Các quy định về bảo hiểm TNLĐ mớichỉ áp dụng cho những NLĐ tham gia BHXH bắt buộc, một số điều kiệnhưởng bảo hiểm TNLĐ còn chưa được hướng dẫn cụ thể, một số chế độ trợcấp còn thấp,… Tại
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong quá trình lao động, do những lý do nào đó từ khách quan, chủquan, đã gây ra tai nạn lao động (TNLĐ) TNLĐ làm tổn thương hoặc mất bộphận hay chức năng hoạt động nào đó của người lao động (NLĐ), làm choNLĐ bị suy giảm khả năng lao động thậm chí ảnh hưởng đến tính mạng củaNLĐ Đối với đơn vị sử dụng lao động, TNLĐ xảy ra làm cho hoạt động sảnxuất, kinh doanh, công việc bị đình trệ, năng suất lao động giảm và ảnhhưởng đến lợi nhuận của đơn vị Chính vì vậy, bảo hiểm TNLĐ là một chế độluôn được Nhà nước, NLĐ và người sử dụng lao động (NSDLĐ) quan tâm
Ở Việt Nam hiện nay, Nhà nước đã ban hành rất nhiều văn bản phápluật quy định về bảo hiểm TNLĐ Đó là Luật Bảo hiểm xã hội (BHXH) năm
2014, Luật An toàn, vệ sinh lao động (ATVSLĐ) năm 2015 và các văn bảnhướng dẫn thi hành Các quy định này đã tạo ra một hành lang pháp lý bảo vệNLĐ khi bị TNLĐ thông qua các chế độ trợ cấp, giúp NLĐ khắc phục khókhăn về vật chất khi gặp phải những rủi ro bị TNLĐ trong quá trình làm việc
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, pháp luật về bảo hiểmTNLĐ vẫn còn hạn chế, vướng mắc Các quy định về bảo hiểm TNLĐ mớichỉ áp dụng cho những NLĐ tham gia BHXH bắt buộc, một số điều kiệnhưởng bảo hiểm TNLĐ còn chưa được hướng dẫn cụ thể, một số chế độ trợcấp còn thấp,…
Tại tỉnh Hòa Bình, BHXH nói chung, bảo hiểm TNLĐ nói riêng luônđược sự quan tâm chỉ đạo, lãnh đạo của Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy bannhân dân tỉnh, BHXH Việt Nam; sự cộng tác phối hợp chặt chẽ của các Sở,Ban, Ngành, Đoàn thể trong triển khai thực hiện Luật BHXH, Luật ATVSLĐ
đã thúc đẩy quá trình thực thi các quy định của pháp luật bảo hiểm TNLĐ
Trang 2nhanh chóng đi vào đời sống, giúp khắc phục được những khó khăn cho NLĐ
và NSDLĐ khi TNLĐ xảy ra trong các đơn vị trên địa bàn
Tuy nhiên, cũng như cả nước nói chung, ở tỉnh Hòa Bình nói riêng,tình hình tai TNLĐ vẫn thường xuyên Đặc biệt, trong giai đoạn hiện nay, khicác doanh nghiệp đầu tư trang thiết bị hiện đại phục vụ cho quá trình sản xuấtkinh doanh nhưng không tuân thủ nghiêm ngặt yêu cầu về an toàn lao độngtrong quá trình sử dụng các loại phương tiện máy móc Trong khi đó, hiện vẫncòn nhiều doanh nghiệp nợ BHXH, trong đó có bảo hiểm TNLĐ; tỷ lệ NLĐthuộc các doanh nghiệp tư nhân tham gia bảo hiểm còn thấp Nhiều doanhnghiệp thực sự gặp khó khăn trong hoạt động sản xuất kinh doanh, các doanhnghiệp giải thể, phá sản hoặc đăng ký ngừng hoạt động không có nguồn kinhphí trả lương và đóng BHXH nói chung, bảo hiểm TNLĐ cho NLĐ nói riêng.đặc biệt là khối doanh nghiệp thuộc Tổng Công ty Sông Đà có số nợ lớn, thờigian kéo dài, không có khả năng trả nợ Nhiều doanh nghiệp hoạt động tronglĩnh vực xây dựng, xây lắp sản xuất kinh doanh bị thua lỗ, đình trệ, sản phẩmlàm ra không tiêu thụ được làm ảnh hưởng đến quyền lợi của NLĐ khikhông may xảy ra TNLĐ
Để góp phần khắc phục những bất cập trong quy định của pháp luậtcũng như nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về bảo hiểm TNLĐ tại tỉnh
Hòa Bình trong thời gian tới, em chọn vấn đề: " Pháp luật về bảo hiểm tai nạn lao động và thực tiễn thực hiện tại tỉnh Hòa Bình" làm đề tài nghiên cứu ở
bậc luận văn thạc sĩ của mình
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Pháp luật bảo hiểm TNLĐ là nội dung quan trọng của pháp luậtBHXH, bởi vậy, ở các mức độ khác nhau đã có một số công trình nghiên cứu
Các Giáo trình Luật an sinh xã hội của các cơ sở đào tạo luật học,
như: Giáo trình Luật an sinh xã hội Việt Nam của Trường Đại học Luật Hà Nội năm 2014; Giáo trình bảo hiểm xã hội của Trường Đại học Lao động - xã hội năm 2011; Giáo trình bảo đảm xã hội của Khoa Từ xa, Đại học Huế năm
Trang 32012,
Sách tham khảo "Pháp luật an sinh xã hội - những vấn đề lý luận và thực tiễn", của Nguyễn Hiền Phương, Nxb Tư pháp, năm 2010
Bài viết đăng trên tạp chí, như: Bài viết "Thực trạng pháp luật an sinh
xã hội ở Việt Nam và phương hướng hoàn thiện", của Lê Thị Hoài Thu, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số tháng 1/2014; Bài viết: "Một số vấn đề về chế
độ tai nạn lao động theo quy định hiện hành", của Nguyễn Thanh Danh, Tạp
chí BHXH, số kỳ 2, tháng 01/2014,
Đề tài khoa học cấp bộ: "Giải pháp xây dựng quỹ bồi thường tai nạn lao động tại Việt Nam" do Nguyễn Đại Đồng làm chủ nhiệm, Bộ Lao động, thương binh và xã hội năm 1997; Đề tài khoa học cấp Bộ: "Thực trạng và giải pháp về chế độ, chính sách bảo hiểm xã hội về tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp đối với người lao động tham gia bảo hiểm xã hội" do Hà Văn
Chi chủ nhiệm, BHXH Việt Nam, năm 2000
Luận án: "Cơ sở lý luận và thực tiễn cho việc xây dựng và hoàn thiện khung pháp luật an sinh xã hội ở Việt Nam", của Nguyễn Hiền Phương, Trường Đại học Luật Hà Nội, năm 2009; Luận án: "Hoàn thiện hệ thống tổ chức và hoạt động chi trả các chế độ bảo hiểm xã hội ở Việt Nam", của
Nguyễn Thị Chính, Trường Đại học Kinh tế quốc dân, năm 2010 cũng đề cậpđến pháp luật bảo hiểm TNLĐ
Luận văn: Vấn đề pháp luật về bảo hiểm TNLĐ được một số luận văntại các cơ sở đào tạo như Trường Đại học Luật Hà Nội, Viện Đại học Mở Hà
Nội, Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội nghiên cứu Đó là luận văn: "Chế
độ bảo hiểm tai nạn lao động - Thực trạng và giải pháp", của Vũ Thị La, Trường Đại học Luật Hà Nội, năm 2010; Luận văn: "Chế độ bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp - Thực trạng và phương hướng hoàn thiện", của
Phạm Thị Phương Loan, Trường Đại học Luật Hà Nội, năm 2011; Luận văn:
"Pháp luật về giải quyết chế độ tai nạn lao động từ thực tiễn tỉnh Ninh Bình",
của Phạm Quang Tuyên, Viện Đại học Mở Hà Nội, năm 2016; Luận văn
Trang 4"Pháp luật về bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp từ thực tiễn thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh" của Nguyễn Trung Thành, Viện Đại học Mở
Hà Nội năm 2017
Nhìn chung, các công trình này đã nghiên cứu các nội dung sau:
Thứ nhất, nghiên cứu các vấn đề lý luận về BHXH và pháp luật về
BHXH, các vấn đề lý luận về TNLĐ, bệnh nghề nghiệp Các công trình đềcập đến vấn đề như: khái niệm, vai trò của BHXH, BHXH bắt buộc, bảo hiểmTNLĐ, bệnh nghề nghiệp
Thứ hai, nghiên cứu các quy định của pháp luật về BHXH bắt buộc và
chế độ TNLĐ, bệnh nghề nghiệp Đánh giá thực trạng pháp luật hiện hànhquy định về các vấn đề này
Thứ ba, nghiên cứu các giải pháp hoàn thiện pháp luật về BHXH và
chế độ TNLĐ, bệnh nghề nghiệp
Tuy nhiên, các công trình chủ yếu nghiên cứu pháp luật bảo hiểmTNLĐ theo quy định của Luật BHXH Chỉ một số công trình gần đây mớinghiên cứu vấn đề này theo Luật ATVSLĐ năm 2015, có hiệu lực từ1/7/2016 Đặc biệt là chưa có công trình nào nghiên cứu về thực tiễn thựchiện pháp luật bảo hiểm TNLĐ tại tỉnh Hòa Bình
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục đích nghiên cứu của luận văn: Luận văn nghiên cứu một số vấn
đề lý luận về pháp luật bảo hiểm TNLĐ Trên cơ sở quan điểm về lý luậnđược nghiên cứu, luận văn tập trung phân tích thực trạng pháp luật về bảohiểm TNLĐ theo quy định của Luật ATVSLĐ năm 2015 và thực tiễn thựchiện tại tỉnh Hòa Bình Thông qua việc đánh giá những điểm bất cập của phápluật và thực tiễn thực hiện pháp luật về bảo hiểm TNLĐ tại tỉnh Hòa Bình,luận văn đề xuất phương hướng hoàn thiện một số quy định về bảo hiểmTNLĐ và phương hướng nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật bảo
Trang 5hiểm TNLĐ tại tỉnh Hòa Bình theo hướng phù hợp với sự phát triển về kinh
tế - xã hội của địa bàn trong bối cảnh hiện nay
- Nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn: Từ mục đích đặt ra, luận văn
thực hiện các nhiệm vụ sau đây:
Thứ nhất, nghiên cứu làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận về pháp luật
bảo hiểm TNLĐ
Thứ hai, phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật hiện hành về bảo
hiểm TNLĐ ở Việt Nam
Thứ ba, phân tích, đánh giá thực tiễn thực hiện các quy định của pháp
luật về bảo hiểm TNLĐ tại tỉnh Hòa Bình
Thứ tư, luận văn đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện các quy định của
pháp luật về bảo hiểm TNLĐ và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật bảohiểm TNLĐ tại tỉnh Hòa Bình trong giai đoạn hiện nay
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là các văn bản pháp luật về bảohiểm TNLĐ, như Bộ luật Lao động năm 2012, Luật BHXH năm 2014, đặcbiệt là Luật ATVSLĐ năm 2015 và các văn bản hướng dẫn Đồng thời luậnvăn cũng nghiên cứu về thực tiễn thực hiện pháp luật về bảo hiểm TNLĐ tạitỉnh Hòa Bình
- Phạm vi nghiên cứu:
Bảo hiểm TNLĐ là một lĩnh vực rộng, có thể nghiên cứu và tiếp cận ởnhiều góc độ khác nhau với phạm vi, nội dung rộng hẹp khác nhau Tuy nhiêntrong luận văn này, tác giả chỉ nghiên cứu BHXH TNLĐ ở các khía cạnh: đốitượng tham gia, điều kiện hưởng, các chế độ hưởng, nguồn chi trả các chế
độ bảo hiểm TNLĐ, thủ tục thực hiện bảo hiểm TNLĐ, xử phạt vi phạmhành chính về bảo hiểm TNLĐ Các vấn đề về xử lý vi phạm trong lĩnh vựcbảo hiểm TNLĐ hay giải quyết tranh chấp về bảo hiểm TNLĐ sẽ không thuộcphạm vi nghiên cứu của luận văn
Trang 65 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng phương pháp luận của học thuyết Mác - Lênin baogồm phép biện chứng duy vật, phương pháp luận duy vật lịch sử và chínhsách, định hướng của Đảng, nhà nước về BHXH nói chung, bảo hiểm TNLĐnói riêng
Các phương pháp nghiên cứu cụ thể được sử dụng để thực hiện luậnvăn bao gồm phương pháp lịch sử, phân tích, chứng minh, so sánh, so sánhluật học, thu thập thông tin, đánh giá thực tiễn, tổng hợp, dự báo khoa học
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn
Ý nghĩa khoa học: Luận văn góp phần làm rõ hơn một số vấn đề lý
luận về bảo hiểm TNLĐ, tạo cơ sở cho việc phân tích một cách có hệ thốngcác nội dung quy định của pháp luật hiện hành về bảo hiểm TNLĐ cũng như
đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện quy định của pháp luật và nâng cao hiệuquả thực hiện pháp luật về bảo hiểm TNLĐ
Ý nghĩa thực tiễn: Luận văn cung cấp kiến thức cho NLĐ, NSDLĐ đã,
đang tham gia bảo hiểm TNLĐ, người đang làm công tác thực tiễn về BHXHnói chung, bảo hiểm TNLĐ nói riêng trong phạm vi cả nước và tại tỉnh HòaBình Qua đó, giúp họ thực thi pháp luật bảo hiểm TNLĐ một cách chính xác,đảm bảo quyền lợi cho NLĐ khi bị TNLĐ
Bên cạnh đó, luận văn cũng là nguồn tài liệu tham khảo hữu ích đốivới sinh viên, học viên, các nhà nghiên cứu quan tâm đến pháp luật bảo hiểmTNLĐ nói riêng, BHXH nói chung
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nộidung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1 Một số vấn đề lý luận về pháp luật bảo hiểm tai nạn lao
động và quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành
Chương 2 Thực tiễn thực hiện pháp luật bảo hiểm tai nạn lao động tại
tỉnh Hòa Bình
Trang 7Chương 3 Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu
quả thực hiện pháp luật bảo hiểm tai nạn lao động tại tỉnh Hòa Bình
Trang 8Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN
VỀ PHÁP LUẬT BẢO HIỂM TAI NẠN LAO ĐỘNG
VÀ QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN HÀNH
1.1 Một số vấn đề lý luận về pháp luật bảo hiểm tai nạn lao động
1.1.1 Bảo hiểm tai nạn lao động
1.1.1.1 Khái niệm bảo hiểm tai nạn lao động
Trong quá trình tham gia quan hệ lao động, do nhiều nguyên nhânkhác nhau từ điều kiện lao động mà NLĐ có thể gặp phải rủi ro mà bị TNLĐ.Tai nạn lao động là tai nạn xảy ra trong quá trình NLĐ thực hiện các nghĩa vụlao động, có thể do nguyên nhân từ công tác an toàn, vệ sinh lao động khôngđược đảm bảo như: sự cố công nghệ (nổ nồi hơi, bình nén khí, thiết bị nângkhông đảm bảo…), ý thức kỷ luật lao động kém, trình độ lao động thấp, tâm
lý lao động không ổn định…
Khi bị TNLĐ, nhu cầu của con người thay đổi một cách cơ bản kèmtheo là sự tăng lên đáng kể về chi phí chữa trị và đảm bảo đời sống hằng ngàykhi họ không thể đi làm và không có lương Vì thế, từ rất lâu, các quốc giatrên thế giới đã đề ra nhiều biện pháp khắc phục tình trạng trên Một trongnhững biện pháp đó chính là bảo hiểm TNLĐ1
Trên thế giới, bảo hiểm TNLĐ ra đời từ rất sớm Từ năm 1850, Cộnghòa Liên bang Đức đã quy định bảo hiểm TNLĐ trong pháp luật nước mình
Do những ưu việt của loại bảo hiểm này trong việc bảo đảm đời sống choNLĐ và gia đình họ trong thời gian gặp rủi ro, nên sau đó bảo hiểm TNLĐ đãphát triển dần sang các quốc gia khác Đến nay, bảo hiểm TNLĐ được hầu hếtcác quốc gia trên thế giới ghi nhận
Ở Việt Nam, ngay từ sau khi giành được chính quyền Tháng Támnăm 1945, Chính phủ lâm thời Việt Nam dân chủ cộng hòa đã quan tâm đến
1 Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật an sinh xã hội, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 2014, tr 165-168
Trang 9chính sách BHXH đối với NLĐ, trong đó có bảo hiểm TNLĐ Ở mỗi giaiđoạn lịch sử khác nhau, quy định về bảo hiểm TNLĐ khác nhau Songđiểm chung là đều đưa ra khái niệm TNLĐ xuất phát từ sự kiện thực tế củaNLĐ khi bị TNLĐ Đó là khi bị TNLĐ, NLĐ sẽ bị mất hoặc giảm thu nhập
từ lao động, mặt khác các chi phí cho đời sống hằng ngày tăng lên đột xuất,
từ đó mà nhu cầu chia sẻ rủi ro của NLĐ và gia đình họ trong các trườnghợp này trở nên cấp thiết Trong đó, NSDLĐ, bên sử dụng sức lao động củaNLĐ có trách nhiệm lớn trong vấn đề này và cần thiết chia sẻ những khókhăn với NLĐ
Bảo hiểm TNLĐ có thể được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau
Theo nghĩa rộng, bảo hiểm TNLĐ là chế độ bảo hiểm nhằm bù đắphoặc thay thế thu nhập từ lao động của NLĐ khi bị TNLĐ mà bị giảm hoặcmất khả năng lao động Theo nghĩa này thì bảo hiểm TNLĐ của NLĐ khôngchỉ được đảm bảo từ quỹ bảo hiểm mà còn được đảm bảo từ chính NSDLĐ.NSDLĐ phải chịu trách nhiệm thanh toán các khoản viện phí, thuốc men vàtrả lương cho NLĐ trong suốt thời gian điều trị
Theo nghĩa hẹp, bảo hiểm TNLĐ là một chế độ của BHXH, do quỹBHXH chi trả nhằm bù đắp một phần hoặc thay thế thu nhập từ lao động củaNLĐ khi bị giảm hoặc mất thu nhập do giảm hoặc mất khả năng lao động từnguyên nhân bị TNLĐ2
Cũng như các chế độ BHXH khác, bảo hiểm TNLĐ do quỹ bảo hiểmTNLĐ, bệnh nghề nghiệp chi trả, không bao gồm các chi phí trực tiếp doNSDLĐ thanh toán Tuy nhiên nếu trong trường hợp NSDLĐ chưa đóng bảohiểm TNLĐ cho NLĐ nếu NLĐ thuộc diện đóng bảo hiểm bắt buộc thìNSDLĐ phải thanh toán các khoản cho NLĐ theo mức quy định của pháp luật
Từ khái niệm bảo hiểm TNLĐ đưa ra, có thể thấy bảo hiểm TNLĐ cómột số đặc điểm như sau:
2 Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật an sinh xã hội, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 2014, tr 165-168
Trang 10Thứ nhất, bảo hiểm TNLĐ chỉ áp dụng đối với NLĐ bị TNLĐ phát sinh trong quá trình lao động
Nếu như bảo hiểm y tế áp dụng đối với mọi người dân trong xã hội,thì bảo hiểm TNLĐ chỉ áp dụng với NLĐ trong độ tuổi lao động và có xác lậpquan hệ lao động Bởi lẽ, khi NLĐ làm việc cho NSDLĐ, dưới sự quản lý laođộng của NSDLĐ họ phải thực hiện các nghĩa vụ được giao Trong quá trình
đó, do nguyên nhân nào đó, họ bị TNLĐ thì trách nhiệm thuộc về NSDLĐ.Hay nói cách khác, NSDLĐ là người mua sức lao động của NLĐ đem vàoquá trình sản xuất công tác, NSDLĐ phải có trách nhiệm đảm bảo các điềukiện lao động an toàn, vệ sinh, bảo vệ sức khỏe cho NLĐ Song, do lý dokhách quan hoặc chủ quan phát sinh dẫn đến NLĐ bị tai nạn làm tổn thươngbất kỳ bộ phận cơ thể hoặc ảnh hưởng đến chức năng của nào đó của cơ thểNLĐ hoặc NLĐ bị chết, thì NSDLĐ phải có trách nhiệm chia sẻ các rủi ro này
Thứ hai, bảo hiểm TNLĐ nhằm mục đích đảm bảo đời sống cho NLĐ
và gia đình họ khi bị suy giảm khả năng lao động
Trong quá trình lao động, nếu NLĐ bị TNLĐ mà dẫn đến suy giảmkhả năng lao động thì kéo theo thu nhập của họ bị giảm sút hoặc bị mất Bởivậy, mục tiêu của bảo hiểm TNLĐ là nhằm đảm bảo đời sống cho NLĐ vàgia đình họ khi do NLĐ bị TNLĐ mà phải nghỉ việc, hoặc sau đó khả nănglao động của họ bị suy giảm Điều đó lý giải tại sao các chế độ TNLĐ là cácchế độ được trả bằng tiền, không chỉ giúp NLĐ đảm bảo đời sống, mà trongmột số trường hợp họ còn được trợ cấp để mua các phương tiện trợ giúp sinhhoạt khi NLĐ bị mất hoặc suy giảm bộ phận, chức năng nào đó của cơ thể để
họ tham gia sinh hoạt bình thường
Thứ ba, nguồn chi trả bảo hiểm TNLĐ do NSDLĐ đảm bảo
Đây là đặc điểm quan trọng của bảo hiểm TNLĐ Cũng như các chế
độ BHXH ngắn hạn khác như ốm đau, thai sản… bảo hiểm TNLĐ hoàn toàn
do NSDLĐ đóng phí Bởi các sự kiện rủi ro phát sinh gắn liền với thời gianNLĐ đang tham gia quan hệ lao động, đang đi làm và có lương Khi NLĐ gặp
Trang 11rủi ro, bị TNLĐ thì họ không đi làm được và tất yếu không có thu nhập Dorủi ro đó gắn liền với quá trình thực hiện quyền và nghĩa vụ lao động, nên ở hầuhết các quốc gia, nguồn thực hiện bảo hiểm TNLĐ đều do NSDLĐ đóng góp
1.1.1.2 Ý nghĩa của bảo hiểm tai nạn lao động
Bảo hiểm TNLĐ có vai trò rất quan trọng trong việc đảm bảo đời sốngcho NLĐ tham gia BHXH mà bị TNLĐ làm suy giảm hoặc mất khả năng laođộng Khi thu nhập của NLĐ được bảo đảm sẽ là cơ sở quan trọng để bảođảm an sinh xã hội và từ đó góp phần phát triển ổn định, bền vững kinh tế - xãhội của đất nước
- Đối với NLĐ tham gia bảo hiểm TNLĐ
Người lao động khi bị TNLĐ sẽ phát sinh nhu cầu được đảm bảo đờisống khi khả năng lao động bị suy giảm Tuy nhiên, không phải ai cũng cónguồn tài chính dư dả để có thể đảm bảo đời sống và thu nhập cho mình cũngnhư các thành viên trong gia đình Vì vậy, nếu NLĐ tham gia bảo hiểmTNLĐ thì họ sẽ được quỹ bảo hiểm TNLĐ, bệnh nghề nghiệp trả trợ cấp bằngtiền để thay thế hoặc bù đắp thu nhập bị mất cũng như trợ cấp tiền mua cácphương tiện trợ giúp sinh hoạt hằng ngày do có bộ phận, chức năng nào đó bịmất hoặc suy giảm Ngoài ra, khi người tham gia bảo hiểm TNLĐ mà chẳngmay bị chết thì thân nhân của họ được thanh toán một khoản tiền vừa nhằm
bù đắp cho thân nhân của NLĐ, vừa bảo đảm công bằng do NLĐ đã có thờigian tham gia bảo hiểm
- Đối với người sử dụng lao động
Bảo hiểm TNLĐ giúp cho các tổ chức sử dụng lao động, các doanhnghiệp ổn định hoạt động thông qua việc phân phối các chi phí cho NLĐ mộtcách hợp lý Nếu không có bảo hiểm TNLĐ, khi NLĐ bị TNLĐ không cónguồn thu nhập, không có chi phí thuốc men…đời sống của họ bị ảnh hưởngthì quan hệ lao động, chất lượng, hiệu quả lao động trong doanh nghiệp sẽ bịảnh hưởng theo Chế độ TNLĐ góp phần làm cho lực lượng lao động trongmỗi đơn vị ổn định, sản xuất, kinh doanh được hoạt động liên tục, hiệu quả,các bên của quan hệ lao động cũng gắn bó với nhau hơn
Trang 12Bảo hiểm TNLĐ tạo điều kiện cho NSDLĐ có trách nhiệm với NLĐ,không chỉ khi trực tiếp sử dụng lao động mà trong suốt cuộc đời NLĐ Trongtrường hợp, NLĐ bị TNLĐ hưởng trợ cấp một lần hoặc trợ cấp TNLĐ hàngtháng thì NSDLĐ có trách nhiệm với NLĐ Bảo hiểm TNLĐ làm cho quan hệlao động có tính nhân văn sâu sắc, nâng cao trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp.
- Đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước
Khi NLĐ được bảo đảm đời sống, giảm bớt khó khăn thì họ sẽ yêntâm hơn, từ đó giúp ổn định xã hội Ngoài ra, cũng như các chế độ BHXHkhác, bảo hiểm TNLĐ là sự cụ thể hóa rõ nét nhất quyền con người trong xãhội, là công cụ góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả, công bằng xã hội chomọi thành viên trong xã hội Đây là cơ sở pháp lý quan trọng để NLĐ đượcđảm bảo quyền lợi của mình đồng thời cũng thể hiện trách nhiệm của cơ quanBHXH, của Nhà nước đối với NLĐ gặp rủi ro trong quá trình lao động Đặcbiệt, trong thời đại khoa học công nghệ phát triển, việc sử dụng máy móc,công nghệ cao, nếu không tuân thủ chặt chẽ quy trình sử dụng, sẽ dễ gây nênTNLĐ Khi đó, NLĐ sẽ gặp nhiều khó khăn khi khả năng lao động bị suygiảm mà không có thu nhập do phải nghỉ việc Trong trường hợp đó, bảohiểm TNLĐ làm nhiệm vụ điều tiết thu nhập giữa những NLĐ tham gia nhằmgiảm đảm bảo công bằng xã hội
1.1.2 Pháp luật bảo hiểm tai nạn lao động
1.1.2.1 Khái niệm pháp luật bảo hiểm tai nạn lao động
Cũng như các lĩnh vực pháp luật khác thuộc chính sách an sinh xã hội,pháp luật bảo hiểm TNLĐ phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện kinh tế - xã hộicủa các quốc gia Tùy thuộc vào điều kiện kinh tế - xã hội của mình mà cácquốc gia có chính sách khác nhau về BHXH nói chung, bảo hiểm TNLĐ nóiriêng Hơn nữa, do bảo hiểm TNLĐ do NSDLĐ đóng phí cho NLĐ hưởng khi
họ gặp rủi ro trong quá trình lao động, vì vậy, ở hầu hết các quốc gia, bảohiểm TNLĐ do nhà nước tổ chức thực hiện và các đối tượng có trách nhiệmtham gia bảo hiểm TNLĐ theo quy định của pháp luật
Trang 13Do có vai trò hết sức quan trọng đối với người tham gia, đối với sựphát triển kinh tế - xã hội và an sinh xã hội của đất nước, nên BHXH nóichung, bảo hiểm TNLĐ nói riêng được hầu hết các quốc gia quy định Theo
đó, pháp luật bảo hiểm TNLĐ là một bộ phận của pháp luật BHXH, bao gồmcác quy phạm pháp luật do các cơ quan nhà nước ban hành và đảm bảo thựchiện bằng các biện pháp khác nhau Pháp luật bảo hiểm TNLĐ điều chỉnhnhững quan hệ xã hội phát sinh từ hoạt động bảo hiểm thu nhập cho NLĐ trongquá trình thực hiện các quyền và nghĩa vụ lao động nên phải bao quát đượchết các khâu từ quy định về đối tượng tham gia bảo hiểm, quyền lợi hưởngbảo hiểm cho đến quy định về thủ tục giải quyết chế độ bảo hiểm cho NLĐtham gia, nguồn bảo hiểm TNLĐ, xử lý vi phạm pháp luật về bảo hiểm TNLĐ3
Từ đó, có thể hiểu pháp luật bảo hiểm TNLĐ là tổng hợp các quyphạm pháp luật quy định về đối tượng tham gia bảo hiểm TNLĐ, điều kiện vàquyền lợi hưởng của người tham gia và các vấn đề khác liên quan nhằm thaythế hoặc bù đắp một phần thu nhập cho NLĐ khi bị TNLĐ trên cơ sở đóngphí vào quỹ bảo hiểm
1.1.2.2 Nguyên tắc bảo hiểm tai nạn lao động
Nguyên tắc của bảo hiểm TNLĐ được hiểu là các tư tưởng chỉ đạo cótính chất quán xuyến xuyên suốt các quy phạm pháp luật bảo hiểm TNLĐ Cụthể, bao gồm các nguyên tắc cơ bản sau đây:
Thứ nhất, nguyên tắc mức đóng bảo hiểm TNLĐ được tính trên cơ sở
tiền lương của NLĐ, do NSDLĐ đóng phí
Nguyên tắc này dựa trên cơ sở đối tượng của bảo hiểm TNLĐ là thunhập của NLĐ khi đi làm Nếu thu nhập này bị biến động hoặc mất do suygiảm hoặc mất khả năng lao động thì tổ chức BHXH phải chi trả trợ cấp đểthay thế hoặc bù đắp một phần cho NLĐ Mức thu nhập được bảo hiểm làmức tiền lương của NLĐ Tùy vào pháp luật của từng quốc gia mà pháp luậtquy định mức tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm TNLĐ
3 Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật an sinh xã hội, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 2014, tr 165-168.
Trang 14Khác với các chế độ BHXH khác, trách nhiệm đóng phí vào quỹ bảohiểm TNLĐ hoàn toàn do NSDLĐ đóng, mà NLĐ không có trách nhiệmđóng phí vào quỹ Quy định này xuất phát từ quyền quản lý lao động vàquyền sử dụng sức lao động của NSDLĐ, đồng thời cũng là trách nhiệm củaNSDLĐ trong việc bảo đảm các điều kiện làm việc an toàn, vệ sinh cho NLĐ.Điều này lý giải tại sao ở Việt Nam trước đây, từ 30/06/2016 trở về trước, bảohiểm TNLĐ, bệnh nghề nghiệp nói chung do Luật BHXH điều chỉnh, từ01/7/2016 bảo hiểm TNLĐ, bệnh nghề nghiệp do Luật ATVSLĐ quy định
Thứ hai, nguyên tắc mức hưởng bảo hiểm TNLĐ được tính trên mức
suy giảm khả năng lao động và thời gian tham gia BHXH
Nếu như các chế độ BHXH khác như ốm đau, thai sản hoàn toàn dựavào mức tiền lương làm căn cứ đóng BHXH, thì đối với chế độ bảo hiểmTNLĐ lại hoàn toàn dựa vào mức suy giảm khả năng lao động và thời gianđóng bảo hiểm Lý do là xuất phát từ sức lao động của NLĐ Khi NLĐ bịTNLĐ, thì khả năng lao động của họ có thể bị suy giảm hoặc mất Mức suygiảm này ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng lao động của NLĐ, họ sẽ khókhăn trong việc tìm kiếm và duy trì thu nhập, bởi vậy sẽ ảnh hưởng đến đờisống của họ và các thành viên trong gia đình Hầu hết pháp luật các quốc giatrên thế giới đều xác định mức hưởng bảo hiểm TNLĐ dựa trên mức suy giảmkhả năng lao động của NLĐ cũng là vì thế
Ngoài ra, để bảo đảm công bằng giữa những người tham gia bảo hiểm,mức trợ cấp còn bao gồm cả khoản được tính trên cơ sở thời gian tham giabảo hiểm Quy định này nhằm đảm bảo nguyên tắc chung của BHXH là cóđóng có hưởng và đảm bảo công bằng giữa những người tham gia bảo hiểm
Thứ ba, thủ tục thực hiện bảo hiểm TNLĐ phải đơn giản, dễ dàng,
thuận tiện, bảo đảm kịp thời và đầy đủ quyền lợi của NLĐ
Bảo hiểm TNLĐ với ý nghĩa là bù đắp thu nhập giảm sút cho NLĐ bịTNLĐ, để đảm bảo thực hiện được ý nghĩa nhân văn này, các thủ tục thựchiện phải đơn giản thuận tiện cho các chủ thể tham gia
Trang 151.1.2.3 Nội dung pháp luật bảo hiểm tai nạn lao động
- Đối tượng tham gia bảo hiểm TNLĐ:
Đối tượng tham gia bảo hiểm TNLĐ là nội dung quan trọng của phápluật bảo hiểm TNLĐ Đối tượng tham gia bảo hiểm TNLĐ được hiểu là cơquan, tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân tham gia đóng phí vào quỹ bảo hiểmTNLĐ Những đối tượng này có thể là những đối tượng phải đóng góp phíbảo hiểm TNLĐ để bảo hiểm cho NLĐ đang tham gia quan hệ lao động hoặccũng có thể là những đối tượng nhà nước quy định, theo đó họ là đối tượngđược chủ thể khác đóng phí cho mình hưởng khi bị TNLĐ mà suy giảm khảnăng lao động
Theo quy định của pháp luật các quốc gia trong đó có Việt Nam, thìđối tượng tham gia bảo hiểm TNLĐ bao gồm NSDLĐ và NLĐ
- Điều kiện hưởng bảo hiểm TNLĐ:
Điều kiện hưởng bảo hiểm TNLĐ là tập hợp các quy định của phápluật làm cơ sở pháp lý để người tham gia bảo hiểm TNLĐ được hưởng quyềnlợi Điều kiện hưởng bảo hiểm TNLĐ chính là việc NLĐ được NSDLĐ đóngphí vào quỹ bảo hiểm TNLĐ và sự kiện bảo hiểm chính là rủi ro bị TNLĐ cóxác nhận của cơ sở y tế có thẩm quyền theo quy định của pháp luật
Khi NLĐ đáp ứng đầy đủ các điều kiện quy định này sẽ được hưởngcác quyền lợi bảo hiểm TNLĐ Tùy từng trường hợp mà họ có thể đượchưởng nhiều hoặc một số quyền lợi khác nhau
- Chế độ hưởng bảo hiểm TNLĐ:
Chế độ, quyền lợi hưởng bảo hiểm TNLĐ được hiểu là các khoản trợcấp bằng tiền được quỹ BHXH chi trả một lần hoặc hằng tháng tùy thuộc mứcsuy giảm khả năng lao động và thời gian tham gia bảo hiểm TNLĐ của NLĐ.Tùy từng trường hợp mà NLĐ có thể được hưởng một hoặc nhiều chế độTNLĐ Ngoài trợ cấp một lần hoặc hằng tháng thay lương hoặc bù đắp thunhập cho NLĐ, NLĐ còn có thể được hưởng các chế độ khác như trợ cấpphục vụ, trợ cấp phương tiện trợ giúp sinh hoạt… Trường hợp NLĐ bị chết
do TNLĐ thì chế độ, quyền lợi còn chi trả cho thân nhân của NLĐ
Trang 16Có thể thấy rằng, chế độ, quyền lợi bảo hiểm TNLĐ là một trongnhững nội dung quan trọng của pháp luật bảo hiểm TNLĐ, bởi nó đáp ứngnhu cầu của NLĐ tham gia bảo hiểm và đây cũng là mối quan tâm hàng đầucủa NLĐ tham gia bảo hiểm.
- Nguồn chi trả bảo hiểm TNLĐ:
Nguồn chi trả bảo hiểm TNLĐ từ quỹ bảo hiểm TNLĐ, bệnh nghềnghiệp Đây là quỹ thành phần của quỹ BHXH Tùy thuộc mỗi quốc gia màpháp luật quy định nguồn quỹ và sử dụng quỹ khác nhau Điểm chung củapháp luật các nước là đều xác định đây là quỹ tài chính được hình thành từnguồn đóng bảo hiểm TNLĐ của NSDLĐ và các nguồn thu hợp pháp khác,được sử dụng để chi trả trợ cấp cho NLĐ thuộc đối tượng tham gia bảo hiểmTNLĐ bắt buộc và những khoản chi phí hợp pháp khác liên quan Cũng nhưcác quỹ BHXH khác, quỹ bảo hiểm TNLĐ hình thành dựa trên tính ưu việtcủa BHXH thể hiện ở tính xã hội là sự chia sẻ giữa những người tham gia bảohiểm Trong nhiều trường hợp, mức hưởng trợ cấp bảo hiểm TNLĐ khôngphụ thuộc vào mức đóng của NSDLĐ vào quỹ bảo hiểm
- Thủ tục thực hiện bảo hiểm TNLĐ:
Thủ tục thực hiện bảo hiểm TNLĐ được hiểu là trình tự thực hiện cácbước, các khâu về hồ sơ, giấy tờ để giải quyết chế độ, quyền lợi cho NLĐ khiNLĐ đủ điều kiện hưởng bảo hiểm TNLĐ theo quy định của pháp luật Theo
đó, NLĐ tham gia BHXH và được xác định thời gian tham gia trong sổBHXH Khi có rủi ro TNLĐ, thì NLĐ phải có đầy đủ hồ sơ gửi cơ quan bảohiểm có thẩm quyền Trong khoảng thời gian nhất định, cơ quan có thẩmquyền tiến hành giải quyết chế độ cho NLĐ Việc thực hiện đúng thủ tục giảiquyết chế độ bảo hiểm TNLĐ là rất quan trọng, bởi nó không chỉ liên quanđến quyền lợi của người tham gia bảo hiểm mà còn liên quan đến vấn đề tàichính của quỹ bảo hiểm Việc xác định không đúng cách thức chi trả chế độ,quyền lợi bảo hiểm TNLĐ cho người tham gia bảo hiểm dễ dẫn đến việc thâmhụt quỹ BHXH ảnh hưởng đến nguồn chi trả của quỹ
Trang 17- Xử phạt vi phạm hành chính về bảo hiểm TNLĐ:
Xử phạt vi phạm hành chính về bảo hiểm TNLĐ được hiểu là việc cơquan nhà nước có thẩm quyền áp dụng các biện pháp do pháp luật quy địnhđối với cá nhân, tổ chức có hành vi cố ý hoặc vô ý vi phạm pháp luật bảohiểm TNLĐ mà chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự và theo quy địnhcủa pháp luật phải bị xử phạt hành chính Trường hợp đủ dấu hiệu cấu thànhtội phạm thì cá nhân, tổ chức có hành vi vi phạm có thể phải chịu trách nhiệmhình sự theo quy định của pháp luật các quốc gia
Mục đích của việc xử phạt vi phạm hành chính về bảo hiểm TNLĐ lànhằm để nhà nước quản lý về BHXH nói chung, bảo hiểm TNLĐ nói riêng,bảo đảm cho các quy định của pháp luật được thực thi trên thực tế và bảo vệquyền lợi cho NLĐ tham gia bảo hiểm
1.2 Quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về bảo hiểm tai nạn lao động
Từ ngày 30/06/2016 trở về trước, bảo hiểm TNLĐ, bệnh nghề nghiệpđược quy định trong Luật BHXH Song, nhằm để phù hợp với những thay đổicủa đời sống kinh tế - xã hội trong giai đoạn mới, hiện nay bảo hiểm TNLĐ,bệnh nghề nghiệp nói chung, được quy định cụ thể trong Luật ATVSLĐ năm
2015, từ Điều 41 đến Điều 62 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2016
Để các quy định về bảo hiểm TNLĐ của Luật ATVSLĐ đi vào đờisống và phát huy hiệu quả trong việc bảo vệ NLĐ khi gặp rủi ro trong quátrình lao động, Chính phủ và các cơ quan có thẩm quyền đã ban hành các vănbản hướng dẫn Đó là Nghị định số 37/2016/NĐ-CP ngày 15/5/2016 quy địnhchi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật ATVSLĐ về bảo hiểmTNLĐ, bệnh nghề nghiệp; Nghị định số 44/2017/NĐ-CP ngày ngày14/4/2017 quy định mức đóng BHXH bắt buộc vào quỹ bảo hiểm TNLĐ,bệnh nghề nghiệp,
Từ các quy định này, có thể thấy pháp luật bảo hiểm TNLĐ hiện hànhcủa Việt Nam bao gồm các nội dung cơ bản sau đây
Trang 181.2.1 Quy định về đối tượng tham gia bảo hiểm tai nạn lao động
Điều 43 Luật ATVSLĐ quy định cụ thể đối tượng áp dụng chế độ bảohiểm TNLĐ Theo đó, đối tượng áp dụng chế độ bảo hiểm TNLĐ là NLĐtham gia BHXH bắt buộc và NSDLĐ theo quy định của Luật BHXH năm
2014 Cụ thể:
- Người lao động tham gia bảo hiểm TNLĐ
Người lao động tham gia bảo hiểm TNLĐ là công dân Việt Namthuộc đối tượng tham gia bảo hiểm TNLĐ, bao gồm: Người làm việc theohợp đồng lao động không xác định thời hạn, hợp đồng lao động xác định thờihạn, hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định cóthời hạn từ đủ 03 tháng đến dưới 12 tháng, kể cả hợp đồng lao động được kýkết giữa NSDLĐ với người đại diện theo pháp luật của người dưới 15 tuổitheo quy định của pháp luật về lao động; Người làm việc theo hợp đồng laođộng có thời hạn từ đủ 01 tháng đến dưới 03 tháng; Cán bộ, công chức, viênchức; Công nhân quốc phòng, công nhân công an, người làm công tác kháctrong tổ chức cơ yếu; Sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp quân đội nhân dân; sĩquan, hạ sĩ quan nghiệp vụ, sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên môn kỹ thuật công annhân dân; người làm công tác cơ yếu hưởng lương như đối với quân nhân; Hạ
sĩ quan, chiến sĩ quân đội nhân dân; hạ sĩ quan, chiến sĩ công an nhân dânphục vụ có thời hạn; học viên quân đội, công an, cơ yếu đang theo học đượchưởng sinh hoạt phí; Người quản lý doanh nghiệp, người quản lý điều hànhhợp tác xã có hưởng tiền lương4
Như vậy, có một số đối tượng thuộc diện tham gia BHXH bắt buộcnhưng không thuộc đối tượng áp dụng bảo hiểm TNLĐ như: Cán bộ khôngchuyên trách cấp xã/phường/thị trấn; NLĐ Việt Nam đi làm việc có thời hạn
ở nước ngoài theo hợp đồng Bởi lẽ NLĐ Việt Nam đi làm việc ở nước ngoàithì do luật nước sở tại điều chỉnh và quyền lợi khi NLĐ gặp rủi ro hoàn toàn
do NSDLĐ ở nước ngoài đảm bảo Còn đối với cán bộ không chuyên trách4
Điều 2 Luật BHXH năm 2014.
Trang 19xã/phường là do xuất phát từ công việc họ đảm nhiệm (không chuyên trách)nên pháp luật chưa quy định NLĐ được tham gia chế độ này
Dưới góc độ quyền về an sinh xã hội, trong thời gian tới, pháp luật cầnxem xét áp dụng đối với những lao động này và mở rộng đối với những đốitượng lao động khác nhằm bảo đảm quyền lợi cho NLĐ Bởi vì rủi ro trongquá trình lao động xảy ra bất ngờ ở mọi nơi, mọi lúc mà NLĐ không thểlường hết được Trong khi đó, nhu cầu được bảo hiểm thu nhập khi TNLĐkhông chỉ đối với NLĐ tham gia quan hệ lao động mà còn những lao độngkhác ở các lĩnh vực lao động xã hội
- Người sử dụng lao động tham gia bảo hiểm TNLĐ
Người sử dụng lao động tham gia bảo hiểm TNLĐ bao gồm cơ quannhà nước, đơn vị sự nghiệp, đơn vị vũ trang nhân dân; tổ chức chính trị, tổchức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội -nghề nghiệp, tổ chức xã hội khác; cơ quan, tổ chức nước ngoài, tổ chức quốc
tế hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam; doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ kinh doanh
cá thể, tổ hợp tác, tổ chức khác và cá nhân có thuê mướn, sử dụng lao độngtheo hợp đồng lao động
Trường hợp NLĐ giao kết hợp đồng lao động với nhiều NSDLĐ thìNSDLĐ phải đóng bảo hiểm TNLĐ theo từng hợp đồng lao động đã giao kếtnếu NLĐ thuộc đối tượng phải tham gia BHXH bắt buộc Khi bị TNLĐ thìNLĐ được giải quyết chế độ bảo hiểm TNLĐ theo quy định
1.2.2 Quy định về điều kiện hưởng bảo hiểm tai nạn lao động
Theo quy định của Luật ATVSLĐ, NLĐ tham gia bảo hiểm TNLĐđược hưởng chế độ TNLĐ khi có đủ các điều kiện sau đây:
Điều kiện thứ nhất, NLĐ bị tai nạn thuộc một trong các trường hợp
sau đây:
a) Tại nơi làm việc và trong giờ làm việc, kể cả khi đang thực hiện cácnhu cầu sinh hoạt cần thiết tại nơi làm việc hoặc trong giờ làm việc mà BộLuật lao động và nội quy của cơ sở sản xuất, kinh doanh cho phép, bao gồm
Trang 20nghỉ giải lao, ăn giữa ca, ăn bồi dưỡng hiện vật, làm vệ sinh kinh nguyệt, tắmrửa, cho con bú, đi vệ sinh;
b) Ngoài nơi làm việc hoặc ngoài giờ làm việc khi thực hiện công việctheo yêu cầu của NSDLĐ hoặc người được NSDLĐ ủy quyền bằng văn bảntrực tiếp quản lý lao động;
c) Trên tuyến đường đi từ nơi ở đến nơi làm việc hoặc từ nơi làm việc
về nơi ở trong khoảng thời gian và tuyến đường hợp lý;
Điều kiện thứ hai, NLĐ bị suy giảm khả năng lao động từ 5% trở lên
do bị TNLĐ
Người lao động không được hưởng chế độ do quỹ bảo hiểm TNLĐ,bệnh nghề nghiệp chi trả nếu thuộc một trong các nguyên nhân sau: Do mâuthuẫn của chính nạn nhân với người gây ra tai nạn mà không liên quan đếnviệc thực hiện công việc, nhiệm vụ lao động; hoặc do NLĐ cố ý tự hủy hoạisức khỏe của bản thân; Hoặc do sử dụng ma túy, chất gây nghiện khác trái vớiquy định của pháp luật
So với trước đây, Luật ATVSLĐ quy định cụ thể các điều kiện hưởngbảo hiểm TNLĐ, thay vì quy định trong văn bản hướng dẫn như trước, đã bảođảm tính khả thi hơn Tuy nhiên, thực tế, đối với doanh nghiệp, việc xác địnhnhư thế nào là sử dụng ma túy, chất gây nghiện khác trái với quy định củapháp luật là không hề dễ dàng
1.2.3 Quy định về các chế độ bảo hiểm tai nạn lao động
Khi NLĐ đủ các điều kiện do pháp luật quy định, thì họ được hưởngquyền lợi bảo hiểm TNLĐ Tùy từng trường hợp cụ thể mà họ có thể đượchưởng một hoặc nhiều chế độ sau đây:
Thứ nhất, giám định mức suy giảm khả năng lao động
Theo quy định tại Điều 47 Luật ATVSLĐ, NLĐ bị TNLĐ được giámđịnh hoặc giám định lại mức suy giảm khả năng lao động khi thuộc một trongcác trường hợp sau đây: a) Sau khi bị thương tật, bệnh tật lần đầu đã đượcđiều trị ổn định còn di chứng ảnh hưởng tới sức khỏe; b) Sau khi thương tật,
Trang 21bệnh tật tái phát đã được điều trị ổn định; c) Đối với trường hợp thương tậthoặc bệnh nghề nghiệp không có khả năng điều trị ổn định theo quy định của
Bộ trưởng Bộ Y tế thì NLĐ được làm thủ tục giám định trước hoặc ngaytrong quy trình điều trị
Trường hợp NLĐ vừa bị TNLĐ vừa bị bệnh nghề nghiệp hoặc bịTNLĐ nhiều lần thì NLĐ được giám định tổng hợp mức suy giảm khả nănglao động NLĐ sau khi thương tật, bệnh tật tái phát đã được điều trị ổn địnhđược giám định lại TNLĐ sau 24 tháng, kể từ ngày NLĐ được Hội đồng giámđịnh y khoa kết luận tỷ lệ suy giảm khả năng lao động liền kề trước đó
Thứ hai, trợ cấp một lần
Theo quy định tại Điều 48 Luật ATVSLĐ, NLĐ bị suy giảm khả nănglao động từ 5% đến 30% thì được hưởng trợ cấp một lần Mức trợ cấp một lầnđược tính dựa vào mức suy giảm khả năng lao động và thời gian đóng BHXH
Cụ thể như sau: Nếu NLĐ suy giảm 5% khả năng lao động thì được hưởngnăm lần mức lương cơ sở, sau đó cứ suy giảm thêm 1% thì được hưởng thêm0,5 lần mức lương cơ sở
Ngoài mức trợ cấp quy định này, NLĐ còn được hưởng thêm khoảntrợ cấp tính theo số năm đã đóng vào quỹ bảo hiểm TNLĐ, bệnh nghề nghiệp.Theo đó, nếu NLĐ đóng BHXH từ một năm trở xuống thì được tính bằng 0,5tháng, sau đó cứ thêm mỗi năm đóng vào quỹ được tính thêm 0,3 tháng tiềnlương đóng vào quỹ của tháng liền kề trước tháng bị TNLĐ Trường hợp bịTNLĐ ngay trong tháng đầu tham gia đóng vào quỹ hoặc có thời gian thamgia gián đoạn sau đó trở lại làm việc thì tiền lương làm căn cứ tính khoản trợcấp này là tiền lương của chính tháng đó5
Thứ ba, trợ cấp hằng tháng
Điều 49 Luật ATVSLĐ quy định NLĐ bị suy giảm khả năng lao động
từ 31% trở lên thì được hưởng trợ cấp hằng tháng Mức trợ cấp hằng thángđược quy định như sau: Nếu suy giảm 31% khả năng lao động thì được hưởng
5 Luật An toàn, vệ sinh lao động năm 2015.
Trang 22bằng 30% mức lương cơ sở, sau đó cứ suy giảm thêm 1% thì được hưởngthêm 2% mức lương cơ sở
Ngoài mức trợ cấp quy định này, hằng tháng NLĐ còn được hưởngthêm một khoản trợ cấp tính theo số năm đã đóng vào quỹ bảo hiểm TNLĐ,bệnh nghề nghiệp Theo đó, nếu NLĐ đóng BHXH từ một năm trở xuốngđược tính bằng 0,5%, sau đó cứ thêm mỗi năm đóng vào quỹ được tính thêm0,3% mức tiền lương đóng vào quỹ của tháng liền kề trước tháng bị TNLĐ.Trường hợp NLĐ bị TNLĐ ngay trong tháng đầu tham gia đóng vào quỹ hoặc
có thời gian tham gia gián đoạn sau đó trở lại làm việc thì tiền lương làm căn
cứ tính khoản trợ cấp này là tiền lương của chính tháng đó
Trường hợp NLĐ tạm dừng hưởng bảo hiểm TNLĐ, bệnh nghềnghiệp thì cơ quan BHXH phải thông báo bằng văn bản và nêu rõ lý do Việcquyết định chấm dứt hưởng bảo hiểm TNLĐ phải căn cứ vào kết luận, quyếtđịnh của cơ quan nhà nước có thẩm quyền Ngoài ra, nếu người đang hưởngtrợ cấp TNLĐ hằng tháng khi chuyển đến ở nơi khác trong nước có nguyệnvọng hưởng trợ cấp tại nơi cư trú mới thì có đơn gửi cơ quan BHXH nơi đanghưởng Trong thời hạn 05 ngày, kể từ ngày nhận được đơn, cơ quan BHXH cótrách nhiệm giải quyết Trường hợp không giải quyết thì phải trả lời bằng vănbản và nêu rõ lý do Người đang hưởng trợ cấp TNLĐ hằng tháng khi ra nướcngoài để định cư được giải quyết hưởng trợ cấp một lần Mức trợ cấp một lầnbằng 03 tháng mức trợ cấp đang hưởng
Điều cần lưu ý là mức hưởng trợ cấp TNLĐ hằng tháng, trợ cấp phục
vụ được điều chỉnh mức hưởng theo quy định của Luật BHXH
Thời điểm hưởng trợ cấp một lần hoặc hằng tháng được tính từ thángNLĐ điều trị ổn định xong, ra viện hoặc từ tháng có kết luận của Hội đồnggiám định y khoa trong trường hợp không điều trị nội trú Trường hợp giámđịnh tổng hợp mức suy giảm khả năng lao động thì thời điểm trợ cấp đượctính kể từ tháng NLĐ điều trị xong, ra viện của lần điều trị đối với TNLĐ saucùng hoặc từ tháng có kết luận giám định tổng hợp của Hội đồng giám định y
Trang 23khoa trong trường hợp không điều trị nội trú Trường hợp NLĐ bị TNLĐ màsau đó không xác định được thời điểm điều trị ổn định xong, ra viện thì thờiđiểm hưởng trợ cấp TNLĐ được tính từ tháng có kết luận của Hội đồng giámđịnh y khoa
Có thể thấy rằng, so với quy định trong Luật BHXH trước đây, thìcác quy định hiện hành đã cụ thể hơn các trường hợp về thời điểm hưởng trợcấp cho NLĐ Quy định như vậy sẽ bảo đảm tính khả thi trong công tác thựchiện chi trả các chế độ cho NLĐ khi bị TNLĐ
Thứ tư, trợ cấp phương tiện trợ giúp sinh hoạt, dụng cụ chỉnh hình
Người lao động bị TNLĐ mà bị tổn thương các chức năng hoạt độngcủa cơ thể (cụt tay, cụt chân, tai điếc, mất răng, liệt cột sống…) thì được cấptiền để mua các phương tiện trợ giúp sinh hoạt, dụng cụ chỉnh hình theo niênhạn căn cứ vào tình trạng thương tật và theo chỉ định của cơ sở khám bệnh,chữa bệnh, cơ sở chỉnh hình, phục hồi chức năng bảo đảm yêu cầu, điều kiệnchuyên môn, kỹ thuật Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội quyđịnh chi tiết về loại phương tiện trợ giúp sinh hoạt, dụng cụ chỉnh hình, niênhạn, mức tiền mua phương tiện trợ giúp sinh hoạt, dụng cụ chỉnh hình và hồ
sơ, trình tự thực hiện
Thứ năm, trợ cấp phục vụ
Người lao động bị suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên mà bịliệt cột sống hoặc mù hai mắt hoặc cụt, liệt hai chi hoặc bị bệnh tâm thần thìngoài quyền lợi về trợ cấp hằng tháng, NLĐ hằng tháng còn được hưởng trợcấp phục vụ bằng mức lương cơ sở
Quy định này nhằm bảo đảm đời sống sinh hoạt cho NLĐ, do thươngtật nặng mà họ không tự phục vụ được các nhu cầu sinh hoạt hằng ngày Tuynhiên, với mức trợ cấp bằng một lần mức lương cơ sở như quy định hiện nay
là còn quá thấp Nên chăng pháp luật cũng cần cân đối nguồn quỹ đang kết dư
để bù đắp cho NLĐ đỡ khó khăn khi có người phục vụ và mức trợ cấp phục
vụ NLĐ được bảo đảm
Trang 24Thứ sáu, trợ cấp khi NLĐ chết do TNLĐ
Để bảo đảm sự chia sẻ với thân nhân NLĐ khi NLĐ bị TNLĐ màchết, pháp luật bảo hiểm TNLĐ luôn chú trọng quyền lợi này Theo quy địnhcủa pháp luật hiện hành tại Điều 53 Luật ATVSLĐ, thì thân nhân NLĐ đượchưởng trợ cấp một lần bằng ba mươi sáu lần mức lương cơ sở tại tháng NLĐ
bị chết và được hưởng chế độ tử tuất theo quy định của Luật BHXH khi thuộcmột trong các trường hợp sau đây: Người lao động đang làm việc bị chết doTNLĐ; Người lao động bị chết trong thời gian điều trị lần đầu do TNLĐ;NLĐ bị chết trong thời gian điều trị thương tật mà chưa được giám định mứcsuy giảm khả năng lao động
Thứ bảy, dưỡng sức, phục hồi sức khỏe sau khi điều trị thương tật
Theo quy định tại Điều 54 Luật ATVSLĐ, NLĐ sau khi điều trị ổnđịnh thương tật do TNLĐ, trong thời gian 30 ngày đầu trở lại làm việc mà sứckhỏe chưa phục hồi thì được nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe từ 05 ngàyđến 10 ngày cho một lần bị TNLĐ Trường hợp chưa nhận được kết luậngiám định mức suy giảm khả năng lao động của Hội đồng giám định y khoatrong thời gian 30 ngày đầu trở lại làm việc thì NLĐ vẫn được giải quyết chế
độ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe cho NLĐ sau khi điều trị thương tật theoquy định nếu Hội đồng giám định y khoa kết luận mức suy giảm khả năng laođộng đủ điều kiện hưởng chế độ bảo hiểm TNLĐ
Số ngày nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe do NSDLĐ và Ban chấphành công đoàn cơ sở quyết định, trường hợp đơn vị sử dụng lao động chưathành lập công đoàn cơ sở thì do NSDLĐ quyết định Thời gian nghỉ dưỡngsức, phục hồi sức khỏe được quy định như sau: Tối đa 10 ngày đối với trườnghợp bị TNLĐ có mức suy giảm khả năng lao động từ 51% trở lên; Tối đa 07ngày đối với trường hợp bị TNLĐ có mức suy giảm khả năng lao động từ31% đến 50%; Tối đa 05 ngày đối với trường hợp bị TNLĐ có mức suy giảmkhả năng lao động từ 15% đến 30%
Trang 25Mức dưỡng sức cũng như các chế độ BHXH ngắn hạn khác là NLĐđược hưởng 01 ngày bằng 30% mức lương cơ sở Quy định này hợp lý hơnquy định trước đây trong Luật BHXH Đó là không chia thành hai mức dưỡngsức phụ thuộc vào nơi dưỡng sức nữa mà để NLĐ hoàn toàn tự quyết định địađiểm dưỡng sức của mình tùy vào nhu cầu thực tế và khả năng sức khỏe, tàichính của bản thân
Thứ tám, hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp cho người bị TNLĐ khi trở lại làm việc
Thực tế đã chỉ ra rằng, một số ngành nghề có mức độ rủi ro cao nhưngành xây dựng, dầu khí, khai khoáng, khai thác nguyên vật liệu xây dựng….Bởi vậy, cũng như pháp luật của nhiều quốc gia trên thế giới, mức đóng vàhưởng được dựa trên sự tính toán của mỗi ngành nghề, đặc biệt chú trọng hoạtđộng phòng ngừa rủi ro, tăng độ an toàn cho hoạt động nghề nghiệp
Xuất phát từ ý nghĩa này, Luật ATVSLĐ đã bổ sung nhiều quy địnhmới, nhằm tạo điều kiện cho NLĐ bảo đảm việc làm và thu nhập Theo đó,NLĐ bị TNLĐ được NSDLĐ sắp xếp công việc mới, nếu phải đào tạo NLĐ đểchuyển đổi nghề nghiệp thì được hỗ trợ học phí Mức hỗ trợ không quá 50%mức học phí và không quá mười lăm lần mức lương cơ sở Số lần hỗ trợ tối
đa đối với mỗi NLĐ là hai lần và trong 01 năm chỉ được nhận hỗ trợ một lần
Hằng năm, quỹ bảo hiểm TNLĐ, bệnh nghề nghiệp dành tối đa 10%nguồn thu để hỗ trợ các hoạt động phòng ngừa, chia sẻ rủi ro về TNLĐ Cáchoạt động phòng ngừa, chia sẻ rủi ro về TNLĐ được hỗ trợ bao gồm: Khámchưa bệnh; Phục hồi chức năng lao động; Điều tra lại các vụ TNLĐ theo yêucầu của cơ quan BHXH; Huấn luyện về an toàn, vệ sinh lao động cho ngườitham gia bảo hiểm TNLĐ Việc hỗ trợ các hoạt động này không bao gồmphần chi phí do quỹ bảo hiểm y tế đã chi trả theo quy định của Luật bảo hiểm
y tế hoặc chi phí do NSDLĐ đã hỗ trợ theo quy định Tuy nhiên, điều kiện hỗtrợ, hồ sơ, mức hỗ trợ, thời gian hỗ trợ, trình tự, thủ tục hỗ trợ, cơ quan cóthẩm quyền quyết định việc hỗ trợ, việc tổ chức thực hiện chính sách hỗ trợquy định và phải bảo đảm cân đối quỹ bảo hiểm TNLĐ, bệnh nghề nghiệp
Trang 261.2.4 Quy định về nguồn thực hiện bảo hiểm tai nạn lao động
Để bảo đảm nguồn chi trả chế độ, bảo hiểm TNLĐ được hạch toánmột quỹ độc lập: Quỹ bảo hiểm TNLĐ, bệnh nghề nghiệp Đây là quỹ thànhphần của quỹ BHXH Điều 44 Luật ATVSLĐ quy định mức đóng, nguồnhình thành quỹ bảo hiểm TNLĐ, bệnh nghề nghiệp Theo đó, NSDLĐ hằngtháng đóng tối đa 0,5% trên quỹ tiền lương làm căn cứ đóng BHXH của NLĐvào quỹ bảo hiểm TNLĐ, bệnh nghề nghiệp6
Nguồn hình thành quỹ bảo hiểm TNLĐ, bệnh nghề nghiệp bao gồm:Khoản đóng thuộc trách nhiệm của NSDLĐ; Tiền sinh lời của hoạt động đầu
tư từ quỹ theo quy định tại Điều 90 và Điều 91 của Luật BHXH và các nguồnthu hợp pháp khác
Quỹ bảo hiểm TNLĐ, bệnh nghề nghiệp được dùng để trả phí khámgiám định thương tật do TNLĐ đối với các trường hợp đủ điều kiện hưởngtheo quy định; trả phí khám giám định đối với trường hợp NLĐ chủ động đikhám giám định mức suy giảm khả năng lao động mà kết quả khám giámđịnh đủ điều kiện để điều chỉnh tăng mức hưởng trợ cấp TNLĐ Chi trợ cấpmột lần, trợ cấp hằng tháng, trợ cấp phục vụ, chi hỗ trợ phương tiện trợ giúpsinh hoạt, dụng cụ chỉnh hình, chi dưỡng sức, phục hồi sức khỏe, chi hỗ trợphòng ngừa, chia sẻ rủi ro về TNLĐ, hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp chongười bị TNLĐ khi trở lại làm việc, chi phí quản lý bảo hiểm TNLĐ thựchiện theo quy định của Luật BHXH, chi đóng bảo hiểm y tế cho người nghỉviệc hưởng trợ cấp bảo hiểm TNLĐ hằng tháng
1.2.5 Quy định về trình tự, thủ tục thực hiện chế độ bảo hiểm tai nạn lao động
Để được hưởng các quyền lợi theo quy định, pháp luật quy định NLĐphải tuân theo thủ tục, hồ sơ Cũng do TNLĐ khác với bệnh nghề nghiệp nênthủ tục, hồ sơ hưởng TNLĐ khác với thủ tục, hồ sơ hưởng bệnh nghề nghiệp
6 Nghị định số 44/2017/NĐ-CP ngày 14/4/2017 quy định mức đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc vào quỹ tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp.
Trang 27Theo quy định tại Điều 57 Luật ATVSLĐ, hồ sơ hưởng chế độ TNLĐgồm: 1) Sổ BHXH; 2) Giấy ra viện hoặc trích sao hồ sơ bệnh án sau khi đãđiều trị TNLĐ đối với trường hợp nội trú; 3) Biên bản giám định mức suygiảm khả năng lao động của Hội đồng giám định y khoa; 4) Văn bản đề nghịgiải quyết chế độ TNLĐ theo mẫu do BHXH Việt Nam ban hành sau khithống nhất ý kiến với Bộ Lao động, thương binh và xã hội.
Khi đã đủ hồ sơ như trên, việc giải quyết hưởng chế độ bảo hiểmTNLĐ được tiến hành như sau: NSDLĐ nộp hồ sơ cho cơ quan BHXH trongthời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận được đầy đủ hồ sơ hưởng chế độ bảo hiểmTNLĐ Trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ, cơ quan BHXH cótrách nhiệm giải quyết hưởng chế độ bảo hiểm TNLĐ Trường hợp không giảiquyết thì phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do
Riêng chế độ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe sau TNLĐ, pháp luật quyđịnh thủ tục giải quyết như sau: NSDLĐ lập danh sách người đã hưởng chế
độ bảo hiểm TNLĐ mà sức khỏe chưa phục hồi và nộp cho cơ quan BHXHtrong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày NLĐ được xác định là sức khỏe chưa phụchồi theo quy định Trong thời hạn 10 ngày, kể từ khi nhận danh sách, cơ quanBHXH có trách nhiệm giải quyết chế độ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe choNLĐ và chuyển tiền cho đơn vị sử dụng lao động; trường hợp không giảiquyết thì phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do Trong thời hạn 05 ngày, kể
từ ngày nhận được tiền do cơ quan BHXH chuyển đến, NSDLĐ có tráchnhiệm chi trả tiền trợ cấp cho NLĐ
Ngoài ra, pháp luật còn quy định cụ thể việc giải quyết hưởng chế độbảo hiểm TNLĐ chậm so với thời hạn quy định Đó là trường hợp vượt quáthời hạn giải quyết hưởng chế độ bảo hiểm TNLĐ thì phải giải trình bằng vănbản và nêu rõ lý do Trường hợp giải quyết hưởng chế độ bảo hiểm TNLĐ vàchi trả tiền trợ cấp chậm so với thời hạn quy định, gây thiệt hại đến quyền, lợiích hợp pháp của người hưởng thì phải bồi thường theo quy định của phápluật, trừ trường hợp do lỗi của bản thân NLĐ hoặc của thân nhân của NLĐđược hưởng chế độ tử tuất
Trang 28So với trước đây, thì hồ sơ, trình tự khám giám định mức suy giảm khảnăng lao động để giải quyết chế độ bảo hiểm TNLĐ cũng được quy định cụthể hơn Theo đó, hồ sơ, trình tự khám giám định mức suy giảm khả năng laođộng để giải quyết chế độ bảo hiểm TNLĐ do Bộ trưởng Bộ Y tế quy định.Việc khám giám định mức suy giảm khả năng lao động phải bảo đảm chínhxác, công khai, minh bạch Hội đồng giám định y khoa chịu trách nhiệm vềtính chính xác của kết quả giám định của mình theo quy định của pháp luật
1.2.6 Quy định về xử lý vi phạm hành chính về bảo hiểm tai nạn lao động
Theo Điều 121 Luật BHXH năm 2014, thẩm quyền xử phạt vi phạmhành chính, mức phạt và biện pháp khắc phục hậu quả trong lĩnh vực BHXHnói chung, bảo hiểm TNLĐ nói riêng bao gồm: a) Tổng Giám đốc BHXHViệt Nam có thẩm quyền theo quy định tại khoản 4 Điều 46 của Luật xử lý viphạm hành chính; b) Giám đốc BHXH cấp tỉnh có thẩm quyền theo quy địnhtại khoản 2 Điều 46 của Luật xử lý vi phạm hành chính; c) Trưởng đoàn thanhtra chuyên ngành do Tổng Giám đốc BHXH Việt Nam quyết định thành lập
có thẩm quyền theo quy định tại khoản 3 Điều 46 của Luật xử lý vi phạmhành chính Người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính theo quy địnhnày có thể có thể giao cho cấp phó thực hiện xử lý vi phạm hành chính7
Mức phạt tiền tối đa đối với lĩnh vực BHXH nói chung, bảo hiểmTNLĐ nói riêng, các hình thức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả, thủ tục
xử phạt vi phạm hành chính và các quy định khác có liên quan về xử phạt viphạm hành chính thực hiện theo quy định của Luật xử lý vi phạm hành chính,Nghị định số 95/2013/NĐ-CP ngày 22/8/2013 và Nghị định số 88/2015/NĐ-
CP ngày 7/10/2015
Cơ quan, tổ chức có hành vi vi phạm quy định của Luật BHXH, tùytheo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử phạt vi phạm hành chính; nếu gâythiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật Cá nhân có hành vi
7 Luật BHXH năm 2014.
Trang 29vi phạm quy định của Luật này, tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xửphạt vi phạm hành chính, xử lý kỷ luật hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự;nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật.
Trường hợp NSDLĐ có hành vi trốn đóng, chậm đóng, nợ đọng bảohiểm TNLĐ của NLĐ từ 30 ngày trở lên thì ngoài việc phải đóng đủ số tiềnchưa đóng, chậm đóng và bị xử lý theo quy định của pháp luật, còn phải nộp
số tiền lãi bằng 02 lần mức lãi suất đầu tư quỹ BHXH bình quân của năm trướcliền kề tính trên số tiền, thời gian chậm đóng Nếu không thực hiện thì theoyêu cầu của người có thẩm quyền, ngân hàng, tổ chức tín dụng khác, kho bạcnhà nước có trách nhiệm trích từ tài khoản tiền gửi của NSDLĐ để nộp số tiềnchưa đóng, chậm đóng và lãi của số tiền này vào tài khoản của cơ quan BHXH
Như vậy có thể thấy rằng, so với trước, quy định về bảo hiểm TNLĐtrong Luật ATVSLĐ có nhiều ưu điểm, khắc phục được hầu hết những bất cậptrong quy định trước đây Tuy nhiên, bên cạnh những ưu điểm đã đạt được,quy định về bảo hiểm TNLĐ vẫn còn những điểm hạn chế sau:
Thứ nhất, đối tượng áp dụng bảo hiểm TNLĐ vẫn còn bị thu hẹp, chỉ
áp dụng đối với các đối tượng tham gia BHXH bắt buộc, trừ hai nhóm đốitượng (cán bộ không chuyên trách cấp xã, NLĐ Việt Nam đi làm việc ở nướcngoài theo hợp đồng là không hợp lý Bởi, hầu hết những NLĐ không thamgia quan hệ lao động ở khu vực phi chính thức dường như chưa được phápluật quan tâm Trong khi đó, nhu cầu bảo hiểm khi gặp rủi ro bị TNLĐ này làmang tính khách quan của NLĐ Vì thế quy định hiện hành chưa đảm tínhbình đẳng giữa các thành viên trong xã hội về quyền được tham gia BHXH
Thứ hai, pháp luật hiện hành quy định các điều kiện hưởng chế độ
TNLĐ, song vẫn chưa hướng dẫn cụ thể một số trường hợp khi NLĐ bị tainạn giao thông trên tuyến đường đi về Vì thế thực tế khó xác định thế nào làtuyến đường hợp lý vẫn còn đặt ra nhiều vấn đề Tuyến đường hợp lý từ nhàđến nơi làm việc hoặc ngược lại được xác định như thế nào? Tiêu chí đánh giá
và xác định tuyến đường hợp lý là gì? Đến nay pháp luật vẫn bỏ ngỏ vấn đề này
Trang 30Thứ ba, mức trợ cấp phục vụ NLĐ hiện nay là quá thấp so với nhu cầu
của đối tượng hưởng Bởi lẽ, đối tượng hưởng chế độ này thuộc diện vô cùngkhó khăn Nếu không được giúp đỡ của người khác thì họ không thể tự lođược cuộc sống hàng ngày Tuy nhiên, với mức chi như hiện nay cho ngườiphục vụ NLĐ cũng cần xem xét lại
Thứ tư, mức phí đóng của các đơn vị sử dụng lao động vào quỹ bảo
hiểm TNLĐ, bệnh nghề nghiệp hiện nay là 0,5% quỹ tiền lương của đơn vị sửdụng lao động, không phân biệt loại hình đơn vị sử dụng lao động Song việc
áp dụng mức chung cho mọi đơn vị sử dụng lao động là không hợp lý
Thứ năm, trường hợp NSDLĐ có hành vi trốn đóng, chậm đóng, nợ
đọng bảo hiểm TNLĐ của NLĐ từ 30 ngày trở lên thì ngoài việc phải đóng đủ
số tiền chưa đóng, chậm đóng và bị xử lý theo quy định của pháp luật, cònphải nộp số tiền lãi bằng 02 lần mức lãi suất đầu tư quỹ BHXH bình quân củanăm trước liền kề tính trên số tiền, thời gian chậm đóng Nếu không thực hiệnthì theo yêu cầu của người có thẩm quyền, ngân hàng, tổ chức tín dụng khác,kho bạc nhà nước có trách nhiệm trích từ tài khoản tiền gửi của NSDLĐ đểnộp số tiền chưa đóng, chậm đóng và lãi của số tiền này vào tài khoản của cơquan BHXH
Quy định này khó có tính khả thi trong trường hợp chủ doanh nghiệp
đã bỏ trốn Ngoài ra, thực tế theo yêu cầu của người có thẩm quyền, ngânhàng, tổ chức tín dụng khác, kho bạc nhà nước có trách nhiệm trích từ tàikhoản tiền gửi của NSDLĐ, nhưng khi kiểm tra tài khoản thì đã hết tiền Vìthế pháp luật cũng cần có quy định phù hợp với thực tế hơn
Thứ sáu, theo quy định hiện hành, khi NLĐ bị TNLĐ được hưởng
quyền lợi từ hai chủ thể: NSDLĐ trực tiếp trả các quyền lợi cho NLLĐ trongthời gian điều trị; Quỹ bảo hiểm chi trả từ khi NLĐ điều trị ổn định, ra viện.Quy định như vậy không hợp lý và chưa bảo đảm quyền lợi của NLĐ Bởi,trong nhiều trường hợp NSDLĐ không có nguồn kinh phí để chi trả trực tiếptrong thời gian NLĐ điều trị TNLĐ Và cũng do không đóng phí bảo hiểm
Trang 31nên khi NLĐ bị TNLĐ không được hưởng các chế độ bảo hiểm Vì vậy, phápluật cũng cần xem xét lại quy định này cho phù hợp với thực tế
Kết luận chương 1
Bảo hiểm TNLĐ là hình thức bảo hiểm bắt buộc nhằm bảo đảm đờisống cho NLĐ khi gặp rủi ro bị TNLĐ trong quá trình thực hiện quyền vànghĩa vụ lao động
Do có những đặc điểm riêng nên bảo hiểm TNLĐ được quy định cụthể, gắn liền với việc thực hiện an toàn, vệ sinh lao động của NSDLĐ Phápluật về bảo hiểm TNLĐ bao gồm các nội dung cơ bản như: đối tượng thamgia, các chế độ hưởng, thủ tục hưởng quyền lợi và nguồn chi trả chế độ,…
Nhìn chung các quy định về bảo hiểm TNLĐ theo Luật ATVSLĐ cónhiều điểm tiến bộ Trong đó pháp luật quy định cụ thể về đối tượng tham gia,điều kiện hưởng, quyền lợi hưởng cũng như thủ tục thực hiện đơn giản, thuậntiện, bảo đảm quyền lợi cho đối tượng hưởng Mức phí đóng bảo hiểm TNLĐ,bệnh nghề nghiệp giảm so với trước và được quy định chặt chẽ, nhằm bảotoàn nguồn tài chính chi trả một cách ổn định và lâu dài cho đối tượng hưởng
Tuy nhiên, bên cạnh những ưu điểm, pháp luật bảo hiểm TNLĐ hiệnhành vẫn còn một số bất cập Trong thời gian tới cần thiết phải xem xét đểtiến hành sửa đổi, bổ sung những quy định này cho phù hợp với thực tế đờisống và nhu cầu của đối tượng tham gia bảo hiểm
Trang 32Chương 2 THỰC TIỄN THỰC HIỆN PHÁP LUẬT BẢO HIỂM TAI NẠN LAO ĐỘNG TẠI TỈNH HÒA BÌNH
2.1 Khái quát về bảo hiểm xã hội tỉnh Hòa Bình
2.1.1 Khái quát về tổ chức bảo hiểm xã hội tỉnh Hòa Bình
- Giới thiệu chung về tỉnh Hòa Bình
Hòa Bình là tỉnh miền núi thuộc vùng tây bắc Việt Nam, nằm giápranh giữa ba khu vực: tây bắc, đông bắc và Bắc Trung Bộ của Việt Nam Phíabắc giáp với tỉnh Phú Thọ, phía nam giáp với các tỉnh Hà Nam, Ninh Bình;Phía đông và đông bắc giáp với thủ đô Hà Nội; Phía tây, tây bắc, tây namgiáp với các tỉnh Sơn La, Thanh Hóa Hòa Bình có diện tích là 4.596,4 km²
Tính đến tháng 7/2015, Hòa Bình có 901.200 dân, gồm 6 dân tộc sinhsống, đông nhất là người Mường chiếm 63,3%; người Kinh chiếm 27,73%;người Thái chiếm 3,9%; người Dao chiếm 1,7%; người Tày chiếm 2,7%;người Mông chiếm 0,52%; ngoài ra còn có người Hoa sống rải rác ở các địaphương trong tỉnh Hiện có 21% dân số sống ở đô thị và 79% dân số sống ởnông thôn8
Tỉnh Hòa Bình hiện có 1 thành phố (thành phố Hòa Bình) và 10 huyện
(Lương Sơn, Cao Phong, Đà Bắc, Kim Bôi, Kỳ Sơn, Lạc Sơn, Lạc Thủy, MaiChâu, Tân Lạc, Yên Thủy) Trong khoảng gần 1 triệu người dân thì Hòa Bình
có khoảng 1/2 là người trong độ tuổi lao động
- Giới thiệu về cơ quan bảo hiểm xã hội tỉnh Hòa Bình
Bảo hiểm xã hội tỉnh Hòa Bình là cơ quan trực thuộc BHXH ViệtNam, có chức năng giúp Tổng giám đốc tổ chức thực hiện các chính sách, chế
độ BHXH, bảo hiểm y tế và quản lý quỹ BHXH, bảo hiểm y tế trên địa bàntỉnh Hòa Bình9
8 https://vi.m.wikipedia.org/wiki/Hòa_Bình.
9 http://bhxhhoabinh.gov.vn/news/2208/827/to-chuc-bo-may-bao-hiem-xa-hoi-tinh-hoa-binh.aspx.
Trang 33Bảo hiểm xã hội tỉnh Hòa Bình chịu sự quản lý trực tiếp toàn diện củaTổng giám đốc BHXH Việt Nam, chịu sự quản lý hành chính trên địa bànlãnh thổ của Ủy ban nhân dân tỉnh Hòa Bình BHXH tỉnh Hòa Bình có tưcách pháp nhân, có trụ sở đặt tại tỉnh lỵ, có dấu, tài khoản riêng.
Về tổ chức bộ máy BHXH tỉnh Hòa Bình, gồm các bộ phận theo sơ
đồ sau:
Hình 2.1 Sơ đồ tổ chức bộ máy BHXH tỉnh Hòa Bình
Trang 34Về chức năng, quyền và nghĩa vụ của tổ chức BHXH tỉnh Hòa Bình.BHXH tỉnh Hòa Bình có chức năng giúp giám đốc BHXH tỉnh tổ chức thựchiện chế độ, chính sách BHXH, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp trên địabàn tỉnh theo quy định của BHXH tỉnh và BHXH Việt Nam.
Bảo hiểm xã hội tỉnh Hòa Bình có nhiệm vụ và quyền hạn được quyđịnh cụ thể Đó là: Xây dựng, trình giám đốc kế hoạch ngắn hạn và dài hạn vềphát triển BHXH trên địa bàn và chương trình công tác hàng năm Tổ chứcthực hiện kế hoạch, chương trình sau khi được phê duyệt Tổ chức thực hiệncông tác thông tin, tuyên truyền, phổ biến các chế độ, chính sách, pháp luật vềBHXH Tổ chức khai thác, đăng ký, quản lý các đối tượng tham gia và hưởngchế độ BHXH nói chung, bảo hiểm TNLĐ, bệnh nghề nghiệp nói riêng theoquy định của pháp luật Tổ chức thu các khoản đóng BHXH của các tổ chức,
cơ quan, doanh nghiệp và cá nhân tham gia BHXH Hướng dẫn và tổ chứctiếp nhận hồ sơ, giải quyết hưởng các chế độ BHXH Tổ chức chi trả các chế
độ BHXH, trong đó có bảo hiểm TNLĐ Từ chối việc đóng hoặc chi trả cácchế độ BHXH, trong đó có bảo hiểm TNLĐ không đúng quy định Quản lý và
sử dụng các nguồn kinh phí và tài sản theo quy định Chỉ đạo, hướng dẫn,kiểm tra việc chi trả BHXH ở 11 đơn vị BHXH, gồm thành phố Hòa Bình vàBHXH 10 huyện trên địa bàn
Bảo hiểm xã hội tỉnh Hòa Bình tổ chức kiểm tra, giải quyết và thựchiện chế độ, chính sách về BHXH đối với các đơn vị và tổ chức, cá nhân thamgia bảo hiểm theo quy định của pháp luật Kiến nghị với cơ quan có thẩmquyền xử lý những hành vi vi phạm pháp luật Tổ chức thực hiện chươngtrình, kế hoạch cải cách hành chính theo chỉ đạo hướng dẫn của BHXH ViệtNam Thực hiện cơ chế một cửa liên thông giải quyết chế độ BHXH nóichung, bảo hiểm TNLĐ nói riêng Tổ chức quản lý, lưu trữ hồ sơ của đốitượng tham gia và hưởng các chế độ BHXH, trong đó có bảo hiểm TNLĐ Tổchức nghiên cứu, ứng dụng khoa học; ứng dụng công nghệ thông tin trong
Trang 35quản lý, điều hành hoạt động BHXH Tổ chức đào tạo, bồi dưỡng chuyênmôn, nghiệp vụ BHXH cho công chức, viên chức thuộc BHXH tỉnh và các tổchức, cá nhân tham gia BHXH khi có nhu cầu.
Ngoài ra, BHXH tỉnh Hòa Bình còn chủ trì, phối hợp với các cơ quannhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội trên địa bàn, với các tổ chức, cơ quan,doanh nghiệp, cá nhân tham gia bảo hiểm BHXH, trong đó có bảo hiểmTNLĐ, để giải quyết các vấn đề có liên quan đến việc thực hiện các chế độbảo hiểm BHXH, trong đó có bảo hiểm TNLĐ theo quy định của pháp luật
Đề xuất với BHXH Việt Nam kiến nghị việc xây dựng, sửa đổi, bổ sung chế
độ, chính sách về BHXH trong đó có bảo hiểm TNLĐ Kiến nghị với các cơquan chức năng thanh tra, kiểm tra các tổ chức, cá nhân trong việc thực hiệnBHXH, trong đó có bảo hiểm TNLĐ Cung cấp đầy đủ và kịp thời thông tin
về việc đóng, hưởng các chế độ bảo hiểm BHXH, trong đó có bảo hiểmTNLĐ, thủ tục thực hiện BHXH, trong đó có bảo hiểm TNLĐ, tổ chức, cơquan, cá nhân tham gia bảo hiểm hoặc tổ chức công đoàn yêu cầu Cung cấpđầy đủ và kịp thời tài liệu, thông tin liên quan theo yêu cầu của cơ quan nhànước có thẩm quyền Quản lý và sử dụng công chức, viên chức, tài chính, tàisản của BHXH tỉnh Thực hiện chế độ thông tin, thống kê, báo cáo theo quyđịnh và thực hiện các nhiệm vụ khác do giám đốc BHXH Việt Nam giao
2.1.2 Hoạt động triển khai thực hiện các quy định của pháp luật về bảo hiểm tai nạn lao động trên địa bàn tỉnh Hòa Bình
Để triển khai thực hiện pháp luật về bảo hiểm TNLĐ quy định trongLuật ATVSLĐ, BHXH tỉnh Hòa Bình đã tuân theo đầy đủ các quy định củaBHXH Việt Nam Cụ thể là Quyết định 595/QĐ-BHXH ngày 14/4/2017 củaTổng giám đốc BHXH Việt Nam về ban hành quy chế thu BHXH, bảo hiểm y
tế, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm TNLĐ, bệnh nghề nghiệp, quản lý sổBHXH, thẻ BHYT; Quyết định số 166/QĐ-BHXH ngày 31/1/2019 của Tổnggiám đốc BHXH Việt Nam ban hành quy trình giải quyết hưởng các chế độ
Trang 36BHXH, chi trả các chế độ BHXH, bảo hiểm thất nghiệp, Mục đích là nhằmtriển khai thực hiện đồng bộ chính sách pháp luật BHXH nói chung, bảo hiểmTNLĐ nói riêng trên địa bàn.
Cùng với công tác triển khai thực hiện hiệu quả các quy định của phápluật về bảo hiểm TNLĐ phù hợp với những đặc điểm kinh - tế xã hội, dân sốcủa tỉnh Hòa Bình, BHXH tỉnh đã triển khai nhiều biện pháp Trong đó, chútrọng tham mưu cho các cơ quan liên quan ban hành các văn bản hướng dẫn,chỉ đạo, công văn phối hợp với các ban ngành
Trong các năm vừa qua, BHXH tỉnh Hòa Bình thường xuyên chủđộng báo cáo định kỳ hàng quý, hàng năm hoặc báo cáo đột xuất, đề xuất thammưu với Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh các giải pháp tổ chức, triển khai thựchiện công tác BHXH, trong đó có công tác bảo hiểm TNLĐ Đồng thời chủđộng phối hợp với các cơ quan liên quan trong triển khai thực hiện nhiệm vụcủa ngành trên địa bàn Gần đây là các văn bản như: Báo cáo số 405-BC/TUngày 29/3/2018 của Tỉnh ủy Hòa Bình về sơ kết 5 năm thực hiện Nghị quyết
số 21-NQ/TW ngày 22/11/2012 của Bộ Chính trị về tăng cường sự lãnh đạocủa Đảng đối với công tác BHXH, bảo hiểm y tế giai đoạn 2012-2020; Côngvăn số 1089/LN-SYT-BHXH ngày 18/6/2018 về việc hướng dẫn thực hiệnThông tư số 56/2017/TT-BYT của Bộ Y tế về quy định chi tiết thi hành LuậtBHXH và Luật An toàn vệ sinh lao động thuộc lĩnh vực y tế; Kế hoạch số160/KH-UBND ngày 14/12/2018 của ủy ban nhân dân tỉnh Hòa Bình về việcthực hiện Chương trình hành động số 24-CTr/TU ngày 25/10/2018 của Banchấp hành Đảng bộ tỉnh Hòa Bình thực hiện Nghị quyết số 28-NQ/TW ngày23/5/2018 của Ban chấp hành Trung ương khóa XII về cải cách chính sáchBHXH trên địa bàn tỉnh Hòa Bình
Từ những cơ sở như trên, có thể thấy thực tiễn thực hiện bảo hiểmTNLĐ trong những năm gần đây, đặc biệt giai đoạn từ khi Luật ATVSLĐ cóhiệu lực
Trang 372.2 Những kết quả đạt được trong thực tiễn thực hiện pháp luật bảo hiểm tai nạn lao động tại tỉnh Hòa Bình
- Về tình hình đối tượng tham gia bảo hiểm TNLĐ
Nhờ sự chủ động phối hợp giữa BHXH tỉnh Hòa Bình với các đơn vị
có liên quan mà các chính sách, pháp luật về BHXH nói chung, bảo hiểmTNLĐ trên địa bàn tỉnh luôn được tuyên truyền, phổ biến rộng rãi đến cácđơn vị sử dụng lao động và NLĐ Công tác quản lý, giám sát và phát triển đốitượng cũng được thực hiện một cách thường xuyên, liên tục Vì thế, đối tượngtham gia BHXH nói chung, bảo hiểm TNLĐ nói riêng trên địa bàn tỉnh HòaBình ngày càng gia tăng Năm sau tăng hơn năm trước
Theo đó, hầu hết các đơn vị sử dụng lao động theo quy định của phápluật đều tham gia BHXH, trong đó có bảo hiểm TNLĐ Số đơn vị sử dụng laođộng thuộc khối cơ quan, tổ chức tham gia bảo hiểm TNLĐ khá ổn định, kể
cả về số lượng đơn vị và số lượng NLĐ Hằng năm, số đơn vị đăng ký mớihoặc bổ sung đóng BHXH chủ yếu là các hợp tác xã, cửa hàng và cá nhânkinh doanh, một số doanh nghiệp mới được thành lập và đi vào hoạt động.Đặc biệt, từ năm 2018, do việc mở rộng đối tượng tham gia bảo hiểm, nên sốđối tượng NLĐ cũng từ đấy được tăng lên so với trước đó
Theo báo cáo của BHXH tỉnh Hòa Bình, năm 201610, số người thamgia BHXH bắt buộc là 67.496 người, đạt 95,7% kế hoạch giao, tăng 2.504người (3,9%) so với năm 2015 Năm 2017, số người tham gia BHXH bắtbuộc là 70.431 người, đạt 98,9% kế hoạch giao, tăng 2.935 người (4,3%) sovới năm 201611 Năm 2018, số người tham gia BHXH bắt buộc là 74.392người, tăng 3.961 người (5,6%) so với cùng kỳ năm 201712
Như vậy, cùng với việc gia tăng đối tượng tham gia BHXH bắt buộc, đốitượng tham gia bảo hiểm TNLĐ cũng từ đó tăng thêm Điều đó cho thấy rằng,việc sử dụng lao động trên địa bàn, đặc biệt là các doanh nghiệp tương đối ổn
10 Bảo hiểm xã hội tỉnh Hòa Bình, Báo cáo kết quả công tác năm 2016 và phương hướng, nhiệm vụ năm 2017.
11 Bảo hiểm xã hội tỉnh Hòa Bình, Báo cáo kết quả công tác năm 2017 và phương hướng, nhiệm vụ năm 2018.
12 Bảo hiểm xã hội tỉnh Hòa Bình, Báo cáo kết quả công tác năm 2018 và phương hướng, nhiệm vụ năm 2019