Bên cạnh các khóa luận, luận văn thạc sĩ đã nghiên cứu về vấn đề này,trong thời gian qua, một số các bài viết khoa học về lý luận và thực tiễn có liên quan đến việc giải quyết TCLĐ như "
Trang 1Chương 1: KHÁI QUÁT VỀ TRANH CHẤP LAO ĐỘNG VÀ GIẢI
QUYẾT TRANH CHẤP LAO ĐỘNG CÁ NHÂN TẠI TÒA
1.1 Khái niệm về tranh chấp lao động cá nhân và giải quyết tranh
1.2 Khái niệm, đặc điểm của việc giải quyết tranh chấp lao động
1.3 Nội dung pháp luật về giải quyết tranh chấp lao động cá nhân
Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ GIẢI QUYẾT TRANH
CHẤP LAO ĐỘNG CÁ NHÂN TỪ THỰC TIỄN XÉT XỬ TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÒA BÌNH 292.1 Tình hình phát triển kinh tế, xã hội tỉnh Hòa Bình và những
2.2 Quy định của pháp luật về giải quyết tranh chấp lao động cá
2.3 Thực tiễn giải quyết tranh chấp lao động cá nhân tại Tòa án
Chương 3: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ NÂNG CAO
HIỆU QUẢ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP LAO ĐỘNG CÁ NHÂN TỪ THỰC TIỄN XÉT XỬ TẠI TÒA ÁN NHÂN
3.1 Phương hướng hoàn thiện pháp luật giải quyết tranh chấp lao
3.2 Hoàn thiện các quy định của pháp luật tố tụng về giải quyết
tranh chấp lao động cá nhân tại Tòa án nhân dân 54
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 2BHTN : Bảo hiểm thất nghiệpBHXH : Bảo hiểm xã hội
BHYT : Bảo hiểm y tế
BLLĐ : Bộ luật Lao động
BLTTDS : Bộ luật Tố tụng dân sựHĐLĐ : Hợp đồng lao động
NLĐ : Người lao động
NSDLĐ : Người sử dụng lao độngPLLĐ : Pháp luật lao động
QHLĐ : Quan hệ lao động
TAND : Tòa án nhân dân
TCLĐ : Tranh chấp lao động
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Từ khi nền kinh tế nước ta chuyển sang cơ chế thị trường, các quan hệlao động (QHLĐ) trở nên đa dạng và phức tạp Khi sức lao động trở thànhhàng hóa, nó bị chi phối bởi quy luật cung cầu và quy luật giá trị thì lợi íchcác bên trong QHLĐ đã xuất hiện những mâu thuẫn phức tạp Hai bên, người
sử dụng lao động (NSDLĐ) và người lao động (NLĐ) ngoài những lợi íchchung, mỗi bên còn có những lợi ích riêng Không phải lúc nào giữa họ cũng
có thể dung hòa với nhau về tất cả các vấn đề mà lúc này hay lúc khác xuấthiện những bất đồng về quyền lợi và lợi ích trong lao động Những bất đồng
đó nếu được thương lượng, thu xếp giải quyết tốt sẽ không trở thành mâuthuẫn lớn Ngược lại sẽ phát triển thành tranh chấp nếu không giải quyết tốt
Cùng với những nỗ lực của Nhà nước và các nhà làm luật, các quyđịnh của pháp luật về tranh chấp và giải quyết tranh chấp lao động cá nhân tạiTòa án nhân dân (TAND) đã đạt được hoàn thiện đáng kể, tạo ra cơ sở pháp
lý cần thiết, phần nào đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn Tuy nhiên, hiện nayhành lang pháp lý liên quan đến vấn đề giải quyết tranh chấp lao động (TCLĐ)
cá nhân tại TAND còn nhiều bất cập, đặc biệt có một số điều khoản còn chưa
có tính khả thi, các cơ quan tổ chức có thẩm quyền còn lúng túng trong việcgiải quyết TCLĐ cá nhân vì thế nhiều trường hợp và lợi ích hợp pháp củaNLĐ chưa được bảo vệ đúng mức
Kể từ khi Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO)đến nay, nền kinh tế đất nước có những chuyển biến rõ rệt, với cơ chế quản lý
và môi trường đầu tư thông thoáng đã tạo điều kiện thuận lợi cho các loạihình doanh nghiệp phát triển đồng bộ, tạo ra nhiều cơ hội lựa chọn việc làmcho NLĐ trong nước Song song với sự phát triển của doanh nghiệp, QHLĐcũng ngày càng đa dạng và phức tạp, có phạm vi ảnh hưởng lớn và tác động
Trang 4đến mọi mặt của đời sống xã hội Thêm nữa, với việc gần đây Việt Nam thamgia ký kết các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới như: Hiệp định Đối tácToàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương, Hiệp định Việt Nam - EU với các cam kết thực chất về việc tuân thủ tiêu chuẩn lao động quốc tế dẫnđến sự thay đổi nhanh chóng của các quy phạm pháp luật lao động (PLLĐ)liên quan Trong QHLĐ thì NLĐ và NSDLĐ luôn có sự gắn bó mật thiết vớinhau trong quá trình tồn tại và phát triển, NSDLĐ bỏ vốn đầu tư, kinh doanh
để tìm kiếm lợi nhuận, NLĐ thì sử dụng sức lao động để tạo ra thu nhập nuôisống bản thân và gia đình Tuy nhiên, mối quan hệ này luôn tồn tại sự đối lập
về mặt lợi ích, bởi vì các khoản phải trả cho NLĐ tăng cũng đồng nghĩa vớilợi nhuận của NSDLĐ sẽ giảm Việc không thể dung hòa về mặt lợi ích đều
có nguy cơ xảy ra mâu thuẫn và phát triển thành TCLĐ
Tranh chấp lao động cá nhân là một trong những loại TCLĐ có quy
mô nhỏ, phổ biến, rất dễ xảy ra và chiếm đa số trong các TCLĐ hiện nay Vớiđặc điểm và tính chất như vậy, việc giải quyết TCLĐ phù hợp sẽ bảo vệ đượcquyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của NLĐ, đối tượng được xem là yếuthế trong QHLĐ nhưng lại chiếm số đông trong xã hội, đồng thời xây dựngđược mối QHLĐ hài hòa, ổn định, tiến bộ trong doanh nghiệp
Tại tỉnh Hòa Bình, TCLĐ cá nhân xảy ra không nhiều nhưng không
vì thế mà kém phức tạp Các tranh chấp chủ yếu tập trung vào chấm dứtHĐLĐ, kỷ luật lao động theo hình thức sa thải… Nguyên nhân chủ yếu củacác TCLĐ cá nhân xuất phát từ ý thức chấp hành PLLĐ của NSDLĐ trongquá trình quản lý, sử dụng lao động tại doanh nghiệp Việc không thực hiệnđúng các quy định về tiền lương, tiền thưởng, trích nộp bảo hiểm xã hội(BHXH), bảo hiểm y tế (BHYT), bảo hiểm thất nghiệp (BHTN) cho NLĐtheo hợp đồng lao động (HĐLĐ) làm ảnh hưởng đến quyền lợi của NLĐcũng là một trong những nguyên nhân phát sinh TCLĐ Khi xảy ra tranhchấp, NLĐ một mặt do sự hiểu biết pháp luật còn hạn chế, mặt khác tâm lý
Trang 5sợ mất việc làm, mất thu nhập và ảnh hưởng đến sinh hoạt nên thường nhậnthiệt thòi về mình hơn là tìm cách để giải quyết tranh chấp
Có thể nói, giải quyết TCLĐ nói chung và TCLĐ cá nhân nói riêngtại TAND đã trở thành vấn đề cấp bách, cần được quan tâm trong quá trìnhphát triển và hội nhập, nhất là ở các doanh nghiệp có quy mô lớn, sử dụngnhiều NLĐ, bởi nó không chỉ bảo vệ quyền lợi của NLĐ mà còn tạo niềm tin
từ phía NLĐ và góp phần ổn định trật tự xã hội
Mặc dù, Bộ luật Lao động (BLLĐ) năm 2012 đã được sửa đổi bổ sungmột cách toàn diện, tuy nhiên thực tiễn chế định về giải quyết TCLĐ cá nhânvẫn còn nhiều bất cập, một số quy định chung chung, chưa có hướng dẫn cụthể, cơ quan có thẩm quyền còn lúng túng trong việc tổ chức thực hiện Vì vậy,quyền và lợi ích của các bên tranh chấp chưa được bảo vệ một cách đúng đắn
Việc nghiên cứu về mặt lý luận và thực tiễn TCLĐ nói chung và giảiquyết TCLĐ cá nhân tại TAND nói riêng nhằm khắc phục được những hạnchế, định hướng giải quyết có hiệu quả các TCLĐ phát sinh với tính chất đadạng, phức tạp trong giai đoạn hiện nay là vấn đề cấp bách và cần thiết Vớinhững lý do trên, được sự đồng ý của Trường Đại học Luật Hà Nội, em chọn
đề tài "Pháp luật về giải quyết tranh chấp lao động cá nhân và thực tiễn xét
xử tại Tòa án nhân dân tỉnh Hòa Bình" để nghiên cứu Thông qua đề tài này
sẽ đề xuất những giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật phù hợp với thực tiễngiải quyết TCLĐ cá nhân tại TAND trên địa bàn tỉnh Hòa Bình
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Trong những năm qua, có nhiều đề tài nghiên cứu về TCLĐ nói chung
và TCLĐ cá nhân tại TAND nói riêng Mỗi đề tài nghiên cứu là một côngtrình riêng với những giải pháp cụ thể nhằm hoàn chỉnh cơ chế, chính sách ápdụng từ thực tế giải quyết các tranh chấp trong QHLĐ
Một số công trình nghiên cứu như: Luận văn thạc sĩ năm 2014 của
Nguyễn Thị Thanh Huệ về "Giải quyết tranh chấp lao động cá nhân tại Tòa
án nhân dân"; Luận văn thạc sĩ của Ngô Thị Tâm năm 2012 về "Pháp luật về
Trang 6giải quyết tranh chấp lao động cá nhân, một số bất cập và hướng hoàn thiện";
Luận văn thạc sĩ của Chữ Thị Xuyên năm 2013 về "Những điểm mới về giải
quyết tranh chấp lao động và đình công trong Bộ luật Lao động".
Bên cạnh các khóa luận, luận văn thạc sĩ đã nghiên cứu về vấn đề này,trong thời gian qua, một số các bài viết khoa học về lý luận và thực tiễn có
liên quan đến việc giải quyết TCLĐ như "Giải quyết tranh chấp lao động cá
nhân tại Tòa án từ pháp luật đến thực tiễn và một số kiến nghị" của tiến sĩ
Phạm Công Bảy đăng trên Tạp chí Khoa học số 9/2009, "Tổng quan về quyền
con người trong pháp luật lao động Việt Nam" của tiến sĩ Đào Mộng Điệp
đăng trên Tạp chí Khoa học pháp lý ngày 18/9/2015 của Trường Đại học LuậtThành phố Hồ Chí Minh Tạp chí Khoa học pháp lý năm 2009 có bài viết của
tác giả Đỗ Ngân Bình về "Một số ý kiến về giải quyết tranh chấp lao động và
đình công theo quy định của pháp luật lao động".
Ngoài ra, còn có những cuộc hội thảo, hội nghị bàn về những vấn đề
TCLĐ như "Hội thảo thúc đẩy, hoàn thiện hệ thống giải quyết tranh chấp lao
động ngoài Tòa án tại Việt Nam" được tổ chức ngày 01/4/2011 trong khuôn
khổ dự án hỗ trợ thực thi PLLĐ và QHLĐ của Bộ Lao động - Thương binh và
Xã hội với cơ quan Phát triển quốc tế Hoa Kỳ (USAID); "Hội thảo về định
hướng chiến lược phòng ngừa và giải quyết tranh chấp lao động" trong khuôn
khổ dự án hỗ trợ thực hiện PLLĐ và thanh tra lao động vững mạnh tại ViệtNam giữa Bộ Lao động Hoa Kỳ và Bộ Lao động - Thương binh và xã hội Việt
Nam được tổ chức vào ngày 19-20/12/2013 tại Đà Nẵng; "Hội nghị quốc gia
về lao động hướng tới quan hệ lao động tốt hơn trong bối cảnh triển khai thực hiện Bộ luật Lao động và Luật Công đoàn sửa đổi" được tổ chức vào
ngày 31/5/2013 tại Hà Nội theo chương trình hợp tác quốc tế về lao động giữa
Bộ Lao động - Thương binh và xã hội với Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO)
Một số công trình nghiên cứu khoa học cao hơn như: Luận án Tiến sĩ
luật học năm 2011 của Phạm Công Bảy về vấn đề "Pháp luật về thủ tục giải
quyết tranh chấp lao động cá nhân tại Tòa án ở Việt Nam"; Luận án Tiến sĩ luật
Trang 7học của Nguyễn Xuân Thu năm 2008 về "Cơ chế ba bên trong giải quyết tranh
chấp lao động ở Việt Nam"
Mỗi công trình nghiên cứu khoa học là một cách tiếp cận, nghiên cứupháp luật từ thực tiễn áp dụng giải quyết TCLĐ nói chung và TCLĐ cá nhân
nói riêng tại nhiều địa phương Đề tài nghiên cứu "Pháp luật về giải quyết
tranh chấp lao động cá nhân và thực tiễn xét xử tại Tòa án nhân dân tỉnh Hòa Bình" là công trình nghiên cứu đầu tiên tại tỉnh Hòa Bình Vì vậy, lựa
chọn đề tài này, em mong muốn sẽ góp phần vào việc hoàn thiện pháp luật vềlao động nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên trong QHLĐ
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Việc nghiên cứu đề tài nhằm mục đích góp phần làm sáng tỏ những vấn
đề mang tính khái quát về giải quyết TCLĐ cá nhân tại TAND, thông qua thựctiễn áp dụng, từ đó chỉ ra những hạn chế, bất cập còn tồn tại để đề xuất, kiếnnghị các giải pháp tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật giải quyết có hiệu quảTCLĐ cá nhân tại TAND phù hợp với thực tiễn áp dụng pháp luật tại địaphương
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Với mục đích trên, nhiệm vụ cơ bản của luận văn là phải giải quyếtđược những vấn đề sau:
- Nghiên cứu một số vấn đề có tính khái quát về giải quyết TCLĐ cánhân tại TAND;
- Phân tích các quy định của pháp luật hiện hành về giải quyết TCLĐ
cá nhân tại TAND;
- Đánh giá tình hình thực hiện pháp luật về giải quyết TCLĐ cá nhân,đưa ra những hạn chế, tồn tại cần khắc phục từ thực tiễn xét xử tại TAND tỉnhHòa Bình
Trang 8- Trên cơ sở nhận thức chung và thực tiễn áp dụng, luận văn đề xuấtcác giải pháp để tiếp tục hoàn thiện pháp luật giải quyết TCLĐ cá nhân tạiTAND từ thực tiễn tỉnh Hòa Bình.
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu những vấn đề có tính khái quát củaTCLĐ cá nhân và giải quyết TCLĐ cá nhân tại TAND Trên cơ sở thực tiễn
áp dụng, nêu ra những bất cập, hạn chế tồn tại trong quy định của pháp luậtnhằm đưa ra những giải pháp tiếp tục hoàn thiện pháp luật, giải quyết có hiệuquả TCLĐ cá nhân tại TAND thúc đẩy QHLĐ hài hòa, ổn định, tiến bộ trongdoanh nghiệp trên địa bàn
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Quá trình phân tích nhận thức chung và thực tiễn về giải quyết TCLĐ
cá nhân tại TAND, kinh nghiệm về TCLĐ cá nhân của pháp luật nước ngoàiđược lồng ghép, so sánh góp phần làm sáng tỏ cơ sở lý luận về giải quyếtTCLĐ cá nhân tại TAND cũng như góp phần hỗ trợ việc hoàn thiện pháp luậttrong phần giải pháp của luận văn
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp luận
Đề tài được nghiên cứu trên cơ sở vận dụng phương pháp luận củatriết học Mác - Lênin với phép duy vật biện chứng và lịch sử để giải quyếtnhững vấn đề liên quan đến việc nghiên cứu về TCLĐ cá nhân theo pháp luậtViệt Nam Đồng thời luận văn cũng vận dụng lý luận chung về Nhà nước vàpháp luật, chủ trương của Đảng về phát triển đất nước trong thời kỳ công nghiệphóa, hiện đại hóa để giải quyết những vấn đề có liên quan đến luận văn
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Bên cạnh đó, quá trình nghiên cứu đề tài các phương pháp được ápdụng như: Phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp, phương pháp đốichiếu, so sánh và phương pháp thống kê nhằm đánh giá, thu thập số liệu, cơ
Trang 9sở lý luận và thực tiễn về giải quyết TCLĐ trên địa bàn tỉnh Hòa Bình Đây lànhững phương pháp nghiên cứu đảm bảo độ tin cậy, chính xác các kết quảnghiên cứu trong đề tài.
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1 Ý nghĩa lý luận
Việc nghiên cứu đề tài làm sáng tỏ những vấn đề khái quát chung vềTCLĐ và giải quyết TCLĐ tại TAND theo quy định của pháp luật hiện hành,đây là cơ sở để áp dụng pháp luật
6.2 Ý nghĩa thực tiễn
Quy định pháp luật về TCLĐ cá nhân và giải quyết TCLĐ cá nhân tạiTAND trên thực tế không phải là vấn đề mới, nhưng mang tính thời sự, cấpbách trong giai đoạn nền kinh tế hội nhập Việc nghiên cứu đề tài góp phầnnâng cao hiệu quả giải quyết TCLĐ cá nhân tại TAND từ thực tiễn, bảo vệquyền, lợi ích hợp pháp của các bên trong QHLĐ và đảm bảo trật tự xã hội
Ngoài ra, kết quả nghiên cứu của luận văn có thể được sử dụng làm tàiliệu tham khảo tại các cơ sở đào tạo, nghiên cứu về pháp luật, các cơ quan, tổchức, cá nhân thực hiện pháp luật liên quan đến giải quyết TCLĐ cá nhântại TAND
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nộidung của luận văn được chia thành 3 chương:
Chương 1: Khái quát về tranh chấp lao động và giải quyết tranh chấp
lao động cá nhân tại Tòa án nhân dân
Chương 2: Thực trạng pháp luật về giải quyết tranh chấp lao động cá
nhân từ thực tiễn xét xử tại Tòa án nhân dân tỉnh Hòa Bình
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả giải
quyết tranh chấp lao động cá nhân thực tiễn xét xử tại Tòa án nhân dân tỉnhHòa Bình
Trang 10Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ TRANH CHẤP LAO ĐỘNG VÀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP LAO ĐỘNG CÁ NHÂN TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN
1.1 Khái niệm về tranh chấp lao động cá nhân và giải quyết tranh chấp lao động cá nhân
1.1.1 Khái niệm tranh chấp lao động cá nhân
QHLĐ là một loại quan hệ xã hội phát sinh trong hoạt động lao động
và sản xuất, trong QHLĐ thể hiện mối quan hệ về phân công lao động, traođổi, hợp tác, thuê mướn và sử dụng lao động giữa các chủ thể tham gia lao động
Có thể nói, sự phân công lao động là cơ sở kinh tế xã hội dẫn đến sự
ra đời của QHLĐ Vì vậy, khi kinh tế xã hội càng phát triển, phân công xã hộiđạt đến trình độ cao thì QHLĐ cũng ngày càng phức tạp và đa dạng TCLĐ làsản phẩm tất yếu của QHLĐ Trong nền kinh tế hàng hóa, sức lao động đượccoi là một loại hàng hóa đặc biệt Khi tham gia QHLĐ, các bên đều muốn đạtđược mục đích tối đa của mình, bên làm thuê thì mong muốn làm thế nào để
có tiền công cao, còn mục tiêu của bên thuê là làm thế nào để giảm chi phícho lao động và khai thác được nhiều giá trị sử dụng của sức lao động để đạtđược lợi nhuận tối đa Sự mâu thuẫn về mặt lợi ích giữa NLĐ và NSDLĐ làhiện tượng tất yếu và phổ biến trong QHLĐ
Quan hệ lao động khác với quan hệ dân sự thông thường, điều này thểhiện thông qua đối tượng mà các bên hướng tới Trong quan hệ dân sự, đốitượng mà các bên hướng tới thường tồn tại dưới dạng hàng hóa, sản phẩmhữu hình hoặc là những dịch vụ … và sức lao động được kết tinh trong hànghóa, sản phẩm mà các bên thỏa thuận mua bán, trao đổi Còn trong QHLĐ đốitượng mà các bên hướng tới là giá trị sử dụng sức lao động, biểu hiện trongquá trình lao động và được chuyển dần vào hàng hóa sản phẩm hoặc dịch vụtrong những điều kiện nhất định và khoảng thời gian nhất định
Trang 11Trong quá trình lao động, lợi ích luôn chi phối, tạo ra mối quan hệràng buộc, phụ thuộc lẫn nhau giữa các bên, về phía NLĐ, khi tham giaQHLĐ luôn mong muốn được trả lương cao, môi trường làm việc tốt để giảmhao phí lao động, bên cạnh đó, NLĐ còn mong muốn được đảm bảo các điềukiện để đáp ứng được yêu cầu về văn hóa, tinh thần tại nơi làm việc, giải trí
để tái tạo sức lao động Về phía NSDLĐ, trong quá trình tổ chức sản xuấtluôn mong muốn tìm mọi cách để giảm chi phí lao động như cắt giảm các chiphí cho công tác đảm bảo và cải thiện đời sống, điều kiện, môi trường làmviệc cho NLĐ, chậm trả lương, trả không đầy đủ hoặc trả không đúng vớinăng suất lao động của NLĐ, chậm thực hiện các nghĩa vụ đối với nhà nướcảnh hưởng đến quyền lợi của NLĐ, chấm dứt QHLĐ với người này để thựchiện QHLĐ với người khác… Tất cả những hoạt động này đều có thể chi phốitrực tiếp đến quyền, lợi ích của NLĐ tạo nên mâu thuẫn tồn tại ngay trong quátrình QHLĐ
Từ những mâu thuẫn vốn có và trong quá trình thực hiện QHLĐ tấtyếu xảy ra xung đột giữa NLĐ và NSDLĐ, tuy nhiên, xung đột mới chỉ đượcbiểu hiện ở một mặt nào đó của QHLĐ, sự mâu thuẫn đó chỉ là sự phản ứngtức thời chưa thể hiện rõ nét mục đích của chủ thể Chính vì thế, trong nhiềutrường hợp mặc dù các bên không chủ động giải quyết nhưng xung đột cũng
có thể tự mất đi Chỉ khi mâu thuẫn, xung đột đạt đến một mức độ nhất định,lúc này các bên tranh chấp sẽ thể hiện sự bất đồng của mình với bên kia bằnghành vi xử sự cụ thể thông qua lời nói hoặc bằng văn bản yêu cầu bên kia thựchiện nghĩa vụ hoặc yêu cầu bên thứ ba can thiệp, hỗ trợ giải quyết tranh chấp
Chủ thể và nội dung tranh chấp là hai dấu hiệu cơ bản thể hiện bảnchất của TCLĐ cá nhân so với các tranh chấp khác trong lĩnh vực dân sự Khitham gia vào mối quan hệ quyền dân sự, nhưng chỉ có những mâu thuẫn, xungđột phát sinh từ lĩnh vực thuê mướn, sử dụng, trả công giữa NLĐ và NSDLĐthì mới coi là TCLĐ cá nhân, đồng thời, TCLĐ cá nhân phải là những tranh
Trang 12chấp liên quan đến việc thực hiện các nguyên tắc ứng xử, các quyền, nghĩa vụ
và lợi ích phát sinh trong QHLĐ
Tranh chấp lao động cá nhân là một hiện tượng khách quan, phát sinh,tồn tại gắn liền với QHLĐ và với tư cách là một khái niệm pháp lý, TCLĐ cánhân cũng mang tính lịch sử, xã hội BLLĐ của chế độ Việt Nam Cộng hòaban hành ngày 15/7/1952, sử dụng khái niệm phân tranh lao động để thể hiện
sự bất đồng, mâu thuẫn giữa NLĐ và NSDLĐ và cụm từ TCLĐ bắt đầu đượcghi nhận trong Pháp lệnh về HĐLĐ ngày 30/8/1990 Tại Điều 17, Pháp lệnh
định nghĩa "Tranh chấp lao động là bất đồng nảy sinh giữa hai bên về việc thực
hiện hợp đồng lao động" Trong thời kỳ này, đất nước mới ở giai đoạn đầu của
nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, vì vậy, QHLĐ còn ít,đơn giản, mọi TCLĐ cũng chỉ phát sinh những vấn đề bất đồng trong QHLĐ.Mặc dù định nghĩa này còn nhiều vấn đề chưa thỏa đáng nhưng nó là địnhnghĩa đầu tiên về TCLĐ được ghi nhận trong văn bản pháp luật và làm cơ sởcho sự việc sửa đổi, bổ sung hoàn chỉnh về định nghĩa TCLĐ phù hợp với điềukiện phát triển của tình hình kinh tế xã hội của đất nước qua từng thời kỳ
Bộ luật Lao động năm 1994 ra đời thay thế cho Pháp lệnh về HĐLĐ
đưa ra định nghĩa về TCLĐ Theo đó, "tranh chấp lao động là những tranh
chấp về quyền và lợi ích liên quan đến việc làm, tiền lương và các điều kiện lao động khác về thực hiện hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể và trong quá trình học nghề" Qua một thời gian áp dụng, định nghĩa về TCLĐ
theo BLLĐ năm 1994 chưa liệt kê một cách đầy đủ các TCLĐ thực tế phátsinh như tranh chấp về BHXH, bồi thường thiệt hại… cũng như nội hàm củavấn đề TCLĐ trong QHLĐ Vì vậy, Luật sửa đổi bổ sung BLLĐ năm 2006 đã
đưa ra định nghĩa TCLĐ như sau: "Tranh chấp lao động là những tranh chấp
về quyền và lợi ích phát sinh trong quan hệ lao động giữa người lao động với người sử dụng lao động"1 Theo định nghĩa này, phạm vi đối tượng tranh chấp
1 Khoản 1, Điều 157.
Trang 13và dấu hiệu tranh chấp cũng như chủ thể tranh chấp được quy định một cáchkhái quát hơn, cụ thể hơn, xác định rõ phạm vi QHLĐ giữa NLĐ và NSDLĐmới được coi là TCLĐ.
Qua quá trình thực hiện, BLLĐ năm 2012 sửa đổi, bổ sung một cáchtoàn diện những quy định còn bất cập, hạn chế của BLLĐ năm 1994 và các lầnsửa đổi 2002, 2006 và 2007, trong đó, định nghĩa về TCLĐ được quy định như
sau: "Tranh chấp lao động là tranh chấp về quyền, nghĩa vụ và lợi ích phát sinh
giữa các bên trong quan hệ lao động"2 Định nghĩa về TCLĐ theo BLLĐ quy
định ngắn gọn, đầy đủ và thể hiện một cách khái quát hơn về chủ thể và nộidung tranh chấp, bởi thực tế TCLĐ không chỉ phát sinh từ quyền, lợi ích củacác bên mà còn phát sinh trong việc thực hiện nghĩa vụ của các bên trongQHLĐ Đồng thời, chủ thể tranh chấp không đơn thuần chỉ là QHLĐ giữaNLĐ và NSDLĐ mà có thể tranh chấp giữa tập thể lao động với NSDLĐ
Tranh chấp lao động bao gồm TCLĐ cá nhân giữa NLĐ với NSDLĐ
và TCLĐ tập thể giữa tập thể lao động với NSDLĐ Hai loại TCLĐ này có sựkhác nhau về quy mô, mức độ ảnh hưởng và có cơ chế giải quyết riêng Hiệnnay, PLLĐ quy định hai cơ chế giải quyết TCLĐ, đó là cơ chế giải quyếtTCLĐ cá nhân và TCLĐ tập thể Để phân biệt dấu hiệu của TCLĐ cá nhânhay TCLĐ tập thể không chỉ dựa vào dấu hiệu chủ thể mà cần căn cứ vào cácnội dung khác như nội dung tranh chấp, mục đích tranh chấp Thông thường,các TCLĐ cá nhân thường phát sinh trong quá trình thực hiện, thay đổi hoặcchấm dứt HĐLĐ, trong việc thực hiện chế độ tiền lương, tiền thưởng, các chế
độ về BHXH TCLĐ tập thể thường phát sinh trong việc thực hiện thỏa ướclao động tập thể, nội quy lao động, các thỏa thuận khác hoặc yêu cầu xác lậpđiều kiện lao động mới so với các quy định của pháp luật về lao động
Từ sự phân tích trên, TCLĐ cá nhân là những tranh chấp về quyền,nghĩa vụ, lợi ích giữa cá nhân NLĐ với NSDLĐ trong QHLĐ
2 Khoản 7, Điều 3.
Trang 14Bản chất của TCLĐ cá nhân phản ánh những xung đột, mâu thuẫn củacác bên trong QHLĐ về quyền, nghĩa vụ và lợi ích, đồng thời còn phản ánhnhững xung đột về giá trị tinh thần của đời sống xã hội, vì vậy, ngoài nhữngđặc điểm chung của TCLĐ, TCLĐ cá nhân còn mang những đặc điểm riêngbiệt, đó là:
- Về mặt chủ thể, TCLĐ cá nhân trước hết là tranh chấp giữa một bên
là NLĐ và một bên là NSDLĐ trên cơ sở HĐLĐ Như vậy, trong tranh chấpnày, về số lượng chỉ có duy nhất một NLĐ với một NSDLĐ, hoặc cũng có thể
là một nhóm NLĐ với một NSDLĐ nhưng những NLĐ này không có sự liênkết nào về quyền và lợi ích, mỗi cá nhân NLĐ đều có một yêu cầu riêng đốivới NSDLĐ Chính vì chủ thể của TCLĐ cá nhân là cá nhân hoặc một nhómNLĐ với NSDLĐ cho nên TCLĐ cá nhân không mang tính tổ chức, không cóquy mô, tính phức tạp và thống nhất ý chí như TCLĐ tập thể Đây là mộttrong những dấu hiệu cơ bản để phân biệt TCLĐ cá nhân với TCLĐ tập thể
Trong một số trường hợp TCLĐ cá nhân có thể chuyển hóa thànhTCLĐ tập thể khi mâu thuẫn giữa các bên trở nên căng thẳng, hiệu ứng lantruyền có thể xảy ra phản ứng mang tính tập thể, hoặc khi quyền và lợi íchcủa một cá nhân cũng là quyền và lợi ích của một tập thể Sự chuyển hóa từTCLĐ cá nhân thành TCLĐ tập thể phản ánh một khía cạnh lý luận về QHLĐ
và TCLĐ, đó là QHLĐ và TCLĐ trước hết là quan hệ phát sinh giữa NLĐ vớiNSDLĐ Về ý nghĩa thực tiễn, vấn đề này tác động trực tiếp vào việc quản lý
và sử dụng lao động đòi hỏi hệ thống cơ quan, tổ chức giải quyết TCLĐ phảiđược tổ chức một cách hợp lý
- Về mặt nội dung, TCLĐ cá nhân là những tranh chấp liên quan đếnquyền, nghĩa vụ và lợi ích của cá nhân, một trong số trường hợp là một nhómNLĐ hoặc NSDLĐ liên quan đến QHLĐ TCLĐ cá nhân thường phát sinhtrong việc áp dụng các quy phạm pháp luật vào từng QHLĐ cụ thể, có nghĩa
là tranh chấp các vấn đề mà pháp luật quy định các bên được hưởng, thực
Trang 15hiện hoặc những vấn đề mà các bên thỏa thuận từ trước trong HĐLĐ, Hợpđồng học nghề về việc làm, tiền lương, thời gian làm việc, thời gian nghỉngơi, BHXH, BHYT, BHTN và các chế độ có liên quan khác trong QHLĐ
- Tranh chấp lao động cá nhân là tranh chấp giữa các bên có địa vịkinh tế pháp lý không ngang nhau và không tương xứng về lợi thế Do có đặcquyền trong kinh tế nên NSDLĐ có xu hướng lạm dụng quyền, đó là xuhướng chủ yếu dẫn đến xung đột Còn NLĐ do không có lợi thế trong QHLĐnên thường phát sinh những hành động tự vệ bản năng và dẫn đến hình thành
ý thức đấu tranh để chống lại NSDLĐ Rõ ràng, vị trí và những quyền trongQHLĐ đã tạo nên lợi thế cho NSDLĐ trong quá trình giải quyết tranh chấp.Khi xác lập QHLĐ, các bên thỏa thuận với nhau những nội dung cơ bản vềquyền và nghĩa vụ trong QHLĐ Nhưng các quyền và nghĩa vụ đó được thựchiện bằng nhiều hành vi trong quá trình và trong nhiều không gian, thời giankhác nhau Diễn biến quá trình thực hiện các quyền, nghĩa vụ của các bênđược phản ánh qua bộ máy quản lý, qua các công cụ quản lý của NSDLĐ.Trong bối cảnh đó, nếu xảy ra tranh chấp, NSDLĐ có khả năng hoàn toàndành thế chủ động vì họ nắm trong tay những chứng cứ thậm chí có thể tạodựng những chứng cứ có lợi cho họ Còn NLĐ, khi cho rằng, NSDLĐ cóhành vi trái pháp luật hoặc vi phạm những thỏa thuận giữa hai bên, sẽ có ít cơhội để làm sáng tỏ sự thật hơn
- Trong TCLĐ cá nhân, tổ chức công đoàn tham gia với vai trò bảo vệquyền, lợi ích hợp pháp cho NLĐ Quyền và lợi ích của NLĐ chỉ đạt đượcmột cách ổn định bền vững khi QHLĐ diễn ra hài hòa trên cơ sở tôn trọng vàhiểu biết lẫn nhau, tức là quyền lợi của NSDLĐ cũng phải được đảm bảo.Hay nói cách khác, chức năng bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp đối với NLĐcủa tổ chức công đoàn cần đặt trong mối quan hệ hợp tác và thiện chí vớiNSDLĐ, với tổ chức của NSDLĐ Trong việc giải quyết tranh chấp, quyềntham gia của công đoàn được coi là một trong những nguyên tắc được PLLĐ
Trang 16ghi nhận (tại Điều 194 BLLĐ) Theo đó, sự tham gia của công đoàn ở đâyđược hiểu là sự tham gia với tư cách là một chủ thể, một thành viên độc lậptrực tiếp giải quyết TCLĐ Đối với TCLĐ cá nhân, công đoàn thường thamgia với tư cách là người đại diện, bảo vệ quyền lợi cho NLĐ, đề nghị NSDLĐxem xét những yêu cầu của NLĐ, công đoàn không tham gia với tư cách mộtbên tranh chấp, trực tiếp yêu cầu NSDLĐ giải quyết quyền lợi của tập thể laođộng như TCLĐ tập thể
1.1.2 Khái niệm giải quyết tranh chấp lao động cá nhân
Giải quyết TCLĐ cá nhân là các quy định pháp luật về nguyên tắc,thẩm quyền giải quyết, trình tự giải quyết TCLĐ Giải quyết TCLĐ cá nhân làviệc các cá nhân, cơ quan nhà nước có thẩm quyền tiến hành những thủ tụctheo quy định của pháp luật nhằm giải quyết những tranh chấp phát sinh giữa
cá nhân NLĐ với NSDLĐ về việc thực hiện quyền nghĩa vụ và lợi ích của haibên trong QHLĐ, khôi phục các quyền và lợi ích hợp pháp của một trong cácbên đã bị xâm hại; xóa bỏ tình trạng bất bình, mâu thuẫn giữa NLĐ vàNSDLĐ, duy trì và củng cố QHLĐ, đảm bảo sự ổn định trong sản xuất Đểgiải quyết TCLĐ cá nhân, chủ thể tham gia giải quyết TCLĐ cá nhân bắtbuộc phải thực hiện các công việc theo trình tự đã được quy định TCLĐ cánhân cũng là một loại quan hệ dân sự được quy định trong pháp luật tố tụngdân sự, do đó, thủ tục giải quyết TCLĐ cá nhân cũng bao gồm những thủ tụcnhư giải quyết tranh chấp về dân sự thông thường
Như vậy, giải quyết TCLĐ cá nhân là việc các chủ thể tham gia giảiquyết TCLĐ tiến hành những công việc theo một trình tự luật định nhằm xácđịnh quyền, nghĩa vụ của các bên tranh chấp để duy trì mối QHLĐ hài hòatheo thỏa thuận hoặc theo pháp luật quy định
Tranh chấp lao động cá nhân là hiện tượng luôn mang lại khá nhiều hệlụy, phiền toái cho NLĐ và NSDLĐ, ảnh hưởng đến đời sống vật chất và tinhthần cho các bên tranh chấp Việc giải quyết nhanh chóng, thỏa đáng, dứt
Trang 17điểm giải quyết TCLĐ cá nhân có vai trò ý nghĩa quan trọng đối với các bêntranh chấp, xóa bỏ những bất đồng của các bên tạo điều kiện cho các bêntranh chấp tiếp tục duy trì QHLĐ Cụ thể đó là:
- Giải quyết TCLĐ cá nhân sẽ góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của các bên trong QHLĐ, đồng thời góp phần bảo vệ lợi ích chung của toàn xã hội
Tranh chấp lao động luôn có tính hai mặt, tích cực và tiêu cực Nếuxét về phương diện tích cực, TCLĐ là dấu hiệu phản ánh sự đấu tranh của cácbên, sự đấu tranh này là động lực phát triển Nhưng sự đấu tranh này cũngmang lại rất nhiều phiền toái cho các bên tranh chấp và đối với xã hội Chính
vì vậy, thông qua quá trình giải quyết TCLĐ cá nhân các quyền và lợi ích hợppháp của một bên bị xâm hại sẽ được khôi phục TCLĐ cá nhân không đượcgiải quyết kịp thời sẽ đem lại nhiều bất lợi cho NLĐ, khiến cuộc sống củachính bản thân và gia đình họ gặp không ít khó khăn Thông qua việc giảiquyết TCLĐ cá nhân, những yêu cầu, nguyện vọng chính đáng sẽ được đápứng, quyền, lợi ích hợp pháp của NLĐ được đảm bảo Bên cạnh đó, việc giảiquyết TCLĐ cá nhân còn nhằm mục đích bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp củaNSDLĐ Bởi lẽ, trong nhiều trường hợp, không phải mọi yêu cầu của NLĐđều hợp lý, chính đáng, thậm chí nó có thể xâm phạm đến quyền, lợi ích hợppháp của NSDLĐ Vì vậy, bảo vệ lợi ích của NSDLĐ cũng là mục đích củagiải quyết TCLĐ cá nhân
- Việc giải quyết TCLĐ cá nhân góp phần giải quyết mâu thuẫn giữa NLĐ và NSDLĐ trong phạm vi doanh nghiệp, duy trì và củng cố QHLĐ, đảm bảo sự ổn định trong sản xuất.
Giải quyết TCLĐ cá nhân sẽ góp phần tạo lập sự ổn định và duy trìQHLĐ, bởi nếu TCLĐ gay gắt và thường xuyên xảy ra sẽ dẫn đến việcchấm dứt QHLĐ và để lại hậu quả không thuận lợi cho các bên tranh chấp
Do đó, TCLĐ khi được giải quyết ổn thỏa sẽ giải quyết được những vướng
Trang 18mắc của các bên, tạo mối quan hệ hài hòa trong lao động, bởi QHLĐ hàihòa, ổn định là một trong những yếu tố quan trọng để đảm bảo lợi ích cho cảNLĐ và NSDLĐ Để đảm bảo điều đó đòi hỏi phải có sự dung hòa lợi íchcủa cả hai bên
Ngoài ra, giải quyết TCLĐ cá nhân nhằm mục đích giúp các bên cùngnhau tiến hành thương lượng, thỏa thuận giải quyết mâu thuẫn, tránh nhữngxung đột có thể làm chấm dứt QHLĐ, đưa QHLĐ trở lại trạng thái trước khi
có tranh chấp xảy ra Vì vậy, việc giải quyết TCLĐ cá nhân không chỉ nhằmcủng cố, duy trì QHLĐ mà còn góp phần làm ổn định đời sống, đảm bảo duytrì hoạt động bình thường trong hoạt động sản xuất kinh doanh của đơn vị sửdụng lao động, góp phần làm cho xã hội ổn định và phát triển
- Giải quyết TCLĐ cá nhân nhằm hoàn thiện cơ chế quản lý nhà nước trong lĩnh vực lao động và hoàn thiện PLLĐ
Tranh chấp lao động tồn tại một cách khách quan, đồng thời cũnggắn liền với sự phát triển của kinh tế xã hội Vì vậy, pháp luật của một bất
kỳ quốc gia nào cũng tìm nhiều phương pháp để hạn chế sự ảnh hưởng đốivới sự phát triển chung Một trong những công cụ hữu hiệu để thực hiện đó
là quy định những phương thức để giải quyết có hiệu quả và phù hợp vớithực tiễn
Ngoài ra, đối với các cơ quan quản lý nhà nước trong lĩnh vực laođộng, khi tham gia giải quyết TCLĐ cá nhân có điều kiện nhìn nhận, đánh giátình hình, thanh tra, xử lý vi phạm PLLĐ, kiểm tra hoạt động của các doanhnghiệp nhằm tìm ra giải pháp phù hợp để từ đó có thể rút ra kinh nghiệmnhằm hoàn thiện hơn chức năng, quyền hạn của mình Mặt khác, quá trìnhgiải quyết TCLĐ cá nhân vừa đảm bảo cho các quy phạm pháp luật được ápdụng thống nhất, vừa kiểm tra tính chính xác của các quy phạm pháp luậtđồng thời tìm ra sự khiếm khuyết hay bất hợp lý của các quy định pháp luật
để sửa đổi, hoàn thiện pháp luật một cách kịp thời
Trang 19- Thông qua giải quyết TCLĐ sẽ góp phần hoàn thiện pháp luật nói chung và pháp luật về giải quyết TCLĐ nói riêng.
Một trong những nguyên nhân dẫn đến TCLĐ đó chính là sự nhậnthức không đầy đủ về các quy định của pháp luật hoặc cố ý làm trái quy địnhpháp luật Hơn nữa, hệ thống pháp luật của nước ta hiện nay vẫn còn chồngchéo, chưa rõ ràng và thiếu tính chặt chẽ, do đó thông qua việc giải quyếtTCLĐ cá nhân cũng như việc đánh giá, tổng kết hoạt động giải quyết TCLĐ
cá nhân sẽ làm cho các cơ quan quản lý nhà nước thấy được những bất cập,tồn tại và chống chéo để từ đó đưa ra những phương hướng khắc phục đối vớinhững quy định này
Như vậy, qua những phân tích trên, việc giải quyết TCLĐ cá nhân cóvai trò và ý nghĩa hết sức to lớn trong việc bảo đảm quyền, nghĩa vụ và lợi íchcủa các bên tranh chấp, của nhà nước và toàn xã hội
1.2 Khái niệm, đặc điểm của việc giải quyết tranh chấp lao động
cá nhân tại Tòa án nhân dân
1.2.1 Khái niệm của việc giải quyết tranh chấp lao động cá nhân tại Tòa án
Khi TCLĐ xảy ra, các bên có thể sử dụng nhiều phương thức giảiquyết TCLĐ khác nhau như thương lượng, hòa giải, trọng tài và giải quyết tạiTAND Nếu như thương lượng là phương thức giải quyết TCLĐ chỉ do haibên tranh chấp tự tiến hành hòa giải, trọng tài và giải quyết tranh chấp tạiTAND là phương thức giải quyết tranh chấp có sự tham gia của chủ thể thứ
ba Tuy cùng có sự tham gia của chủ thể thứ ba trong quá trình giải quyếtnhưng phương thức giải quyết tại TAND có nhiều điểm khác biệt Quá trìnhgiải quyết TCLĐ cá nhân có thể trải qua nhiều giai đoạn khác nhau nhưngtrong đó việc giải quyết tại Tòa án là giai đoạn có tầm quan trọng đặc biệt.Việc giải quyết TCLĐ cá nhân tại Tòa án nhìn chung được tiến hành khi cácbiện pháp có tính mềm dẻo và linh hoạt hơn ở các giai đoạn trước đã được sửdụng nhưng không đạt kết quả
Trang 20Tòa án nhân dân là một cơ quan nằm trong hệ thống các cơ quan tưpháp, mang quyền lực nhà nước và nhân danh nước Cộng hòa xã hội chủnghĩa Việt Nam Theo Hiến pháp 2013 và Luật Tổ chức TAND 2014, thìTAND là cơ quan xét xử của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thựchiện quyền tư pháp Như vậy, TAND là cơ quan xét xử để giải quyết các tranhchấp nói chung và TCLĐ nói riêng
Giải quyết TCLĐ cá nhân là việc cá nhân, cơ quan, tổ chức có thẩmquyền tiến hành các công việc được quy định theo trình tự, thủ tục luật định
để xác định quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân NLĐ, NSDLĐ đang cótranh chấp, trên cơ sở đơn yêu cầu của họ Giải quyết TCLĐ cá nhân tại Tòa
án là hoạt động giải quyết TCLĐ do Tòa án là cơ quan tài phán mang quyềnlực nhà nước tiến hành với những trình tự, thủ tục nhất định, phán quyết đượcthi hành bằng cưỡng chế nhà nước nhằm bảo đảm quyền và lợi ích hợp phápcủa các đương sự Hiện nay, trong PLLĐ chưa có một khái niệm chính thức
về giải quyết TCLĐ tại TAND nói chung và giải quyết TCLĐ cá nhân tạiTAND nói riêng Tuy nhiên, từ những phân tích trên chúng ta có thể hiểu giải
quyết TCLĐ cá nhân tại TAND như sau: Giải quyết TCLĐ cá nhân tại Tòa
án là hoạt động giải quyết các TCLĐ cá nhân bằng một bản án, quyết định
do Tòa án tiến hành theo những trình tự, thủ tục nhất định và được đảm bảo thi hành bằng biện pháp cưỡng chế nhà nước.
1.2.2 Đặc điểm của việc giải quyết tranh chấp lao động cá nhân tại Tòa án.
Việc giải quyết TCLĐ cá nhân tại Tòa án mang những đặc trưng cơbản như sau:
Thứ nhất, việc giải quyết TCLĐ tại Tòa án là phương thức giải quyết được thực hiện bởi Tòa án với tư cách là cơ quan tài phán mang tính quyền lực nhà nước đặc biệt và được tiến hành theo trình tự, thủ tục tố tụng chặt chẽ
Tòa án nhân dân là một cơ quan nằm trong hệ thống các cơ quan tưpháp TAND mang quyền lực nhà nước và nhân danh nước Cộng hòa xã hội
Trang 21chủ nghĩa Việt Nam để giải quyết các tranh chấp nói chung và TCLĐ nóiriêng Ở từng giai đoạn giải quyết vụ án của Tòa án, mọi trình tự đều đượcquy định cụ thể và chặt chẽ Bất kỳ một hành vi nào không tuân thủ trình tự tốtụng đã được pháp luật quy định đều là vi phạm thủ tục tố tụng và đều dẫnđến hậu quả bản án hoặc quyết định của Tòa án có thể bị kháng cáo, khángnghị theo trình tự phúc thẩm, giám đốc thẩm hay tái thẩm Mặc dù thủ tục giảiquyết TCLĐ thông qua hòa giải hay trọng tài cũng bao gồm những trình tựnhất định nhưng thủ tục giải quyết TCLĐ tại TAND phức tạp và chặt chẽhơn Ở từng giai đoạn giải quyết vụ án tại Tòa án, mọi trình tự đều được quyđịnh cụ thể và chặt chẽ Mặc dù, những quy định của pháp luật làm giảm tínhlinh hoạt và quyền tự quyết định của các bên trong việc giải quyết tranh chấpnhưng nó đóng vai trò quan trọng bảo đảm cho Tòa án ra những phán quyếtđúng pháp luật, công bằng Các cán bộ, công chức tại Tòa án là những người
có phẩm chất đạo đức tốt, có trình độ chuyên môn nghiệp vụ, có kinh nghiệmxét xử và độc lập với các bên tranh chấp, do vậy, việc giải quyết TCLĐ tạiTAND hoàn toàn mang tính khách quan
Thứ hai, giải quyết TCLĐ cá nhân tại Tòa án là hoạt động giải quyết cuối cùng sau khi tranh chấp đã được giải quyết ở các giai đoạn khác mà không đạt kết quả (trừ một số trường hợp nhất định).
Xuất phát từ bản chất của QHLĐ là quan hệ mua bán sức lao độngdựa trên sự tự do thỏa thuận nên khi xảy ra TCLĐ, hai bên tranh chấp có thểgặp nhau để bàn bạc, thương lượng trực tiếp hoặc giải quyết TCLĐ thông quahòa giải Trong trường hợp hai bên không tự thương lượng hoặc một bên từchối thương lượng hay không hòa giải được, không chấp nhận phương án hòagiải thì họ có quyền khởi kiện yêu cầu TAND giải quyết Hay nói cách khác,việc giải quyết TCLĐ tại Tòa án được tiến hành khi các biện pháp có tínhchất mềm dẻo, ôn hòa và linh hoạt hơn như thỏa thuận, thương lượng ở cácgiai đoạn trước đó đã được sử dụng nhưng không đạt kết quả Đối với đa số
Trang 22các TCLĐ cá nhân thì trước khi khởi kiện ra Tòa án thủ tụng thương lượng,hòa giải là điều kiện cần thiết để thụ lý vụ án lao động tại Tòa án Chỉ khikhông đạt được kết quả ở các giai đoạn này, TCLĐ cá nhân mới được đưa ragiải quyết ở Tòa án Tuy nhiên, trong một số trường hợp đặc biệt, do tính chấtphức tạp, nghiêm trọng của các TCLĐ cá nhân và để nhanh chóng bảo vệquyền lợi hợp pháp của chủ thể bị xâm phạm, các bên có thể khởi kiện thẳng
ra Tòa án yêu cầu giải quyết TCLĐ dù chưa qua thủ tục thương lượng, hòagiải Như vậy, giải quyết TCLĐ tại Tòa án là giai đoạn cuối cùng trong trình
cơ quan thi hành án thực hiện Quyền lợi, nghĩa vụ của các bên sau khi tranhchấp được giải quyết sẽ được bảo đảm thực hiện một cách triệt để
Khác với phương thức hòa giải, đây là một trong những đặc điểm thểhiện rõ ưu thế của phương thức giải quyết TCLĐ tại Tòa án Không có mộtbiện pháp cụ thể nào được Nhà nước áp dụng để buộc các bên phải thực hiệnbiên bản hòa giải thành, mà hoàn toàn phụ thuộc vào sự tự nguyện của cácbên Điều này dẫn đến các quyền lợi và nghĩa vụ của các bên trong tranh chấpkhông được giải quyết triệt để Chính vì vậy, sự bảo đảm thi hành phán quyếtcủa Tòa án bằng sức mạnh cưỡng chế nhà nước được coi là một ưu điểm, tạo
ra sự khác biệt trong cơ chế thi hành phán quyết của các loại cơ quan tài phán
1.2.3 Vai trò của việc giải quyết tranh chấp lao động cá nhân tại Tòa án nhân dân
Khi TCLĐ nói chung và TCLĐ cá nhân nói riêng xảy ra, chắc chắn sẽkhiến cho mối quan hệ giữa NLĐ và NSDLĐ bị tổn hại nghiêm trọng, ảnh
Trang 23hưởng trực tiếp đến đời sống vật chất và tinh thần của các bên Do vậy khinhững tranh chấp này được đem ra giải quyết thành công bằng phương thứcgiải quyết tranh chấp nào đi chăng nữa đều sẽ có tác dụng tích cực đối với cácbên, với Nhà nước và xã hội Riêng đối với phương thức giải quyết TCLĐ cánhân tại TAND có một số vai trò quan trọng đối với các bên tranh chấp, vớiNhà nước và xã hội:
Thứ nhất, việc giải quyết TCLĐ cá nhân tại Tòa án tuân theo trình tự, thủ tục chặt chẽ theo luật định cùng với cơ chế xét xử nhiều cấp cho phép xem xét lại phán quyết của Tòa án một cách chắc chắn trước khi thi hành.
Trước hết, về cơ cấu tổ chức, Tòa án là cơ quan tư pháp nhân danhNhà nước thực hiện quyền tài phán, được tổ chức chặt chẽ theo ngành dọc với
hệ thống Tòa án cấp huyện đến Tòa án cấp tỉnh, Tòa án cấp cao và Tòa án tốicao Trong cơ cấu, tổ chức của hệ thống Tòa án theo Luật tổ chức TAND năm
2014, TAND cấp tỉnh, thành phố và TAND cấp cao có Tòa lao động là tòachuyên trách trực tiếp giải quyết các vụ án lao động (TAND cấp huyện cũng
có thể có Tòa lao động tùy theo yêu cầu thực tế xét xử) Về trình tự thủ tục,việc giải quyết TCLĐ cá nhân tại Tòa án phải tuân theo trình tự, thủ tục chặtchẽ theo luật định, việc vi phạm thủ tục tố tụng sẽ dẫn đến bản án, quyết địnhcủa Tòa án có thể bị hủy Ngoài ra đương sự có thể kháng cáo, yêu cầu Tòa
án xét xử lại, nếu thấy phán quyết của Tòa án không thỏa đáng Với cơ chếnhiều cấp xét xử, pháp luật cho phép đương sự thực hiện quyền kháng cáo đốivới những bản án, quyết định chưa có hiệu lực pháp luật của cấp xét xử sơthẩm Ngay cả khi bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật, đương sự vẫn
có quyền khiếu nại, người có thẩm quyền kháng nghị bản án, quyết định củaTòa án theo trình tự giám đốc thẩm hoặc tái thẩm Có thể nói, trình tự xét xửnhiều cấp cho phép xem xét lại phán quyết của Tòa án một cách chắc chắntrước khi thi hành
Trang 24Thứ hai, những phán quyết của Tòa án trong quá trình giải quyết TCLĐ cá nhân được đảm bảo thi hành bằng biện pháp cưỡng chế của Nhà nước nên quyền, lợi ích và nghĩa vụ của các bên theo phán quyết được đảm bảo thực hiện một cách triệt để
Quyền, lợi ích và nghĩa vụ của các chủ thể theo phán quyết của Tòa ánđều được đảm bảo thi hành bằng biện pháp cưỡng chế của Nhà nước Điềunày góp phần củng cố niềm tin của các chủ thể vào pháp luật và hoạt độngcủa các cơ quan nhà nước, tạo niềm tin cho nhân dân vào pháp chế xã hội chủnghĩa, pháp luật là thượng tôn và pháp luật phải được thực thi
Cuối cùng, thông qua giải quyết TCLĐ cá nhân tại TAND sẽ góp phần hoàn thiện PLLĐ nói chung và pháp luật về giải quyết TCLĐ nói riêng.
Một trong những nguyên nhân cơ bản dẫn đến TCLĐ là sự nhận thứckhông đầy đủ về các quy định của pháp luật hoặc cố ý làm trái các quy địnhcủa PLLĐ Hơn nữa do hệ thống pháp luật hiện hành về lao động cũng có quyđịnh chưa rõ ràng, chồng chéo và thiếu tính chặt chẽ nên thông qua việc giảiquyết TCLĐ cá nhân cũng như việc tổng kết, đánh giá quá trình giải quyếtTCLĐ của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền, mà trực tiếp là các cơ quanlàm luật và thực thi luật sẽ thấy rõ những thiếu sót, bất cập và chồng chéotrong các quy định của PLLĐ hiện hành, từ đó có hướng khắc phục những tồntại bất cập đối với các quy định này
1.3 Nội dung pháp luật về giải quyết tranh chấp lao động cá nhân tại Tòa án nhân dân
Tòa án là một thiết chế đặc biệt có chức năng giải quyết tranh chấp và
là công cụ để thực hiện quyền tư pháp mang tính quyền lực Nhà nước Việcgiải quyết TCLĐ tại Tòa án ở từng quốc gia được quy định khác nhau, phụthuộc vào sự tác động của cơ sở kinh tế - xã hội và cơ sở pháp lý mang đặcthù riêng của mỗi quốc gia đó Nhìn chung, pháp luật các quốc gia đều quyđịnh các nội dung cơ bản về giải quyết TCLĐ cá nhân tại Tòa án như: nguyên
Trang 25tắc giải quyết, thẩm quyền của Tòa án, chủ thể, thời hiệu yêu cầu giải quyết
và trình tự, thủ tục giải quyết
Nguyên tắc giải quyết TCLĐ được hiểu là những tư tưởng chỉ đạoviệc giải quyết TCLĐ mà tất cả các chủ thể tham gia vào quá trình giải quyếtTCLĐ đều phải tuân thủ, kể cả các bên tranh chấp3 Mặc dù mỗi quốc giakhác nhau với quan điểm lập pháp, thể chế chính trị và sự chi phối của cácđiều kiện kinh tế xã hội khác nhau sẽ xây dựng những nguyên tắc giải quyếttranh chấp lao động cá nhân tại TAND phù hợp Tuy nhiên, các quốc gia đềuxác định các nguyên tắc cơ bản trong việc giải quyết tranh chấp lao động cánhân như nguyên tắc tôn trọng quyết định và tự định đoạt của các bên;nguyên tắc thương lượng, hòa giải; nguyên tắc bình đẳng trước pháp luật…Ví
dụ như các nguyên tắc chung về giải quyết tranh chấp lao động quy định tạiđạo luật về QHLĐ của Thái Lan (Labor Relations Act B.E 2518 (1975)) hoặcpháp luật về lao động của Philipines (Book five: Labor Relations - LaborCodes of the Philippines)
Thẩm quyền là thuật ngữ dùng để chỉ phạm vi, giới hạn chức năng,nhiệm vụ, quyền hạn của cá nhân hoặc cơ quan nhà nước trong việc thực thiquyền lực nhà nước được pháp luật quy định Thẩm quyền không chỉ thể hiệnđược sự khác biệt giữa các cơ quan nhà nước với nhau mà còn là thuộc tínhtất yếu của cơ quan quyền lực nhà nước Thẩm quyền của Tòa án được hiểu làtoàn bộ những quyền do pháp luật quy định, theo đó Tòa án được tiến hànhxem xét, giải quyết những vụ việc cụ thể theo quy định của pháp luật TheoĐiều 3 Luật tổ chức và hoạt động của Tòa án lao động Thái Lan năm 1979(The Labor court and Labor court procedure BE 2522), các bên tranh chấpkhởi kiện ra trụ sở Tòa án lao động nơi làm việc của NLĐ Tuy nhiên, cũngtheo điều luật này, nguyên đơn có thể khởi kiện tại Tòa án lao động nơi mình
cư trú hoặc nơi cư trú của bị đơn nếu họ chứng minh được với Tòa án điều đó
3 Trường Đại học Luật Hà Nội (2015), Giáo trình Luật Lao động Việt Nam, Hà Nội, tr 369-370.
Trang 26thực sự là thuận lợi đối với họ Theo Quy tắc tố tụng của Ủy ban quốc gia vềQHLĐ của Philipines (NLRC, hay còn gọi là Tòa án lao động - LC năm1999), nguyên đơn hoặc người có yêu cầu đến chi nhánh vùng thuộc nơi làmviệc của NLĐ để yêu cầu giải quyết
Về chủ thể giải quyết tranh chấp lao động cá nhân tại TAND, phápluật các nước cũng có những quy định khác nhau về các chủ thể này Việcgiải quyết tranh chấp lao động tại Tòa án Thái Lan, Philipines hay Cộng hòa
Liên bang Đức có sự tham gia của NLĐ và đại diện NSDLĐ Trong quá trình
này không có sự tham gia của cơ quan công tố hoặc cơ quan kiểm sát Đặcbiệt, ở Cộng hòa Liên bang Đức thành phần Hội đồng xét xử vụ án lao độngcòn có Thẩm phán danh dự (là những người đại diện cho giới lao động và giới
sử dụng lao động) Việc giải quyết tranh chấp lao động ở ba nước này đều có
sự tham gia của bộ phận trợ giúp pháp lý (bộ phận pháp chế giúp đỡ ngườikhởi kiện hoàn thiện hồ sơ tại Tòa án) Do NLĐ không có khả năng thuê luật
sư hay nhờ người tư vấn, do hiểu biết pháp luật của họ không cao nên nhờ có
sự trợ giúp của bộ phận pháp chế trong việc tổ chức hoàn thiện hồ sơ, quátrình giải quyết tranh chấp lao động được tiến hành một cách thuận lợi
Thời hiệu yêu cầu giải quyết TCLĐ được hiểu là khoảng thời gianhiệu lực do pháp luật quy định mà trong khoảng thời gian đó các bên tranhchấp được quyền yêu cầu các cơ quan, tổ chức cá nhân có thẩm quyền giảiquyết TCLĐ Việc xác định chính xác thời điểm bắt đầu tính thời hiệu rấtquan trọng, bởi từ đó xác định được chính xác thời điểm hết thời hiệu yêu cầugiải quyết tranh chấp, xác định được người yêu cầu còn quyền yêu cầu haykhông và cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền giải quyết tranh chấp laođộng, có thụ lý đơn yêu cầu để giải quyết hay không Tùy thuộc vào cơ sở lýluận và thực tiễn nhất định, tác động của các quy định đối với xã hội, ngườidân và công tác xét xử của Tòa án ở mỗi quốc gia mà các quy định về thờihiệu nói chung và thời hiệu khởi kiện vụ án lao động nói riêng ở mỗi quốc gia
Trang 27này lại được xác lập khác nhau Nhìn chung, pháp luật các nước đều coi thờihiệu khởi kiện là khoảng thời gian để yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền, lợi íchhợp pháp cho người khởi kiện và người khởi kiện sẽ mất quyền khởi kiện nếukhông khởi kiện trong thời hạn đó Chẳng hạn, pháp luật Trung Quốc quyđịnh thời hạn tính thời hiệu trong tố tụng TCLĐ là 15 ngày từ ngày nhận đượcphán quyết của Trọng tài lao động 4.
Về các bước tiến hành giải quyết TCLĐ tại Tòa án có sự tương đồng
tương đối trong PLLĐ của các quốc gia Trình tự giải quyết tranh chấp laođộng cá nhân được đa số pháp luật các nước quy định theo các bước: khởikiện vụ án lao động, thụ lý vụ án lao động, hòa giải vụ án lao động, phiên tòaxét xử, kháng cáo, kháng nghị (nếu có)
Theo chương III của Đạo luật về tổ chức và hoạt động của Tòa án laođộng và bản quy tắc tố tụng của Thái Lan, việc giải quyết tranh chấp lao độngtại Tòa án có thể tóm lược như sau:
Các bên tranh chấp khởi kiện ra Tòa án lao động dưới hình thức vănbản hoặc trình bày miệng tại trụ sở Tòa án lao động Nếu vụ việc đó thuộcthẩm quyền giải quyết của Tòa án lao động, chánh án Tòa án lao động sẽ phâncông Thẩm phán và Bồi thẩm viên lao động trực tiếp giải quyết vụ việc Thẩmphán phụ trách sẽ định ngày để xét xử và không được trì hoãn đồng thời thôngbáo cho nguyên đơn, bị đơn đến Tòa án Trước khi xét xử, Tòa án lao động cótrách nhiệm hòa giải để các bên có thể thỏa thuận với nhau về vụ việc.Trường hợp được yêu cầu hoặc nếu thấy cần thiết, Tòa án sẽ "hòa giải bí mật"với sự có mặt của các bên Nếu không đạt được thỏa thuận thì Tòa án sẽ đưa
vụ việc ra xét xử Để đảm bảo cho việc xét xử được nhanh chóng, Tòa án sẽyêu cầu nguyên đơn trình bày và bị đơn trả lời bằng văn bản Các bên cũngđược yêu cầu cung cấp chứng cứ để chứng minh cho quan điểm của mình
4 Wang Zhenqi - Ministry of Labour and Social Security, PRC (2003), "Labour Disputes Settlement System
in China: Past and Perspective", Viện phát triển kinh tế Nhật Bản (IDE-JETRO), tr 74.
Trang 28Trường hợp nguyên đơn sau khi đã biết lệnh và ngày xét xử của Tòa án màvẫn vắng mặt không báo lý do thì Tòa án sẽ coi đó là cử chỉ từ chối tố tụng vàxóa tên vụ việc trong danh sách Nếu bị đơn vắng mặt, Tòa án vẫn đưa vụviệc ra giải quyết Tòa án cũng có quyền tự mình thu thập chứng cứ và triệutập nhân chứng ngoài những nhân chứng, vật chứng do các bên đưa ra và xácminh các loại chứng cứ đó Tòa án phải tiến hành tố tụng một cách nhanhchóng, không được trì hoãn, trong trường hợp cần thiết, thời gian kéo dàikhông quá 07 ngày Trong quá trình tố tụng, Tòa án luôn có quyền và tráchnhiệm giúp đỡ các bên đạt được thỏa thuận Trước khi tuyên án, Tòa án có thểtiếp tục tiến hành tố tụng nếu Tòa án cho rằng điều đó là phù hợp với công lý.Trong vòng 03 ngày kể từ ngày chấm dứt việc xét xử, Tòa án phải thông báocho các bên kết quả bằng bản án hoặc lệnh có chữ ký đầy đủ của Thẩm phán
và các Bồi thẩm viên lao động Trong trường hợp không đồng ý với bản ánhoặc quyết định của Tòa án lao động, các bên có quyền kháng cáo lên Tòa ántối cao Vương quốc Thái Lan, đồng thời gửi bản yêu cầu đó cho Tòa án laođộng đã ra bản án hoặc quyết định đó Kể từ ngày nhận được bản sao về việckháng cáo do Tòa án lao động thông báo, bên kia phải trả lời Tòa án trongvòng 07 ngày Nếu hết thời hạn này mà không trả lời được thì Tòa lao động sẽgửi hồ sơ lên Tòa án tối cao Quyết định của Tòa án tối cao về vụ việc làquyết định cuối cùng
Theo Quy tắc tố tụng của Ủy ban quốc gia về QHLĐ (NLRC, hay còngọi là Tòa án lao động - LC năm 1999), quá trình giải quyết tranh chấp laođộng tại Tòa án lao động của Philipines gồm các nội dung cơ bản sau:Nguyên đơn hoặc người có yêu cầu đến chi nhánh vùng thuộc nơi làm việccủa NLĐ để yêu cầu giải quyết Sau khi nhận được hồ sơ từ bộ phận pháp lý,Thẩm phán lao động sẽ tổ chức quá trình trung gian - hòa giải, nếu các bênkhông thỏa thuận được với nhau về giải pháp của vụ tranh chấp thì Thẩmphán lao động sẽ đưa vụ việc ra xét xử chính thức và ra quyết định về vụ
Trang 29tranh chấp đó Thông thường, quyết định của Thẩm phán lao động sẽ có hiệulực ngay sau 10 ngày kể từ ngày các bên nhận được phán quyết từ Thẩm phánlao động hoặc thủ trưởng hành chính hoặc trong 05 ngày từ ngày nhận đượcquyết định của người phụ trách vùng hoặc viên chức có thẩm quyền củangười phụ trách vùng đó Nếu trong thời hạn trên, nguyên đơn, bị đơn hoặcngười có yêu cầu không đồng ý thì có quyền kháng cáo lên Ủy ban QHLĐquốc gia qua 05 phân ban của Ủy ban Các quyết định, lệnh hay giải pháp mà
Ủy ban QHLĐ quốc gia đưa ra sẽ có hiệu lực Tuy nhiên, các bên có quyềnđưa vụ việc lên Tòa án phúc thẩm của Philipines Nếu các bên không đồng ýhay không thỏa mãn với các quyết định của Tòa án phúc thẩm Philipines thì
họ có quyền đưa vụ việc lên Tòa án tối cao Philipines Quyết định của Tòa ántối cáo là quyết định cuối cùng
Kết luận Chương 1
Tranh chấp lao động cá nhân mang những đặc điểm nói chung củatranh chấp lao động và mang những đặc điểm riêng đặc thù Sự đặc thù nàychủ yếu xuất phát từ chủ thể của loại tranh chấp này đó là cá nhân NLĐ hoặcnhóm NLĐ
Tranh chấp lao động cá nhân có thể giải quyết thông qua con đườnghòa giải hoặc giải quyết tại Tòa án Mỗi phương thức giải quyết đều có những
ưu điểm và hạn chế Tuy nhiên, giải quyết tranh chấp lao động cá nhân tạiTòa án là một cơ chế giải quyết hết sức cần thiết bởi vì việc giải quyết tranhchấp lao động bằng hình thức này phải tuân theo một trình tự thủ tục hết sứcchặt chẽ, các quyết định, phán quyết được Tòa án ban hành có thể được xemxét theo những thủ tục nhất định bảo đảm tính chính xác và có cơ chế đảmbảo thực thi bằng biện pháp cưỡng chế nhà nước nếu các bên không tuân thủ
Chương 1 của Luận văn đã luận giải những vấn đề mang tính lý luận
về khái niệm tranh chấp lao động cá nhân, đặc điểm tranh chấp lao động cánhân Từ đó tiếp cận và làm rõ vấn đề lý luận về giải quyết tranh chấp lao
Trang 30động cá nhân tại TAND, bao gồm các nội dung như: khái niệm, đặc điểm củaphương thức giải quyết tranh chấp lao động cá nhân tại TAND Vấn đề nộidung điều chỉnh pháp luật về giải quyết tranh chấp lao động tại Tòa án cũngđược Luận văn đề cập, trong nội dung của chương 1, Luận văn đã phản ánhPLLĐ của một số nước trên thế giới về giải quyết tranh chấp lao động cá nhântại Tòa án để có cơ sở tham khảo thêm.
Tranh chấp lao động cá nhân là tranh chấp lao động xảy ra phổ biếntrên thực tế Việc nắm rõ những vấn đề lý luận về tranh chấp lao động cá nhângóp phần tiếp cận tốt hơn những quy định của pháp luật hiện hành về giảiquyết tranh chấp lao động này tại TAND ở chương 2
Trang 31Chương 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP LAO ĐỘNG CÁ NHÂN TỪ THỰC TIỄN XÉT XỬ
TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÒA BÌNH
2.1 Tình hình phát triển kinh tế, xã hội tỉnh Hòa Bình và những tác động đến quan hệ lao động
Hòa Bình nằm ở vị trí phía Tây Bắc, nằm trên trục giao thông Tây Bắccủa quốc gia về đường bộ, đường sắt, đường hàng không, Hòa Bình là thànhphố kinh tế trọng điểm của khu vực Tây Bắc, là một trong những thành phốđang phát triển năng động của cả nước, đóng vai trò hạt nhân tăng trưởng, tạođộng lực thúc đẩy phát triển cho cả khu vực miền Tây Bắc về mọi mặt
Giai đoạn 2010-2015, trong bối cảnh gặp nhiều khó khăn hơn dự báo,thành phố Hòa Bình đã triển khai kịp thời các giải pháp nhằm ổn định và pháttriển kinh tế, gắn với tái cơ cấu và chuyển đổi mô hình tăng trưởng, tập trungthực hiện 5 đột phá về phát triển kinh tế - xã hội theo Nghị quyết Đại hội XVIcủa đảng bộ Tỉnh Hòa bình, tăng cường đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng, cảithiện môi trường đầu tư, thực hiện giảm, giãn thuế, hỗ trợ doanh nghiệp nângcao năng lực cạnh tranh, phát triển sản xuất kinh doanh Nhờ đó, tình hình kinh
Trang 32Cơ cấu các thành phần kinh tế chuyển dịch tích cực, ước năm 2015, tỷtrọng kinh tế dân doanh ước tăng từ 60,1% lên 63,7%, kinh tế có vốn đầu tưnước ngoài tăng từ 11% lên 12,8%, trong khi kinh tế nhà nước giảm từ 28,3%năm 2010 xuống còn 23,5% Dịch vụ du lịch và thương mại thực hiện đạt kếtquả rõ nét, giá trị sản xuất dịch vụ ước tăng 12,1%/năm, đến năm 2015 gấp1,8 lần năm 2010, góp phần quan trọng thúc đẩy tăng trưởng và chuyển dịch
cơ cấu kinh tế thành phố
Với chính sách phát triển của thành phố, trong những năm qua, tỉnhHòa Bình đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách thu hút đầu tư đúng đắn,tạo môi trường thông thoáng cho các hoạt động đầu tư, kinh doanh Các thủtục hành chính được cải cách theo hướng nhanh, gọn, tạo thuận lợi cho các tổchức, cá nhân tiếp cận dễ dàng với các dịch vụ công, góp phần khuyến khíchnhà đầu tư trong và ngoài nước mở rộng thị trường tại thành phố Doanhnghiệp đóng trên địa bàn thành phố có chiều hướng tăng nhanh về số lượng,cũng như quy mô tổ chức hoạt động Trong giai đoạn 2011-2015, bình quân
có khoảng 14.585 doanh nghiệp hoạt động với tổng vốn đăng ký khoảng79.709 tỷ đồng Hàng năm, các doanh nghiệp đã giải quyết một số lượng lớnviệc làm cho NLĐ, mở rộng cơ hội lựa chọn việc làm cho NLĐ Tỉnh và cáctỉnh lân cận
Kinh tế thành phố phát triển, doanh nghiệp tăng nhanh về số lượng vàquy mô hoạt động, các ngành nghề sản xuất kinh doanh cũng phong phú và đadạng hơn, theo đó số lượng lao động cũng phát triển một cách nhanh chóng,lao động ngoại tỉnh có xu hướng đổ về thành phố để làm ăn sinh sống ngàycàng nhiều, đặc biệt là lao động tập trung vào 3 khu công nghiệp trên địa bànTỉnh Sự phát triển nhanh của thành phố trong những năm gần đây đã gópphần tích cực làm thay đổi cơ cấu kinh tế, tạo đà phát triển cho thành phốtrong tương lai Tuy nhiên, cùng với sự phát triển này tất yếu sẽ dẫn đến rấtnhiều hệ lụy khác nhau Một trong những hệ lụy cơ bản đó chính là TCLĐ,
Trang 33trong đó có TCLĐ cá nhân và nhiều vấn đề phát sinh khác trong thị trườnglao động Nội dung và tính chất của TCLĐ ngày càng phức tạp trong các loạihình doanh nghiệp đã và đang đặt ra những yêu cầu cấp bách trong việc giảiquyết các TCLĐ này.
2.2 Quy định của pháp luật về giải quyết tranh chấp lao động cá nhân tại Tòa án nhân dân
Tòa án là phương thức giải quyết được tiến hành theo những thủ tục,trình tự tố tụng chặt chẽ Giải quyết TCLĐ cá nhân tại Tòa án được xem làhoạt động giải quyết tranh chấp cuối cùng sau khi các bên đã được giải quyết
ở các phương thức khác Đây là phương thức giải quyết TCLĐ của một cơquan tài phán mang quyền lực nhà nước tiến hành theo trình tự, thủ tục nhấtđịnh và phán quyết của Tòa án được đảm bảo thực hiện bằng biện pháp cưỡngchế của nhà nước
Về thẩm quyền của Tòa án trong việc giải quyết TCLĐ cá nhân quy địnhnhư sau:
Điều 200, Điều 203 BLLĐ năm 2012 quy định về thẩm quyền giảiquyết các TCLĐ tại TAND Việc xác định đúng thẩm quyền của Tòa án tránhđược sự chồng chéo trong việc thực hiện nhiệm vụ giữa Tòa án với các cơquan quản lý nhà nước và giữa các cấp Tòa án với nhau góp phần nâng caohiệu quả giải quyết tranh chấp, tạo điều kiện thuận lợi cho các đương sự thamgia tố tụng bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp trước Tòa
Thẩm quyền của Tòa án được xác định theo vụ việc:
Tòa án giải quyết TCLĐ cá nhân khi các vụ việc không bắt buộc phảithông qua thủ tục hòa giải của hòa giải viên lao động trước khi yêu cầu Tòa
án giải quyết đó là: xử lý kỷ luật lao động theo hình thức sa thải hoặc tranhchấp về trường hợp bị đơn phương chấm dứt HĐLĐ; về bồi thường thiệt hại,trợ cấp khi chấm dứt HĐLĐ; Giữa người giúp việc gia đình với NSDLĐ; vềBHXH theo quy định của pháp luật về BHXH, về BHYT theo quy định của
Trang 34pháp luật về BHYT; về bồi thường thiệt hại giữa NLĐ với doanh nghiệp, đơn
vị sự nghiệp đưa NLĐ đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng (Điều 201 BLLĐnăm 2012) Hoặc các vụ việc phải thông qua hòa giải viên lao động nhưng hòagiải không thành; hòa giải thành nhưng một bên hoặc cả hai bên trong khôngthực hiện các thỏa thuận trong biên bản hòa giải thành; quá thời hạn 05 ngàylàm việc kể từ ngày nhận được yêu cầu hòa giải mà hòa giải viên lao độngkhông tiến hành hòa giải Những TCLĐ thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa áncòn được quy định tại Điều 32 Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS) năm 2015
Thẩm quyền giải quyết TCLĐ cá nhân của Tòa án theo cấp Tòa:
Căn cứ theo Luật tổ chức TAND, BLTTDS năm 2015, TCLĐ đượcgiải quyết tại TAND cấp huyện, TAND cấp tỉnh, TAND cấp tỉnh, TAND cấpcao và TAND tối cao thuộc hệ thống TAND
Đối với TAND tối cao, tại khoản 2, Điều 22 Luật tổ chức TAND quy
định Hội đồng thẩm phán TAND tối cao có nhiệm vụ quyền hạn "Giám đốc
thẩm, tái thẩm bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị theo quy định của luật tố tụng"
Đối với TAND cấp cao có nhiệm vụ quyền hạn: "Phúc thẩm vụ việc
mà bản án, quyết định sơ thẩm của Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương thuộc phạm vi lãnh thổ chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo, kháng nghị theo quy định của luật tố tụng; giám đốc thẩm, tái thẩm bản
án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân huyện, quận, thị
xã, thành phố thuộc tỉnh và tương đương thuộc phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ bị kháng nghị theo quy định của luật tố tụng" (Điều 29 Luật tổ chức
TAND); Tòa chuyên trách TAND cấp cao thực hiện nhiệm vụ xét xử phúcthẩm (Điều 33 Luật tổ chức TAND); Ủy ban Thẩm phán TAND cấp cao thựchiện nhiệm vụ giám đốc thẩm, tái thẩm (Điều 31 Luật tổ chức TAND)
Đối với Tòa án nhân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có nhiệm
vụ quyền hạn: "Sơ thẩm vụ việc theo quy định của pháp luật; Phúc thẩm vụ
Trang 35việc mà bản án, quyết định sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và tương đương chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo, kháng nghị theo quy định của pháp luật (khoản 1, 2 Điều 37 Luật tổ chức
TAND) TAND cấp quận, huyện, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh và tươngđương xét xử sơ thẩm các vụ án lao động (Điều 44 Luật tổ chức TAND)
Thẩm quyền giải quyết TCLĐ cá nhân của Tòa án theo lãnh thổ:
Việc phân định quyền xét xử của Tòa án theo lãnh thổ là sự phân địnhthẩm quyền sơ thẩm vụ án lao động giữa các Tòa án cùng cấp với nhau TheoĐiều 39 BLTTDS thẩm quyền giải quyết vụ án dân sự của Tòa án theo lãnhthổ được xác định như sau:
- Tòa án nơi bị đơn cư trú, làm việc, nếu bị đơn là cá nhân hoặc nơi bịđơn có trụ sở, nếu bị đơn là cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết theothủ tục sơ thẩm những TCLĐ quy định tai Điều 32 BLTTDS (bao gồm cảTCLĐ cá nhân và TCLĐ tập thể)
- Các đương sự có quyền thỏa thuận với nhau bằng văn bản yêu cầuTòa án nơi cư trú, làm việc của nguyên đơn nếu nguyên đơn là cá nhân hoặcnếu nguyên đơn là cơ quan, tổ chức giải quyết những tranh chấp về lao động
Do QHLĐ được thiết lập trên cơ sở bình đẳng, tự do thỏa thuận chonên việc giải quyết tranh chấp phát sinh từ quan hệ này nói chung và việcphân định thẩm quyền nói riêng cũng phải đảm bảo quyền tự định đoạt củacác bên tranh chấp
Ngoài ra, BLTTDS còn quy định thẩm quyền giải quyết TCLĐ cánhân của Tòa án theo sự lựa chọn của nguyên đơn, người yêu cầu tại Điều 40,theo đó, nguyên đơn có thể lựa chọn Tòa án giải quyết TCLĐ cá nhân trongmột số trường hợp: Nếu không biết nơi cư trú, nơi làm việc có trụ sở cuốicùng hoặc nơi bị đơn có tài sản giải quyết Nếu tranh chấp phát sinh từ hoạtđộng của chi nhánh tổ chức thì nguyên đơn có thể yêu cầu Tòa án nơi có tổchức có chi nhánh để giải quyết Nếu tranh chấp về bồi thường thiệt hại, trợ
Trang 36cấp khi chấm dứt HĐLĐ, BHXH, quyền và lợi ích các bên liên quan đến việclàm, tiền lương, thu nhập và các điều kiện lao động khác đối với NLĐ thìnguyên đơn có thể yêu cầu Tòa án nơi mình cư trú, làm việc giải quyết NếuTCLĐ phát sinh từ việc sử dụng lao động của người cai thầu hoặc người cóvai trò trung gian thì nguyên đơn có thể yêu cầu Tòa án nơi NSDLĐ là chủchính cư trú, làm việc, có trụ sở hoặc nơi người cai thầu, người có vai tròtrung gian cư trú, làm việc giải quyết Nếu các bị đơn cư trú, làm việc có trụ
sở ở nhiều nơi khác nhau thì nguyên đơn có thể yêu cầu Tòa án nơi một trongcác bị đơn cư trú, làm việc có trụ sở giải quyết
Về trình tự, thủ tục giải quyết TCLĐ cá nhân tại Tòa án:
Trình tự, thủ tục chung được quy định trong BLTTDS năm 2015, vụ ánlao động được giải quyết theo hai cấp xét xử tại Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa áncấp phúc thẩm
Giải quyết TCLĐ cá nhân theo thủ tục sơ thẩm:
Giải quyết theo thủ tục sơ thẩm là một giai đoạn rất quan trọng trongquá trình Tòa án giải quyết một vụ án lao động Trong giai đoạn này, việc Tòa
án giải quyết vụ án chính xác, nhanh chóng, đúng pháp luật sẽ góp phần quantrọng ổn định QHLĐ, sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp, đồng thời hạn chếkháng cáo, kháng nghị làm kéo dài việc giải quyết vụ án Phiên tòa lao động sơthẩm là giai đoạn độc lập trong quá trình giải quyết tranh TCLĐ cá nhân tại Tòa
án và là trọng tâm của thủ tục giải quyết TCLĐ cá nhân tại Tòa án Hoạt động tốtụng tại phiên tòa có ý nghĩa quyết định đối với các phán quyết về vụ tranh chấp
Theo nguyên tắc, phiên tòa phải tiến hành công khai, liên tục, trực tiếp
và bằng lời nói Tố tụng đã chuyển từ xét hỏi sang tố tụng tranh luận Cácquyền tố tụng tại phiên tòa, đặc biệt là quyền yêu cầu, trình bày và tranh luậnđược bảo đảm tối đa Mọi phán quyết của Hội đồng xét xử chỉ được phép dựavào kết quả tranh tụng tại phiên tòa Điều này thể hiện sự dân chủ, công minh,khách quan của hoạt động tố tụng, hạn chế các can thiệp bên ngoài Trong