Nét ấn tượng đầu tiên khi ông nhớ về thiên nhiên miền Tây trong kí ức chính là màn sương mờ ảo cũng như là sự lãnh lẽo, trở trọi trong đêm khuya thanh vắng, mịt mù: “Sài Khao sương lấp đ
Trang 1Chọn ĐỀ LUYỆN VIẾT SỐ 1
Trong cuộc đời mỗi người luôn tồn tại những nỗi niềm thăm thẳm, thầm kín, đóluôn là những điều mà ai cũng hết mực nâng niu, gìn giữ Với Quang Dũng, ôngluôn đau
đáu một niềm nhớ thương với đoàn quân Tây Tiến đã cùng ông trải qua bao gian lao vất
vả, cảnh thiên nhiên hùng vĩ mà mãi sau này ông không thể nào quên được Chính vì lẽ
đó, bài thơ “Tây Tiến” đã ra đời bằng ngòi bút lãng mạn như thế, đặc biệt là trong mười
bốn câu thơ đầu đã vẽ lên chặng đường hành quân khổ cực đầy chông gai của các chàng
trai Hà Thành đầy hào hoa nhưng cũng thật hào hùng
“Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi!
Nhớ về rừng núi, nhớ chơi vơi
Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi,
Mường Lát hoa về trong đêm hơi
Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm,
Heo hút hồn mây, súng ngửi trời
Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống,
Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi
Anh bạn dãi dầu không bước nữa,
Gục lên súng mũ bỏ quên đời!
Chiền chiều oai linh thác gầm thét,
Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người
Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói,
Mai Châu mùa em thơm nếp xôi.”
Dù rằng chỉ gắn bó với đoàn quân Tây Tiến vỏn vẹn một năm, thế những đối với
Quang Dũng mà nói, đó chính là quãng thời gian quý giá, khắc sâu vào tâm khảm Từ
những xúc cảm dạt dào ấy, nhà thơ đã viết lên “Nhớ về Tây Tiến” trong một lần
đi công
tác ở Phù Lưu Chanh vào năm 1948, về sau khi in trong tập “Mây đầu ô”, ông
Trang 2đã đổi tên
thành “Tây Tiến” bởi lẽ có chẳng là thật thừa thãi khi có từ “nhớ” trong khi chỉ hai chữ
“Tây Tiến” thôi đã đủ để hiểu nỗi nhớ của ông dạt dào đến nhường nào
Hai câu thơ đầu là khúc dạo đầu của nỗi nhớ nhung, là tiếng gọi tha thiết muốn quay
về miền kỉ niệm:
“Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi!
Nhớ về rừng núi, nhớ chơi vơi.”
Ôi, một tiếng gọi thật thân thường gần gũi! Khi nhớ về Tây Tiến, Quang Dũng nhớ
về dòng sông Mã đầu tiên – dòng sông chảy dọc theo địa bàn biên giới Việt Lào, thuộc
các tỉnh Mộc Châu, Sầm Nưa, Mai Châu, Quan Hóa, dòng sông đã đồng hành với đoàn
quân từ những ngày đầu hành quân, là chứng nhân lịch sử về biết bao kỉ niệm, gian khổ
và thậm chí là những mất mát đau thương, thế nhưng tất cả đều đã “xa rồi”, lui
hơn, tha thiết và da diết, tô đậm một nỗi nhớ không thể nói nên lời
Sang đến câu thơ thứ hai, nỗi nhớ giờ đây đã lan rộng ra cả miền sơn cước Câu thơ
bảy chữ với sáu thanh bằng khiến câu thơ như nhẹ bẫng, nỗi nhớ giờ đây như đang phiêu
du, bay bổng trong lòng tác giả Từ láy “chơi vơi” mang theo cảm giác thật mơ
Trang 3diễn tả
nỗi nhớ trong tình yêu, điển hình như Hàn Mặc Tử từng chắp bút:
“Mây nước bao la tình lẳng lặng
Gió sương mờ mịt nhớ chơi vơi.”
lan tỏa cho cả bài thơ
Những địa danh “sông Mã”, “rừng núi” hiện ra ngay ở hai câu thơ đầu như đặt nền
móng cho những câu thơ sau với sự khắc nghiệt của rừng núi, tiếng “thác gầm thét” đang
chực chờ nuốt chửng con người Có thể nói, hai câu thơ đầu đã thể hiện cảm hứng chủ
đạo của đoạn thơ, cũng như là cả bài thơ, đó là nỗi nhớ thiết tha của người cựu chiến binh
Tây Tiến hướng về miền Tây sơn cước, về trung đoàn Tây Tiến đã đồng hành cùng nhau,
dìu nhau qua những năm tháng quá khứ hào hùng, bi tráng và thật khó quên.Ta-go từng viết: “Khi tình cảm tự tìm cho nó một hình thức để bộc lộ ra ngoài,chúng ta có thơ.” Đến với miền thơ là đến với thế giới tâm tình, nơi những nỗi nhớ
không e dè mà lan tỏa đến muôn nơi Mười hai câu thơ tiếp theo chính là tình cảm, nỗi
nhớ những kỉ niệm về thiên nhiên và con người trên con đường hành quân gian nan, vượt
qua vùng núi phía Tây hiểm trở Quang Dũng đã khắc họa nên một bức tranh
Trang 4thiên nhiên
Tây Bắc heo hút, hiển trở những cũng thật hùng vĩ, thơ mộng Tất cả đã được thể hiện
dưới ngòi bút tài hoa, lãng mạn những cũng thật chân thực và hào hùng
Nét ấn tượng đầu tiên khi ông nhớ về thiên nhiên miền Tây trong kí ức chính là màn
sương mờ ảo cũng như là sự lãnh lẽo, trở trọi trong đêm khuya thanh vắng, mịt mù:
“Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi,
Mường Lát hoa về trong đêm hơi.”
Một làn sương mờ ảo đang ngự trị ở núi rừng Tây Bắc đã ôm trọn lấy vạn vật, cỏ
cây, che lấp đi dáng hình của đoàn quân khiến hình ảnh trở nên mờ mịt, ẩn hiện trong làn
sương lạnh lẽo Ta bắt gặp hình ảnh “sương giăng” của Chế Lan Viên: “Nhớ bản sương
giăng, nhớ đèo mây phủ.” hay làn “sương phủ” trong câu “Đâu những chiều sương phủ
bãi đồng/Lúa mềm xao xác ở ven sông.” của nhà thơ Tố Hữu, nhưng chỉ khi đếnhình ảnh
“sương lấp” trong thơ Quang Dũng, ta mới thấu được những vất vả, gian lao củangười
lính giữa rừng núi hoang sơ Chính bằng nghệ thuật dùng từ tài tình cùng bút pháp hiện
thực, tác giả đã thành công khi chỉ với hai chữ “sương lấp”, nhà thơ đã khắc họacái lạnh
buốt giá, thấu xương, cắt da cắt thịt ở miền Tây Nhịp ngắt 4/3 khiến trọng tâm câu thơ
rơi vào chữ “lấp” – một động từ rất có sức gợi, tô đậm hiện thực khắc nghiệt Nhưng dẫu
có vất vả, phải gồng mình trước cái lạnh rét buốt, khiến “đoàn quân mỏi” nhưngvẫn
không một lời than thở, vẫn vững ý chí, không suy suyển, lung lay, họ vẫn kiên cường đi
Trang 6còn làm sáng tỏ tinh thần lạc quan cùng tâm hồn đầy gợi mở của các anh.
Chính nhờ sự truyền tải vô cùng tinh tế và khéo léo mà bài thơ “Tây Tiến” đã cóđược một nhạc tính phong phú, đặc biệt là âm hưởng hào hùng trong cuộc hành quân của
những người lính khi vượt qua đèo cao, dốc đá Quang Dũng đã miêu tả bức trnh thiên
nhiên đầy hùng vĩ và hiểm trở qua ba câu thơ tiếp theo, làm hiện ra con đường tòng quân
gian lao, vất vả nhưng vẫn ánh lên nét kiên cường, bất khuất và tinh thần lạc quan, luôn
hướng về phía trước của người lính Tây Tiến:
“Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm,
Heo hút cồn mây, súng ngửi trời
Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống,”
Từng con dốc tưởng chừng như cao đến vô tận, trùng trùng điệp điệp hiện ra trước
mắt người đọc, gập ghềnh nối tiếp nhau Câu thơ bảy chữ thì có tới năm thanh trắc,
Quang Dũng thật tài tình khi gây cho người đọc một cái nhìn bao quát về địa hình rừng
núi gồ ghề, hiểm trở Cách sử dung tù láy của Quang Dũng đã góp phần làm chocâu văn
lột tả được sự gập ghềnh hiểm trở của bức tranh Tây Bắc Từ láy “khúc khuỷu” xuất hiện
đã tạo ra con đường hành quân nhiều gian nan, thử thách Nhịp thơ 4/3 cùng hình ảnh thơ
đối xứng như “bẻ gập” câu thơ tạo nên thế núi hoang dại, cheo leo khủng khiếp,con dốc
này chưa qua con núi khác đã tiếp nối, vừa lên cao ngút trời đã đổ xuống “thăm thẳm”
Tất cả như đang muốn thách thức các anh – những người lính Vệ quốc kiên cường, lạnh
lùng chờ đợi, dường như chỉ chực chờ để quật ngã các anh Thế nhưng đáp lại lời thách
Trang 7thức ấy của rừng núi, các anh chưa bao giờ khuất phục, quyết chí bền gan, một lòng cùng
nhau vượt qua thử thách Dốc cao thì cao thật đấy, nhưng làm sao cao bằng ý chí sắt đá,
sự ngạo nghễ phi thường bất chấp khó khăn của những người lính? Dốc sâu thăm thẳm
thật đấy, nhưng làm sao bằng tình yêu đất nước, “quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh” của
các anh? Các anh bước đi trong khó khăn, gian khổ nhưng lúc nào cũng mang theo sự
kiên cường, đầy khí phách Những đỉnh núi cao đỉnh phủ mây mù, cao vút cùng những
đám mây nổi thành cồn nơi chân trời hiện lên thật ấn tượng trong câu thơ:
“Heo hút cồn mây, súng ngửi trời.”
Ta tưởng chừng như các anh đang đi trên “mây”, chinh phục lĩnh đỉnh cao nhất,không chỉ là đỉnh cao của ngọn núi Tây Bắc mà còn đỉnh cao trong sự chiến thắng từ sự
kiên cường và nghị lực phi thường Từ láy “heo hút” vừa gợi sự cao, sự xa, vừa gợi sự
vắng vẻ, được đảo lên đầu câu thơ nhằm nhấn mạnh sự hoang sơ, xa thăm thẳm của dốc
núi miền Tây qua lăng kính của chiến sĩ Tây Tiến – những chàng trai đến từ Thủ đô hoa
lệ Dốc núi cao tưởng chừng như đến vô tận, chạm đến tận trời xanh, mây bao phủ lấy
con đường hành quân khiến đoàn quân khó khăn chồng chất khó khăn Và chính
Trang 8người lính trẻ, làm cho con đường vốn gập ghềnh nay cũng chỉ như dải lụa trải dưới
chân Tư thế hiên ngang ấy ta cũng từng bắt gặp trong những câu thơ của Chính Hữu:
“Áo anh rách vai
Quần tôi có vài mảnh vá
Miệng cười buốt giá
Chân không giày…”
(“Đồng chí”, 1948)
Hay trong những câu thơ trong “Lên Tây Bắc” của Tố Hữu:
“ Rất đẹp hình anh lúc nắng chiều
Bóng dài lên đỉnh dốc cheo leo
Núi không đè đổi vai vươn tới
Lá ngụy trang reo với gió đèo.”
Đây là những hình ảnh xuất hiện khá nhiều trong thơ văn sau Cách mạng tháng tám
Ta biết đến một “đầu súng trăng treo” (“Đồng chí” – Chính Hữu), một “ánh sao đầu
súng” (“Việt Bắc” – Tố Hữu) bởi đây là những hình ảnh mang tính tượng trưng.Súng là
hiện thân cho sự khốc liệt của chiến tranh mà người lính phải đương đầu Trời biểu trưng
cho khát vọng hòa bình Đó là điều mà những người lính luôn chiến đấu để hướng về,
mong mỏi ngày đêm Tác giả đã xây nên một chiếc cầu nối giữa quá khứ, hiện tại và
tương lai , giữa bút pháp hiện thực và lãng mạn để tạo nên hình ảnh thơ thật sinh động,
Trang 9“Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống,”
Điệp ngữ “ngàn thước” là một từ ngữ ước lệ, diễn tả một miền đất cheo leo, hiểm
trở, trải dài tưởng chừng như vô tận Nửa đầu câu thơ đưa ta lên cao, cao vút, nửa cuối
câu thơ lại đột ngột lao xuống khiến câu thơ như bị “bẻ đôi”, hay cũng chính là địa hình
thực tế nơi đây Đồng thời, yếu tố tương đồng của điệp ngữ “ngàn thước” và tính tương
phản của động từ “lên” và “xuống” tạo cho ta cảm giác chân thật về độ cao của dốc, độ
sâu của vực Người đọc không khỏi choáng váng khi đọc nhịp thơ ấy, bút pháp tài tình
của Quang Dũng đã vận dụng vào ba câu thơ thể hiện hình ảnh người lính với tâm hồn trẻ
trung, tư thế nghệ sĩ cùng sự quyết tâm mạnh mẽ vượt qua mọi gian truân
Tiếp nối màn sương mờ lạnh lẽo, dốc núi cheo leo hiểm trở là sự mênh mông của
cơn mưa xa khơi:
“Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi.”
Toàn bộ câu thơ là các thanh bằng gọi lên sự điềm tĩnh của một ngày mưa tầm tã
trong chặng đường qua miền đất hoang sơ, mang theo những xúc cảm đơn sơ đến lạ lùng
Với những ngôi nhà của người dân bản làng ở Pha Luông, cơn mưa rừng khiến cho
những người lính bất giác cảm thấy nhớ nhà, nhớ quê hương, nhớ ngọn lửa ấm
Trang 10ấy, người
chiến sĩ xa quê cảm thấy không khỏi chạnh lòng, bâng khuâng về nỗi nhớ quây quần ấm
êm bên gia đình, bình dị và an yên
Những cơn mưa lạnh giá tít mù đã qua không có nghĩa là khó khăn đã qua, mối đe
dọa mà rừng núi Tây Bắc mang lại còn là những sự hoang sơ, khốc liệt của núi rừng với
tiếng gầm thét của thác nước và hình ảnh vị “chúa tể rừng xanh” đang “trêu người”:
“Chiều chiều oai linh thác gầm thét,
Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người.”
Chỉ bằng hai hình ảnh “thác gầm thét” và “cọp trêu người”, nhà thơ đã lột tả được
sự dữ dội của núi rừng miền Tây Toàn bộ sức mạnh cường tráng của thiên nhiên vây
quanh khiến ta cảm tưởng chỉ cần nhắm mắt lại thì bên tai sẽ văng vẳng tiếng thác nước
chảy mạnh mẽ cũng như là tiếng vị chúa tể đang gầm gừ dọa người Không chỉ
Trang 11miền Tây
được nhà thơ lồng ghép rất tinh tế trong hai câu thơ này
Giữa những vất vả hiểm nguy của thiên nhiên, hình ảnh người lính Tây Tiến hiện
lên với thật nhiều gian lao, vất vả nhưng song hành với đó là một trái tim quả cảm, tinh
thần chịu thương chịu khó và một nét đẹp tâm hồn đáng trân trọng Cùng với nhau, các
anh đã viết nên những năm tháng lịch sử vẻ vang, sẵn sàng hi sinh tuổi xuân, cuộc đời
của mình bởi một niềm “quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”:
“Anh bạn dãi dầu không bước nữa,
Gục lên súng mũ bỏ quên đời.”
Cuộc đời quân ngũ vốn dĩ là những chuỗi ngày kéo dài với những vất vả, cực nhọc,
hằng ngày phải hành quân đường dài, chiến đấu với thời tiết khắc nghiệt, thi gancùng
gian truân, phải công nhận rằng không từ nào có thể diễn tả được như từ láy
Trang 12động và mạnh mẽ Cho đến cuối cùng, dù cho các anh không thể bước tiếp trên cuộc
hành trình này, có thể không vượt qua sự khắc nghiệt, tàn bạo của núi cao, vực sâu, dốc
đứng, thế nhưng hơn hết thảy, các anh đã chưa từng một lần bỏ cuộc, phó mặc cho số
phận Cho đến hơi thở cuối cùng, các anh vẫn luôn vững lòng chiến đâu, “quyết
tương lai phía trước
Lấy chặng đường tuổi trẻ làm chất liệu để viết nên “Tây Tiến”, Quang Dũng đã tô
đậm dấu ấn về miền Tây sơn cước hoang sơ, lạnh lẽo nhưng vẫn tràn đầy tinh thần lạc
quan Ý chí bất khuất ấy không chỉ từ tình yêu quê hương, đất nước hay lí tưởngCách
mạng mà còn từ sự rung cảm bởi sự ấm áp của tình người nơi đất khách quê người Hóa
ra, miền Tây không chỉ có vẻ khắc nghiệt và hoang sơ mà ở đó còn đó những điều ấm áp,
thấm đượm tình thân ái, chất chứa bao kỉ niệm của người lính và buôn làng qua mùi xôi
nếp thơm lừng khói nghi ngút:
“Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói,
Trang 13Mai Châu mùa em thơm nếp xôi.”
Mở đầu câu thơ bằng cụm từ “nhớ ôi” đã diễn tả nỗi lòng nhớ nhung tha thiết của
một thời tuổi trẻ oanh liệt, khiến cho người đọc bị ấn tượng bởi một nỗi nhớ dạt dào,
chứa đựng đầy sự yêu mến mà người chiến sĩ đã dành cho miền Tây, cho “Mai Châu”,
cho “em” cùng món xôi nếp đặc sản nơi đây Hai chữ “mùa em” mang nhiều nétliên
tưởng đẹp Đó có thể là khi đoàn quân dừng chân giữa cánh đồng lúa chín, đón nhận
những bát xôi thơm thảo từ các cô gái ở Mai Châu, mùa của “em” thật thấm đượm ân
tình, hay còn là hình ảnh những cô gái xinh đẹp, tươi mát như hoa lá mùa xuân, cùng
nhau nấu những bữa cơm nghi ngút để thiết đãi người lính Nếu đất trời có bốn mùa
xuân, hạ, thu, đông thì hình ảnh những cô em Mai Châu được ví như một
“Tiếng hát con tàu”:
“Anh nắm tay em vào cuối mùa chiến dịch
Bát xôi nuôi quân em giấu giữa rừng.”
Bao nhiêu mỏi mệt dường như tan biến khi đoàn quân nhận được sự tiếp đón nồng
hậu của người dân buôn làng Dẫu cho có kiệt sức, khổ cực đến đâu thì chỉ cần một bát
cơm “lên khói” cũng đủ để xua tan hết những giá lạnh ngoài kia, chỉ còn đọng lại vị cơm
Trang 14tuy đơn sơ nhưng chưa bao giờ thôi ấm nóng Ai nói đất miền Tây chỉ có đoàn quân trơ
trọi cất bước trong thiên nhiên vắng lặng, các anh có những người dân chân chất, thật thà,
mến khách kia mà, thương cho anh bộ đội ướt dẫm sương vai Cứ như vậy, bát cơm dẻo
ở đất Mai Châu của các chị, các em khiến các anh thưởng thức chỉ một lần nhưng hương
vị đọng mãi nơi đầu lưỡi Bát xôi nếp không chỉ lấp đầy chiếc bụng rỗng tuếch
mà nó còn
tiếp thêm cho những người lính ý chí, nghị lực bởi anh biết phía sau luôn có những người
dõi theo, sẵn sàng đưa bát xôi nếp khi anh cần
Cuộc kháng chiến chống Pháp kéo dài suốt chín năm đã mang đến cho cuộc đờingười dân Việt Nam thật nhiều mất mát, đau thương Những người mẹ mất con,
Trang 15đời, đã dành trọn thanh xuân của mình cho đất nước; các anh đã góp phần khiếncho
người dân tiếp tục sống, chim muông tiếp tục hót vang và vạn vật vẫn vận hành theo cái
cách nó được sinh ra
Cùng bút pháp lãng mạn xen lẫn với hiện thực, nhà thơ Quang Dũng không chỉ đưa
đến độc giả tinh thần lạc quan, yêu đời của người lính mà còn là vẻ đẹp tâm hồnthật lãng
mạn, hào hoa những cũng rất hào hùng, khiến cho tác phẩm trở thành một dấu son khó
quên trong dòng chảy thời gian
Thời gian đã lướt qua những cuộc chiến tranh bom đạn trong quá khứ để rồi giờđây, ta được sống trong sự thái bình, thế nhưng trong lòng mỗi người vẫn khôngthể quên
đi hình ảnh các anh ở chốn rừng sâu chinh chiến Những người lính vẫn sống mãi với non
sông, gấm vóc, với Tổ quốc thân yêu Đoạn thơ dù đã đến dấu chấm kết nhưng hình ảnh
đoàn quân Tây Tiến vẫn còn ở đó, truyền lại cho thế hệ sau về lòng quả cảm, kiên cường,
coi thường gian khổ và không bao giờ được bỏ cuộc
Nói về tây tiến , nhà giáo Lương Duy Cán từng viết: “ Có những ngày tháng không thể quên, cái
gian khổ ác liệt không thể quên , cả cái hào hùng lãng mạn cũng không thể quên May mắn thay giữa
những ngày tháng không thể quên ấy , lại có những bài thơ không thể quên ,
Trang 16như Tây Tiến của Quang
Dũng.” Thật vậy, ba mươi tư câu thơ mang tựa đề Tây Tiến ấy, dù đã hơn bảy thập kỉ trôi qua, năm
tháng đã phủ bụi nhưng mỗi khi cất lên lại làm sống dậy trong lòng người đọc những xúc cảm sâu sắc
ấn tượng về đoàn quân Tây Tiến, vẻ đẹp hào hoa, phong nhã mà hào hùng của những người lính mười
tám , đôi mươi ra đi “ quyết tử cho tổ quốc quyết sinh’’, hòa cùng nỗi nhớ thương dạt dào của Quang
Dũng khi chắp bút viết lên thi phẩm này, đặc biệt là trong mười bốn câu thơ đầu– tựa như những
thước phim tái hiện khung cảnh thiên nhiên và đậm khắc hình ảnh người lính trên chặng đường hành
quân nhiều khó khăn gian khổ :
“ Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi !
Nhớ về rừng núi , nhớ chơi vơi
Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói,
Mai Châu mùa em thơm nếp xôi “
Tây Tiến là một đơn vị quân đội thành lập đầu năm 1947, có nhiệm vụ phối hợpvới bộ đội Lào
bảo vệ biên giới Việt-Lào cũng như miền tây bắc bộ Việt Nam.Những chiến sĩ Tây Tiến , phần
đông là thanh niên Hà Nội , trong đó có học sinh , sinh viên như Quang Dũng, chiến đấu trong
hoàn cảnh gian khổ , thiếu thốn về vật chất và đặc biệt là họ phải đương đầu vớicăn bệnh sốt rét
hoành hành nơi núi rừng hiểm trở, sương lấp, mưa xa, tuy vậy, bằng trái tim
Trang 17viết lên “ Nhớ Tây Tiến” với thật nhiều thương nhớ trong một lần công tác ở Phù Lưu Chanh
năm 1948 , mà về sau khi in trong tập “ Mây đầu ô “ ông đổi thành “ Tây Tiến” bởi lẽ từng câu ,
từng chữ đều thấm đượm nỗi nhớ thương da diết
Từ những câu thơ đầu của bài thơ ,Quang Dũng như đã góp nhặt , lượm lặt cả muôn vàn nỗi nhớ
trong lòng để cất lên một tiếng gọi thật tha thiết , da diết như khứ hồi những hoài niệm :
“ Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi !
Nhớ về rừng núi , nhớ chơi vơi “
Nhớ về Tây Tiến ,Quang Dũng nhớ về sông Mã đầu tiên – con sông khơi nguồncủa nỗi nhớ ,
con sông như chứng nhân lịch sử đã gắn bó với trung đoàn Tây Tiến từ thuở nào, chứng kiến ,
cùng trải biết bao kỉ niệm, gian truân , vất vả và còn có cả những mất mát đau thương đã hằn
mãi Trước mắt người đọc dòng sông Mã hiện lên , chảy trôi giữa rừng núi miềnTây hoang sơ ,
hùng vĩ , dọc theo địa bàn biên giới Việt Lào thuộc các tỉnh Mộc Châu , Sầm Nứa ,Mai Châu ,
Quan Hóa Hai tiếng “ xa rồi “ cất lên như cuộn xoáy vào lòng người đọc một nỗi niềm khó tả ,
bởi nỗi nhớ về sông Mã chỉ vừa mới nhen nhóm lên thôi thì hiện thực đã bủa vây rằng đó chỉ còn
là một thời đã xa , đã lùi vào dĩ vãng , đã xa đến không thể chạm tới một lần nữa, khiến nhà thơ
phải bật lên tiếng gọi tha thiết “ Tây Tiến ơi” Câu thơ chia thành hai vế trong nhịp ngắt 4/3
với sự hiện diện của cả miền Tây và trung đoàn Tây Tiến , cùng vần “ ơi “ , dấu chấm cảm làm
cho câu thơ như được ngân dài hơn cùng với nỗi nhớ dường như không thể đóng khung trong
sóng lòng của thi nhân nữa mà bật thành tiếng thơ tha thiết :
“ Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi “
Câu thơ mang âm điệu nhẹ nhàng , khiến cho lời thơ trở nên nhẹ bẫng , khiến
Trang 18cho nỗi nhớ dường
như đang phiêu du , bồng bềnh , vừa mênh mang vừa sâu lắng , như chênh chao giữa hai bờ hư
ảo.Từ láy “ chơi vơi” là từ láy vần mang theo cảm giác thật mơ hồ , khiến cho lòng người đọc
không khỏi xao xuyến , vấn vương nêu nổi bật mức độ và tính chất của nỗi nhớ.Quang Dũng là
dùng từ này rất sáng tạo bởi , xưa nay người ta chỉ hay dùng nó để diễn tả nỗi nhớ trong tình yêu
,như Xuân Diệu từng viết :
“ Sương nương treo trăng ngừng lưng trời
Tương tư nâng lòng lên chơi vơi “
( Nhị Hồ - Xuân Diệu )
Chỉ với hai từ “ chơi vơi “ đầy sáng tạo của mình , Quang Dũng đã như thổi vàocâu thơ nỗi nhớ
miền tây ăm ắp , đầy tràn , cùng với điệp âm “ ơi – chơi – vơi “ là âm mở , gợi
âm điệu ngân nga
lan tỏa khắp câu thơ Những địa danh “ sông Mã “ , “ rừng núi “ hiện lên ngay
từ đầu câu thơ
như suối nguồn gợi mở cho sự tuôn trào những câu thơ sau , nơi sự khắc nghiệt của rừng núi ,
của con sông với bao “thác gầm thét” dữ dội , chực chờ nuốt chửng con người
Có thể nói , hai câu thơ đầu đã thâu trọn cảm hứng chủ đạo của đoạn thơ nói riêng và bài
thơ nói chung , ấy là niềm tha thiết của người cựu chiến binh Tây Tiến hướng
về miền tây sơn
cước , về trung đoàn Tây Tiến nghĩa nặng tình sâu và những năm tháng hào hùng , bi tráng ,
không thể nào quên
“ Trong tâm hồn của con người đều có cái van mà chỉ có thơ ca mới mở được “ ( Nhêcoraxop)
Có những tình cảm, nỗi nhớ đôi lúc khó diễn tả bằng lời nhưng khi chạm đến địa hạt thơ ca , nó
lại nảy nở dạt dào, thơ ca mang sứ mệnh của mình là bọc đùm những tình
cảm,nỗi nhớ ấy ,
truyền tải nó đến mọi người Mười hai câu thơ tiếp chính là những tình cảm , nỗi nhớ mang
Trang 19hình hài của thơ, để mà hướng về những kỉ niệm với thiên nhiên , con người trên chặng đường
hành quân gian nan , vất vả của đoàn quân Tây Tiến qua vùng rừng núi miền tây.Bằng ngòi bút
tài hoa , lãng mạn nhưng chân thực , hào hùng , Quang Dũng đã kí họa một bức tranh thiên nhiên
miền tây heo hút , hiểm trở nhưng cũng hùng vĩ thơ mộng và xiết bao kì thú từ tất cả tấm lòng
của mình
Ẩn hiện đầu tiên trên nền của bức tranh miền tây trong kí ức của Quang Dũng chính là
màn sương rừng mờ ảo của thiên nhiên , màn sương giăng lấp đầy kỉ niệm :
“ Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi
Mường Lát hoa về trong đêm hơi”
Có thể nói, Sài Khao và Mường Lát là những địa chỉ tiếp theo trên bản đồ tìm
ngắt 4/3 khiến trọng tâm câu thơ rơi vào từ “ lấp” – một động từ có sức gợi tả ,
tô đậm cái hiện
thực khắc nghiệt , rót vào lòng người đọc những hình dung cụ thể về những vất
vả , gian lao của
những người lính Tây Tiến trên chặng đường hành quân vất vả , gian lao giữa rừng già hoang vu
, lạnh giá Dù chân có lẽ đã mỏi , sức có lẽ cũng đã vơi nhưng bản lĩnh thép
Trang 20cùng ý chí gan góc ,
sự kiên định bước tiếp của họ vẫn sáng ngời trong ý thơ
Nếu ở câu thơ trên , Quang Dũng dùng bút pháp hiện thực để tái hiện những khắc
nghiệt của núi rừng miền tây thì đến câu thơ tiếp theo , hiện thực đã được thi vị hóa , lãng mạn
hóa.Đặc điểm trong thơ ca muôn đời vẫn là “ ý tại ngôn ngoại” , “ một câu thơ hay là một câu
thơ có nhiều sức gợi” ( Lưu Trọng Lư ),tức là ngoại giới của câu thơ là những
dư vang chưa
thành hình cần độc giả sử dụng tài năng và tâm huyết của mình , dốc tâm tư , tình cảm để lấp
đầy “ khoảng lấp” mà đến với tư tưởng tác giả Câu thơ “ Mường Lát hoa về trong đêm hơi” của
Quang Dũng cũng là một câu thơ giàu sức gợi như thế , chỉ một từ “hoa” đã gợi lên nhiều trường
liên tưởng độc đáo Đó có thể là những ngọn đuốc soi đường di chuyển dọc đường hành quân
của người lính , vì trong đêm hơi nên chúng mập mờ , tỏa ánh sáng lung linh như những đóa hoa
Hay còn thể hiểu đó là hương hoa thơm thảo , mộc mạc của gió , của sương ướp thành , lan tỏa
trong đêm ? Có chăng nó còn có thể là sự ý nhị của nhà thơ khi muốn nhắc đến những cô gái
miền tây có đôi mắt long lanh , có nụ cười xinh như hoa đang trên đường về ? hoặc “ hoa” lại là
hình ảnh các anh – những chàng trai Tây Tiến đang dùng lí tưởng và sự kiên tâm để soi rạng con
đường hành quân , đầy ắp niềm tin , hy vọng , nghị lực ? Dù hiểu theo nghĩa nàothì hình ảnh
“hoa về trong đêm hơi” cũng phảng phất dư vị ngọt ngào , lãng mạn trong màn đêm mịt mờ Câu
thơ bảy chữ có đến sáu chữ dùng thanh bằng , tạo nên tính nhạc , cảm giác dịu
Trang 21cạnh lãng mạn ,
tinh thần lạc quan đậm chất nghệ sĩ của người lính Tây Tiến
Nếu trong khúc dạo đầu của bức tranh thiên nhiên miền Tây Bắc , nhà thơ “ Mây ở
đầu ô mây lang thang ” dùng những nét vẽ mềm mại, tình tứ thì đến những câu thơ này nhà thơ
lại dùng những nét vẽ góc cạnh, gân guốc, sắc nhọn để mở ra trước mắt người đọc khung cảnh
thiên nhiên hùng vĩ , hiểm trở của núi dốc , đèo cao , vực thẳm mà những người lính phải hành
quân qua :
“Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm
Heo hút cồn mây súng ngửi trời
Ngàn thước lên cao ngàn thước xuống”
Từng con dốc cao thật cao , tưởng chừng như cao đến vô cùng , trùng trùng , điệp điệp , nối liền
với nhau Câu thơ có bảy chữ thì có tới năm thanh trắc , ngòi bút Quang Dũng thật tài tình gây
một ấn tượng sâu sắc với người đọc về một địa thế gồ ghề , hiểm trở , thăm thẳm dốc lên , dốc
xuống.Cách sử dụng từ láy “ khúc khuỷu” như một nét bẻ gập cho câu thơ ,tạo thế núi hoang
dại, khủng khiếp , con dốc này chưa qua , còn dốc khác đã đợi sẵn , vừa vút cao vừa đổ xuống
đến chóng mặt Chúng như thách thức , chực chờ để quật ngã các anh – những người kính vệ
quốc quân nhưng đáp lại “ tấm lòng” đó là một ý chí còn bền gan , vững lòng hơn Dốc có thể
cao đấy , vô cùng , vô lượng đấy nhưng làm sao bằng tình yêu của các anh dànhcho tổ quốc
Ngay từ khi dứt áo ra đi, hành lí giá trị nhất mà các anh luôn mang bên mình là một tâm thế đầy
khí phách và kiên cường , một niềm tin vào lí tưởng Đảng soi sáng , vì vậy dù bước đi trong gian
khổ, hiểm trở, thách thức , các anh vẫn vui vẻ đón nhận bằng một tinh thần lạc quan nhất ,pha
Trang 22chút tinh nghịch của những người lính trẻ, nét hào hoa làm sống dậy cả một thờiđại qua câu thơ :
“ Heo hút cồn mây súng ngửi trời”
Ta ngỡ như các anh đang đi trong mây , băng băng qua những đỉnh núi cao mù sương , những
cồn mây cao vun vút , heo hút tận chân trời , để chiếm lĩnh đỉnh cao nhất , không chỉ là đỉnh cao
của thiên nhiên Tây Bắc mà còn là đỉnh cao của sự chiến thắng từ nghị lực và sựkiên cường.Từ
lấy “ heo hút’’ được đảo lên đầu câu , vừa gợi cao , vừa gợi xa , vừa gợi vắng , mang lại ấn tượng
về sự hoang sơ , xa vắng , thăm thẳm như vô tận của dốc núi miền Tây trong cảm nhận của chiến
sĩ Tây Tiến – những chàng trai tới từ thủ đô hoa lệ.Và chính trong không gian cheo leo , hiểm trở
ấy , hình ảnh “súng ngửi trời” hiện lên thật đẹp , làm nổi bật bản lĩnh làm chủ của người lính ,
toát lên tư thế hiên ngang , nét tinh nghịch như thách thức ngược lại của người lính.Ta đã từng
bắt gặp một hình ảnh này trong một số bài thơ cùng thời khác : “đầu súng trăng treo” ( Đồng
Chí- Chính Hữu ) hay “ ánh sao đầu súng” ( Việt Bắc – Tố Hữu) Nếu súng là hiện thân của
chiến tranh khốc liệt , của những đớn đau , mất mát thì trời lại mang màu xanh , khát vọng của
hòa bình , tự do , độc lập , của tương lai tươi đẹp , là đích đến hạnh phúc mà người lính hướng
đến , mong mỏi hằng đêm Vì vậy hình ảnh “ súng ngửi trời” mang một ý nghĩa nhân văn đó là
khát vọng hòa bình của chúng ta đã gần vươn tới trời xanh, được thanh thiên ủng hộ , nhờ kết
hợp giữa bút pháp hiện thực và lãng mạn , Quang Dũng là tạo lên hình ảnh thơ sống động , giàu
ý nghĩa
“ Ngàn thước lên cao , ngàn thước xuống”
Điệp ngữ “ ngàn thước’ là một ước lệ nghệ thuật cùng cặp động từ tương phản “lên- xuống”
Trang 23diễn tả sống động một miền đất cheo leo , gập ghềnh, nửa đầu như đưa ta lên cao đến tận chân
mây , nửa sau lại dốc xuống đột ngột như chính địa hình khúc khuỷu , điệp trùng nơi đây , mang
lại một cảm giác chân thực , sống động như cách ta từng chứng kiến trong “Lên Tây Bắc “ của
Tố Hữu :
“ Rất đẹp hình anh lúc nắng chiều
Bóng dài trên đỉnh núi cheo leo
Núi không đè nổi vai vương tới
Lá ngụy trang reo với gió đèo”
Vượt qua bao sương xa , cheo leo những dốc núi gập ghềnh, thăm thẳm ngàn thước đổ , trung
đoàn Tây Tiến còn phải đối mặt với những mênh mông lạnh giá của những cơn mưa xa khơi nhạt
nhòa đặc trưng của thiên nhiên Tây Bắc :
“ Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi”
Cuối cùng thì sau một chặng đường dài gian lao, đoàn quân cũng cảm nhận được hơi thở của
cuộc sống nơi đây , đó là những ngôi nhà của người dân bản làng Pha Luông trong một ngày
mưa tầm tã và rét mướt.Câu thơ toàn thanh bằng cùng âm mở vang lên mang nhiều cảm xúc
bâng khuâng , xao xuyến, cơn mưa rừng xa khơi ấy khiến cho người lính không tránh khỏi cảm
giác nhớ nhà thiết tha: nhớ quê hương , bố mẹ , bạn bè , nhớ ánh lửa bập bùng nơi gian bếp , nhớ
mâm cơm quây quần cùng gia đình thân thương Đại từ phiếm chỉ “ai’’ khiến cho hai chữ “nhà
ai” càng trở nên sao mà da diết , tha thiết đến thế ! Quang Dũng đặt điểm nhìn
Trang 24“Chiều chiều oai linh thác gầm thét
Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người “
Bằng thủ pháp nhân hóa “ thác gầm thét” và “ cọp trêu người” nhà thơ đã lột tả được sự dữ dội
của núi rừng miền tây, cứ văng vẳng bên tai ta tiếng thác đổ từ trên cao xuống, chất ngất lưng
trời , bọt tung trắng xóa thật hùng vĩ hay trong đêm đen mịt mù tiếng bước chân cọp muốn trêu
người, rình rập , đe dọa Hai câu thơ đối cân xứng còn nhờ trạng từ “chiều chiều
hiên ngang , phi thường Nếu câu trên có tiếng “thác,thét” mang thanh trắc ở
âm vực cao thì câu
dưới lại là các tiếng “hịch , cọp” mang âm vực thấp , dấu sắc của câu trên gợi
“bỏ quên đời” với ý chí “ quyết tử cho tổ quốc quyết sinh” :
“ Anh bạn dãi dầu không bước nữa
Trang 25Gục lên súng mũ bỏ quên đời”
Quang dũng tinh tế sử dụng từ “dãi dầu” mộc mạc ,giản đơn nhưng đã toát lên tất thảy những
điều chân thực nhất về cuộc đời của người lính , vất vả , khó khăn , thiếu thốn, ngày qua ngày
đều phơi mình với sương gió và hơn hết còn là căn bệnh sốt rét nơi rừng già đã khiến các anh
“không bước nữa”- đó có thể là một giấc ngủ ngắn trong những phút dừng chân
Một bàn tay chưa dời báng súng
Chân lưng chừng nửa bước xung phong
Ôi những con người mỗi khi nằm xuống
Vẫn nằm trong tư thế tiến công !”
Những người lính dù ngã xuống vẫn không hề nằm trong tư thế ngơi nghỉ mà đến hơi thở cuối
cùng của cuộc đời họ vẫn hiên ngang giữ vững tư thế chiến đấu ,vẫn giữ trọn vẹn lời thề với tổ
quốc Hai câu thơ phảng phất nét buồn những không hề bi lụy mà rất dứt khoát
Trang 26bi tráng , tự hào , mang một vẻ đẹp hào hùng của người lính can đảm , kiên trung , vượt lên
những thử thách khắc nghiệt để tiến về phía trước
“Thơ là sự thể hiện con người và thời đại một cách cao đẹp” ( Sóng Hồng ) , nhà thơ phải
mở lòng mình để đón lấy những vang động của cuộc đời , phải dùng đôi mắt nhìn thấu hiện thực
, và trái tim ấm nóng của chính mình để dệt nên những vần thơ lấp lánh , óng ánh Có thể nói
những nhà thơ mặc áo lính thời đại này đã thực sự hòa mình vào khí thế của thời đại, họ vừa
đánh giặc , vừa làm thơ ghi lấy cuộc đời mình , cuộc đời của cả dân tộc.Viết về chặng đường tuổi
trẻ mang tên Tây Tiến , Quang Dũng luôn tràn ngập tinh thần lạc quan ngay chính trên những
hoang lạnh ,gai góc , hiểm nguy rình rập của đời lính, ý chí kiên cường ấy không chỉ là từ tình
yêu quê hương đất nước , từ nỗi nhớ hay lí tưởng cách mạng mà còn từ sự cảm động bởi tình
người ấm áp nơi đất khách , quê người Song hành cùng sự khắc nghiệt và hoang sơ , miền Tây
còn gây ấn tượng bởi những điều ấm ấp , quyện thấm ân tình , chan chứa bao kỉ niệm giữa những
người chiến sĩ và bản làng nên thơ với mùi xôi nếp thơm lừng , nóng hổi :
“Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói
Mai Châu mùa em thơm nếp xôi”
Cụm từ cảm thán “nhớ ôi” diễn tả nỗi lòng thiết tha , thương nhớ một thời tuổi trẻ oanh liệt ,
khiến cho người đọc càng thêm ấn tượng bởi một nỗi nhớ bội phần da diết – một nỗi nhớ vẹn
nguyên mà người chiến sĩ dành cho mảnh đất miền Tây , cho Mai Châu , cho
Trang 27thơm thảo từ những cô gái ở Mai Châu , mùa của lúa chín, mùa em thấm đượm
thơ của Chế Lan Viên trong “Tiếng hát con tàu” :
“ Anh nắm tay em vào cuối mùa chiến dịch
Bát xôi nuôi quân em giấu giữa rừng”
Bao nhiêu mỏi mệt , rã rời như tan biến hết khi các anh được dân bản làng miền núi đón tiếp
nồng hậu , mùi cơm lên khói bốc lên nghi ngút , thơm thảo như xua đi hết thảy bao nhiêu lạnh
buốt , giá rét , chỉ còn lại mảnh chân tình của người dân miền tây chân chất , mộc mạc , thật thà ,
mến khách Cứ như vậy bát cơm nếp dẻo thơm đất Mai Châu của các bà , các
các anh vượt lên trên gian khổ
Năm tháng đã đi qua , hòa bình đã thắp sáng trên đất nước Việt Nam nhưng những kí ức ,mảnh
vỡ mãi chưa lành về cuộc kháng chiến chống Pháp trường kì gian khổ của dân tộc vẫn còn đó ,
đó là nỗi đau mẹ mất con , vợ mất chồng , con mất cha và có những gia đình –
Trang 28, yêu đời của
người lính Tây Tiến , vẻ đẹp hào hoa , hào hùng trên nền của bước tranh thiên nhiên Tây Bắc
Mười bốn câu thơ đã thành công phác họa về bức tranh thiên nhiên với những đường nét đậm đà
phong vị miền Tây với những dốc đèo cheo leo , thác nước gập ghềnh , hùng
Việt Nam , sẽ sống mãi hình ảnh những anh vệ quốc quân “ gục lên súng mũ ,
bỏ quên đời” hiên
“ Kính chào Anh , con người đẹp nhất
Lịch sử hôn Anh , chàng trai chân đất
Sống hiên ngang , bất khuất trên đời
Như Thạch Sanh của thế kỉ hai mươi.”
Trang 29Mỗi chữ phải là hạt ngọc buông xuống trang bản thảo Hạt ngọc mới nhất
mình tìm được, do phong cách riêng của mình mà có ” ( Tô Hoài ) Mỗi một tácphẩm, dù là thơ hay truyện đều thể hiện những chủ đề trong văn chương, cóhàng trăm bài viết về thiên nhiên, hàng trăm bài viết về quê hương, đất nước song tất cả đều phải toát lên được phong cách riêng , hồn thơ riêng của từngnhà văn, nhà thơ – đó chính là hạt ngọc của họ Bài thơ “Tây Tiến” là tượngtrưng cho vẻ đẹp hạt ngọc hồn thơ của Quang Dũng Hồn thơ lãng mạn, tài hoa,phóng khoáng ấy cùng với mảnh đất Tây Tiến đầy thử thách, quyến rũ đã tạonên thi phẩm “Tây Tiến” khắc họa hình ảnh thiên nhiên miền Tây sơn cước hếtsức độc đáo với hình ảnh người lính đầy ấn tượng, đặc biệt qua khổ thơ đầu:
“ Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi!
Nhớ về rừng núi, nhớ chơi vơi
Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi
Mường Lát hoa về trong đêm hơi
Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm
Heo hút cồn mây, súng ngửi trời
Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống
Trang 30Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi
Anh bạn dãi dầu không bước nữa
Gục lên súng mũ bỏ quên đời!
Chiều chiều oai linh thác gầm thét
Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người
Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói
Mai Châu mùa em thơm nếp xôi ”
Nhà thơ Quang Dũng là đại đội trưởng ở đơn vị Tây Tiến từ đầu năm 1947,rồi sau đó chuyển sang đơn vị khác Từ đó, Tây Tiến đã trở thành một phần kí
ức, hoài niệm khó phai trong ông, để sau này, vào năm 1948, tại làng Phù LưuChanh, bài thơ “Nhớ Tây Tiến“ sau đổi thành “Tây Tiến“ in trong tập “Mây đầuô“ đã ra đời cùng biết bao cảm xúc Có thể nói, “Tây Tiến” là một bài thơ xuất
sắc, một kiệt tác của thơ ca hiện đại với gam màu không thể lẫn trong thơ cacách mạng nước ta
Như món quà đến từ tạo hóa, thiên nhiên của vùng Tây Bắc là sự hòa quyệngiữa hai vẻ đẹp trái ngược: hùng vĩ dữ dội và trữ tình thơ mộng Mỗi vẻ đẹp lạimang theo những nét khác nhau nhưng đều cùng thể hiện những điểm đặc
biệt, những nét rất riêng mà chỉ có ở miền Tây sơn cước
Khúc dạo đầu của nỗi nhớ được nhà thơ mở ra ở ngay hai câu thơ đầu
mang theo tiếng gọi tha thiết từ miền kí ức thuở nào:
“ Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi!
Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi “
Tiếng gọi ấy vang lên với cả tâm can, nghẹn ngào, da diết Nhớ về Tây Tiến,Quang Dũng nhớ đến sông Mã đầu tiên, bởi đó không phải là dòng sông bìnhthường mà là người bạn đồng hành với người chiến sĩ trong những bước điđầu tiên của họ trên mảnh đất này Sông Mã, dòng sông chảy dọc theo biên giớiViệt – Lào, chảy dọc theo con đường hành quân của những người lính “ Chứngnhân lịch sử “ ấy đã dõi theo các chiến sĩ, âm thầm bên họ, nhìn họ từng bướcvững vàng trên con đường hành quân đầy gian khó Những ngày tháng ấy, trảiqua gian khổ biết bao, nhưng nào có ai nỡ quên, bởi vì khi “xa rồi” lòng vẫnnhớ bồi hồi, da diết Ba tiếng “Tây Tiến ơi!” vang lên như ngân dài, đọc xong
mà vẫn còn mãi âm vang trong lòng Quang Dũng đã nhớ về rừng, nhớ về núi ởTây Bắc, nhớ về những thứ ông đã gắn bó trong chặng đường chiến đấu, đó làmột nỗi nhớ “chơi vơi” – nhớ về những thứ mà chúng ta không thể chạm vàonữa, mãi không thể trọn vẹn như ban đầu
Nỗi nhớ chơi vơi ấy đã dẫn tác giả đi miên man trong thế giới thơ, để dìu
Trang 31tâm hồn Quang Dũng một lần nữa trở về với những ngày tháng đã qua, vẽ nênthiên nhiên Tây Bắc với vẻ đẹp hùng vĩ, dữ dội:
“ Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi
Mường Lát hoa về trong đêm hơi “
Hình ảnh “sương” có lẽ đã không còn xa lạ đối với các độc giả Ta đã từngbắt gặp “sương giăng” trong “Tiếng hát con tàu” của Chế Lan Viên, đã từngngẩn ngơ với “ sương chùng chình” trong “Sang thu” của Hữu Thỉnh, đó đều
là những hình ảnh sương mang theo nét dịu dàng, nhẹ nhàng, huyền ảo và đầylãng mạn Thế nhưng, đến với “Tây Tiến” của Quang Dũng, “sương” không còn
là hình ảnh lãng mạn nữa mà trở thành thứ khắc nghiệt của thiên nhiên miềnTây, là thứ làm cản trở tầm nhìn của những người lính Mang theo không khílạnh giá, màn “sương lấp” quấn lấy bóng hình người nghệ sĩ, len lỏi trong cỏcây, trắng xóa như phủ kín cả mảng rừng Tây Bắc Làn “sương lấp” trong “đêmhơi” – màn đêm lạnh lẽo buốt giá đầy khắc nghiệt của núi rừng Tây Bắc nhưmuốn giam giữ con người ta vào một không gian đáng sợ, một thế giới ngútngàn Không dừng tại đây, vẻ đẹp hùng vĩ dữ dội của thiên nhiên Tây Bắc cònđược Quang Dũng tiếp tục vẽ lên một cách tài tình:
“ Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm
Heo hút cồn mây súng ngửi trời
Ngàn thước lên cao ngàn thước xuống “
Câu từ, ngôn ngữ là chất liệu của văn chương, là công cụ của nhà thơ, là đôicánh nâng lên hình tượng mà người viết muốn thể hiện Quang Dũng đã dùngđôi cánh ấy để tạo nên từng đường nét gồ ghề, dứt khoát, tạo nên bức tranhthiên nhiên hùng vũ dữ dội đầy khắc nghiệt Từng con dốc cứ nối tiếp nhau,trùng trùng, điệp điệp, cứ lên tận cao rồi lại sâu thăm thẳm ở phía dưới Trongcâu thơ đầu tiên, những vần trắc xuất hiện dày đặc tạo nên âm hưởng gập
ghềnh, đầy hiểm trở Đường dốc ấy, khi lên thì khúc khuỷu, khó đi, khi xuốngthì sâu “ thẳm thẳm” , hun hút Các từ láy “khúc khuỷu”, “thăm thẳm” sử dụngtrong cùng một câu thơ đã chạm khắc nên những đường dốc khiến chúng hiện
ra với đầy gian nan, thử thách Cùng với từ “ cồn mây” càng thể hiện rõ độ caocủa dốc núi, dốc núi ấy như vươn tới mây trời cao vời vợi, như chạm tới tầngcao nhất của không gian Trên con đường hành quân của những người línhkhông chỉ xuất hiện nhiều thử thách mà còn “heo hút”, hoang sơ, vắng vẻ,
tưởng chừng như xung quanh chỉ có núi rừng, cỏ cây bầu bạn
“ Ngàn thước lên cao ngàn thước xuống “
Trang 32Câu thơ như đột ngột bị bẻ đôi, nửa đầu thì đưa ta đến tận cùng, nửa sau
thì lại bất ngờ “gập” xuống một cách cực kì dứt khoát Điệp từ “ ngàn thước”cùng các động từ đối lập “lên” – “xuống” càng diễn tả rõ ràng, giúp người đọchình dung về một địa hình hiểm trở, đầy khó khăn mà cũng rất hùng vĩ của núirừng miền Tây
Bên cạnh những hiểm nguy, khó khăn, khắc nghiệt và sự hùng vĩ, thiên
nhiên miền Tây còn là những dữ dội, hoang sơ của núi rừng với tiếng gầm thétcủa thác nước, với hình ảnh vị “ chúa tể sơn lâm “ đầy đe dọa, hiểm nguy:
“ Chiều chiều oai linh thác gầm thét
Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người “
Chỉ với hai câu thơ, chỉ với hai hình ảnh nhân hóa “thác gầm thét” và “cọptrêu người”, Quang Dũng đã tài tình lột tả sự dữ dội của thác ghênh trên nềncủa rừng già uy linh cùng với bước chân trĩu nặng của loài thú, song song vớiviệc sử dụng luật hài thanh đầy thú vị, những thử thách khắc nghiệt của chốnrừng thiêng nước độc ngày càng trở nên khó khăn hơn bao giờ hết, đó chính là
sự dữ dội của thiên nhiên miền Tây sơn cước Trạng ngữ “chiều chiều” songsong đăng đối với trạng ngữ “đêm đêm” chỉ dòng thời gian lặp lại, ngày nốingày, đêm nối đêm, khi ánh sáng của buổi chiều tà nhạt dần về phía chân trời,màn đêm sẽ ôm lấy, ngự trị nơi núi rừng hiểm nguy Những nét vẽ đầy khỏekhoắn, lại hoang dại đã điểm tô trên bức tranh núi rừng miền sơn cước, thểhiện đậm vẻ dữ dội tận cùng
Thiên nhiên dẫu khắc nghiệt, khó khăn nhưng cũng không thể làm chùn
bước chân của những người lính, bởi họ có lí tưởng và sống vì lí tưởng đó,quyết tâm, kiên cường vì nó Quang Dũng không chỉ đặc tả về một thiên nhiênhùng vĩ dữ dội mà bên cạnh vẻ đẹp đó, nhà thơ còn khám phá ra một Tây Bắcđầy thơ mộng trữ tình:
“ Mường Lát hoa về trong đêm hơi “
Hình ảnh “hoa” đã được tác giả “ảo hóa, lãng mạn hóa” mang theo nhiều ýnghĩa, gợi tả nhiều hình ảnh thơ mộng khiến người đọc có nhiều chiều liêntưởng đầy thú vị Hoa ấy, là hoa của núi rừng Tây Bắc quyện vào trong hương
gió sương giá rét? Là những nàng hoa ở Mường Lát với vẻ đẹp nữ tính, đằmthắm cùng nụ cười tươi như hoa mùa xuân nở rộ? Là những người chiến sĩ –bông hoa của Tổ quốc đang ngày đêm hành quân bền bỉ? Hay là những câyđuốc sáng soi trên con đường hành quân đầy vất vả? Cách hiểu nào cũng đẹp
và hay, cũng đều phảng phất dư vị ngọt ngào, lãng mạn, bóng dáng hào hoa củamột hồn thơ người nghệ sĩ “ xứ Đoài mây trắng “ Và dư vị ấy tiếp tục được nhà
Trang 33thơ thể hiện ngay sau những câu thơ diễn tả sự dữ dội, Quang Dũng đã khéoléo kéo người đọc trở về với những hình ảnh lãng mạn , rung động:
“ Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi “
Giữa không gian núi rừng ấy, hình ảnh mái nhà xuất hiện mang theo sự ấm
áp, êm đềm, bao trùm lấy không khí giá rét của rừng núi và ôm lấy, sưởi ấm lấytrái tim của những người lính xa quê hương, xa nhà, xa người thân đang ngàyđêm bước không mỏi Nỗi niềm nhớ nhà như ùa về với biết bao cảm xúc, bùingùi, bâng khuâng và nghẹn ngào biết mấy Sau bao khó khăn, dù đối mặt vớibao khó khăn ấy người lính cũng chẳng e sợ nhưng khi đối mặt với nỗi nhớnhà, ở sâu trong họ lại trở nên mềm mại, xúc động hơn bao giờ hết Bức tranhmàn mưa giăng cũng chẳng thể nào làm mờ đi những ngôi nhà mang theo ánhsáng của sự bình yên, đẹp đẽ ấy Thiên nhiên miền Tây đâu chỉ có hoang sơ, dữdội mà còn có những nét vẽ thơ mộng đầy trữ tình ,đầy huyền ảo
Nhà thơ đã phát hiện ra hai vẻ đẹp hết sức đặc biệt của núi rừng Tây Bắc
Phát hiện ấy đâu phải ngày một ngày hai liền nhận ra nếu như không dấn thân,trải nghiệm, và sống đến tận cùng với mảnh đất ấy? Quang Dũng đã như thế,
vẽ nên chiều sâu cho bức tranh thiên nhiên Tây Bắc và khéo léo đặt trên từngvần thơ của mình
Chặng đường hành quân gian nan, vất vả là như thế, thiên nhiên khắc nghiệtnhư muốn cản bước chân người đi là như thế, nhưng nào có đủ làm lung lay sựkiên cường, ý chí bền bỉ của những người chiến sĩ Giữa những nguy hiểm trậptrùng, giữa vùng núi Tây Bắc “ heo hút “ ấy vẫn sáng ngời hình ảnh, vẻ đẹp hòahùng và hào hoa, tâm hồn đáng quý của những người lính mang theo lí tưởng
vì dân vì nước cùng mối tình quân dân, tình đồng chí, đồng đội đậm đà, chanchứa yêu thương
Trên con đường hành quân của những người chiến sĩ, họ gặp biết bao là khókhăn, thử thách Họ gặp “sương” lấp kín lối đi ở Sài Khao, họ bị bao lấy bởinhững đêm tối lạnh lẽo ở Mường Lát, gặp thú dữ ở Mường Hịch gặp nhiềugian nan vô cùng nhưng những điều ấy làm sao cản được bước chân cùng ý chícủa những người lính kiên cường, mỗi một bước chân của họ là những bướcchân dát đá, là những bước chân chứa sức nặng của một ý chí bền bỉ, sắc soncùng lời thề với Tổ quốc Những con người hào hùng, những con người đángđược khâm phục và tự hào Hoài niệm về đoàn binh Tây Tiến, Quang Dũngkhông hề giấu giếm những thực trạng khó khăn, khắc nghiệt và cũng khônggiấu giếm những hiện thực đau lòng mà ông đã phải tận mắt chứng kiến:
“ Anh bạn dãi dầu không bước nữa
Trang 34Gục lên súng mũ bỏ quên đời!”
Nhà thơ nói về “anh bạn” là nói về những đồng chí, đồng đội của mình,
ngày ngày, đêm đêm đều phải thi gan cùng gian khổ, gió sương từ láy “dãidầu” đã thực sự diễn tả đều đó một cách vô cùng chính xác Chặng đường ấy cónhiều khó khăn, hiểm trở khiến các anh “không bước nữa” Là “không bướcnữa” trong giấc ngủ phút dừng chân? Hay là không bước nữa của một giấc ngủngàn thu? Người chiến sĩ ấy “gục trên súng mũ” hiên ngang, bất khuất, dù là
“gục” nhưng vẫn nhất quyết phải “gục trên súng mũ”, nhất quyết sát cánh cùngđồng đội của mình cho tới tận hơi thở, giây phút cuối cùng Quang Dũng đã vẽnên hiện thực đau thương ấy nhưng đồng thời ông cũng tinh tế lồng vào trong
đó những tinh thần bi tráng không khuất phục, “không bước nữa”, “ bỏ quênđời” đều là những cụm từ thể hiện sự chủ động đầy hiên ngang và kiêu bạc.Cũng chính ở chốn rừng thiêng nước độc ấy lại thấp thoáng sự hiện hữu đầy
vẻ hào hoa của các anh – những người lính Tây Tiến anh hùng Hình ảnh tuyệtđẹp của người lính ẩn hiện trong hình ảnh “súng ngửi trời” – một hình ảnhđậm chất lính Là đầu súng chạm tới chân mây, là lí tưởng của của các anh đãchạm tới nền trời xanh Các anh đã bước đi trên “cồn mây” và nay lại chạm đếnbầu trời, điều này không chỉ làm nổi bật bản lĩnh của người làm chủ mà còntoát lên sự yêu đời trẻ trung, tinh nghịch của người lính trẻ, khiến cho khôngkhí thời đại như sống dậy và tỏa sáng Như vậy, nét đẹp đầy hào hoa của
những người lính đã đến với người đọc bằng những hình ảnh tuyệt đẹp, gợihình, gợi cảm
Sau cùng, khổ thơ đầu bài “Tây Tiến” được khép lại trong hai câu thơ ấm
tình quân dân, tình đồng chí, đồng đội êm đềm, đó là mối tình đẹp đẽ mà bất
cứ người lính nào cũng không thể quên:
“ Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói
Mai Châu mùa em thơm nếp xôi “
Biết bao nỗi nhớ tha thiết như thế, chỉ với cụm từ cảm thán “nhớ ôi”, nỗi
lòng Quang Dũng như được bộc bạch hết cả Hai tiếng “Tây Tiến” lại một lầnnữa vang lên cho thỏa lòng nhớ mong Nhớ về rừng Tây Tiến đã từng oanh liệt,
đã từng ấm áp bát “cơm lên khói” hãy còn nóng hổi đượm tình quân dân Vànhớ đến Mai Châu, nhớ đến “mùa em” Từ trước tới nay, ta đã nghe bốn mùaxuân, hạ, thu, đông nhưng “mùa em” thì quả thật là một sáng tạo độc đáo gợinhiều ý nghĩa của Quang Dũng “Mùa em” hay là mùa lúa chín thơm rộn ràngmùi nếp với bát xôi của “em” trao cho anh thấm đượm ân tình? Hay là những
cô gái Mai Châu với bát xôi thơm thảo sưởi ấm lòng người? Những người chiến
Trang 35sĩ ấy, đã kề vai sát cánh bên nhau, đã cùng nhau thưởng thức những bát cơm,những bát xôi không chỉ thơm ngon mà còn tiếp thêm cho các anh những độnglực, niềm tin để vượt qua những gian khổ vẫn còn đang đợi chờ ở con đườngphía trước Những Mai Châu ấy, những “em”, những mùa, những nếp xôi,những cơm lên khói và Tây Tiến ấy như hòa cùng với nhau trong niềm nhớbâng khuâng, xa xôi, ngọt ngào không nói hết được.
Những người chiến sĩ Vệ quốc quân của chúng ta – những người anh hùng
ấy đã hiện lên trong những vần thơ của Quang Dũng mang theo vẻ đẹp hàohùng lại hào hoa, những con người ấy như ngôi sao rực sáng lên giữa cảnh núirừng ngút ngàn, và như Thạc sĩ Nguyễn Thị Tường Khanh chia sẻ : “ nhữngcon người bình dị mà cũng thật anh dũng, hiên ngang ấy là biểu tượng cao đẹp
sẽ sống mãi với thời gian, với non sông đất nước.“
Đợt sóng cồn của kí ức đã bị đánh thức, những niềm thương nỗi nhớ như rủnhau về bầu bạn với Quang Dũng Mảnh đất Tây Bắc ấy, mảnh đất nghĩa tìnhcủa kháng chiến, mảnh đất quyến rũ, say đắm lòng người, mảnh đất để trải
nghiệm và khám phá ấy đã hiện lên rõ ràng trong từng vần thơ của QuangDũng, những vần thơ thi trung hữa họa, thi trung hữu nhạc đậm đà hồn thơcủa ông Cùng với việc sử dụng hiệu quả nhiều biện pháp nghệ thuật: nhânhóa, điệp, đối kết hợp nhịp điệu, nhạc điệu, các thanh bằng trắc đầy tinh tế,khéo léo, đoạn thơ trên quả thật là dấu ấn góp phần tạo nên thành công bứctranh tuyệt đẹp về hình ảnh thiên nhiên miền Tây cùng vẻ đẹp người lính miềnbiên cương
Khép lại trang thơ “Tây Tiến” lòng ta vẫn không khỏi ám ảnh, bồn chồn
trước vẻ đẹp giữa hồn thiêng sông núi, say sưa với bình yên ở mái nhà PhaLuông, với ân tình bát cơm Tây Tiến, bát xôi Mai Châu Hơn cả, làm sao quênđược những chàng lính hào hùng, kiêu bạc lại hào hoa đến thế Vần thơ trong
“Tây Tiến” là những vần thơ rất có sức đọng, những vần thơ ấy sẽ sống mãi vớicuộc đời, và ngày càng tỏa sáng trên thi đàn thơ ca Việt Nam như cách mà nhàthơ Giang Nam từng viết:
“ Tây Tiến biên cương mờ lửa khói
Quân đi lớp lớp động cây rừng
Và bài thơ ấy, con người ấy
Vẫn sống muôn đời với núi sông “
Trang 36Mỗi lần nói về vùng núi Tây Bắc, ta lại không khỏi nhớ đến nơi đây đã từng cómột đoàn binh đầy oanh liệt thời kháng chiến Và bài thơ “Tây Tiến” của QuangDũng như một bút ký, ghi lại mọi dấu ấn trên những chặng đường hành quân của
binh đoàn ấy “Tây Tiến” được viết khi Quang Dũng đang tham gia một chuyếncông tác tại Phù Lưu Chanh Lúc này, nhớ về những người đồng chí, đồng đội của
mình, ông cho ra đời một bài thơ với sức sống trường tồn với núi sông “Tây Tiến”
Mặc dù gắn bó với binh đoàn Tây Tiến không lâu, nhưng những kí ức ấy dườngnhư đã ăn sâu vào trong xương máu ông Chính bởi cảm xúc nhung nhớ, hoài niệm
ấy thật mãnh liệt, mà xuyên suốt bài thơ “Tây Tiến” đã được bao trùm lên là cảmột nỗi nhớ mênh mông, vô cùng vô tận Mười bốn câu thơ đầu, Quang Dũng nhớ
về những chặng đường hành quân trên cái nền thiên nhiên Tây Bắc hùng vĩ đầykhó khăn và nguy hiểm
Hai câu thơ đầu là khúc dạo đầu của nỗi nhớ nhung, là tiếng gọi thật tha thiếtnhư khứ hồi những hoài niệm:
“Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi!
Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi”
Hiện ra trước mắt người đọc là dòng sông Mã chảy trôi giữa núi rừng thiênnhiên miền Tây hoang sơ,man dại Với nhà thơ Quang Dũng, khi ông nhớ về vùng
đất Tây Bắc thì điều khiến cho ông nhớ về đầu tiên chính là dòng sông Mã chảydọc theo biên giới Việt-Lào thuộc các tỉnh Mộc Châu, Sầm Nưa,Mai
là những thứ làm con người ta tiếc nuối, hoài niệm nhất Bởi một khi đã trở thành
Trang 37quá khứ là sẽ không bao giờ có thể có lại được “Tây Tiến ơi!” như một tiếng gọi
vọng về quá khứ thật da diết biết bao Cả câu thơ không xuất hiện một chữ
“Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi”
Câu thơ chỉ có bảy tiếng mà có đến bốn tiếng thanh bằng làm cho lời thơ trởnên nhẹ bẫng, nỗi nhớ như đang phiêu du, bồng bềnh trong kí ức của tác giả Điệp
từ “nhớ” khiến cho nỗi nhớ được nhân lên gấp đôi vậy Quang Dũng nhớ về rừng
núi- một nét rất đặc trưng của thiên nhiên Tây Bắc Từ láy “chơi vơi” thể hiện nỗi
nhớ ấy thật mơ hồ, vô lượng vô cùng không thể nguôi ngoai Nỗi nhớ như đã khảm
vào trong tâm trí của tác giả, đi cùng tác giả xuyên suốt cuộc đời ông Nếu như
“chơi vơi” thường chỉ dùng cho nỗi nhớ trong tình yêu, giống như Xuân Diệu đã
từng viết:
“Sương nương treo trăng ngừng lưng trời
Tương tư nâng lòng lên chơi vơi”
thì Quang Dũng lại dùng “chơi vơi” để nói về nỗi nhớ với trung đoàn của ông Hai
câu thơ được kết thúc bằng những từ có vần ơi “ ơi-chơi vơi” là ba âm mở, khiến
cho bài thơ mang một âm hưởng nhạc điệu ngân nga Bởi vậy nên Xuân Diệu đãtừng nói “Đọc Tây Tiến, ta có cảm tưởng như ngậm nhạc trong miệng” Chính bởi
cách dùng từ ngữ tài tình của Quang Dũng nên “Tây Tiến” đã được nâng lên một
tầm cao mới, trở thành một trong những tác phẩm khiến cho những thế hệ sau này
phải thán phục
Trang 38Địa danh sông Mã như là mạch nguồn cho những câu thơ tiếp theo mang trongmình nỗi nhớ đang được dâng trào Có thể nói, hai câu thờ đầu đã thể hiện cảmhứng chủ đạo của đoạn thơ, cũng là của cả bài thơ, đó là nỗi nhớ thớ tha thiết của
người cựu chiến binh Tây Tiến hướng về miền Tây sơn cước, về trung đoàn Tây
Tiến nghĩa nặng tình sâu và những năm tháng quá khứ hào hùng, bi tráng khôngthể nào quên
Người xưa có câu “thi trung hữu họa” Đến với mười hai câu thơ tiếp theo,Quang Dũng đã khắc họa chân thực thiên nhiên miền Tây hoang sơ, hiểm trở, đikèm theo đó là những khó khăn chồng chất khó khăn đang chờ đợi người lính Tất
cả đã được thể hiện dưới ngòi bút tài hoa, lãng mạn chân thực, hào hùng của tácgiả
“Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi
Mường Lát hoa về trong đêm hơi”
Vượt qua thời tiết vùng sơn cước chưa bao giờ là điều dễ dàng Các anh hànhquân từ khi trời mới tờ mờ sáng Chào đón những người lính của chúng ta lại làmột màn sương dày đặc đang che “lấp” cả thiên nhiên Tây Bắc Hình ảnh
vào chữ “lấp” nhấn mạnh cái thời tiết cực đoan mà người lính đã phải trải qua.Đứng trước cái khắc nghiệt của thiên nhiên, đoàn quân đã “mỏi” Nhưng “mỏi” ở
đây là “mỏi” về thể chất, còn tinh thần các anh vẫn sục sôi, ý chí vẫn sáng ngờinhư ngôi sao mai trên bầu trời lúc trời còn chưa sáng Các anh vẫn vững vàng bước
tiếp con đường hành quân vì một sứ mệnh cao cả
Hiện thực khắc nghiệt là vậy, nhưng dưới lăng kính lãng mạn của Quang
Trang 39Dũng, thiên nhiên miền Tây hiện ra lại thật thú vị trong câu thơ tiếp theo:
“Mường Lát hoa về trong đêm hơi”
Nhà thơ Lưu Trọng Lư đã từng nói “Một câu thơ hay là một câu thơ có nhiềusức gợi” Đặc điểm của thơ ca muôn đời vẫn là “ý tại ngôn ngoại”, lời thơ ở đây
nhưng nghĩa lại ở đó Hình ảnh nhân hóa “hoa về” được hiểu theo nhiều nét nghĩa
độc đáo Ta có thể hiểu “hoa” là những người con gái Mường Lát đang đi về bản
trong đêm Cũng có thể hiểu “hoa” là những người lính đang hành quân trong đêm
bởi Bác Hồ đã từng nói “Con người ta là hoa đất Con người ta là đẹp nhất”.Nhưng nét nghĩa hợp lí và được hiểu theo nhiều nhất mà “hoa” ở đây Quang Dũng
đang nhắc tới chính là những ngọn đuốc mà người lính cầm theo để soi sáng đường
đi giữa “đêm hơi” giá rét Giữa đêm khuya tăm tối thiên nhiên nơi “rừng thiêngnước độc” Tây Bắc, đâu đó vẫn le lói những ánh sáng lập lòe từ những cây đuốccủa người lính Giữa trận chiến tranh đầy khốc liệt cùng mất mát đau thương, đâu
đó vẫn le lói một ý chí cách mạng :nhất định sẽ giành lại độc lập hòa bình cho Tổ
quốc Dẫu đời lính có vất vả đến đâu cũng không làm cho những người lính TâyTiến chùn bước
Đến với ba câu thơ tiếp theo, Quang Dũng đã miêu tả sắc nét khung cảnh
thiên nhiên hùng vĩ hiểm trở đầy góc cạnh Qua đó cũng làm nổi bật lên ý chí khi
đứng trước thử thách của thiên nhiên với một tinh thần đầy lạc quan, yêu đời của
người lính Tây Tiến:
“Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm
Heo hút cồn mây súng ngửi trời
Ngàn thước lên cao ngàn thước xuống”
Đọc đến những câu thơ này, ta không khỏi cảm thấy hãi hùng trước thiên
nhiên miền sơn cước Những con dốc “khúc khuỷu” lúc lên rồi đổ xuống một cách
đột ngột khiến cho người đọc có cảm giác muốn nghẹn thở Nhịp thơ 4/3 gập