1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

BÀI tập NHÓM KỊCH hát dân CA ví – GIẶM NGHỆ TĨNH

22 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Bài tập nhóm kịch hát dân ca Ví – Giặm Nghệ Tĩnh
Trường học Trường Đại học Nghệ Thuật – Nghệ An
Chuyên ngành Văn Học & Văn Hóa Dân Gian
Thể loại Bài tập nhóm
Thành phố Nghệ An
Định dạng
Số trang 22
Dung lượng 25,58 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ngoài ra, chúngtôi còn sử dụng các phương pháp liên ngành như sử học, triết học, văn hóa học,nghệ thuật học để làm rõ đối tượng nghiên cứu với tư cách là một bộ phận nằmtrong tổng thể ng

Trang 2

I Lí do chọn đề tài

1.1 Lí do lựa chọn

Dân ca Ví - Giặm Nghệ Tĩnh là hai lối hát dân ca không có nhạc đệm, docộng đồng hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh sáng tạo, lưu truyền trong quá trình laođộng sản xuất và gắn bó chặt chẽ với đời sống sinh hoạt của cộng đồng dân cư

xứ Nghệ

Dân ca Ví – Giặm chia làm hai thể loại Ví, Giặm

Từ năm 1970, ngành văn hóa Nghệ Tĩnh đã tập trung xây dựng nên hìnhthức Ví - Giặm khác không thuộc cái tầng của nghệ thuật Ví - Giặm dân gian Vithế có thể nói dân ca Ví – Giặm có hai tầng, đó là tầng sân khấu hiện đại và tầngvăn hóa dân gian Hai tầng này đang song song tồn tại, đang đắp đầy đời sốngvăn hóa của nhân dân Nếu trước kia người ta hát ví riêng, hát giặm riêng thì nay

cứ sau câu hát ví là hát giặm Sự chuyển đổi ấy rất hợp lý, hòa hợp giữa ví vàgiặm trở thành một loại hình nghệ thuật dân gian vô cùng độc đáo, sáng tạo Ví -Giặm trở thành hình thức tổ chức âm nhạc rất đặc biệt có sức hấp dẫn với cộngđồng

Kịch hát dân ca Ví – Giặm ra đời chắc chắn không làm ảnh hưởng xấutới di sản dân gian, ngược lại nó làm đầy hơn đời sống văn hóa của cộng đồng

Ví – Giặm lên được sân khấu là nhờ dân gian bởi cộng đồng đã chuyển lối sốngsinh hoạt thuở xưa ở đồng ruộng, sông nước, các làng dệt vải, trở thành nghệthuật giải trí với hình thức đối ca, tam ca Người Nghệ Tĩnh đã giữ được nguyêndân ca Ví - Giặm ở hai khía cạnh Thứ nhất, họ giữ nguyên được linh hồn âmnhạc của Ví và Giặm, thứ hai là họ giữ nguyên được lối ca hát Ví - Giặm

Hiện nay, Ví – Giặm đang vươn mình phát triển, hoàn thiện trở thành mộtloại hình kịch hát dân ca Chính vì những lí do trên cũng như trong khuôn khổ

2–Tổ4

Trang 3

và nhiệm vụ môn học thì chúng tôi xin được trình bày về thể loại kịch hát dân ca

Ví Giặm Nghệ Tĩnh

1.2 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu được sử dụng là phương pháp nghiên cứu vănbản học để tra cứu và làm rõ các khái niệm liên quan cùng với đó là phươngpháp phỏng vấn trực tiếp từ các nghệ nhân để tìm hiểu “đời sống thực” của cáckhái niệm, phương ngữ ở đây Nhóm còn tiến hành nghiên cứu thông qua các tưliệu video, hình ảnh phát trên sóng truyền hình hoặc qua mạng Ngoài ra, chúngtôi còn sử dụng các phương pháp liên ngành như sử học, triết học, văn hóa học,nghệ thuật học để làm rõ đối tượng nghiên cứu với tư cách là một bộ phận nằmtrong tổng thể nguyên hợp của các yếu tố cấu thành nền kịch hát dân ca Ví –Giặm ở Nghệ Tĩnh

Đứng từ góc độ nghiên cứu của ngành Việt Nam học, thì bài tiểu luận bổ

sung vốn kiến thức về một loại hình kịch hát dân ca đặc sắc của Nghệ Tĩnh nóiriêng và của Việt Nam nói chung; Mang đến cái nhìn toàn diện cho người đọckhái niệm, đặc điểm, hiện trạng… cũng như phương hướng phát triển của kịchhát Ví Giặm Nghệ tĩnh trong tương lai

II Vị trí, loại hình, đặc điểm của kịch hát dân ca Ví Giặm Nghệ Tĩnh.

2.1 Vị tri

Từ những năm 1972, ngành văn hóa Nghệ Tĩnh đã tập trung dàn dựng, thểnghiệm các vở diễn sử dụng chất liệu dân ca Ví – Giặm để phát triển tình huống,xung đột kịch, diện tả nội tâm nhân vật để hình thành và phát triển nên loại hìnhkịch hát dân ca Nghệ Tĩnh Qúa trình ấy gọi là “sân khấu hóa dân ca NghệTĩnh” Trong quá trình ấy, kịch hát dân Ví – Giặm nói riêng và kịch hát dân caNghệ Tĩnh nói chung đã trải qua rất nhiều khó khăn và thử thách để có được vịtrí như hiện nay

3–Tổ4

TIEU LUAN MOI download : skknchat123@gmail.com

Trang 4

Trong những năm gần đây, kịch hát dân ca Ví – Giặm Nghệ Tĩnh đangngày vươn mình phát triển, hòa nhập vào nền sân khấu chung của cả nước, đượccông chúng trong và ngoài nước nhiệt tình đón nhận Sự kiện dân ca Ví – GiặmNghệ Tĩnh được UNESSCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể là một bướctiến tạo đà cho kịch hát dân ca Ví – Giặm đạt được nhiều thành công hơn nữa,sánh bước với chèo ở miền Bắc và cải lương ở miền Nam.

Một số tác phẩm kịch hát dân ca Ví – Giặm: Đôm lưa nui Hông, Cô gaisông Lam, Mai Thuc Loan, Ông vua hoa hô, Hoa đât, Bao tap cưa ki hoa, Linhhôn cua đa, Nang Mai tê chông, Hoa khôi day chông, Ngươi trong ki vong, Biêncôn cao …

Trong khi đo, dân ca là loại hình nghệ thuật nguyên hợp, gắn liền với đờisống lao động và môi trường sinh hoạt đời thường, nhân dân lao động vừa là chủthể sáng tạo, vừa là công chúng thưởng thức, quá trình nhập vai trong diễnxướng diễn ra tự nhiên, hồn nhiên Các làn điệu dân ca được thể hiện thống nhấttrong một môi trường, hoàn cảnh diễn xướng

Va du la kich hat hay dân ca thi chung đêu co nhưng đăc điêm chung cua thêloai Vi va Giăm Cu thê như sau:

4–Tổ4

Trang 5

2.2.1 Thể loại Ví

Ví là hệ thống các làn điệu phổ biến khắp hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh, là nét

đặc trưng của mảnh đất và con người nơi đây, nói không quá nó là một “Thổsản” chỉ duy nhất ở Nghệ - Tĩnh mới có, bởi phương ngữ nơi đây (giọng nói và

từ địa phương) Hát Ví tham gia vào mọi hoạt động sống của con người, dù làmviệc hay vui chơi đều được người dân vô cùng yêu thích là món ăn tinh thầnkhông thể thiếu

Bàn về tên gọi của Ví có nhiều cách giải thích khác nhau, theo PGS Ninh

Viết Giao thì “ví” là “với”; hát ví là hát với và “ví” là “vói” Bên nam đứng ngoài ngõ, ngoài đường “hát vói” vào trong sân, vào nhà với bên nữ; hoặc đám con gái đang cấy lúa ở ruộng này “hát vói” sang khu ruộng bên cạnh có đám con trai

đang nhổ mạ Nhiều nhà nghiên cứu văn hóa, văn nghệ dân gian cho rằng nó từ

“Ví” mà ra: Ví là ví von, so sánh.

Cổ tay em trắng như ngà

Mắt em sắc như là dao cau

Miệng cười như thể hoa ngâu

Cái khăn đội đầu như thể hoa sen.

Gọi hát Ví là cách gọi chung của các làn điệu Ví trong đấy Ví chia làm nhiềuloại khác nhau, theo như thống kê của PGS Ninh Viết Giao có khoảng hai mươiloại Ví khác nhau Chúng tôi xin kể một số loại như:

Ví phường cấy; Ví phường gặt

Ví phường vải (nghề kéo sợi dệt vải)

Ví phường đan (đan mây, đan tre)

Ví phường chiếu (chằm chiếu)

5–Tổ4

TIEU LUAN MOI download : skknchat123@gmail.com

Trang 6

Ví phương vàng (nghề làm giấy, vàng giả, nghề thợ mã)

Ví phường đường (chế đường mía)

Ví phường củi (nghề chặt củi để bán hay để dùng trong nhà)

Ví đò đưa

Ví chăn trâu

Ví phường buôn

Ví phường lái (vá lưới)

Những tên gọi này gắn liền với nghề nghiệp, môi trường lao động và khônggian sinh hoạt từ đó dẫn đến sự khác nhau trong âm điệu của các bài hát

1.1.2 Thể loại “Giặm”

Hát Giặm cũng là một “Thổ sản” của Nghệ Tĩnh Tuy nhiên, do một vàinguyên nhân khác nhau mà hát Giặm không phổ biến rộng rãi bằng hát Ví màchỉ phổ biến nhất ở một số nơi như: huyện Diễn Châu, Quỳnh Lưu (Nghệ An),Can Lộc, Thạch Hà, Cẩm Xuyên, Kỳ Anh (Hà Tĩnh)…

Giặm là “đem một vật gì nhét vào, chắp vào đệm vào hay phổ vào một cái gì

còn khiếm khuyết; một cái gì còn có thể chứa được Nó có bà con với những

tiếng dắm, dấm dúi Dắm là tiếng Nghệ Tĩnh nghĩa là cấy lúa điền vào những ruộng đã cấy rồi mà còn thiếu hay bị chết lổ đổ, còn dắm dúi thì không ai lạ gì cí

nghĩa nhét vào tay, cho dấu, đút lót của nó” (Nguyễn Đổng Chi) Có người lạicho rằng Giặm còn xuất phát từ tính phân đoạn trong bài hát

Hát Giặm tuy không đa dạng về thể loại như hát Ví nhưng cũng được chiathành một số loại khác nhau, theo nghệ nhân Nguyễn Mạnh Cường có một sốloại giặm sau

6–Tổ4

Trang 7

- Giặm vè (một số nơi gọi là Giặm dồn): Vè được sáng tác theo thể hát Giặm nhằm kể lại đầu đuôi một câu chuyện nào đó.

- Giặm nối: có sự ngắt quãng trong câu, thường là nửa câu

- Giặm xẩm: thường xuất phát từ những người nghèo, lang thang cơ nhỡ,

ăn xin

- Giặm ru: xuất phát từ lời mẹ ru con, động tác đưa nôi

- Giặm Đức Sơn: tên của xã Đức Sơn

- Giặm cửa quyền

Kich hat dân ca Vi Giăm đươc hinh thanh tư môt nên dân ca phong phu nhưvây nên co nhiêu điêu kiên đê phat triên trên sân khâu hơn

2.3 Môt số đặc điểm cua kịch hat dân ca Vi Giặm Nghê Tĩnh

Trươc hết ta noi về những ưu, nhược điêm trong qua trình hình thanh kịch hat dân ca Vi Giăm Nghê Tĩnh:

Cho đên nay kịch hat dân ca Ví – Giặm Nghê Tinh đa co rất nhiều vơ diên,trong đo co nhưng vơ gây dâu ân ro rêt như Đôm lưa nui Hông, Cô gai sôngLam, Mai Thuc Loan, Ông vua hoa hô, Hoa đât, Bao tap cưa ki hoa, Linh hôncua đa, Nang Mai tê chông, Hoa khôi day chông, Ngươi trong ki vong, Biên côncao v.v… thanh công ngươi lam sân khâu ơ Nghê Tinh là do tô chât lan điêu cuadân ca Nghê Tinh co đât đê cai biên, đê phong tac, đê phat triên, đê gia giam, đêtao nên đươc tâm trang, tinh cach nhân vât, đê tao nên nhưng điêu hat mơi, baihat mơi co kich tinh, gây xung đôt, mâu thuân, đây đươc cao trao Đo la nhưngđăc tinh quy bau cua dân ca Ví - Giặm Nghê Tinh, lam tiên đê cho sân khâu hoa

ma dân ca nhiêu nơi khac không co đươc Tuy nhiên, khi đưa nó lên sân khấu,thành kịch hát, dân ca Ví - Giặm Nghệ Tĩnh cũng có những bất lợi

7–Tổ4

Trang 8

TIEU LUAN MOI download : skknchat123@gmail.com

Trang 9

Dân ca Ví Giặm Nghê Tinh đươc hinh thanh va sư dung trong sinh hoatlao đông như cheo chông đo (vi đo đưa, vi đo đưa nươc ngươc), leo nui, bưt co,bưt cui (vi treo non, ho leo nui) đi cây, đi cay, găt hai (vi phương cây, vi đôngruông), quay xa keo sơi, dêt vai (vi phương vai), đi đương, đăp đê (ho khoan điđương, ho đâm đât, hô tiêp vân), hoăc ru con, kê lê (cac điêu giăm kê, giăm ru)v.v… Tinh chât sâu lăng, mênh mang, tri tuc, lăp đi lăp lai chi co thê diên ta tâmtrang buôn râu, nhơ nhung, giai bay, trach moc, noi chung la tương đôi binh ôn,kho thê hiên nhưng xung đôt kich liêt, mâu thuân gay găt, tâm trang phưc tap,tinh cach đa dang… la nhưng tâm trang, tinh huông thương xay ra trên sân khâu

“kich”

Dân ca Ví – Giặm Nghê Tinh chi dung trong đôi đap, giao duyên, giai bay,

to tinh kin đao, nhơ nhung hơn giân cung nhe nhang, không nhanh, manh, tiêttâu không dư dôi, dôn dâp, gay cân cung không quyêt liêt, chi đo tai, đo tri chưkhông bao liêt, môt mât môt con như ơ sân khâu (kich)

Dân ca Ví – Giặm mang tính kê lê đơn phương, it co đôi đap manh liêt,đâu tranh kich liêt như sân khâu kich đoi hoi

Noi tom lai, dân ca Ví – Giặm năng vê trư tinh sâu lăng, thâm kin, khoanthai, thuân cho giao duyên đôi đap khi đi vao sân khâu, găp nhưng tinh huônggay cân, nhưng mâu thuân gay găt, nhưng xung đôt manh liêt thi không chuyêntai nôi, đòi hỏi phai co nhưng lan điêu mơi thi mơi co thê thê hiên tâm trang, tinhcach cua nhân vât kich đoi hoi Tư thưc tê đo, qua quá trình thê nghiêm dandưng tư vơ ngăn như “Không phai tôi” cua nguyên Trung Giap, “Khi ban đôi đivăng” cua Nguyên Trung Phong đên cac vơ dai hơn như “Đâu bên sông” cuaTrân Hưu Thung, “Cô gai sông Lam” cua Nguyên Trung Phong, “Đôm lưa nuiHông” cua Thê Kỷ, “Cô Tam”, “Mai Thuc Loan” cua Phan Lương Hao, “Ôngvua hoa hô”, “Linh hôn cua đa”, “Quyên đươc hanh phuc” cua Lưu Quang Vuv.v… Qua gân trăm vơ ngăn dai, mỗi vơ sang tac thêm môt vai lan điêu mơi,

8–Tổ4

TIEU LUAN MOI download : skknchat123@gmail.com

Trang 10

đên nay đa co trên 150 bai ban lan điêu phat triên dân ca Ví Giặm Nghê Tinh đê cung câp cho sân khâu Nghê Tinh.

Vềề̀ điệu thức: Có thể nói kich hat dân ca Nghệ tĩnh là loại hình dân ca có

điệu thức đơn giản nhất

Điệu thức 3 âm là khá phổ biếế́n.

- Ví sông Phố: là điệu thức có 3 âm: Mi – La – Do

- Ví mục đồng: cũng là điệu thức 3 âm: Mi – La – Do

- Giặm ru: Mi – La – Do

- Ví trèo non: Sol – Do – Ré

Điệu thức 4 âm là chủ yếế́u.

- Ví đò đưa sông La: Độ - Rê – Sol – Sib

- Ví đò đưa chuyển phường vải: La – Do – Ré – Mí

- Ví phường vải Thạch Hà: Mi – La – Do – Ré

- Giặm kể: Độ - Rề - Sol – Si

- Giặm nối – dặm xẩm: La – Do – Ré – Mí

- Giặm Đức Sơn: Mi – La – Si – Do# v.v…

Điệu thức 5 âm ít hơn, thường ở những điệu lai hoặc ở điệu chính thống bị thêm

nốt phụ vào

- Ví đò đưa sông Lam: Sol – La – Do – Ré – Mí

- Ví đò đưa nước ngược: Sol - La – Do – Ré – Mí

- Giặm của quyền: Sol - La – Do – Ré – Mí

9–Tổ4

Trang 11

- Giặm Nghệ: Rề - Mi – Sol – La – Si

Vềề̀ tinh chât cua cac vở kịch hat Ví Giặm

- Loai trư tinh thê hiên tâm trang: Giân ma Thương, Hat khuyên, Môt năng haisương, Đai thach, Xâm thương, Con chim lac bây, Nghia năng tinh sâu, Em ươmdâu xanh, Co môt ganh trâu, Cây co môt canh, Chi vưng gan bên, Tư hoa, Ai cothương ai v.v…

- Loai hai hươc: Con coc, Xoay xơ, Lâp lơ, Ngang ngươc, Nong, Con ôc v.v…

-Loai ghen tuông, uât ưc: Long va, long sung, Chông chênh, Ba mu ghen chông v.v…

- Loai lơi la, đi thoa: Đeo bong, Bươm say hoa, Thương đông lên tiên, Say đi chang ơi v.v…

- Loai đau xot: Tiêng vong cua cha, Nang Mai tê chông v.v…

- Loai gây không khi: Thanh niên xich vê, Bai ca công, nông, binh; Không gi quy hơn đôc lâp tư do v.v…

Chinh vi tính chất thê hiên cua các làn điệuVi Giăm đa dang va phong phu,thê hiên nhiêu măt khac nhau cua đơi sông xa hôi nên khi đươc đưa lên sân khâu

no đươc đông đao ngươi xem đon nhân

10–Tổ4

Trang 12

TIEU LUAN MOI download : skknchat123@gmail.com

Trang 13

- Kiểu cách thường đơn giản, thực dụng, đa dùng;

- Màu sắc thường nghiêng về trầm ấm hoặc trung tính;

Đây là những đặc điểm cơ bản có tính chất đặc trưng về trang phục củadân ca Ví – Giặm Nghệ Tĩnh, nó có nhiều điểm khác biệt so với các loại khácnhư trang phục Quan họ, trang phục vùng đồng bằng bắc bộ, trang phục củaChèo Tuồng, hay trang phục của cung đình Huế… (trang phục Quan họ rất cầu

kỳ và kiểu cách - liền anh, liền chị măc từ 3 đến 7 áo dài rồi mới mặc áo the bênngoài; trang phục của Chèo, Tuồng màu sắc rực rỡ bắt mắt với áo tứ thân đượccan chắp nhiều màu; còn trang phục nhã nhạc cung đình Huế thì lộng lẫy, sangtrọng )

Ngày nay trang phục trên sân khấu của kịch hát dân ca Ví – Giặm NghệTĩnh cũng được trau chuốt hơn về chất liệu, màu sắc; phu hơp vơi nôi dung mỗi

vơ kich, tinh cach đăc điêm cua mỗi nhân vât va ngay cang mang hơi hươngđương đai

Về trang trí sân khấu:

Người Nghệ Tĩnh hát và sáng tác dân ca trong quá trình lao động cựcnhọc hay lễ hội vui chơi để động viên nhau trong mọi nỗỗ̃i niềm buồn, vui,sướng, khổ Họ hát dân ca trong mọi môi trường không kể sáng, trưa, chiều, tối.Hơn thế nữa mảnh đất Nghệ Tĩnh với “gió lào cát trắng” luôn gồng mình ta gánhchịu những thiên tai có thể ập đến lúc nào vì vây họ luôn ước mong, cầu nguyệncho mưa thuận, gióa hòa, mùa màng, cây côi tốt tươi Vì vậy, đây cũng chính là

lí do sân khấu kịch hát dân ca Ví – Giặm Nghệ Tĩnh sử dụng những gam màunhư nâu, xanh da trời gần gũi với thiên nhiên, giản gị như chính con người nơiđây

11–Tổ4

TIEU LUAN MOI download : skknchat123@gmail.com

Trang 14

Cung vơi đo la không gian cua bôi canh hiên đai ngay nay mang đâm hinhanh cua chu trương, đương lôi cua Đang Không gian đô thi, nông thôn mơicung đươc đưa vao sân khâu kich hat Nghê Tinh môt cach uyên chuyên.

Những màu sắc trên sân khấu ấy là tiếng nói riêng, góp phần làm tăngchất dân ca trên sân khấu, tạo điều kiện cho những câu hát Ví - Giặm trở về vớimôi trường, với không gian vốn có của nó Tuy nhiên tùy vào tính chất của vởkịch hát mà màu sắc có sự thay đổi đậm hơn, nhạt đi hay kết hợp với các màukhác nhưng vẫn phải giữ lại màu sắc riêng cuả nó

III Cấu trúc

Nghệ thuật sân khấu là một nghệ thuật tổng hợp với một tập thể sáng tạo :tác giả kịch bản, đạo diễn dàn dựng, diễn viên biểu diễn, thanh phân phu trơ( âmnhạc, hóa trang, bài trí, âm thanh, ánh sang)… va khan gia.Trong tổng thể đókịch bản cũng là một khâu dù là khâu đầu tiên và quan trọng nhất

Về kịch bản:

Kich ban Vi Giăm đa dang phong phu nhiêu loai hinh nhưng đêu thê hiên

bô măt con ngươi mơi, xa hôi mơi( co sư đinh hương vê tư tương cua Đang) haythê hiên hinh tương ngươi anh hung, lam sông dây hinh anh nhưng anh hungtrong lich sư va mang đâm tinh nhân văn

Dấu mốc đáng ghi nhớ của kịch hát dân ca Nghệ Tĩnh là vở “Mai ThúcLoan” (kịch bản Phan Lương Hảo, đạo diễn Xuân Huyền, âm nhạc Hồ HữuThới) được công chúng hưởng ứng nhiệt liệt, giành được tặng Huy chươngVàng tại hội diễn sân khấu chuyên nghiệp toàn quốc khu vực 4 năm 1985

Từ đó đến nay, sân khấu kịch hát dân ca Nghệ Tĩnh đã có sự phát triểnhàng chục vở, được công chúng ghi nhận ( “Không phải tôi” (1970) của NguyễnTrung Giáp, “Mai Thúc Loan” (1985) của Phan Lương Hảo, “Chuyện tình ôngvua trẻ” (1995) của Phùng Dũng; “Vết chấn tròn trong bão tố” (1996), “Danh

12–Tổ4

Ngày đăng: 08/08/2022, 05:32

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w