hợp với âm chính /ă/ (ă) choắt, xoăn, hoắc,
u
Kết hợp với âm chính /i/ (chỉ y) khuy, (màn) tuyn, quỳnh, Kết hợp với âm chính /e/ (ê) huệ, quên, xuề (xòa), Kết hợp với âm chính /ie/ (chỉ yê, ya) khuyên, tuyết, khuya, Kết hợp với âm chính /ɤ/ (ơ) huơ, quờ,
Kết hợp với âm chính /ɤ/ (â) tuất, khuấy, (bâng) khuâng,
Kết hợp với âm chính /a/ (a) quàng, quán,
Kết hợp với âm chính /ă/ (ă) quăng, quăn,
* Nguyên âm
Bảng 1 8 Quy tắc ghi nguyên âm tiếng Việt
1 /i/
i Trong các kiểu âm tiết bi, miu, xinh, hít
y Trong các kiểu âm tiết đám hỷ, khúc khuỷu,
huỳnh huỵch, quýt
2 /e/ ê Trong các kiểu âm tiết dê, mếu, bến, mệt
3 / / e Trong các kiểu âm tiết bé, mèo, xẻng, dẹt
4 // ư Trong các kiểu âm tiết sứ, cứu, bưng, sứt
5 // ơ Trong các kiểu âm tiết tơ, sợi, cơm, ớt
6 // â Ngoại trừ âm tiết mở cây, sân, mất
7 /a/ a Trong các kiểu âm tiết má, cày, cam, mát
8 // a Trong vần anh, ach canh, chạch
9 /ă/ a Trong vần au, ay cau, máy
ă Ngoại trừ âm tiết mở, nửa mở săn, tắt
10 /u/ u Trong các kiểu âm tiết chú, cúi, sún, súp
11 /o/ ô Trong các kiểu âm tiết hồ, cối, bông, xốp
12 //
o Trong các kiểu âm tiết có, soi, son, sót
oo Chủ yếu là từ vay mượn oóc-gan, xoong, rơ-
moóc, quần soóc
13 // o Trong vần ong, oc bỏng, móc
14 /ie/ ia Trong âm tiết mở chia
ya Trong âm tiết mở khuya
Trang 31iê Ngoại trừ âm tiết mở kiểu, tiễn, tiết
yê Ngoại trừ âm tiết mở khuyên, yêu, tuyết
15 // ươ Ngoại trừ âm tiết mở hươu, sương, lướt
ưa Trong âm tiết mở mưa
16 /uo/ uô Ngoại trừ âm tiết mở tuổi, buông, suốt
ua Trong âm tiết mở lúa
* Âm cuối
Âm cuối có thể là phụ âm cuối hoặc bán nguyên âm cuối:
- Bảng phụ âm cuối tiếng Việt và cách thể hiện bằng con chữ:
Bảng 1 9 Quy tắc ghi âm cuối tiếng Việt
cái
1 /p/ p Sau các nguyên âm chính kịp, lớp, nộp
2 /t/ t Sau các nguyên âm chính mít, mắt, một
3 /k/ c Khi kết hợp với nguyên âm hàng giữa
5 /n/ n Sau các nguyên âm chính tên, sơn, bón
6 /ŋ/ ng Khi kết hợp với nguyên âm đơn hàng
giữa hàng sau và các nguyên âm đôi cảng, cồn, cân
nh Khi kết hợp với nguyên âm đơn hàng
trước /i, e, / tỉnh, khênh, anh
- Bảng các bán nguyên âm cuối trong tiếng Việt và cách thể hiện bằng con chữ:
Bảng 1 10 Quy tắc ghi các bán nguyên âm cuối tiếng Việt
o Sau các nguyên âm chính /a, / (a, e) béo, cáo
2 /-i̯/ i Kết hợp với các nguyên âm hàng giữa,
hàng sau trừ /ă, ɤ̆/ (ă, â)
tai, tôi
y Kết hợp sau các nguyên âm chính hàng
giữa /ă, ɤ̆/ (ă, â)
say, xây
* Thanh điệu
Trang 32Về phân bố thanh điệu trong các kiểu loại âm tiết, thanh sắc và thanh
nặng có thể phân bố trong mọi kiểu loại âm tiết; còn riêng bốn thanh còn lại
(ngang, huyền, ngã, hỏi) thì không phân bố trong các âm tiết khép
Về vị trí ghi dấu thanh, trong trường hợp âm chính trong âm tiết là một
nguyên âm đơn, các thanh huyền, ngã, hỏi, sắc được đặt trên chữ cái ghi âm chính, còn thanh nặng thì đặt dưới Trong trường hợp âm chính là một nguyên
âm đôi, được thể hiện bằng hai con chữ thì:
- Với nguyên âm đôi đứng trong các âm tiết mở (không có âm cuối),
thể hiện bằng các con chữ ia, ua, ưa thì dấu thanh đặt ở chữ cái thứ nhất của
âm chính Ví dụ: mía, múa, cửa,
- Với nguyên âm đôi đứng trong các âm tiết khép hoặc nửa khép (có âm
cuối), thể hiện bằng các con chữ iê, yê, uô, ươ thì dấu thanh đặt ở chữ cái thứ hai của âm chính Ví dụ: tiến, quyển, buồng, xưởng,
1.1.3.2 Một số quy tắc chính tả khác
Ngày 5/3/1984, Bộ Giáo dục ra Quyết định số 240/QĐ “Quy định về chính tả tiếng Việt và về thuật ngữ tiếng Việt” áp dụng cho sách giáo khoa, báo và văn bản của ngành giáo dục Khi đi vào thực thi Quyết định số 240/QĐ của Bộ Giáo dục về vấn đề viết hoa trong tiếng Việt bộc lộ những bất
ổn nên Bộ Giáo dục và Đào tạo đã có thêm Quyết định số BGDĐT ngày 13 tháng 3 năm 2003 về việc “Ban hành Quy định tạm thời về viết hoa tên riêng trong sách giáo khoa"
07/2003/QĐ-Ngày 25/5/2018, Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Quyết định số 1989/QĐ-BGDĐT về việc “Ban hành quy định về chính tả trong chương
trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông” Nội dung quy định về riêng tên các
thời kì lịch sử, sự kiện lịch sử; các năm âm lịch; các ngày lễ tiết, ngày trong tuần, tháng trong năm; các tổ chức, đơn vị; các ngành, chuyên ngành, môn học; các huân chương, huy chương, giải thưởng, danh hiệu vinh dự trong
Quyết định này thì được “viết theo quy định tại Thông tư số BNV ngày 19 tháng 01 năm 2011 của Bộ Nội vụ” về “Hướng dẫn thể thức và
Trang 3301/2011/TT-kỹ thuật trình bày văn bản hành chính” (x Phụ lục 2a) Mới nhất là Nghị định
số 30/2020/NĐ-CP ngày 05/3/2020 của Chính phủ về Công tác văn thư đã đưa ra quy định về vấn đề Viết hoa trong văn bản hành chính tại Phụ lục II (x
Phụ lục 2c)
Như vậy, quy định về chính tả hiện áp dụng trong giáo dục là Quy định ban hành kèm theo Quyết định số 1989/QĐ-BGDĐT ngày 25/5/2018 của Bộ
Giáo dục và Đào tạo (x Phụ lục 2b) Vấn đề viết hoa trong các trường hợp
khác tên riêng thì sẽ theo Nghị định 30/2020/NĐ-CP ngày 05/3/2020 của Chính phủ
Từ các quy định trên, có thể thấy nội dung của chính tả tiếng Việt bao gồm các vấn đề chính sau:
(i) Viết đúng quy tắc của hệ thống chữ viết tiếng Việt
(ii) Cách viết tên riêng: Trong đó bao gồm:
- Cách viết tên riêng Việt Nam (tên người, tên địa lí, tên các thiên thể, );
- Cách viết tên riêng nước ngoài (tên người, địa lý và các tên riêng khác) Trong cách viết tên riêng, có quy định về vấn đề viết hoa tên riêng
3- Cách viết thuật ngữ: bao gồm:
- Cách viết thuật ngữ bằng tiếng Việt;
- Cách viết nguyên dạng thuật ngữ nước ngoài
4- Các quy định khác:
- Cách đặt dấu thanh;
- Cách viết i/ y;
- Cách viết tắt ngày, tháng, năm;
- Cách viết số thập phân và số có nhiều chữ số;
- Viết hoa trong các trường hợp khác (viết hoa vì phép đặt dấu câu; ngày lễ, ngày kỉ niệm; sự kiện và các triều đại lịch sử; )
Về cơ bản, từ năm 1984 đến nay, các quy định về chính tả tiếng Việt không có nhiều thay đổi Thay đổi chủ yếu chỉ tập trung vào một số vấn đề còn chưa thống nhất (viết hoa, viết tên riêng và thuật ngữ nước ngoài, ) do
Trang 34các văn bản quy định trước đó chưa bao quát hết các trường hợp trong thực tiễn Các văn bản ban hành sau này là sự điều chỉnh, bổ sung cho đầy đủ và phù hợp với đặc thù của mỗi cơ quan, đơn vị1
Những quy định về chính tả mang tính chất xã hội, các cá nhân không được cải biến tùy ý theo sáng tạo cá nhân Việc áp dụng đúng quy tắc chính tả không chỉ giúp cho người đọc hiểu thống nhất nội dung mà nó còn phần nào phản ánh trình độ văn hóa của người viết
1.1.4 Từ trong tiếng Việt
“Từ của tiếng Việt là một hoặc một số âm tiết cố định, bất biến, mang
những đặc điểm ngữ pháp nhất định, nằm trong những kiểu cấu tạo nhất định, tất cả ứng với một kiểu nghĩa nhất định, lớn nhất trong tiếng Việt 2 và nhỏ nhất để tạo câu” [12; 16].
Trang 35a Bình diện ngữ âm và cấu tạo
Về ngữ âm, từ được tạo nên bởi các đơn vị âm thanh kết hợp với nhau
theo quy tắc ngữ âm Về cấu tạo, từ tiếng Việt được cấu tạo từ tiếng, hay nói cách khác, tiếng là đơn vị cơ sở cấu tạo từ (tương đương với đơn vị phát âm
âm tiết) Từ gồm hai loại: từ đơn và từ phức Từ đơn được cấu tạo từ một
tiếng Từ phức là từ được cấu tạo từ nhiều tiếng, các tiếng phối hợp với nhau theo phương thức láy hoặc ghép Hình thức ngữ âm và cấu tạo của từ tiếng Việt có tính cố định, không biến đổi theo các quan hệ ngữ pháp khi tham gia cấu tạo câu
b Bình diện ngữ nghĩa
Nghĩa của từ là những nội dung nhận thức, tư tưởng, tình cảm mà con người muốn biểu hiện Từ có thể có một hay nhiều nghĩa Nghĩa của từ bao gồm: nghĩa biểu vật (định danh sự vật hiện tượng); nghĩa biểu niệm (ứng với các khái niệm trong nhận thức, tư duy của con người); nghĩa biểu thái (thể hiện cảm xúc tình cảm của con người); nghĩa ngữ pháp (nghĩa của các quan
hệ từ: sở hữu, nguyên nhân, )
1.1.4.3 Yêu cầu chung khi sử dụng từ
Từ các bình diện trên của từ, nhóm tác giả Bùi Minh Toán, Lê A, Đỗ Việt Hùng (1996) cho rằng khi sử dụng từ trong văn bản thì cần phải đảm bảo được các yêu cầu chung: đúng về âm thanh và hình thức cấu tạo; đúng về nghĩa; đúng về quan hệ kết hợp; phải thích hợp với phong cách ngôn ngữ của văn bản; đảm bảo tính hệ thống của văn bản; dùng từ, cần tránh hiện tượng
Trang 36lặp, thừa từ không cần thiết và bệnh sáo rỗng, công thức [68; 188-199] Trên
cơ sở quan điểm của nhóm tác giả trên, luận văn tiếp thu và có sự cân nhắc trong xây dựng cơ sở lý thuyết phù hợp với việc triển khai đề tài
a Đúng âm thanh và hình thức cấu tạo
Âm thanh và hình thức cấu tạo là mặt vật chất, là cái biểu đạt của từ Khi sử dụng từ, cần phải ghi đúng âm và hình thức cấu tạo của từ đó
Với trường hợp này, người viết thường hay mắc các lỗi:
- Nhầm lẫn những từ gần âm đọc nhưng khác nghĩa
Ví dụ:
+ bàng quang - bàng quan:
bàng quang: bọng đái bàng quan: coi như mình là người ngoài cuộc, không liên quan
+ phong thanh – phong phanh
phong thanh: thoáng nghe được, chưa rõ ràng, chưa chắc chắn
phong phanh: ít và mỏng, mặc không đủ ấm
- Nhầm lẫn sang từ không có nghĩa trong tiếng Việt
Căn cứ vào các thành phần ý nghĩa của từ, có thể cụ thể hóa:
- Nghĩa biểu vật: từ phải phản ánh đúng đối tượng thực tế: định danh đúng sự vật, hiện tượng trong thực tế
- Nghĩa biểu niệm: từ phải thể hiện đúng khái niệm nhận thức của tư duy mà người viết muốn biểu đạt
Ví dụ: Khoảng hói trước khung thành (Lời tường thuật bóng đá)
Trang 37Nghĩa gốc của từ hói là “bị rụng nhiều hoặc gần hết tóc, làm trơn nhẵn vùng trên trán và đỉnh đầu” (hói trán, hói đầu) Ở đây, từ hói được dùng với
nghĩa chuyển đổi để chỉ khoảng sân bãi trước mỗi khung thành bị trơ đất ra,
cỏ không mọc được do các cầu thủ vận động thường xuyên và mạnh Xét theo
nghĩa thông thường, ta sẽ thấy từ hói ở trên sử dụng không chính xác, thường chỉ nói là hói đầu, đầu hói, trán hói Tuy nhiên, để đánh giá xem từ này sử dụng
đúng hay sai thì cần tìm hiểu cách thức chuyển đổi nghĩa của từ Nếu dựa vào nghĩa gốc của từ ta có thể hiểu được thì có nghĩa sự chuyển đổi nghĩa này diễn ra đúng quy luật (có mối liên hệ với nghĩa gốc trên cơ sở một nét nghĩa chung, giống nhau) và vì vậy vẫn coi là dùng đúng và sinh động, sáng tạo
- Nghĩa biểu thái: cần lựa chọn từ phù hợp với tình cảm, thái độ của người viết với đối tượng được đề cập (coi thường, kính trọng, trang nghiêm, suồng sã, )
Ví dụ: Ông hiến chiếc xe duy nhất cho cô
Cùng chỉ hành động cho một vật gì cho người khác nhưng tùy vào thái
độ, vị thế của người nói mà lựa chọn từ phù hợp:
+ Biếu: Cho người trên với thái độ kính trọng
+ Thí: Cho kẻ dưới với thái độ khinh bỉ, coi thường
+ Hiến: Cho một sự nghiệp thiêng liêng, cao cả
- Nghĩa ngữ pháp: sử dụng từ ngữ thể hiện đúng các loại quan hệ ngữ pháp: quan hệ sở hữu, quan hệ nguyên nhân – kết quả, giả thiết – điều kiện, tương phản,
Ví dụ: Anh ta thông minh và lười
Xét về nghĩa ngữ pháp, từ và ở đây sử dụng không chính xác, cần thay bằng từ thể hiện mối quan hệ tương phản nhưng/ nhưng mà
c Đúng về đặc điểm ngữ pháp
Đặc điểm ngữ pháp tiếng Việt thể hiện ở quan hệ kết hợp: Các từ dùng trong câu luôn có mối quan hệ nhau về ngữ nghĩa và ngữ pháp, chúng nằm trong mối quan hệ với từ đi trước và đi sau
Trang 38Ví dụ: Chúng không cho các nhà tư sản ngóc đầu lên Chúng bóc lột
công nhân ta một cách vô cùng tàn nhẫn Từ “Cho” quan hệ với cụm từ đi sau
“các nhà tư sản” và không thể thiếu cụm từ thứ 2 “ngóc đầu lên”
Có thể kể đến 2 loại quan hệ kết hợp của từ sau:
Thứ nhất là quan hệ kết hợp của từ trong cụm từ: Các từ kết hợp phải phù hợp về ý nghĩa và đặc điểm ngữ pháp (đặc điểm từ loại)
Ví dụ: Các bông cúc trở nên tưng bừng nhảy múa dưới ánh nắng chói
chang của ánh mặt trời Dùng từ sai vì sau động từ “trở nên” chỉ có thể là
danh từ, tính từ chỉ kết quả biến hóa Sửa lại là: Các bông cúc trở nên tươi
đẹp hơn dưới ánh nắng chói chang của mặt trời
Thứ hai là quan hệ kết hợp của từ trong câu: Các từ có thể không nằm trong cụm từ, nhưng trong cùng một câu chúng vẫn cần kết hợp với nhau sao cho thích hợp về quan hệ ý nghĩa và phù hợp với các đặc điểm ngữ pháp của chúng
Ví dụ: Do lượng mưa năm nay kéo dài nên đã gây nhiều thiệt hại cho
mùa màng Ngoài những lỗi khác, trong câu này quan hệ kết hợp với từ
“lượng mưa” và “kéo dài” không phù hợp “lượng mưa” có thể lớn hay nhỏ, nhiều hay ít chứ không thể “kéo dài” (cần thay thế bắng từ “mùa mưa”)
Ngoài ra, các lỗi dùng sai đặc điểm ngữ pháp có thể do người viết dùng thừa hoặc thiếu quan hệ từ Quan hệ từ là phương diện cơ bản biểu hiện các quan hệ ngữ pháp, do đó việc dùng thừa hoặc thiếu quan hệ từ đều sai lỗi
Ví dụ: Số người mắc và chết các bệnh truyền nhiễm đã giảm Câu này thiếu quan hệ từ “vì”, phải sửa là: Số người mắc và chết vì các bệnh truyền
nhiễm đã giảm
Các lỗi dùng từ sai đặc điểm ngữ pháp còn do người viết không nắm chắc đặc điểm từ loại của từ, dùng từ không đúng với đặc điểm từ loại của nó
Ví dụ: Ở cơ quan tôi, anh ấy là người làm việc rất là năng lực Sai vì
từ “năng lực” là danh từ, không phải tính từ, nên không thể kết hợp với phụ từ
chỉ mức độ “rất là” Phải sửa lại là Ở cơ quan tôi, anh ấy là người làm việc rất
có năng lực.
Trang 39d Thích hợp với phong cách ngôn ngữ của văn bản
Mỗi loại hình văn bản được sử dụng trong một phạm vi nhất định của cuộc sống xã hội nhằm thực hiện một chức năng và hướng tới một mục đích giao tiếp nhất định Do đó mỗi phong cách văn bản đòi hỏi dùng những lớp từ riêng, phù hợp với loại hình văn bản đó Chẳng hạn, không mang những từ địa phương, từ mang phong cách khẩu ngữ nói năng thường dùng trong sinh hoạt hàng ngày và lối viết bóng bẩy, ví von của văn chương vào trong văn bản khoa học, văn bản hành chính, nghị luận chính trị Khi dùng từ trong văn bản cần
ý thức rõ về phong cách văn bản cho phù hợp
Ví dụ: Qua sách vở và cái logic thông thường của lịch sử thì ta biết
rằng dân tộc nào, đất nước nào chẳng phải vượt qua một chặng đường nghèo
rớt mồng tơi như thế
Có những văn bản chấp nhận nhiều sắc thái phong cách khác nhau (từ chuyên môn, nghề nghiệp, địa phương hay sắc thái lịch sử, ) Ví dụ: Trong bài viết về cuộc khủng hoảng kinh tế, nếu nhìn nhận cuộc khủng hoảng đó như một căn bệnh trầm trọng thì có thể sử dụng các từ ngữ trong trường nghĩa
về bệnh tật như: chảy máu (vàng), cơn sốt (giá), phát triển què quặt, điều trị
căn bệnh lạm phát
e Tránh lặp từ, thừa từ không cần thiết và bệnh sáo rỗng công thức
Văn bản trong giao tiếp cần sử dụng từ cô đọng, tránh sử dụng thừa từ, lặp từ không cần thiết
Ví dụ: Nghiên cứu mạng lưới y tế cơ sở nhằm góp phần cải thiện và
nâng cao năng lực hoạt động để không ngừng ngày một đáp ứng tốt hơn yêu
cầu chăm sóc sức khỏe ban đầu cho nhân dân Câu này thừa một trong hai từ không ngừng hoặc ngày một)
Khi viết, tránh dùng từ sáo rỗng, sử dụng những từ không thích hợp để trình bày một vấn đề, chẳng hạn như dùng từ hoa mĩ hay ‘đao to búa lớn’ trong diễn đạt
Trang 40Ví dụ: Nhà thơ vĩ đại mang tầm cỡ dân tộc ấy, bằng bút pháp điêu luyện,
tài tình và kiến thức uyên bác của mình, ông đã tạc lên những áng thơ văn bất hủ trên văn đàn với nội dung hết sức sâu sắc, thấm đẫm tình đời, tình người
Từ các bình diện của từ, các yêu cầu về sử dụng từ cũng được đưa ra nhằm đáp ứng các bình diện đó Về bản chất, nó ứng với các vấn đề về ngữ âm/ chính tả, ngữ nghĩa, ngữ pháp và phong cách văn bản Vì vấn đề chính tả
là một nội dung nghiên cứu riêng trong luận văn này nên khi phân loại lỗi từ,
để tránh trùng lặp, chúng tôi chỉ xét đến bốn loại lỗi vi phạm các quy tắc
chung về dùng từ, bao gồm: lỗi về nghĩa của từ, lỗi về kết hợp từ, lỗi về phong
cách và lỗi kĩ thuật khác (thừa từ, thiếu từ, dùng từ sáo rỗng)
1.2 Cơ sở thực tiễn
1.2.1 Vị trí của môn Làm văn trong Chương trình Ngữ văn THPT
Hiện nay, chương trình Ngữ văn ở các trường THPT được dạy và học
thông qua ba phân môn chính: Đọc văn, Làm văn và Tiếng Việt Ở các Trung
tâm GDTX, số lượng tiết – bài của môn cũng được giảm tải hơn so với chương trình đại trà Tổng số tiết cả năm là 96 tiết phân bố trong 32 tuần, mỗi
học kỳ 48 tiết/ 16 tuần Trong đó, phân môn Làm văn cũng là một phân môn
quan trọng, góp phần rèn luyện năng lực tạo lập văn bản (phân tích, lập dàn ý, viết đoạn, ), phát triển tư duy hình tượng, tư duy logic và hình thành nhân cách cho học sinh
Ở học kỳ I, có 48 tiết Ngữ văn, trong đó, phân môn Làm văn có số tiết chỉ gần bằng một nửa phân môn Đọc văn và gấp đôi phân môn Tiếng Việt, với
13 tiết, chiếm khoảng 27% trên tổng số tiết của môn Ngữ văn