1. Trang chủ
  2. » Tài Chính - Ngân Hàng

TÀI CHÍNH CÔNG - NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA THÂM HỤT NGÂN SÁCH ĐẾN TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ Ở VIỆT NAM

45 10 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 45
Dung lượng 1,38 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ THUYẾT (6)
    • 1.1. Cở sở lý thuyết (6)
    • 1.2. Tổng quan nghiên cứu (7)
    • 1.3. Phương pháp nghiên cứu (10)
  • CHƯƠNG 2: ẢNH HƯỞNG CỦA THÂM HỤT NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC ĐẾN TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ Ở VIỆT NAM (11)
    • 2.1. Thực trạng thâm hụt ngân sách ở Việt nam (11)
      • 2.1.1. Bối cảnh kinh tế thế giới 2016 (11)
      • 2.1.2. Kinh tế Việt Nam trong giai đoạn điều chỉnh (12)
      • 2.1.3. Nguy cơ lạm phát tăng trở lại (14)
    • 2.2. Thực trạng thu chi Ngân sách nhà nước 2016 (16)
      • 2.2.1. Thu ngân sách nhà nước (16)
      • 2.2.2. Chi ngân sách nhà nước (16)
      • 2.2.3. Thực trạng bội chi Ngân sách nhà nước (17)
    • 2.3. Hậu quả của thâm hụt ngân sách đối với nền kinh tế (21)
    • 2.4. Nguyên nhân thâm hụt ngân sách (22)
      • 2.4.1. Thất thu thuế nhà nước (22)
      • 2.4.2. Đầu tư công kém hiệu quả (22)
      • 2.4.3. Nhà nước huy động vốn để kích cầu (0)
      • 2.4.4. Nhà nước chưa chú trọng mối quan hệ giưa chi đầu thư phát triển và (22)
      • 2.4.5. Quy mô chi tiêu của Chính phủ quá lớn (23)
      • 2.4.6. Sự thiếu hụt Ngân sách trong những năm qua còn được sử dụng như một công cụ Chính sách tài khóa để kích thích sự tăng trưởng kinh tế (0)
    • 2.5. Tác động của thâm hụt ngân sách đến tăng trưởng kinh tế (24)
      • 2.5.1. Khái quát tình hình tăng trưởng kinh tế Việt Nam (24)
      • 2.5.2. Tác động của thâm hụt ngân sách nhà nước đến tăng trưởng kinh tế Việt Nam (0)
  • CHƯƠNG 3: CÁC BIỆN PHÁP KHẮC PHỤC THÂM HỤT NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC VIỆT NAM (33)
    • 3.1. Tóm lược kết quả thu được (33)
    • 3.2. Kiến nghị, giải pháp khắc phục thâm hụt ngân sách nhà nước Việt Nam (34)
      • 3.2.1. Biện pháp tăng giảm thu chi (35)
      • 3.2.2. Vay trong nước (38)
      • 3.2.3. Vay nợ nước ngoài (39)
      • 3.2.4. Sử dụng dự trữ ngoại tệ (0)
      • 3.2.5. Phát hành tiền (40)
  • KẾT LUẬN (42)

Nội dung

Ngân sách nhà nước luôn luôn là vấn đề nóng được cả xã hội quan tâm bởi những tác động của nó đến nền kinh tế. Sở dĩ như vậy bởi ngân sách nhà nước phản ánh các khoản thu chi của chính phủ, thể hiện một phần nội dung của các chính sách vĩ mô nhà nước đang áp dụng và thậm chí từ các khoản chi tiêu của chính phủ có thể suy ra tình hình kinh tế vĩ mô, ví dụ như các gói kích cầu thường được tung ra khi nền kinh tế đang lâm vào suy thoái. Ngân sách nhà nước thường có hai trạng thái là thâm hụt và thặng dư. Trong đó, thâm hụt ngân sách đang là vấn đề gặp phải của rất nhiều quốc qua trên thế giới. Việt Nam đang phải đối mặt với vấn đề thâm hụt ngân sách từ hơn một thập kỉ qua, với mức thâm hụt ngân sách từ 4 – 5% GDP, có thể nói là cao trong khu vực. Chính phủ cũng rất sát sao trong vấn đề này, thể hiện bằng các chính sách thay đổi liên tục để kìm hãm thâm hụt ngân sách trong mức chấp nhận được và không gây ra ảnh hưởng tiêu cực đến các nhân tố kinh tế khác. Tăng trưởng kinh tế của Việt Nam có xu hướng giao động từ 6% đến 8% trong giai đoạn 2006 – 2016. Mặc dù có tiến bộ so với giai đoạn trước,nhưng tốc độ tăng trưởng này vẫn được đánh giá là thấp so với các quốc gia có cùng trình độ phát triển.

TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ THUYẾT

Cở sở lý thuyết

Ngân sách nhà nước thường có hai trạng thái là thâm hụt và thặng dư Trong đó, thâm hụt ngân sách, còn gọi là bội chi, đang là vấn đề nhiều nước gặp phải. Thâm hụt ngân sách được định nghĩa là xảy ra khi tổng chi ngân sách vượt quá tổng thu Để tài trợ cho thâm hụt ngân sách, chính phủ có thể áp dụng các biện pháp tăng thu giảm chi, vay trong nước và ngoài nước và biện pháp cuối cùng là phát hành tiền Từng biện pháp đều có ưu điểm và nhược điểm riêng Tăng thuế và giảm chi chính phủ sẽ gây ra phản ứng trong người dân, ảnh hưởng đến đầu tư và phát triển, hơn nữa giảm chi rất khó thực hiệndđặc biệt là với các nước đang phát triển cần chi nhiều cho phát triển cơ sở hạ tầng Vay trong và ngoài nước sẽ kéo theo nhiều hệ lụy trong tương lai, đặc biệt là nợ công tăng cao Phát hành tiền là biện pháp tình thế cuối cùng bởi nó sẽ làm trầm trọng thêm tình hình lạm phát trong nước

Vì thâm hụt là tình trạng phổ biến xảy ra tại nhiều quốc gia trên thế giới, nhiều lí thuyết đã được đưa ra để bàn về tính chất tích cực hay tiêu cực của thâm hụt ngân sách Một trong số các lý thuyết nổi bật là lý thuyết cổ điển về cân bằng ngân sách, trong đó có nói đến thâm hụt ngân sách và thặng dư ngân sách đều không tốt cho nền kinh tế Thâm hụt sẽ gây ra các tác động như lạm phát, phá giá tiền tệ, từ đó sẽ gây ra các tác động đến tăng trưởng kinh tế, còn thặng dư là dấu hiệu cho thấy Chính phủ dang bị lãng phí nguồn lực Lý thuyết về ngân sách cố ý thiếu hụt thì cho rằng chính phủ nên chấp nhận thâm hụt ngân sách để đổi lại sự tăng trưởng kinh tế, lấy nguồn thu mới của năm sau để bù đắp cho sự thiếu hụt của năm trước Lý thuyết này được nâng lên quan điểm hiện đại, cho rằng thâm hụt ngân sách chỉ mang lại kết quả là tăng trưởng kinh tế khi nó nằm trong một mức độ nào đó được xác định dựa vào đặc điểm của từng quốc gia

Tăng trưởng kinh tế là mục tiêu của các quốc gia và thường được xem xét qua sự tăng trưởng về GDP của một quốc gia trong một năm Tăng trưởng kinh tế ảnh hưởng bởi rất nhiều yếu tố khác nhau như trình độ công nghệ, lao động trong nước, tài nguyên thiên nhiên, vốn,… Để kinh tế phát triển đồng đều rất cần sự kết hợp của các yếu tố trên, và đặc biệt là chính sách của nhà nước Bàn về vấn đề bội chi ngân sách gây tác động tích cực hay tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế, các trường phái kinh tế khác nhau cũng đưa ra các quan điểm khác nhau Trường phái cổ điển cho rằng, bội chi có thể làm tăng lãi suất do tiết kiệm quốc gia giảm Tăng lãi suất dẫn đến nội tệ tăng giá, từ đó dẫn đến thâm hụt cán cân xuất nhập khẩu, hậu quả là gây ra thâm hụt ngân sách Nếu chính phủ đi vay từ nước ngoài để bù đắp bội chi, gánh nặng đầu tư sẽ tác động đến nhiều thế hệ, dẫn đến thế hệ tương lai có ít tư bản để đầu tư hơn và gây ra ảnh hưởng đến GDP Khác với trường phái cổ điển, trường phái Ricardo cho rằng bội chi và thuế sẽ tự cân bằng với nhau do tiêu dùng của tư nhân phụ thuộc vào thuế và thu nhập Vì tiết kiệm của quốc gia không thay đổi nên sẽ không có bất kì sự biến động nào về lãi suất và đầu tư, dẫn đến không có ảnh hưởng gì đến tăng trưởng kinh tế Một trường phái khác là trường phái tân cổ điển lại đưa ra giả thiết rằng bội chi ngân sách trong hiện tại có thể làm tăng gánh nặng thuế trong tương lai, dẫn đến việc người dân có xu hướng tiêu dùng nhiều hơn trong hiện tại và gây ra tác động tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế Đối lập với trường phái này, các nhà kinh tế thuộc trường phái Keynes cho rằng bội chi làm tăng lãi suất nhưng không nhất thiết làm giảm đầu tư tư nhân, hơn nữa còn làm tăng tổng cầu, từ đó mang lại tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế.

Tổng quan nghiên cứu

Về mặt lí thuyết vẫn còn có nhiều tranh cãi thì đối với các nghiên cứu được kiểm định trong thực tiễn, các nhà nghiên cứu cũng đưa ra các kết quả khác nhau. Một số nghiên cứu chỉ ra các tác động tích cực của tăng thâm hụt ngân sách đến tăng trưởng kinh tế, một số khác lại đưa ra quan điểm ngược lai Nhìn chung, các nghiên cứu đều cho rằng thâm hụt ngân sách có tác động tích cực hay tiêu cực phụ thuộc vào mức độ thâm hụt và xét trong ngắn hạn hay dài hạn

Nghiên cứu của Rahman (2012), khi áp dụng mô hình với dữ liệu là mức tăng trưởng nợ chính phủ, chi tiêu công và chi tiêu thường xuyên tác động như thế nào đến tình hình tăng trưởng kinh tế của Malaysia, đã chỉ ra rằng, giống như quan điểm của trường phái Ricardo, tăng trưởng kinh tế và thâm hụt ngân sách không có mối quan hệ cụ thể, tuy nhiên chi đầu tư và chi thường xuyên lại đem lại tác động tích cực đến kinh tế vĩ mô Trường hợp của Pakistan trong nghiên cứu của Najid Ahmad (2013) cũng cho ra kết quả tương tự

Tuy nhiên, trong nghiên cứu về mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và bội chi ngân sách của Sri Lanka, A L Mohamed Aslam (2016) bằng mối quan hệ giữa thâm hụt ngân sách và các biến xuất khẩu ròng, tỷ giá hối đoái, lạm phát và sử dụng bộ dữ liệu từ 1959 – 2013 đã chứng minh mối quan hệ tỷ lệ thuận giữa thâm hụt ngân sách và tăng trưởng GDP trong dài hạn, cụ thể nếu thâm hụt ngân sách tăng 1 đơn vị thì tăng trưởng kinh tế sẽ tăng lên 0,4275 đơn vị

Tại Việt Nam, nghiên cứu “Mối quan hệ giữa thâm hụt ngân sách và tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam” do hai tác giả Huỳnh Thế Nguyễn và Nguyễn Lê Hà Thanh Na xuất bản vào năm 2015 đã chỉ ra rằng thâm hụt ngân sách không có tác động trực tiếp đến tăng trưởng kinh tế nhưng lại có tác động truyền dẫn thông qua các biến số khác như tổng đầu tư, tỷ giá hối đoái, lãi suất thực bởi thâm hụt ngân sách có mối quan hệ nhân quả với các biến này Đặng Văn Cường và Phạm Lê Trúc Quỳnh (2015) đã tiến hành nghiên cứu về vấn đề này nhưng ở quy mô các nước trong khu vực Đông Nam Á thông qua các biến lạm phát, dòng vôn đầu tư ròng, tín dụng nội địa và các ảnh hưởng từ các cú sốc không mong muốn đến GDP Kết quả chỉ ra có mối tương quan ngược chiều giữa bội chi và tăng trưởng kinh tế

Một số nghiên cứu chú trọng phân tích sự biến động của tăng trưởng kinh tế dựa vào cơ cấu chi tiêu chính phủ như Phạm Thế Anh (2008) đã chỉ ra rằng mỗi khoản chi khác nhau lại có tính hiệu quả khác nhau đối với tăng trưởng kinh tế nhưng nhìn chung, các khoản chi đầu tư mang lại hiệu ứng tích cực hơn so với chi thường xuyên

Một số nghiên cứu đáng chú ý khác là Al - Khedar (1996) thì thâm hụt ngân sách sẽ làm tăng lãi suất trong ngắn hạn, nhưng về dài hạn thì không ảnh hưởng.Shojai (1999) cho rằng thâm hụt chi tiêu được tài trợ bởi Ngân hàng Trung ương cũng có thể dẫn đến thiếu hiệu quả trong thị trường tài chính và gây ra lạm phát cao ở các nước đang phát triển Ngoài ra, thâm hụt ngân sách bóp méo tỷ giá hối đoái thực và lãi suất, điều đó làm giảm sự cạnh tranh quốc tế của các quốc gia. Rao (1953; dẫn nguồn từ Fatima và cộng sự, 2012) cho rằng chi tiêu chính phủ cho các dự án phát triển sản xuất ở các nước đang phát triển không những không gây lạm pháp mà còn cho rằng tăng sản lượng cao hơn Eisner và Pieper (1987; dẫn nguồn từ Fatima và cộng sự, 2012) tác động tích cực của ngân sách theo chu kỳ và thâm hụt ngân sách điều chỉnh lạm phát đối với tăng trưởng kinh tế tại Mỹ và OECD Barro (1979; dẫn nguồn từ Fatima và cộng sự, 2012) khám phá một tác động tích cực và có ý nghĩa của thâm hụt ngân sách lên tăng trưởng Tác động này là do mối quan hệ tích cực giữa thâm hụt ngân sách và lạm phát nhiên, theo Ghali và Al - Shamsi (1997) tăng đầu tư dẫn đến tăng trưởng kinh tế của đất nước Các kết quả được khám phá bằng cách lấy dữ liệu hàng quý của các nước sản xuất dầu (UAE) trong khoảng 1973 đến 1995 Gulcan và Bilman (2005) được sử dụng phương pháp đồng liên kết và mối quan hệ nhân quả thử nghiệm để xem xét dữ liệu của Thổ Nhĩ Kỳ cho giai đoạn 1960 đến 2003 với kết quả có một tác động mạnh mẽ của thâm hụt ngân sách về tỷ giá hối đoái thực

Có thể thấy các nghiên cứu vô cùng đa dạng và cho ra các kết quả khác nhau về mối quan hệ giữa bội chi ngân sách và tăng trưởng GDP Điểm chung giữa các nghiên cứu là các nghiên cứu đều chỉ ra bội chi không có mối quan hệ trực tiếp đối với tăng trưởng kinh tế, tuy nhiên tác động truyền dẫn xảy ra khi thâm hụt tác động tới các biến như lạm phát, tỷ giá hối đoái, cán cân thương mại thông qua các chính sách bù đắp thâm hụt ngân sách của chính phủ Các kết quả chênh lệch giữa các nghiên cứu do các chuỗi số liệu thu thập trong không gian và thời gian khác nhau, loại hình chính phủ, chính sách của từng chính phủ,… Nghiên cứu này tập trung tìm hiểu về ảnh hưởng của thâm hụt ngân sách đến tăng trưởng kinh tế củaViệt Nam qua tác động của nó đến các biến kinh tế vĩ mô.

Phương pháp nghiên cứu

Việt Nam là một nước đang phát triển với tình hình bội chi ngân sách thuộc hàng cao nhất trong khu vực Chính phủ đã có nhiều biện pháp can thiệp để bù đắp bội chi ngân sách như vay nợ trong nước và nước ngoài, nhưng chính những biện pháp này lại mang đến những ảnh hưởng sâu sắc đến các nhân tố vĩ mô, từ đó ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế quốc gia

Với nghiên cứu này, nhóm tác giả muốn nghiên cứu về mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và thâm hụt ngân sách tại Việt Nam thông qua các nhân tố truyền dẫn là lạm phát, lãi suất và cán cân thương mại của quốc gia Các nhân tố này lại tiếp tục ảnh hưởng trực tiếp đến tăng trưởng GDP qua việc làm thay đổi tổng cầu.

Số liệu sử dụng trong nghiên cứu là các số liệu theo thời gian, tập trung trong khoảng 10 năm trở lại đây về thâm hụt ngân sách và các biến số vĩ mô khác của Việt Nam được công bố trên các Website của Bộ tài chính, Ủy ban giám sát tài chính quốc gia và một số trang thông tin nước ngoài uy tín Qua các bộ dữ liệu này, nhóm tác giả sẽ đưa ra mối quan hệ định tính giữa thâm hụt ngân sách và các biến đã nêu trên, đồng thời chỉ ra tác động của chúng đến tình hình tăng trưởng kinh tế Với kết quả thu được, nhóm nghiên cứu cũng muốn đưa ra một số đề xuất về điều chỉnh chi tiêu ngân sách để đạt được mục tiêu tăng trưởng kinh tế.

ẢNH HƯỞNG CỦA THÂM HỤT NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC ĐẾN TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ Ở VIỆT NAM

Thực trạng thâm hụt ngân sách ở Việt nam

2.1.1 Bối cảnh kinh tế thế giới 2016

Kinh tế Việt Nam đã trải qua năm 2016 với nhiều khó khăn trước những biến động lớn của nền kinh tế toàn cầu Kinh tế thế giới, đặc biệt tại các nước phát triển, ẩn chứa nhiều yếu tố bất định Nổi bật nhất trong số đó là sự kiện nước Anh quyết định rời khỏi Liên minh châu Âu (EU) sau một cuộc trưng cầu dân ý (Brexit) và chiến thắng của ông Donald Trump trong cuộc bầu cử Tổng thống Mỹ hồi tháng 11/2016.

Tổng thống Mỹ đắc cử Donald Trump gây lo ngại về chủ nghĩa bảo hộ với ý định rút lui khỏi Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP), trong khi đó, Anh và EU vẫn chưa có quyết định chính thức về cách thức tiến hành Brexit Tuy nhiên, bỏ qua những lo ngại về chính sách mà ông Donald Trump tuyên bố sẽ áp dụng, những điểm sáng của nền kinh tế Mỹ năm 2016 đã giúp Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED) quyết định tăng lãi suất cơ bản lần thứ hai, kể từ sau cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008.

Bên cạnh đó, chính sách nới lỏng tiền tệ của Nhật Bản không đạt được như kỳ vọng khiến nước này chìm sâu hơn vào vòng xoáy giảm phát Kinh tế châu Âu không có nhiều cải thiện so với năm 2015; lạm phát duy trì ở mức thấp, vấn đề về việc làm cũng không có nhiều chuyển biến.

Ngược lại, Trung Quốc và một số nước đang phát triển lại có sự tăng trưởng tương đối ổn định Kinh tế Trung Quốc đang dần dịch chuyển đúng hướng theo chiến lược tái cân bằng mà chính phủ nước này đề ra Trong khi đó, các tổ chức quốc tế cũng đưa ra những đánh giá lạc quan về triển vọng của các nước nền kinh tế mới nổi trong giai đoạn tiếp theo.

Thị trường hàng hóa thế giới có sự thay đổi ngược chiều giữa một số loại hàng hóa cơ bản, trong khi tài sản biến động mạnh theo những sự kiện trong năm.

Giá các mặt hàng năng lượng phục hồi ổn định trong khi giá các loại lương thực chính biến động mạnh trong năm 2016.

2.1.2 Kinh tế Việt Nam trong giai đoạn điều chỉnh

Trong bối cảnh kinh tế thế giới có nhiều biến động, nền kinh tế Việt Nam đã bộc lộ những dấu hiệu cho thấy tính dễ bị tổn thương trước các cú sốc Tăng trưởng kinh tế của 2 quý đầu năm 2016 lần lượt là 5,48% và 5,78% so với cùng kỳ năm trước Mặc dù, được phục hồi trong nửa cuối năm nhưng tăng trưởng kinh tế cả năm chỉ đạt 6,21%, thấp hơn mức 6,68% năm 2015 và mục tiêu 6,3% mà Chính phủ đặt ra trong phiên họp thường kỳ tháng 9/2016.

Theo Tổng cục Thống kê, nông nghiệp suy giảm kết hợp với khó khăn trong trong ngành Công nghiệp khai khoáng được cho là nguyên nhân chính dẫn tới tăng trưởng thấp Khu vực nông nghiệp, vốn chiếm 11-13% GDP, nhưng ước tính mức tăng trưởng chỉ đạt 0,72% và đóng góp được 0,09 điểm phần trăm vào tăng trưởng GDP Trong khi đó, tăng trưởng lâm nghiệp và thủy sản giảm nhẹ so với cùng kỳ năm trước khiến cả khu vực nông, lâm, ngư nghiệp chỉ tăng 1,36%, tỷ lệ thấp nhất trong vòng 6 năm trở lại đây.

Nhóm ngành công nghiệp chế biến, chế tạo vẫn là động lực chính thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Tăng trưởng nhóm ngành này đạt 11,09%, cao hơn so với 2 năm trước (năm 2014: 8,45%; năm 2015: 10,60%).

Tuy nhiên, với mức đóng góp lên tới 28,4% trong cơ cấu GDP khu vực công nghiệp, sự suy giảm của ngành khai khoáng đã tác động không nhỏ tới tăng trưởng khu vực này cũng như tăng trưởng kinh tế chung Ước tính năm 2016, ngành khai khoáng suy giảm tới 4% so với cùng kỳ năm ngoái, làm giảm 0,33 điểm phần trăm tăng trưởng kinh tế.

Tốc độ tăng chỉ số sản xuất công nghiệp (IPI) giảm dần so với mức tăng cùng kỳ năm 2015 Tính chung cả năm, chỉ số này chỉ tăng 7,5%, thấp hơn con số 9,8% cùng kỳ năm 2015 Tuy nhiên, đà suy giảm từ đầu năm đã bắt đầu chững lại. Chỉ số tiêu thụ tăng nhẹ, trong khi tồn kho ngành chế biến, chế tạo giảm nhẹ Chỉ số tiêu thụ và tồn kho cộng dồn tới tháng 11/2016 tăng tương ứng là 8,4% và 8,1%.

Dù tăng trưởng suy giảm so với năm 2015, hoạt động của khu vực doanh nghiệp (DN), đặc biệt là trong lĩnh vực chế biến, chế tạo, vẫn được coi là một điểm sáng của kinh tế năm 2016 Chỉ số nhà quản trị mua hàng (PMI) duy trì trên ngưỡng 50 điểm, cho thấy sự phục hồi trong khu vực sản xuất của Việt Nam. Đặc biệt, chỉ số này đã đạt 54 điểm trong tháng 11/2016, cao nhất trong vòng 18 tháng trở lại đây Tình hình đăng ký DN trong năm 2016 cũng có nhiều cải thiện Số DN đăng ký hoạt động mới đạt 110,1 nghìn DN, tăng 16,2% so với năm 2015, với 891,1 nghìn tỷ đồng vốn đăng ký, tăng 48,1% Số vốn đăng ký trung bình trên một DN tăng 27,5% và đạt 8,1 tỷ đồng/DN.

Tuy nhiên, DN trong các ngành công nghiệp tiếp tục có xu hướng cắt giảm lao động, đặc biệt trong ngành khai khoáng Số lượng lao động tại thời điểm 01/12/2016 chỉ tăng 2,9%, thấp hơn mức 6,4% năm 2015 Trong đó, lao động trong ngành khai khoáng giảm 6,9%; ngành sản xuất, phân phối điện giảm 1,3%. Tăng trưởng lao động suy giảm trong cả ba khối DNNN, DN tư nhân và DN có vốn đầu tư nước ngoài Tăng trưởng lao động khu vực ngoài nhà nước và khu vực FDI lần lượt đạt 1,8% và 4,9%; giảm tương ứng từ 4,6% và 8,0% năm 2015.

2.1.3 Nguy cơ lạm phát tăng trở lại

Không còn được hỗ trợ bởi các yếu tố bên ngoài như năm 2015, chỉ số giá tiêu dùng có xu hướng tăng trở lại, đặc biệt trong những tháng cuối năm 2016 Giá cả các loại hàng hóa cơ bản phục hồi kết hợp với điều chỉnh giá nhóm dịch vụ giáo dục và y tế đã gây ra sức ép lên lạm phát trong nước.

Tính tới cuối năm, chỉ số giá tiêu dùng tăng 4,74% so với tháng 12/2015. Trong khi đó, lạm phát lõi vẫn duy trì trong khoảng 1,7-1,9% trong cả năm 2016, điều này khiến khoảng cách giữa lạm phát và lạm phát lõi ngày càng được nới rộng Điều này cho thấy, sự gia tăng mạnh trong chỉ số giá các nhóm hàng lương thực - thực phẩm, năng lượng và do Nhà nước quản lý.

Mặc dù, suy giảm trong những tháng giữa năm, chỉ số giá các mặt hàng lương thực thế giới do Ngân hàng Thế giới tính toán vẫn tăng từ 85,95 điểm cuối năm 2015 lên mức 93,15 điểm trong tháng 11/2016 Đi cùng xu hướng này, chỉ số giá nhóm hàng lương thực và thực phẩm của Việt Nam trong tháng 12 lần lượt tăng 2,57% và 3,34% (so với cùng kỳ năm trước), so với mức tăng -1,65% và 1,47% tương ứng của hai nhóm hàng này cùng kỳ năm 2015.

Thực trạng thu chi Ngân sách nhà nước 2016

2.2.1 Thu ngân sách nhà nước

Bảng 2.1: Số liệu dự toán thu Ngân sách Nhà nước năm 2016 Đơn vị: Tỷ VND

CHỈ TIÊU DỰ TOÁN NĂM 2016

TỔNG THU CÂN ĐỐI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC 1.014.500

- Thu cân đối từ hoạt động xuất nhập khẩu 172.000

(Nguồn: Số liệu dự toán Ngân sách Nhà nước năm 2016 – BTC)

Theo báo cáo của Tổng cục Thống kê cho biết, tổng thu ngân sách Nhà nước từ đầu năm 2016 đến thời điểm 15/12/2016 ước tính đạt 943,3 nghìn tỷ đồng, bằng 93% dự toán năm.

Trong đó, thu nội địa đạt 744.900 tỷ đồng, bằng 94,9%; thu từ dầu thô đạt 37.700 tỷ đồng, bằng 69,2%; thu cân đối ngân sách từ hoạt động xuất, nhập khẩu đạt 156.200 tỷ đồng, bằng 90,8% so với kế hoạch năm.

Trong thu nội địa, thu tiền sử dụng đất đạt 77.900 tỷ đồng, bằng 155,8% dự toán năm; thu thuế công, thương nghiệp và dịch vụ ngoài Nhà nước 144.700 tỷ đồng, bằng 100,8%; thuế bảo vệ môi trường 38.700 tỷ đồng, bằng 100,7%; thuế thu nhập cá nhân 61.700 tỷ đồng, bằng 97% so với dự toán năm Đặc biệt, thu ngân sách từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (không kể dầu thô) là 147.700 tỷ đồng, bằng 92,9% Riêng thu từ khu vực doanh nghiệp Nhà nước đạt 193.700 tỷ đồng, chỉ bằng 75,6% dự toán năm.

2.2.2 Chi ngân sách nhà nước

Bảng 2.2: Số liệu dự toán chi ngân sách nhà nước năm 2016 Đơn vị: Tỷ VND

CHỈ TIÊU DỰ TOÁN NĂM 2016

TỔNG CHI CÂN ĐỐI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC 1.273.200

- Chi đầu tư phát triển 254.950

- Chi trả nợ và viện trợ 155.100

- Chi cải cách tiền lương, tinh giản biên chế 13.055

- Chi bổ sung quỹ dự trữ tài chính 100

(Nguồn: Số liệu dự toán Ngân sách Nhà nước năm 2016 – BTC)

Cũng theo báo cáo của Tổng cục Thống kê kiểm duyệt và công bố, tổng chi ngân sách Nhà nước từ đầu năm đến thời điểm 15/12/2016 ước tính đạt 1,135 triệu tỷ đồng, bằng 89,2% dự toán năm.

Bao gồm: chi đầu tư phát triển đạt 190.500 tỷ đồng, bằng 74,7%; chi phát triển sự nghiệp kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, quản lý hành chính đạt 786.000 tỷ đồng, bằng 95,4%; chi trả nợ và viện trợ đạt 150.300 tỷ đồng, bằng 96,9% so với dự toán năm.

2.2.3 Thực trạng bội chi Ngân sách nhà nước

Qua các số liệu được thể hiện ở các hình vẽ trên có thể thấy tình hình bội chi NSNN ở nước ta trong năm 2016 ước đạt mục tiêu về số tuyệt đối là 254 nghìn tỉ đồng (Trong đó, thu NSNN ước đạt 1.039 nghìn tỷ đồng (không kể thu chuyển nguồn 4.700 tỷ đồng), bằng 102,4% dự toán, tăng 4,1% so với thực hiện năm

2015 Chi NSNN ước đạt 1.297,7 nghìn tỷ đồng, bằng 101,9% dự toán năm, tăng 2,7% so với thực hiện năm 2015), nhưng cao hơn dự đoán về số tương đối (5,52% GDP so với 4,95% GDP) do giá trị GDP danh nghĩa giảm so với kế hoạch (GDP năm 2016 theo kế hoạch đầu năm là 5,1 triệu tỷ đồng, nhưng ước thực hiện năm chỉ đạt 4,6 triệu tỷ đồng.) Phân tích cơ cấu bội chi NSNN cho thấy, thu nội địa đã bù đắp giảm thu từ thuế xuất nhập khẩu và thu từ dầu thô (Tỷ trọng thu từ dầu thô và thu từ XNK năm 2016 chiếm gần 20%, giảm mạnh so với bình quân 30,8% của giai đoạn 2011-2015.)

Nợ công tiếp tục tăng, từ mức 62,2% GDP của năm 2015 lên mức dự kiến 64,98% năm 2016 do: bội chi NSNN vẫn ở mức cao, tăng trưởng kinh tế giảm, GDP danh nghĩa đạt thấp hơn kế hoạch.

Tuy nhiên, cơ cấu nợ công đang chuyển dịch tích cực hơn: (i) tỉ trọng nợ trong nước tăng và tỷ trọng nợ nước ngoài giảm (tỷ trọng nợ trong nước tăng từ40,3% tổng dư nợ Chính phủ năm 2010 lên 57% năm 2016); (ii) Kỳ hạn phát hành

TPCP bình quân tăng, từ mức bình quân 4,8 năm trong giai đoạn 2011-2015 lên mức khoảng 8,7 năm 2016; (iii) Lãi suất phát hành TPCP bình quân giảm (từ mức bình quân giai đoạn 2011-2015 là 7,6%/năm, xuống 6,5% trong năm 2016)

Trong khi đó, một báo cáo vĩ mô mới đây của Ngân hàng HSBC dự báo bội chi ngân sách của Việt Nam năm nay khoảng 6,6% GDP Các chuyên gia HSBC giải thích: Ngân sách của Việt Nam suy giảm có thể bắt nguồn từ việc lợi nhuận giảm đều (mặc dù tình trạng thiếu kiểm soát chi tiêu cũng là một vấn đề) Lợi nhuận tài chính suy giảm vì hai nguyên nhân chính: 1) doanh thu dầu mỏ nhà nước giảm, do giá cả hàng hóa toàn cầu sụt giảm mạnh và 2) doanh thu thuế các ngành không thuộc dầu mỏ cũng đi xuống.

Phân tích về giá cả hàng hóa toàn cầu sụt giảm đã hạ thấp doanh thu dầu mỏ nhà nước nhưng thu nhập từ thuế vẫn đang chịu áp lực, HSBC cho rằng, doanh thu dầu mỏ chiếm 4,3% GDP năm 2012 nhưng HSBC ước tính con số này đã hạ xuống mức 1,5% GDP trong năm 2015 dựa trên chuyển biến giá cả hàng hóa. Ngược lại, doanh thu tài chính từ các ngành ngoài dầu mỏ (chủ yếu là thuế) lại tăng mạnh trong những năm gần đây, mặc dù xu hướng này cũng đang chậm lại.

Tỷ lệ tăng trưởng của 3 nguồn thu thuế chính tại Việt Nam: thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế giá trị gia tăng và thuế quan.

Còn theo Quỹ Tiền tệ Quốc tế IMF, xét về hiệu suất thu thuế, Việt Nam đang trội hơn các nước trong khu vực nhưng cơ sở này lại đang dần mai một Ví dụ, tỷ lệ thuế doanh nghiệp tiêu chuẩn đã giảm từ 25% xuống còn 22% vào tháng 1.2014 và nằm ở mức 20% vào ngày 1/1/2016.

Hơn nữa, vùng kinh tế đặc biệt và một số lĩnh vực ưu tiên cao được áp dụng mức thuế ưu đãi như chăm sóc sức khỏe, giáo dục, công nghệ cao, phát triển hạ tầng, phần mềm Trong khi đó, doanh thu thuế quan vẫn chịu áp lực, do Việt Nam đang tham gia ngày một nhiều các hiệp định thương mại tự do Thiếu nỗ lực mở rộng cơ sở thuế và cải thiện hiệu quả thu thuế, doanh thu tài chính từ các ngành không phải dầu mỏ sẽ tiếp tục chịu áp lực trong những năm kế tiếp.

Còn theo Viện Nghiên cứu Kinh tế và Chính sách (VEPR), cán cân ngân sách tiếp tuc xu hướng thâm hụt lớn Việc sụt giảm trong một số nguồn thu chính buộc Chính phủ phải tăng cường thu từ các nguồn khác nhằm bổ sung ngân sách. Trong khi đó, xu hướng tăng chi tiêu ngân sách vẫn không có dấu hiệu dừng lại.

Hậu quả của thâm hụt ngân sách đối với nền kinh tế

Tình trạng kỷ luật tài khóa lỏng lẻo => thâm hụt ngân sách cao Lạm phát có xu hướng tăng trở lại khi đạt mức 1,69% vào cuối tháng 3 năm nay, chủ yếu do viện phí, học phí đã tăng mạnh Và VEPR dự báo lạm phát năm nay có thể ở mức 4-5% do tăng giá một số sản phẩm, dịch vụ thiết yếu

Thâm hụt ngân sách còn là một nguyên nhân dẫn đến tốc độ nợ công gia tăng Mới đây, tại báo cáo thẩm tra tình hình nợ công giai đoạn 2016-2020, Uỷ banTài chính - Ngân sách của Quốc hội đánh giá, nợ công tính đến năm 2015 đạt trên2,6 triệu tỷ đồng, bằng 62,2% GDP Hơn nữa, theo HSBC, thâm hụt ngân sách tăng là vấn đề do tỷ lệ nợ công của Việt Nam đã thực sự cao Ước tính nợ côngViệt Nam (bao gồm nợ nước ngoài và trong nước) đã tăng từ 59,6% nằm 2014 lên63,3% GDP vào cuối năm 2015 Vấn đề nợ ngày càng trầm trọng hơn do lạm phát chậm lại và đồng tiền Việt Nam mất giá HSBC dự báo tỷ lệ nợ công trên GDP tăng lên 64,5% GDP trong năm 2016, đạt ngưỡng giới hạn của Quốc Hội đề ra65%.

Nguyên nhân thâm hụt ngân sách

2.4.1 Thất thu thuế nhà nước

Thuế là nguồn thu chính và bền vững nhất cho NSNN bên cạnh các nguồn thu khác như: tài nguyên, doanh nghiệp nhà nước, vay, nhận viện trợ…tuy nhiên, do hệ thống pháp luật Việt Nam còn nhiều bất cập, sự quản lý chưa chặt chẽ đã tạo kẽ hở cho các cá nhân, tổ chức lợi dụng để trốn thuế, gây thất thu một lượng đáng kể cho NSNN… Bên cạnh đó, việc giãn thuế, giảm thuế và miễn thuế một mặt giúp các doanh nghiệp có thêm nguồn vốn đầu tư, duy trì và mở rộng sản xuất. Tuy nhiên, việc miễn thuế, giảm thuế hoặc chậm thu làm ảnh hưởng tới các khoản chi ngân sách khác gây thâm hụt NSNN

2.4.2 Đầu tư công kém hiệu quả

Trên thực tế, tình trạng đầu tư dàn trải gây lãng phí ở các địa phương vẫn chưa được khắc phục triệt để, tiến độ thi công những dự án trọng điểm quốc gia còn chậm và thiếu hiệu quả, đã gây lãng phí nguồn NSNN và kiềm hãm sự phát triển của các vùng miền, là nguyên nhân chính dẫn đến thâm hụt ngân sách nhà nước Bên cạnh đó, nền hành chính công – dịch vụ công của chúng ta quá kém hiệu quả Chính sự kém hiệu quả này làm cho tình trạng thâm hụt ngân sách càng trở nên trầm trọng.

2.4.3 Nhà nước huy động vốn để kích cầu

Chính phủ kích cầu qua 3 nguồn tài trợ chính là: phát hành TPCP, miễn giảm thuế và sử dụng quỹ dự trữ nhà nước Sử dụng gói giải pháp kích cầu một mặt làm kích thích tiêu dùng, tăng trưởng kinh tế Tuy nhiên, sẽ làm mức thâm hụt ngân sách tăng rất cao khoảng 8-12% GDP.

2.4.4 Nhà nước chưa chú trọng mối quan hệ giưa chi đầu thư phát triển và chi thường xuyên Đây là một trong những nguyên nhân gây căng thẳng về ngân sách và áp lực với bội chi NS (nhất là ngân sách các địa phương) Có thể thấy, thông qua cơ chế phân cấp nguồn thu và nhiệm vụ chi giữa các cấp ngân sách và cơ chế bổ sung từ ngân sách cấp trên cho cấp dưới Ngân sách địa phương được phân cấp nguồn thu ứng với các nhiệm vụ chi cụ thể và được xác định cụ thể trong dự toán ngân sách hàng năm Vì vậy, khi các địa phương vay vốn để đầu tư, sẽ bảo đảm nguồn chi thường xuyên để bố trí cho việc vận hành các quy trình sau khi hoàn thành và đi vào hoạt động cũng như chi phí duy tu, bảo dưỡng các công trình, làm giảm hiệu quả đầu tư Chính điều đó luôn tạo sự căng thẳng về ngân sách Để có nguồn kinh phí hoặc phải đi vay để duy trì hoạt động hoặc yêu cầu cấp trên bổ sung ngân sách, cả 2 trường hợp trên đều tạo áp lực bội chi NSNN.

2.4.5 Quy mô chi tiêu của Chính phủ quá lớn

Tăng chi tiêu Chính phủ một mặt giúp nền kinh tế tăng trưởng tạm thời trong ngắn hạn, nhưng lại tạo ra những nguy cơ bất ổn lâu dài như lạm phát và rủi ro tài chính do sự thiếu hiệu quả của các khoản chi tiêu công và thiếu cơ chế giám sát đảm bảo sự hoạt động lành mạnh của hệ thống tài chính Chi tiêu của Chính phủ một khi vượt quá một ngưỡng nào đó sẽ làm cản trở tăng trưởng kinh tế do gây ra phân bổ nguồn lực không hiệu quả dẫn tới thâm hụt NSNN và cuối cùng là gây ra lạm phát.

2.4.6 Sự thiếu hụt Ngân sách trong những năm qua còn được sử dụng như một công cụ Chính sách tài khóa để kích thích sự tăng trưởng kinh tế. Điều này được thể hiện rõ thông qua cân đối NSNN hàng năm Về nguyên tắc, sau khi lấy tổng thu trừ đi tổng chi trong năm sẽ xác định được số thặng dư hoặc thiếu hụt NS trong năm Tuy nhiên, khi cân đối ngân sách, chúng ta thường xác định số bội chi trước (thông thường tương đương mức Quốc hội cho phép) và nguồn còn lại được Quốc hội cho phép chuyển nguồn sang năm sau Đây là chính sách ngân sách thận trọng khi áp dụng lý thuyết bội chi một cách chủ động và điều đó không gây xáo trộn trong chính sách kinh tế vĩ mô, nhưng phải cân nhắc và kiểm tra xem toàn bộ số bội chi có được sử dụng để chi đầu tư phát triển cho các dự án trọng điểm và hiệu quả, qua đó tạo thêm công ăn việc làm, tạo đà cho nền kinh tế phát triển bền vững, tăng khả năng thu NSNN trong tương lai hay không.

Tác động của thâm hụt ngân sách đến tăng trưởng kinh tế

Ngân sách nhà nước là quỹ tiền tệ tập trung lớn nhất của nhà nước và là công cụ vật chất quan trọng để điều tiết vĩ mô nền kinh tế xã hội Thâm hụt ngân sách nhà nước đã trở thành hiện tượng phổ biến hầu hết các nước bao gồm các quốc gia đang phát triển và quốc gia phát triển Tác động của thâm hụt ngân sách đến tăng trưởng kinh tế luôn là vấn đề chiếm vị trí nổi bật trong các nghiên cứu của các học giả và các nhà kinh tế Một số cho rằng thâm hụt ngân sách có lợi cho tăng trưởng kinh tế trong khi còn lại thì cho rằng thặng dư ngân sách mới đem lại cho nền kinh tế sự tích cực.

2.5.1 Khái quát tình hình tăng trưởng kinh tế Việt Nam

Qua biểu đồ, ta có thể thấy được những dấu hiệu phục hồi của nền kinh tế Việt Nam Theo báo cáo kinh tế vĩ mô Việt Nam của VEPR quý IV năm 2016 thì Quý 4 tiếp tục chứng kiến những dấu hiệu phục hồi của nền kinh tế, sau nửa đầu năm suy giảm mạnh Tăng trưởng đạt 6,68%, cao hơn so với mức 6,56% của Quý

3, dù vẫn thấp hơn so với cùng kỳ các năm trước (2014: 6,96%; 2015: 7,01%). Tuy nhiên, tăng trưởng kinh tế cả năm chỉ đạt 6,21%, thấp hơn mức 6,68% của năm 2015 và mục tiêu 6,3-6,5% mà

Chính phủ đặt ra trong phiên họp thường kỳ tháng

Sản lượng nông nghiệp và khai thác mỏ giảm, năm 2016 GDP của Việt

Nam giảm 7,5% xuống dưới dự báo

6,7% được đưa ra vào đầu năm Theo Tổng cục Thống kê (TCTK) cả năm 2016, GDP của Việt Nam ước đạt 6,2%. Ông Nguyễn Bích Lâm, Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê cho biết:

"Nhìn chung, nền kinh tế đang phát triển mạnh mẽ, ngoại trừ ngành nông nghiệp và khai thác mỏ", cho biết cũng có những biến động trong thị trường tài chính tiền tệ trên thế giới trong năm 2016.

Thiệt hại lớn nhất đối với nền kinh tế Việt Nam là do tình trạng thiếu nước sớm trong năm, dẫn đến giảm GDP 1% trong GDP năm 2016 Theo Tổng cục Thống kê, thiên tai gây ra thiệt hại cho ngành nông nghiệp vào năm 2016 là 18,3 nghìn tỷ đồng (813 triệu USD)

Cũng vào năm 2016, ngành khai thác mỏ của Việt Nam đã giảm 4% so với cùng kỳ năm ngoái, chủ yếu là do giá than và dầu thô thấp Năm 2015, ngành khai khoáng của Việt Nam tăng trưởng 6,5%. Đóng góp chủ yếu vào năm 2016 GDP của Việt Nam là ngành dịch vụ Việt Nam, tăng 6,98% so với cùng kỳ năm trước, đóng góp 2,67 điểm phần trăm vào GDP của Việt Nam năm 2016, trong khi đó sản xuất công nghiệp và xây dựng tăng 7,57%, đóng góp 2,59 điểm phần trăm.

Các ngành khác tăng trưởng trong năm 2016 là ngành công nghiệp ICT Việt Nam ước đạt 1.337 nghìn tỷ đồng (59,9 tỷ USD) vào năm 2016, tăng 9,36% so với năm trước, trong khi doanh thu từ viễn thông ước tính đạt 365,5 nghìn tỷ đồng (16,4 tỷ USD ), tăng 7,5% so với cùng kỳ năm ngoái.

2.5.2 Tác động của thâm hụt ngân sách nhà nước đến tăng trưởng kinh tế Việt Nam

Bảng 2.3 Bảng số liệu về tăng trưởng kinh tế và ngân sách trong 5 năm gần đây Đơn vị: %

Ngân sách nhà nước -3,4 % -5 % -4,4 % -4,6 % -4,2% (Nguồn:Tổng cục thống kê,Tradingeconomics)

TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VÀ THÂM HỤT NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC QUA CÁC NĂM

Tăng trưởng kinh tế Thâm hụt ngân sách

(Nguồn: tổng hợp từ Tradingeconomics)

Qua biểu đồ ta có thể thấy, giai đoạn 2012-2013 và 2014-2015 khi thâm hụt ngân sách tăng lên thì kinh tế cũng tăng trưởng nhưng ở giai đoạn 2013-2014, thâm hụt ngân sách giảm đi đáng kể trong khi kinh tế vẫn tiếp tục tăng trưởng Vì vậy không thể khẳng định được ảnh hưởng của thâm hụt ngân sách đến tăng trưởng kinh tế là tác động cùng chiều hay ngược chiều Ta có thể xét đến những tác động của thâm hụt ngân sách đến các yếu tố: lạm phát, lãi suất và cán cân thương mại

2.5.2.1 Tác động của thâm hụt ngân sách đến lạm phát

Chính phủ có thể trang trải thâm hụt cho ngân sách bằng một trong 2 cách: bán trái phiếu cho công chúng hoặc tạo ra tiền tệ ( in tiền )

 Bán trái phiếu không có ảnh dưởng trực tiếp đến tổng cầu và sẽ không có hậu quả lạm phát Tuy nhiên, ở các nước đang phát triển, do thị trường vốn bị hạn chế nên việc phát hành trái phiếu chính phủ nhằm bù đắp cho thiếu hụt ngân sách nhà nước là rất khó thực hiện. Ở các nước có nền kinh tế lớn như ở Mỹ, thị trường vốn phát triển, vì vậy một lượng trái phiếu lớn có thể được bán ra và nhu cầu trang trải cho thâm hụt ngân sách nhà nước được thực hiện từ nguồn vốn vay của chính phủ Nhưng nếu chính phủ cứ tiếp tục phát hành trái phiếu ra thị trường, cầu về vốn vay sẽ tăng, do đó, lãi suất sẽ tăng cao Để hạn chế việc tăng lãi suất thị trường, Ngân hàng Trung ương sẽ phải mua vào các trái phiếu đó, điều này lại làm cho cung tiền tăng.

 Phát hành tiền trực tiếp làm tăng cơ số tiền tệ, do đó làm tăng cung ứng tiền, đẩy tổng cầu lên cao và làm tăng tỷ lệ lạm phát.

Từ giai đoạn 2015-2016 tỉ lệ lạm phát có diễn biến tăng dần do bội chi ngân sách cao dẫn đến hạn chế những công cụ điều hành chính sách. Việc Chính phủ phát hành thêm trái phiếu để bù chi đã khiến cho sức ép lạm phát tăng cao

2.5.2.2 Tác động của thâm hụt ngân sách đến lãi suất

Như đã phân tích ở trên, để bù đắp thâm hụt ngân sách thì chính phủ thưởng phải vay trong nước thông qua phát hành trái phiếu và khi thâm hụt ngân sách ở mức cao thì lãi suất cũng sẽ tăng cao do cầu vốn vay tăng Việc thâm hụt kéo dài gây tình trạng “cạnh tranh” về vốn giữa khu vực nhà nước và tư nhân ở Việt Nam dẫn đến sự sụt giảm trong đầu tư tư nhân

Trường hợp thứ hai đó là đi vay nợ nước ngoài Việc đi vay này là nhằm tài trợ cho các khoản thâm hụt ngân sách nên nói cách khác, nợ chính phủ là thâm hụt ngân sách luỹ kế đến một thời điểm nào đó Khi vay ngoại tệ từ nước ngoài về ta phải đổi sang tiền VNĐ khiến cho dự trữ ngoại hối tăng dẫn đến phải in tiền VNĐ. Việc này làm cung tiền tăng và lãi suất giảm

Rất khó để chỉ ra mối quan hệ giữa thâm hụt ngân sách và lãi suất vì thực tế có những giai đoạn 2 biến số này diễn biến trái chiều nhau Tuy nhiên, điều này cũng không đồng nghĩa với việc là việc tăng nhu cầu huy động vốn của chính phủ không tác động đến lãi suất trên thị trường Thông thường tác động của việc huy động vốn của Chính phủ đối với lãi suất trong nước phụ thuộc đáng kể vào cách thức và phương thức huy động vốn cũng như chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước trong từng giai đoạn cụ thể

CÁC BIỆN PHÁP KHẮC PHỤC THÂM HỤT NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC VIỆT NAM

Tóm lược kết quả thu được

Ta thấy sự thiếu hụt ngân sách do nhu cầu vốn tài trợ cho sự phát triền nền kinh tế quá lớn đòi hỏi phải đi vay để bù đắp Điều này được thể hiện qua việc chúng ta chi vay để đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng và các công trình trọng điểm của quốc gia phục vụ lợi ích phát triển của đất nước Nhưng, trên thực tế số tiền vay, đặc biệt của nước ngoài chưa được quản lý chặt chẽ Tình trạng đầu tư dàn trải ở các địa phương vẫn chưa được khắc phục triệt để, tiến độ thi công những dự án trọng điểm của quốc gia còn chậm và thiếu hiêu quả

Sự thiếu hụt ngân sách trong những năm qua được sử dụng như một công cụ trong chính sách tài khóa để kích thích sự tăng trưởng kinh tế Chúng ta có thể dễ dàng nhận ra điều nay thông qua cân đối Ngân sách nhà nước hằng năm

Sau khi Chính phủ thực hiện gói kích cầu năm 2009, ngân sách Nhà nước những năm gần đây có mức thâm hụt ngày càng tăng vì phải dành nguồn kinh phí lớn cho việc thực hiện các chính sách kích thích kinh tế, cải cách tiền lương, bảo đảm an sinh xã hội Về giá trị tuyệt đối, bội chi tăng từ mức 65,8 nghìn tỷ đồng năm 2011 lên mức 263,2 nghìn tỷ đồng năm 2015 So với GDP, bội chi đã tăng từ mức 4,4% GDP năm 2011 lên mức 6,1% GDP năm 2015, cao hơn giới hạn 5% theo quy định của Chiến lược nợ công và nợ nước ngoài của quốc gia giai đoạn 2011-2020 và tầm nhìn đến 2030 Giai đoạn 5-10 năm vừa qua, tốc độ tăng chi tiêu công của Việt Nam quá lớn trong khi nguồn thu ngân sách lại không tăng tương ứng, thành ra phải vay bù đắp, nợ công tăng rất nhanh Điều đáng lo ngại là quy mô nợ của Việt Nam rất lớn so với năng lực trả nợ.

Thêm nữa, thâm hụt ngân sách trong những năm gần đây là do chúng ta chi tiêu quá nhiều chứ không phải do hụt thu.Tổng thu NSNN và viện trợ trung bình trong bốn năm gần đây đạt khoảng 24% GDP, với tốc độ tăng khoảng 10,4% mỗi năm Một điểm đáng lưu ý trong điều hành NSNN của Chính phủ những năm gần đây là chi đầu tư ngày càng giảm, chi thường xuyên và chi khác tăng lên Trong giai đoạn 2007-2013, chi đầu tư chiếm tỷ trọng trung bình trong tổng chi là 27,7%. Tuy nhiên, trong hai năm 2014-2015, chi đầu tư chỉ còn 16,3% và 15,6% tổng chi.

Là một nền kinh tế ở mức thu nhập trung bình thấp, đầu tư công là rất quan trọng để tạo nền tảng kinh tế - kỹ thuật cho nền kinh tế Do đó, tỷ lệ chi đầu tư thấp là một điều đáng lo ngại mặc dù tổng đầu tư toàn xã hội năm 2015 vẫn đạt 32,6%GDP, tăng 12% so với năm 2014, do đầu tư FDI và đầu tư tư nhân trong nước tăng cao Điều này cho thấy các nỗ lực cắt giảm chi tiêu công chủ yếu nhằm vào cắt giảm chi đầu tư phát triển, còn chi thường xuyên - nhân tố được coi là có ít đóng góp hơn cho tăng trưởng kinh tế dài hạn - lại chưa được chú trọng.

Kiến nghị, giải pháp khắc phục thâm hụt ngân sách nhà nước Việt Nam

Để khắc phục tình trạng thâm hụt ngân sách, tùy theo bối cảnh, tình hình kinh tế từng nước mà người ta có thể sử dụng một, hai hay nhiều biện pháp cùng kết hợp với nhau như:

- Sử dụng dự trũ ngoại tệ

Trong đó biện pháp thứ nhất thường bị coi là khá “bảo thủ” vì nó nhằm vào việc cắt giảm chi tiêu Do đó, biện pháp này sẽ bị các ban ngành, địa phương hoặc đơn vị có ngân sách dự kiến bị cắt giảm lên tiếng phản đối, cản trở hoặc tìm cách gian lận, đồng thời tổng nhu cầu xã hội cũng bị co hẹp lại.

Trong khi ngược lại, ba biện pháp còn lại được xem như là những biện pháp “cấp tiến” vì nó không trực tiếp cắt giảm quyền lợi của bất kỳ bộ phận nào trong xã hội Mặt khác nó lại hướng vào việc tăng nguồn tài chính cho nên khá dễ triển khai.

Sau đây chúng ta sẽ đi vào phân tích từng biện pháp cụ thể để thấy được ưu nhược điểm cũng như nhược điểm của từng biện pháp và biện pháp nào sẽ mang lại hiệu quả cao hơn?

3.2.1 Biện pháp tăng giảm thu chi Đây là biện pháp mà Chính phủ bằng những quyền hạn và nhiệm vụ được giao, tính toán hợp lý để tăng các khoản thu như thu từ Thuế,… và cắt giảm chi tiêu Tuy vậy, vấn đề đặt ra là phải tính toán số tăng thu và giảm chi thế nào để gây ảnh hưởng ít nhất đến tăng trưởng kinh tế. Đặt trong bối cảnh chống lạm phát nên chính sách ngân sách (hay chính sách tài khóa) của Chính phủ trong thời gian qua chỉ hướng đến mục đích giảm chi tiêu công (gồm đầu tư côn và chi thường xuyên) và qua đó giảm tổng cầu Cụ thể là Chính phủ chỉ thị: (i) Cắt giảm nguồn đầu tư từ ngân sách và rín dụng nhà nước; (ii) Rà soát và cắt bỏ các hạng mục đầu tư kém hiện quả của doanh nghiệp nhà nước (DNNN); (iii) Cắt giảm chi thường xuyên của bộ máy nhà nước các cấp.

Tổng đầu tư của Nhà nước (từ ngân sách, tín dụng nhà nước và thông qua DNNN) luôn chiếm trên dưới 50% tổng đầu tư của toàn xã hội Vì vậy không nghi ngờ gì, nếu Nhà nước có thể cắt giảm một số khoản đầu tư kém hiệu quả và có thứ tự ưu tiên thấp thì sức ép gia tăng lạm phát chắc chắn sẽ nhẹ đi Cũng tương tự như vậy, lạm phát cũng sẽ được kiềm chế bớt nếu các cơ quan nhà nước có thể cắt giảm chi thường xuyên ( duy trì trên 70% chi NSNN kể từ 2011 cho tới nay) ( Thời báo kinh doanh - http://thoibaokinhdoanh.vn/Dien-dan-10/Chi-thuong- xuyen-de-nang-ngan-sach Cac-nuoc-khiem-ton-nhung-Viet-Nam-phai-oach- 29241.html)

Mặc dù chính sách cắt giảm chi tiêu công là hoàn toàn đúng đăn, song hiệu lực của những biện pháp cụ thể đến đâu thì còn chưa chắc chắn vì ít nhất có bốn lý do:

Thứ nhất, việc cắt giảm, thậm chí giãn tiến độ đầu tư công không thể dễ dàng, nhất là khi những dự án này đã được các cơ quan lập pháp các cấp quyết định; đã được đưa vào quy hoạch của các bộ, ngành, địa phương; đã được triển khai; và nhất là khi chúng gắn với lợi ích thiết thân của những cơ quan liên quan đến dự án.

Thứ hai, Nhà nước hầu như không thể kiểm soát các khoản đầu tư của các doanh nghiệp nhà nước (DNNN), một mặt là do chính sách phân cấp trong quản lý đầu tư, và mặt khác là do một số tập đoàn lớn đã tự thành lập ngân hàng riêng.

Thứ ba, với tốc độ lạm phát như hiện nay thì chỉ cần giữ được tổng mức đầu tư cồn theo đúng dự toán cũng đã được coi là một thành tích đáng kể.

Thứ tư, kinh nghiệm quốc tế cho thấy rằng vì việc cắt giảm chi thường xuyên thường rất khó khăn nên đây thường là hạng mục cuối cùng nằm trong danh sách cắt giảm Hơn thế, với thực tế ở Việt Nam thì phạm vi chi thường xuyên có thể cắt giảm không nhiều Đầu tiên là phải trừ đi quỹ lương (chiếm khoảng 2/3 tổng chi thường xuyên), sau đó phải trừ đi các khoản phụ cấp có tính chất lương, chi chính sách chế độ, tiền đóng niêm liễn cho các tổ chức quốc tế, các khoản chi thường xuyên đã được thực hiện…

Trước hết, để giảm chi thường xuyên, phải nâng cao được hiệu quả bộ máy quản lý Nhà nước, đặc biệt là bộ máy hành chính dịch vụ công để bộ máy này hỗ trợ cho sự tăng trưởng kinh tế, thúc đẩy tăng trưởng nguồn thu NSNN Thứ hai, làm tốt công tác định biên để nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của bộ máy này Thứ ba, thắt chặt các khoản chi lễ hội, khánh tiết… theo hướng tiết kiệm, hiệu quả Thứ tư, đẩy mạnh xã hội hóa các dịch vụ công, đồng thời tạo cơ chế thuận lợi để các đơn vị hành chính sự nghiệp công lập sớm tự chủ về mặt tài chính, qua đó giúp giảm tải số người hưởng lương từ ngân sách Nhà nước Có như vậy mới kéo giảm được chi thường xuyên trong tổng chi ngân sách.

* Giảm thâm hụt ngân sách bằng cơ chế quản lí đầu tư công

Chính sách giảm tổng cầu thông qua thắt chặt chi tiêu công là đúng đắn, cần thiết nhưng chưa đủ Nỗ lực giảm chi tiêu công của Chính phủ chỉ thực sự có hiệu lực nếu như Chính phủ đồng thời có cơ chế để đảm bảo những khoản đầu tư còn lại có hiệu quả Đầu tiên là phải có cơ chế quản lý đầu tư công sao cho những dự án kém hiệu quả bị loại bỏ ngay từ đầu Sau đó, phải đảm bảo dự án được tiến hành đúng tiến độ và không bị thất thoát, lãng phí.

Một trong những biện pháp có thể được sử dụng để cải thiện cơ chế quản lý đầu tư công là thành lập một hội đồng thẩm định đầu tư công độc lập Một nguyên nhân quan trọng của tình trạng thất thoát, lãng phí trong đầu tư công là do quá trình ra quyết định đầu tư của chính quyền địa phương và các bộ ngành chủ quản chịu ảnh hưởng của các nhóm lợi ích và do vậy thiếu khách quan Vì vậy, nhiệm vụ của ủy ban độc lập này là đánh giá, thẩm định một cách toàn diện và khách quan các dự án có quy mô vượt quá một quy mô đầu tư nhất định nào đó Kết luận của Hội đồng thẩm định này sau đó được công bố rộng rãi Tương tự như vậy, bác cáo kiểm tác các DNNN và các dự án đầu tư công lớn cũng phải được công khai. Để thu hẹp thâm hụt ngân sách thì song song với việc cắt giảm chi tiêu, Chính phủ cũng cần cải thiện các nguồn thu ngân sách, tránh tình trạng ngân sách phụ thuộc quá nhiều vào các nguồn thu không bền vững từ dầu mỏ và thuế nhập khẩu như hiện nay Khi Việt Nam gia nhập WTO thì hàng rào thuế quan và phi thuế quan thì việc cắt giảm thuế nhập khẩu theo các cam kết WTO và tham gia khu vực mậu dịch tự do sẽ ảnh hưởng nhiều đến nguồn thu ngân sách Điều này cũng dễ hiểu khi số thu thuế xuất nhập khẩu của Việt Nam hiện nay chiếm tỉ trong khá lớn so với các nước đang phát triển Bên cạnh đó, dưới tác động gián tiếp của cắt giảm thuế, tính ổn định và bền vững của thu ngân sách sẽ bị ảnh hường Số thu từ khu vực kinh tế trong nước, nhất là từ các doanh nghiệp nhà nước sẽ bị ảnh hưởng mạnh do tác động của cạnh tranh quốc tế và quá trình cải cách doanh nghiệp Bên cạnh đó sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế và những thay đôi thị trường trong quá trình hội nhập cũng sẽ thay đổi nguồn thu.

Cải cách thuế, đặc biệt là thuế thu nhập cá nhân và thuế bất động sản Thật bất công và kém hiệu quả khi nhiều người sau một đêm trở thành triệu phú nhờ vào việc Nhà nước đầu tư cơ sở hạ tầng (CSHT) tại nơi họ có bất động sản, trong khi lại không phải đóng góp gì cho ngân sách nhà nước. Áp dụng thuế bất động sản đúng đắn là một cách đảm bảo sự bền vững cho ngân sách nhà nước, đồng thời giúp Nhà nước thực hiện được các chương trình đầu tư CSHT vì quốc kế dân sinh.

Ngày đăng: 08/08/2022, 09:42

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w