1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn thạc sĩ luật học-pháp luật về bảo hiểm thất nghiệp và thực tiễn thực hiện tại tỉnh hòa bình

75 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Pháp Luật Về Bảo Hiểm Thất Nghiệp Và Thực Tiễn Thực Hiện Tại Tỉnh Hòa Bình
Trường học Trường Đại Học
Chuyên ngành Luật Học
Thể loại Luận Văn Thạc Sĩ
Thành phố Hòa Bình
Định dạng
Số trang 75
Dung lượng 497 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bảo hiểm thất nghiệp BHTN là một trong những biện pháp nhằm hỗtrợ NLĐ trong thời gian NLĐ không có việc làm, đảm bảo cho họ có một khoảntrợ cấp nhất định trong thời gian không có thu nhậ

Trang 1

Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP

1.1 Một số vấn đề lý luận về bảo hiểm thất nghiệp 61.2 Điều chỉnh pháp luật về bảo hiểm thất nghiệp 111.3 Những yếu tố ảnh hưởng đến việc thực thi pháp luật về bảo

Chương 2: THỰC TRẠNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ BẢO

HIỂM THẤT NGHIỆP VÀ THỰC TIỄN THỰC HIỆN TẠI

2.1 Thực trạng quy định của pháp luật về bảo hiểm thất nghiệp 242.2 Thực trạng thực hiện pháp luật về bảo hiểm tự nguyên tại tỉnh

Chương 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT

VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ THI HÀNH PHÁP LUẬT VỀ BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP TẠI TỈNH HÒA BÌNH 603.1 Yêu cầu của việc hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả

thực hiện pháp luật về bảo hiểm thất nghiệp 603.2 Hoàn thiện pháp luật về bảo hiểm thất nghiệp 623.3 Giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật bảo hiểm thất

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHÀO

Trang 2

BHTN : Bảo hiểm thất nghiệpBHXH : Bảo hiểm xã hội

BHYT : Bảo hiểm y tế

HĐLĐ : Hợp đồng lao độngNLĐ : Người lao động

NSDLĐ : Sử dụng lao động

Trang 3

DANH MỤC CÁC HÌNH

Số hiệu

hình

2.2 Quy trình xét duyệt đối tượng hưởng BHTN tại tỉnh Hòa Bình 53

Trang 4

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Thất nghiệp và giải quyết thất nghiệp đang là vấn đề nan giải đặt ra đốivới các quốc gia, đặc biệt là những nước đang phát triển như Việt Nam Thấtnghiệp tác động trực tiếp đến sự phát triển, ổn định kinh tế, chính trị, xã hội củamột quốc gia Tỷ lệ thất nghiệp tăng cao dẫn đến sự bất ổn của chính trị xã hội,dẫn đến nhiều tệ nạn xã hội gia tăng, sự phát triền nền kinh tế bị giảm sút, trì trệ

Vì vậy, cần hạn chế tỉ lệ thất nghiệp cũng như đưa ra những biện pháp nhằm hỗtrợ người lao động (NLĐ) đang không có việc làm, nhằm ổn định nền kinh tế, xãhội là mục tiêu đặt ra đối với các quốc gia

Theo báo cáo của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, số người thấtnghiệp trong quý 1/2018 tại Việt Nam là 1,1 triệu người, tỷ lệ thất nghiệp chungcủa toàn quốc khoảng 2,01% Cũng theo báo cáo đánh giá của Bộ Lao động -Thương binh và Xã hội thì tỷ lệ thất nghiệp và thiếu việc làm ở Việt Nam trongnăm 2018 có xu hướng giảm dần qua các quý Số người thất nghiệp trong quý1/2018 là 1,1 triệu người, tỷ lệ thất nghiệp chung của toàn quốc khoảng 2,01%(tỷ lệ này của quý 1/2017 là 2,30%) Tỷ lệ thất nghiệp của thanh niên là trên 7%

Do đó, việc đưa ra những chính sách, quy định nhằm bảo vệ quyền và lợi íchcủa NLĐ khi họ bị thất nghiệp là rất quan trọng

Bảo hiểm thất nghiệp (BHTN) là một trong những biện pháp nhằm hỗtrợ NLĐ trong thời gian NLĐ không có việc làm, đảm bảo cho họ có một khoảntrợ cấp nhất định trong thời gian không có thu nhập đồng thời hỗ trợ để NLĐsớm quay lại thị trường lao động

Việt Nam chính thức thực hiện các chính sách về BHTN từ ngày01/01/2009 Qua hơn mười năm thực hiện, chính sách BHTN đã đạt được nhiềukết quả nhất định, tuy nhiên, khi áp dụng thực hiện pháp luật vào từng địaphương vẫn còn tồn tại nhiều bất cập và khó khăn trong quá trình thực hiện HòaBình là tỉnh miền núi, ít các khu công nghiệp Song chính vì vậy mà số lao động

Trang 5

bị thất nghiệp lại chiếm một tỷ lệ đáng kể so với số lượng lao động của toàn tỉnh

và việc thực hiện BHTN đối với NLĐ ở Hòa Bình là hết sức cần thiết Chính vì

vậy, em đã lựa chọn đề tài: "Pháp luật về bảo hiểm thất nghiệp và thực tiễn thực hiện tại tỉnh Hòa Bình" làm luận văn thạc sĩ luật học của mình với mong

muốn góp phần hoàn thiện các quy định pháp luật về BHTN cũng như nâng caohiệu quả thực hiện pháp luật về BHTN tại tỉnh Hòa Bình

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Bảo hiểm thất nghiệp là chính sách quan trọng đối với NLĐ tham giaquan hệ lao động Chính vì vậy trên thực tế cũng đã có một số công trình nghiên

cứu về vấn đề này Có thể kể đến một số công trình nghiên cứu sau đây:

* Về đề tài nghiên cứu khoa học:

- Nguyễn Văn Phần (1993), "Một số ý kiến về trợ cấp thất nghiệp và trợ

cấp hưu trí", đề tài nghiên cứu này có trong cuốn "Một số vấn đề về chính sách bảo hiểm xã hội ở nước ta hiện nay" do Nhà xuất bản Lao động phát hành

- Nguyễn Văn Định (2000), "Tổ chức bảo hiểm thất nghiệp ở Việt Nam

trong điều kiện kinh tế thị trường", đề tài này do ông Nguyễn Văn Định và các

cộng sự trong tổ bộ môn Kinh tế bảo hiểm của Trường Đại học Kinh tế quốc dânnghiên cứu

- Nguyễn Huy Ban (2004), "Nghiên cứu những nội dung cơ bản của bảo

hiểm thất nghiệp hiện đại - vấn đề lựa chọn hình thức trợ cấp thất nghiệp ở Việt Nam".

- Nguyễn Văn Định (2008), "Tổ chức bảo hiểm thất nghiệp ở Việt Nam".

* Về luận văn, luận án:

Về luận án tiến sĩ có luận án: "Chế độ bảo hiểm thất nghiệp trong nền

kinh tế thị trường ở Việt Nam" (2004), Lê Thị Hoài Thu, Đại học Quốc gia Hà Nội.

Các luận văn thạc sĩ gồm có:

- Ngô Thị Thu Hoài (2012), "Pháp luật bảo hiểm thất nghiệp và thực tiễn

áp dụng ở Nghệ An", Trường Đại học Luật Hà Nội;

- Ngô Thị Thủy (2013), "Hoàn thiện pháp luật về bảo hiểm thất nghiệp ở

Việt Nam hiện nay", Trường Đại học Luật Hà Nội

Trang 6

- Lương Thị Hòa (2016), "Pháp luật về bảo hiểm thất nghiệp và thực tiễn

thực hiện tại tỉnh Thái Bình", Viện Đại học mở Hà Nội

- Hà Thị Thanh Thủy (2017), "Chế độ bảo hiểm thất nghiệp từ thực tiễn

tỉnh Vĩnh Phúc", Viện Đại học Mở Hà Nội.

- Hoảng Thị Hải (2018) "Pháp luật bảo hiểm thất nghiệp và thực tiễn

thực hiện tại tỉnh Lạng Sơn", Trường Đại học Luật Hà Nội

Có thể thấy cũng đã có nhiều công trình nghiên cứu về BHTN nhưng chưa

có công trình nào nghiên cứu BHTN và thực tiễn thực hiện tại tỉnh Hòa Bình Chính

vì vậy, tác giả đã lựa chọn đề tài này nhằm nghiên cứu một cách đầy đủ và mangtính độc lập về pháp luật bảo hiểm thất nghiệp và thực tiễn thực hiện tại tỉnh HòaBình

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Đây là luận văn định hướng ứng dụng nên mục đích nghiên cứu của đềtài là làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận về BHTN Luận văn sẽ tập trung vàođánh giá thực trạng quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về BHTN vàthực tiễn thực hiện tại tỉnh Hòa Bình, trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp nhằmhoàn thiện pháp luật về BHTN và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật vềBHTN tại tỉnh Hòa Bình

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích nghiên cứu đã nêu, tác giả cần tập trung giải quyếtmột số nhiệm vụ cơ bản sau:

- Phân tích làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận về BHTN, pháp luật về BHTN

- Phân tích thực trạng quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về BHTN

- Đánh giá việc thực hiện, áp dụng pháp luật về BHTN tại tỉnh Hòa Bình

- Đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quảhoạt động áp dụng pháp luật BHTN trên địa bàn tỉnh Hòa Bình

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Về đối tượng nghiên cứu

Trang 7

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những quy định của pháp luật vềBHTN mà cụ thể là Luật Việc làm và các văn bản hướng dẫn thi hành Đồngthời luận văn cũng nghiên cứu thực tiễn thực thi pháp luật về BHTN tại tỉnh HòaBình, từ đó đưa ra những giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệuquả thực hiện pháp luật về BHTN tại tỉnh Hòa Bình Pháp luật quốc tế về BHTNchỉ được nghiên cứu ở mức độ nhất định trong luận văn

4.2 Về phạm vi nghiên cứu

Bảo hiểm thất nghiệp có phạm vi rất rộng, thuộc đối tượng nghiên cứucủa nhiều ngành và liên ngành khoa học khác nhau, ảnh hưởng đến nhiều khíacạnh của đời sống Tuy nhiên, trong phạm vi của luận văn, tác giả chỉ nghiêncứu BHTN dưới góc độ luật học và ở các nội dung chính như đối tượng thamgia, điều kiện hưởng BHTN, các chế độ và thủ tục hưởng BHTN, tổ chức thực hiện

và xử lý vi phạm Luận văn không nghiên cứu giải quyết tranh chấp về BHTN

Về không gian, luận văn chỉ nghiên cứu việc thực hiện pháp luật về

BHTN tại tỉnh Hòa Bình

Về thời gian, luận văn nghiên cứu thực tiễn thực hiện pháp luật về

BHTN tại tỉnh Hòa Bình từ năm 2014-2018

5 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài được nghiên cứu dựa trên phương pháp duy vật biện chứng và duyvật lịch sử của Chủ nghĩa Mác-Lênin về nhà nước và pháp luật Bên cạnh đó, tácgiả còn sử dụng các phương pháp nghiên cứu như: phương pháp phân tích,phương pháp so sánh, phương pháp tổng hợp, phương pháp thống kê, phương

pháp hệ thống hóa, lịch sử, nghiên cứu lý thuyết và tổng kết thực tiễn… Tùy

theo từng nội dung mà tác giả sử dụng phương pháp nghiên cứu cho phù hợp

Chương 1, để phân tích những vấn đề lý luận về pháp luật BHTN tác giả

sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp và so sánh

Chương 2 để đánh giá thực trạng quy định về BHTN và thực tiễn thực

hiện pháp luật về BHTN tại tỉnh Hòa Bình, tác giả đã sử dụng phương pháp chủyếu là phương pháp tổng hợp, so sánh luật học và phân tích

Trang 8

Chương 3, khi xem xét, đánh giá đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp

luật, các biện pháp nhằm thực thi có hiệu quả quy định pháp luật về BHTN ởtỉnh Hòa Bình tác giả sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài

6.1 Ý nghĩa ý luận của đề tài

Luận văn góp phần làm sáng tỏ và hoàn thiện thêm những vấn đề lý luận

và thực tiễn về BHTN Đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện quy định củapháp luật về BHTN và giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về BHTN

6.2 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài

Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo trong nghiên cứu và học tập củasinh viên, học viên chuyên ngành luật Ngoài ra, luận văn còn có thể cung cấpkiến thức cho các cán bộ làm công tác lao động - xã hội nói chung, những ngườilàm công tác bảo hiểm xã hội (BHXH), đặc biệt là công tác BHTN nói riêng,giúp họ thực thi chính sách và pháp luật về BHTN hiệu quả

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần nói đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dungcủa luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Một số vấn đề lý luận về bảo hiểm thất nghiệp và sự điều

chỉnh của pháp luật

Chương 2: Thực trạng quy định của pháp luật về bảo hiểm thất nghiệp và

thực tiễn thực hiện tại tỉnh Hòa Bình

Chương 3: Một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu

quả thực hiện pháp luật về bảo hiểm thất nghiệp tại tỉnh Hòa Bình

Trang 9

Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP

VÀ SỰ ĐIỀU CHỈNH CỦA PHÁP LUẬT

1.1 Một số vấn đề lý luận về bảo hiểm thất nghiệp

1.1.1 Khái niệm bảo hiểm thất nghiệp

Trên thực tế hiện nay, có rất nhiều khái niệm về thất nghiệp được đưa rabởi các tổ chức, nhà khoa học khác nhau Ở một số các quốc gia phát triển kháiniệm về thất nghiệp cũng được đưa ra Chẳng hạn như ở Cộng hòa Liên bangĐức, thất nghiệp được xem là NLĐ tạm thời không có quan hệ lao động hoặcchỉ thực hiện công việc ngắn hạn Hay ở Pháp, thất nghiệp được hiểu là tìnhtrạng không có việc làm, đang đi tìm việc làm Còn tại Trung Quốc, thất nghiệplại được định nghĩa là người trong độ tuổi lao động có khả năng lao động, chưa

có việc làm, đang đi tìm việc làm và đăng ký tại cơ quan giải quyết việc làm

Theo Tổ chức Lao động quốc tế (ILO), thất nghiệp được định nghĩa làtình trạng tồn tại một số người trong lực lượng lao động muốn làm việc nhưngkhông thể tìm được việc làm ở mức tiền lương thịnh hành

Như vậy, với cách hiểu chung nhất, ta có thể hiểu thất nghiệp là tìnhtrạng NLĐ muốn có việc làm mà không tìm được việc làm

Thất nghiệp có ảnh hưởng lớn không chỉ với chính người đang thấtnghiệp mà còn đối với sự phát triển của kinh tế - xã hội của nước Tình trạngthất nghiệp sẽ tác động đến tăng trường kinh tế và lạm phát Theo đó, tỷ lệ thấtnghiệp tăng cao đồng nghĩa với việc tổng sản phẩm quốc nội (GDP) thấp, cácnguồn lực từ con người sẽ không được sử dụng hết, bỏ phí cơ hội sản xuất thêmsản phẩm và dịch vụ Bên cạnh đó, việc thất nghiệp dẫn đến số lượng sản phẩmsản xuất ra ít hơn, làm giảm tính hiệu quả của sản xuất theo quy mô Ngoài ra,thất nghiệp còn làm giảm nhu cầu xã hội Hàng hóa và dịch vụ làm ra có mứctiêu thụ thấp, không có người tiêu dùng Việc nhu cầu tiêu dùng ít đi so với việclàm ra, dẫn đến cơ hội đầu tư cũng ít hơn

Trang 10

Thất nghiệp còn làm ảnh hưởng đến thu nhập và đời sống của NLĐ Thấtnghiệp lâu ngày, NLĐ sẽ không có khoản thu nhập ổn định, từ đó ảnh hưởngnghiêm trọng không những đến chất lượng cuộc sống cá nhân họ mà còn ảnhhưởng đến toàn xã hội và nền kinh tế.Thất nghiệp còn gây ảnh hưởng đến trật tự

xã hội, an toàn xã hội Các cá nhân không có việc làm sẽ gây ra tình trạng chánnản, bất lực, có những người vì như vậy mà tự tử Thất nghiệp khiến NLĐkhông có tiền, không có khả năng chi trả những nhu cầu thiết yếu của cuộc sống,

từ đó gây ra tình trạng trộm cắp và các tệ nạn xã hội khác

Có thể nói, tình trạng thất nghiệp là một trong những vấn đề nan giải,cần có những biện pháp và chính sách giải quyết thích hợp để giúp cải thiện, cânbằng đời sống xã hội BHTN đã ra đời xuất phát từ nhu cầu đó NLĐ tham giaBHTN sẽ được đảm bảo thu nhập trong thời gian họ bị mất việc làm, đảm bảocho họ có được cuộc sống ổn định trong thời gian không được làm việc, không

có thu nhập Rất nhiều quốc gia đã xây dựng và thực hiện chế độ BHTN Chođến nay đã có khoảng 70 quốc gia thực hiện chế độ BHTN như Anh (bắt đầuthực hiện năm 1911), Mỹ (1935), Italia (1937), Pháp (1958), Trung Quốc (1986)

…BHTN cũng được nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau

Dưới góc độ kinh tế - xã hội, BHTN được hiểu là giải pháp nhằm khắc

phục hậu quả của tình trạng thất nghiệp, giúp người thất nghiệp tạm thời đảmbảo cuộc sống và tìm kiếm việc làm thông qua việc tạo lập và sử dụng một quỹtiền tệ tập trung Quỹ này được hình thành do sự đóng góp của NLĐ và người sửdụng lao động (NSDLĐ), có sự hỗ trợ của Nhà nước, được sử dụng để trả trợcấp cho người thất nghiệp, cũng như tiến hành các biện pháp nhằm nhanh chónggiúp người thất nghiệp có được việc làm mới Khoản tiền trợ giúp trích từ quỹBHTN nhằm đảm bảo cuộc sống cho NLĐ trong thời gian mất việc làm đượcgọi là trợ cấp thất nghiệp Về mặt bản chất, tiền trợ cấp thất nghiệp được coi làhình thức bù đắp một phần sự mất mát thu nhập do hậu quả của tình trạng thấtnghiệp và giúp người thất nghiệp học nghề, tìm kiếm việc làm mới

Trang 11

Dưới góc độ pháp lý, chế độ BHTN là tổng thể các quy phạm pháp luật

quy định việc đóng góp và sử dụng quỹ BHTN, chi trả trợ cấp thất nghiệp để bùđắp thu nhập cho NLĐ bị mất việc làm và thực hiện các biện pháp đưa ngườithất nghiệp trở lại làm việc Như vậy, có thể hiểu trợ cấp thất nghiệp là mộttrong các chế độ của BHTN nhằm hỗ trợ NLĐ khi bị mất việc làm trên cơ sởđóng góp trước đó của NLĐ vào quỹ BHTN Bên cạnh đó, BHTN còn thực hiệncác biện pháp khác để hỗ trợ NLĐ tìm kiếm các cơ hội việc làm mới để tiếp tụctham gia thị trường lao động1

Khoản 4, điều 3 Luật Việc làm năm 2013 của Việt Nam có quy định:

"Bảo hiểm thất nghiệp là chế độ nhằm bù đắp một phần thu nhập của người lao động khi bị mất việc làm, hỗ trợ người lao động học nghề, duy trì việc làm, tìm việc làm trên cơ sở đóng vào Quỹ bảo hiểm thất nghiệp."

Như vậy, BHTN là một trong những biện pháp hỗ trợ NLĐ, khi NLĐ bịmất việc làm Tuy nhiên, việc hỗ trợ này dựa trên cơ sở NLĐ đã đóng vào QuỹBHTN trước đó Việc hỗ trợ này không chỉ là một khoản thu nhập giúp ổn địnhcuộc sống của NLĐ trong thời gian thất nghiệp, mà còn hỗ trợ NLĐ học nghề, tìmkiếm việc làm, nhằm sớm đưa những người này tìm được công việc mới ổn định

Có thể thấy, BHTN là một loại hình bảo hiểm tiến bộ, không chỉ có ýnghĩa hỗ trợ NLĐ khi mất việc làm mà còn giúp ổn định nền kinh tế - xã hội, anninh trật tự của một quốc gia Chính vì vậy, trên thế giới BHTN thường được ápdụng đối với những nước có nền kinh tế thị trường

1.1.2 Đặc điểm bảo hiểm thất nghiệp

Bảo hiểm thất nghiệp là một loại bảo hiểm đặc biệt, nó không mang tínhbắt buộc cụ thể nhưng cũng không phải là một loại bảo hiểm thương mại BHTN

có những đặc điểm khác với BHXH hay các loại bảo hiểm thương mại khác,những đặc điểm này được thể hiện thông qua đối tượng, mục đích, cơ chế quảnlý… Cụ thể:

1 Xem Giáo trình Luật an sinh xã hội, Trường Đại học Luật Hà Nội, 2013.

Trang 12

Về đối tượng: Đối tượng của BHTN không được xác định cụ thể hay dự

tính chính xác như các loại BHXH khác Đối tượng của BHTN chủ yếu là nhữngNLĐ đang bị mất việc làm, có nhu cầu tìm việc làm và còn khả năng lao động.NLĐ bị mất việc có nhiều nguyên nhân nên không thể dự tính trước được về sốlượng này Chính vì vậy, đối tượng được thụ hưởng loại bảo hiểm này thường íthơn so với đối tượng phải nộp loại bảo hiểm này, đặc biệt là khi thị trường laođộng ổn định

Về mục đích: Cũng giống như các chế độ bảo hiểm khác, BHTN cũng

hướng tới việc bù đắp một phần nào đó về lợi ích cho đối tượng được bảohiểm Tuy nhiên, BHTN ngoài việc giúp hỗ trợ về kinh tế đối với NLĐ bị mấtviệc còn giúp họ giới thiệu việc làm, đào tạo lại nghề để họ có thể quay trở lại

và tham gia vào thị trường lao động Với mục đích này, BHTN giúp đảm bảolợi ích về an sinh xã hội, giúp phát triển nền kinh tế của đất nước BHTN cũngkhác với các loại bảo hiểm khác (như bảo hiểm thương mại) ở chỗ nó khôngnhằm mục đích lợi nhuận, sinh lời mà chỉ mang mục đích bù đắp một phần vềlợi ích đối với đối tượng người được thụ hưởng Và đây cũng là một chế độbảo hiểm ngắn hạn

Về cơ chế quản lý và tổ chức thực hiện của BHTN: Thực hiện quản lý

BHTN khác hẳn với các loại bảo hiểm khác Trong thực tế, việc thực hiện đăng

ký, thống kê và phân loại người thất nghiệp để rồi đưa ra những biện pháp hỗ trợphù hợp với từng đối tượng NLĐ bị thất nghiệp là khá khó khăn Chưa kể, việchình thành quỹ BHTN cũng khác với các loại hình bảo hiểm khác Không phảiNLĐ nào muốn đóng BHTN cũng có thể đóng, nếu không có việc làm, ký hợpđồng lao động với các cơ sở kinh tế đáp ứng được điều kiện tham gia BHTN thìNLĐ cũng không thể đóng BHTN Không như quỹ hưu trí hay quỹ bảo hiểm y

tế (BHYT), chỉ cần NLĐ góp một phần quỹ sau một thời gian hoặc một trườnghợp nhất định sẽ được hưởng BHTN chỉ xuất hiện khi NLĐ thất nghiệp BHTNkhông chi trả dài hạn như bảo hiểm hưu trí mà chỉ trả trong một thời hạn nhấtđịnh Bên cạnh hỗ trợ về vật chất, BHTN còn giúp NLĐ tham gia đào tạo, học

Trang 13

tập và tìm cơ hội việc làm mới tốt hơn nên thực hiện BHTN cần có sự tham giacủa nhiều chủ thể như cơ quan BHXH, trung tâm dịch vụ việc làm…

1.1.3 Vai trò, ý nghĩa của bảo hiểm thất nghiệp

- Đối với người lao động:

Bảo hiểm thất nghiệp giúp NLĐ và gia đình họ ổn định thu nhập, trangtrải một phần chi tiêu đáp ứng những nhu cầu tối thiểu của NLĐ cùng gia đình.Bên cạnh đó, BHTN còn giúp NLĐ có cơ hội được học nghề, tìm kiếm nhữngcông việc mới phù hợp với họ, để họ có nền tảng phát triển, phấn đấu vươn lên

Bảo hiểm thất nghiệp được thực hiện sẽ bảo vệ NLĐ, tạo ra chỗ dựa vềvật chất và tinh thần cho NLĐ khi lâm vào tình trạng mất việc làm Việc thừanhận sức lao động là hàng hóa trong nền kinh tế thị trường một mặt thúc đẩy sựphát triển năng động của thị trường lao động, mặt khác cũng tạo ra hậu quả là tỷ

lệ thất nghiệp gia tăng, giá cả sức lao động bị hạ thấp do ảnh hưởng của cung,cầu trên thị trường lao động Trong điều kiện cạnh tranh khắc nghiệt, số lượngcác doanh nghiệp bị giải thể hoặc phá sản cũng tăng lên, kéo theo là tình trạngmất việc làm của hàng loạt NLĐ Do đó, chế độ BHTN được coi là "lưới antoàn" để bảo vệ NLĐ trong cơ chế thị trường, hạn chế những tác động tiêu cựccủa kinh tế thị trường đến đời sống của NLĐ và góp phần bảo vệ NLĐ một cáchtoàn diện BHTN chính là cơ sở để thực hiện chính sách việc làm linh hoạt trongnền kinh tế thị trường

- Đối với người sử dụng lao động:

Bảo hiểm thất nghiệp cũng có ý nghĩa đối với NSDLĐ Nhờ có chế độBHTN nên khi những NLĐ tại doanh nghiệp bị mất việc làm, NSDLĐ sẽ khôngphải bỏ ra một khoản lớn để chi trả quyền lợi cho NLĐ Vì vậy, gánh nặng tàichính của doanh nghiệp được san sẻ, đặc biệt trong những thời kỳ khó khăn,buộc phải thu hẹp sản xuất, nhiều NLĐ thất nghiệp Hơn nữa, khi đã tham giaBHTN và biết rõ quyền được trợ cấp thất nghiệp, NLĐ sẽ yên tâm làm việc, tạo

ra năng suất và chất lượng cao trong quá trình sản xuất Điều này góp phần tănglợi nhuận và hiệu quả sử dụng sức lao động

Trang 14

- Đối với Nhà nước và xã hội

Bảo hiểm thất nghiệp giúp ổn định nền kinh tế, an sinh xã hội trong mộtđất nước, giúp kiềm chế lạm phát kinh tế, đảm bảo được trật tự an toàn xã hội.BHXH còn góp phần duy trì sức tiêu dùng của người tiêu dùng, tạo sự cân bằngtrong hoạt động cung cầu của hàng hóa, từ đó giúp phát triển, mở rộng thịtrường lao động, giảm gánh nặng cho ngân sách nhà nước và doanh nghiệp

Chế độ BHTN được thực hiện, quan hệ giữa NLĐ với doanh nghiệp vàNhà nước bớt căng thẳng, các cuộc bãi công, biểu tình cũng được hạn chế Nhànước nhờ đó giảm bớt các mối lo đối phó với sự bất ổn gia tăng về chính trị, xãhội Các tệ nạn xã hội và tình trạng phạm tội do thất nghiệp cũng được hạn chế ởmột mức độ nhất định

1.2 Điều chỉnh pháp luật về bảo hiểm thất nghiệp

1.2.1 Khái niệm và các nguyên tắc cơ bản của pháp luật bảo hiểm thất nghiệp

* Khái niệm pháp luật bảo hiểm thất nghiệp

Pháp luật theo nghĩa chung nhất được hiểu là hệ thống các quy tắc xử sự

do Nhà nước đặt ra hoặc thừa nhận và bảo đảm, thể hiện ý chí của giai cấp thốngtrị nhằm điều chỉnh quan hệ xã hội phù hợp với lợi ích của giai cấp mình Phápluật là hệ thống các quy tắc mang tính chuẩn mực, ảnh hưởng lớn đến đời sống

xã hội, đến cách ứng xử của con người trong xã hội BHTN có ý nghĩa hết sứcquan trọng trong việc đảm bảo thu nhập cho NLĐ bị mất việc làm Đây đượcxem là chính sách quan trọng của Nhà nước trong nền kinh tế thị trường, là một

bộ phận cấu thành của An sinh xã hội nên được ghi nhận trong các văn bản phápluật Pháp luật của nhiều nước cũng đã ghi nhận vấn đề này và điều chỉnh ởnhiều nội dung khác nhau như đối tượng tham gia, điều kiện hưởng, chế độhưởng, quỹ BHTN…Tuy nhiên do điều kiện kinh tế xã hội của các nước khácnhau mà pháp luật cũng có sự quy định khác nhau về BHTN

Từ những phân tích trên có thể đưa ra khái niệm pháp luật về BHTN như

sau: Pháp luật về BHTN được hiểu là tổng hợp các quy phạm pháp luật do cơ

Trang 15

quan Nhà nước có thẩm quyền ban hành nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực BHTN.

Quan hệ phát sinh trong lĩnh vực BHTN thường bao gồm: quan hệ trongviệc hình thành quỹ BHTN (quan hệ giữa người tham gia BHTN với cơ quanBHXH trong việc đóng góp hình thành quỹ BHTN) và quan hệ chi trả các chế

độ BHTN (quan hệ giữa cơ quan BHXH và người được hưởng BHTN) Bởi vậy,những vấn đề phát sinh trong lĩnh vực BHTN được các quy phạm pháp luật điềuchỉnh thường là: đối tượng tham gia BHTN, các chế độ BHTN, thủ tục hưởngBHTN, quỹ BHTN…

* Các nguyên tắc cơ bản của pháp luật bảo hiểm thất nghiệp

- Bảo hiểm thất nghiệp sẽ bảo đảm chia sẻ rủi ro giữa những người

tham gia BHTN

Theo đó, BHTN dựa trên sự tương trợ giữa các cá nhân trong xã hội,nhằm lấy số đông bù số ít Trong thực tế, không phải NLĐ nào tham gia bảohiểm thật nghiệp đều được hưởng trợ cấp thất nghiệp, có những người trong suốtquá trình công tác không bị mất việc, nghỉ việc cho đến khi họ nghỉ hưu, chính vìvậy, họ không được hưởng khoản trợ cấp thất nghiệp này Chỉ khi rủi ro xảy ra,NLĐ bị mất việc làm, bị mất một khoản thu nhập, NLĐ đáp ứng được đầy đủ yêucầu theo quy định của pháp luật thì họ mới được hưởng trợ cấp thất nghiệp Chính

vì vậy BHTN trước hết chính là sự chia sẻ rủi ro giữa những NLĐ với nhau

Ngoài ra, ở một góc độ nào đó NSDLĐ tuy không phải là đối tượngđược hưởng trợ cấp thất nghiệp, tuy nhiên nhằm chia sẻ rủi ro đối với NLĐ,NSDLĐ cũng tham gia đóng BHTN cho NLĐ của mình

Chính vì vậy, nguyên tắc bảo đảm chia sẻ rủi ro giữa những người thamgia BHTN là một trong những nguyên tắc quan trọng bảo BHTN, nếu không cónguyên tắc này BHTN sẽ không mang ý nghĩ xã hội thiết yếu của nó nữa

- Mức đóng BHTN được tính trên cơ sở tiền lương của NLĐ

Nguyên tắc này cũng giống như nguyên tắc đặc thù của BHXH Mứchưởng của BHXH cũng được tính trên cơ sở mức đóng, thời gian đóng BHXH

và có chia sẻ giữa những người tham gia BHXH

Trang 16

Tham gia BHTN là một biện pháp nhằm bảo đảm an toàn cho NLĐ khihọc bị mất việc làm, đây sẽ là khoản thu nhập giúp họ trang trải cuộc sống củabản thân Tuy nhiên, mức đóng BHTN cũng cần dựa trên cơ sở tiền lương củaNLĐ, nếu mức đóng quá cao sẽ không thu hút được NLĐ tham gia, dẫn đến việcquản lý NLĐ sẽ gặp nhiều khó khăn Chính vì vậy, đây cũng là nguyên tắc có ýnghĩa quan trọng của BHTN.

- Mức hưởng BHTN được tính trên cơ sở mức đóng, thời gian đóng BHTN.

Mức đóng BHXH bắt buộc, BHTN được tính trên cơ sở tiền lương, tiềncông của NLĐ Mức đóng BHXH tự nguyện được tính trên cơ sở mức thu nhập doNLĐ lựa chọn nhưng mức thu nhập này không thấp hơn mức lương tối thiểu chung

Nguyên tắc này thể hiện được sự công bằng của BHXH nói chung Trợcấp thất nghiệp là khoản tiền BHTN chi trả cho NLĐ khi đáp ứng được đầy đủcác yêu cầu của pháp luật quy định, NLĐ đóng mức BHTN như thế nào thì họ

sẽ được hưởng theo mức họ đóng như vậy, nó thể hiện sự công bằng giữa nhữngngười tham gia BHTN và những người hưởng BHTN Tuy nhiên, mức hưởngBHTN có một giới hạn nhất định, nên cần tính toán cho phù hợp về mức đóng

và mức hưởng BHTN hiện nay

- Việc thực hiện BHTN phải đơn giản, dễ dàng, thuận tiện, bảo đảm kịp

thời và đầy đủ quyền lợi của người tham gia.

Bảo hiểm thất nghiệp cần được giải quyết đơn giản, dễ dàng, thuận tiệnnhằm giúp bù đắp, hỗ trợ kịp thời cho NLĐ trong lúc khó khăn Nếu việc thựchiện phức tạp, khó khăn, hỗ trợ không kịp thời đến NLĐ thì BHTN không cònmang được ý nghĩa của nó nữa Chính vì vậy, việc thực hiện BHTN phải đượcđơn giản hóa, dễ dàng, thuận tiện để mọi NLĐ có thể được tham gia và khônggặp trở ngại

- Quỹ BHTN được quản lý tập trung, thống nhất, công khai, minh bạch,

bảo đảm an toàn và được Nhà nước bảo hộ.

Quỹ BHTN cần được quản lý tập trung, thống nhất, đảm bảo tính côngkhai, minh bạch, đảm bảo phản ánh đúng và đầy đủ các khoản thu, chi của quỹ

Trang 17

Có như vậy, mới đảm bảo kiểm soát được nguồn thu chi và dự tính được để đưa

ra những phương án dự phòng đảm bảo an toàn duy trì quỹ lâu dài Bên cạnh đó,việc công khai quỹ giúp hạn chế tình trạng trục lợi bảo hiểm, tham ô tiền bảohiểm của NLĐ

Như vậy, BHTN đã kết hợp chế độ trợ cấp tạm thời với chế độ giải quyếtviệc làm cho người thất nghiệp Điều này thể hiện tính xã hội vô cùng sâu sắcphù hợp với đường lối phát triển kinh tế đi liền với hài hòa chính sách về việclàm cho người ao động Bên cạnh đó, BHTN vừa bù đắp thu nhập, vừa tạo độnglực tích cực cho người thất nghiệp chủ động tìm cơ hội trở lại làm việc

1.2.2 Nội dung pháp luật về bảo hiểm thất nghiệp

Bảo hiểm thất nghiệp đã xuất hiện từ rất lâu Từ thế kỷ thứ XIX, đã cónhững hình thức đầu tiên về BHTN được áp dụng đối với những người thợ ởBohemia và Basel của Thụy Sĩ Những hình thức này là tiền đề hình thành nênquỹ BHTN của các tổ chức công đoàn ở Châu Âu trong thời kỳ đó, nhằm ápdụng trả nợ khi NLĐ mất việc làm

Tổ chức lao động Quốc tế (ILO) cũng ban hành một số Công ước vềBHTN như: Công ước số 44 của Tổ chức lao động quốc tế (năm 1934); Côngước số 102 về Quy phạm tối thiểu về an toàn lao động (năm 1952); Công ước số

168 về Xúc tiến việc làm và bảo vệ chống lại thất nghiệp (năm 1988) Nhiềuquốc gia trên thế giới cũng có quy định về BHTN

Tùy theo điều kiện kinh tế xã hội mà các quốc gia có những quy địnhkhác nhau về BHTN song nhìn chung đều quy định ở một số nội dung như: đốitượng tham gia BHTN, chế độ BHTN; quỹ BHTN

* Về đối tượng tham gia bảo hiểm thất nghiệp

Tổ chức lao động quốc tế (ILO) và pháp luật của các nước đều quy địnhđối tượng tham gia BHTN là những người làm công ăn lương, còn những NLĐđộc lập (tự do) thì không thuộc đối tượng tham gia BHTN Tuy nhiên, Điều 2,Công ước số 44 của Tổ chức lao động quốc tế năm 1934 cũng có có nhắc đếntùy vào hoàn cảnh của mỗi nước mà có thêm các trường hợp ngoại lệ đối với

Trang 18

một số đối thượng tham gia BHTN như: người giúp việc nhà, NLĐ làm việc tạinhà, công chức nhà nước có việc làm ổn định, NLĐ có thu nhập cao có thể thamgia để phòng chống rủi ro, NLĐ làm việc theo mùa vụ, những NLĐ trẻ gần đếntuổi lao động theo quy định, NLĐ đã vượt quá tuổi quy định… và một số đốitượng khác Tuy nhiên, Công ước này không áp dụng cho những đối tượng nhưthủy thủ, thủy thủ đánh cá và lao động nông nghiệp 2

Ở Trung Quốc vào thời kỳ đầu thực hiện (năm 1986), BHTN được ápdụng cho NLĐ được tuyển dụng vào doanh nghiệp Nhà nước nhưng sau đó (đếnnăm 1999) Trung Quốc đã thông qua Điều lệ BHTN, theo đó BHTN được ápdụng cho NLĐ làm việc trong các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế ỞĐức BHTN cũng được áp dụng cho các lao động làm việc theo chế độ hợp đồnglao động

* Về chế độ bảo hiểm thất nghiệp

Bảo hiểm thất nghiệp được thực hiện nhằm mục đích hỗ trợ thu nhập choNLĐ trong thời gian mất việc đồng thời có những biện pháp đưa NLĐ quay trởlại thị trường lao động Chính vì vậy khi quy định về chế độ BHTN pháp luậtcác nước quy định bao gồm cả chế độ trợ cấp thất nghiệp và các chế độ hỗ trợkhác như đào tạo nghề, giới thiệu việc làm…

- Trợ cấp thất nghiệp

Trợ cấp thất nghiệp được ILO và pháp luật các nước quy định ở các nộidung: điều kiện hưởng trợ cấp, mức trợ cấp, thời gian hưởng trợ cấp

+Về điều kiện hưởng trợ cấp

Theo công ước số 44 của Tổ chức lao động quốc tế thế giới, người thấtnghiệp cần phải có đầy đủ các yếu tố sau mới được hưởng BHTN, cụ thể như:NLĐ cần có năng lực làm việc và sẵn sàng làm việc nhưng hiện tại không cóviệc làm; NLĐ có đăng ký tìm việc tại cơ quan có thẩm quyền xác nhận hay tạimột trung tâm đào tạo và giới thiệu việc làm do Nhà nước quản lý; NLĐ có sổBHTN để chứng nhận có tham gia đóng BHTN đủ thời hạn quy định của thời kỳ

2 , Xem công ước số 44 năm 1934 của ILO.

Trang 19

dự bị; Trước đó không tự ý nghỉ việc vô cớ hoặc không phải bị nghỉ việc vì kỷluật hay tranh chấp nghề nghiệp; NLĐ có giấy chứng nhận mức lương hay thunhập trước khi bị thất nghiệp trong trường hợp trả trợ cấp theo mức lương

Trong trường hợp NLĐ bị mất việc do lỗi cố ý của mình hoặc do tự ý bỏviệc không có lý do chính đáng, từ chối một việc làm phù hợp do cơ quan giớithiệu việc làm tìm cho hay có hành vi gian lận để hưởng trợ cấp thì NLĐ có thể

bị mất quyền hưởng trợ cấp BHTN

Ở các nước tùy theo điều kiện kinh tế xã hội của mỗi quốc gia mà cácnước có sự quy định khác nhau về điều kiện hưởng trợ cấp Chẳng hạn như ởPháp quy định là 3 tháng trong vòng 12 tháng cuối trước khi thất nghiệp Ở TrungQuốc NLĐ có tối thiểu 1 năm tham gia BHTN, không tự nguyện thôi việc3

+ Về mức hưởng trợ cấp BHTN

Nhìn chung các quốc gia trên thế giới đều cho rằng: khi mất việc làm,NLĐ sẽ mất phương tiện mưu sinh do nguồn thu nhập không còn Chính vì vậy,cần giúp đỡ họ làm giảm bớt khó khăn trong cuộc sống trong thời gian chờ tìmđược việc làm mới Trong khoảng thời gian này, BHTN sẽ cung cấp cho họkhoản trợ cấp tạm thời để ổn định cuộc sống, khoản trợ cấp này được trả hàngtháng và bằng tiền mặt Ngoài phần trợ cấp bằng tiền mặt, người thất nghiệp cònđược đào tạo nghề nghiệp mới và giúp tìm việc làm mới phù hợp với khả năng

Ở một số nước, quỹ BHTN còn trả chi phí chuyên chở đồ giúp ngườithất nghiệp di chuyển tới nơi làm việc mới Mọi sự trợ giúp này đều nhằm giúpNLĐ đang thất nghiệp vượt qua khó khăn, có thể sớm trở lại cuộc sống sinh hoạtbình thường

Tuy nhiên, về mức hưởng BHTN hiện nay còn có hai quan điểm đangphát sinh Quan điểm thứ nhất cho rằng mức trợ BHTN phải bảo vệ được lợi íchtối thiểu cho NLĐ Ðiều này có nghĩa là mức trợ cấp phải đủ giúp NLĐ giảiquyết các nhu cầu thiết yếu như đồ ăn, nhà ở, nhu cầu sinh hoạt để sống đến

3 Lê Thị Hoài Thu, chế độ bảo hiểm thất nghiệp trong điều kiện nề kinh tế thị trường ở Việt Nam, Luận án tiến

sĩ, năm 2005, tr 57.

Trang 20

khi chờ tìm được việc làm mới Với quan điểm này, thì mức trợ cấp BHTN phảiđồng loạt bằng nhau cho mọi người khi tham gia BHTN Quan điểm thứ hai lạicho rằng mức trợ cấp BHTN phải đảm bảo mức sống gần với mức sống trướckhi thất nghiệp của từng loại đối tượng Hay có thể hiểu mức trợ cấp này phảitương đối so với mức lương của NLĐ được lĩnh trước khi thất nghiệp.

Từ hai quan điểm về mức hưởng trợ cấp BHTN, dẫn đến mức đóng phíBHTN là khác nhau Với quan điểm thứ nhất, NLĐ sẽ đóng một khoản cố định

và hưởng theo một khoản cố định như vậy Còn với quan điểm thứ hai, sẽ đóngtheo mức lương và được hưởng theo mức lương mà NLĐ đã đóng

Theo quan điểm của ILO, mức trợ cấp thất nghiệp tối thiểu bằng 45% thunhập trước khi thất nghiệp Còn thông thường ở các nước mức trợ cấp trong khoảng

từ 50% - 60% tiền lương trước khi thất nghiệp (như Trung Quốc, Mông Cổ…)

+ Về thời gian hưởng trợ cấp BHTN

Điều 24, Công ước số 102 của Tổ chức lao động quốc tế có quy định:

"Trợ cấp thất nghiệp có thể trả suốt thời gian người lao động bị mất việc làm ngoài ý muốn, và đôi khi trợ cấp này cũng có thể hạn chế trong nhiều trường hợp đối với các loại đối tượng hưởng trợ cấp Riêng đối với đối tượng hưởng trợ cấp là người làm công ăn lương, thời gian hưởng trợ cấp có thể bị hạn chế trong khoảng 13 tuần trong từng thời kỳ 12 tháng" Như vậy, tùy vào thời gian

tham gia BHTN của NLĐ dài hay ngắn mà chia ra những thời gian hưởng trợcấp thất nghiệp khác nhau Mỗi quốc gia có những quy định riêng về thời gianhưởng trợ cấp BHTN Chẳng hạn như ở Đức là 13 tuần, Anh 24 tuần, Canada 36tuần Tuy nhiên cũng có nước quy định thời gian hưởng thất nghiệp tối đa là 1năm (như Việt Nam), 2 năm (như Trung Quốc)4

Trang 21

NLĐ phải đăng ký thất nghiệp, đăng ký tìm việc làm tại cơ quan có thẩm quyền.Chẳng hạn như ở Nhật phải đăng ký tại cơ quan bảo đảm việc làm quốc gia, ởAnh phải đăng ký tại văn phòng lao động.

- Các chế độ hỗ trợ khác

Ngoài trợ cấp thất nghiệp, pháp luật các nước còn quy định một số cácchế độ trợ cấp khác nhằm hỗ trợ NLĐ thất nghiệp quay trở lại thị trường laođộng Các chế độ này thường là chế độ hỗ trợ đào tạo nghề và chế độ giới thiệuviệc làm miễn phí cho NLĐ

Chẳng hạn như ở Trung Quốc song hành với việc hỗ trợ tiền hàng thángcho người thất nghiệp, chế độ BHTN ở Trung Quốc đã chú trọng và yêu cầu tìmkiếm việc làm của người thất nghiệp là tiêu chí để được hưởng trợ cấp Hay như

ở Đan Mạch, Chính phủ luôn quan tâm đến việc phát triển chính sách thị trườnglao động tích cực nhằm góp phần đảm bảo thị trường lao động hoạt động tốt.Chi tiêu công của Đan Mạch cho chính sách thị trường lao động tích cực là đáng

kể Theo dữ liệu của Eurostat, tổng chi phí cho chính sách thị trường lao động ởĐan Mạch năm 2017 lên tới 3,7% GDP Chi phí của chính sách thị trường laođộng tích cực là 1,5% GDP, trong đó khoảng một phần ba được tài trợ cho cácbiện pháp đào tạo Việc thay đổi các biện pháp giúp đỡ NLĐ thất nghiệp đượckhởi xướng thay đổi từ giữa những năm 1990 đã thay đổi hoàn toàn hệ thống từviệc tập trung thụ động vào duy trì thu nhập sang tập trung tích cực hơn vào việctạo ra cơ hội người thất nghiệp có việc làm

* Về quỹ bảo hiểm thất nghiệp

Nguồn hình thành quỹ BHTN từ nguồn đóng góp của NLĐ, NSDLĐ vàNhà nước Đối với những NLĐ độc lập thì có hai nguồn hình thành quỹ BHTNlà: NLĐ và Nhà nước

Ở các quốc gia trên thế giới, việc đóng góp BHTN do Nhà nước vàNSDLĐ thực hiện, bởi vì trong quan hệ hợp đồng lao động, NSDLĐ phải cótrách nhiệm về các rủi ro (trong đó có rủi ro thất nghiệp) xảy ra cho NLĐ mà họđang sử dụng

Trang 22

Sự tham gia của Nhà nước cũng là điều kiện vô cùng thiết yếu, bởi vì thấtnghiệp là một vấn đề nan giải của xã hội Do vậy, với các quốc gia chưa thực hiệnBHTN thì Nhà nước thực hiện chính sách trợ giúp xã hội về thất nghiệp (cứu trợcho người thất nghiệp) Còn với những quốc gia thực hiện BHTN thì Nhà nướcphải đóng góp thường xuyên cho quỹ BHTN bằng cách trích một phần tiền thuếtheo một tỷ lệ cố định tính trên khoản đóng góp của NSDLĐ và NLĐ; hoặc Nhànước chỉ tham gia với tư cách bảo trợ cho quỹ khi phần đóng góp của NLĐ vàNSDLĐ không đủ đáp ứng các chi phí hoặc dự trữ của quỹ bị ảnh hưởng do cácbiến động về tiền tệ khi Nhà nước thay đổi các chính sách kinh tế - xã hội

Ngoài ra, NLĐ cũng cần đóng góp, để cho họ ý thức được ý nghĩa củaviệc dự phòng cá nhân

Về hình thức đóng góp, tùy mỗi quốc gia có quy định về các hình thứckhác nhau, nhưng chủ yếu là hai hình thức: đóng theo một khoản cố định vàhưởng theo một khoản cố định hoặc đóng theo mức lương và hưởng theo mứclương Mỗi loại hình thức đều có mục đích và ý nghĩa riêng

Tùy vào tình hình kinh tế - xã hội, an sinh của từng quốc gia mà quỹBHTN có tỷ lệ đóng góp khác nhau, tuy nhiên, chủ yếu tỷ lệ đóng góp vẫn dựatrên các hình thức:

Thứ nhất, NSDLĐ đóng bằng NLĐ theo tỷ lệ 1:1, phương thức này cả

hai bên cùng chia sẻ gánh nặng về BHTN

Thứ hai, NSDLĐ sẽ phải đóng gấp đôi NLĐ theo tỉ lệ 2:1, phương thức

này thể hiện sự quan tâm của NSDLĐ đối với NLĐ

Trong trường hợp còn thiếu thì nhà nước bù Những nước theo quanđiểm này có thể kể đến như Đức, Pháp, Trung Quốc

Tuy nhiên cũng có nước Nhà nước chi trả toàn bộ, NLĐ và NSDLĐkhông phải đóng như Úc

* Về tổ chức thực hiện BHTN và xử lý vi phạm pháp luật về BHTN

- Về tổ chức thực hiện BHTN

Bảo hiểm thất nghiệp không chỉ nhằm mục tiêu trợ cấp cho NLĐ trongthời gian bị mất việc làm mà còn hỗ trợ NLĐ quay lại thị trường lao động Bởi

Trang 23

vậy cơ quan thực hiện BHTN không chỉ có cơ quan BHXH mà còn có các cơquan khác Pháp luật các nước nhìn chung đều quy định tổ chức dịch vụ việclàm và cơ quan BHXH là những cơ quan có trách nhiệm thực hiện BHTN.Trung tâm dịch vụ việc làm vừa là nơi NLĐ đăng ký hưởng trợ cấp thất nghiệp,nơi NLĐ đăng ký tìm kiếm việc làm và cũng là nơi tư vấn giới thiệu việc làmcho NLĐ Vì vậy trung tâm dịch vụ việc làm (tổ chức dịch vụ việc làm công) cóvai trò hết sức quan trọng trong việc thực hiện BHTN Chẳng hạn như ở ĐanMạch Dịch vụ việc làm công (PES) có trách nhiệm cung cấp dịch vụ cho côngchúng và đảm bảo rằng các doanh nghiệp và tổ chức có thể có được lao động họcần Các chức năng hoạt động khác bao gồm hướng dẫn và đào tạo nghề chongười tìm việc và một loạt các biện pháp như đào tạo nghề tư nhân và công cộng

để hỗ trợ công dân tham gia lại thị trường lao động

Trang 24

và trục lợi quỹ BHTN, chính vì vậy hệ thống pháp luật về BHTN phải hết sứcchặt chẽ, rõ ràng nếu không sẽ có ảnh hưởng nhất định đến hoạt động thực hiệnpháp luật về BHTN.

Bởi vậy, "chất lượng" của pháp luật về BHTN là yếu tố đảm bảo đầu tiên

để thực hiện pháp luật, bởi lẽ không có pháp luật có chất lượng sẽ rất khó khăn

để đưa pháp luật vào cuộc sống, trở thành hiện thực Muốn thực hiện pháp luậttốt, điều quan trọng nhất là phải có được hệ thống pháp luật có chất lượng, nếukhông sẽ rất khó khăn trong tổ chức thực hiện Vì vậy, để thực hiện pháp luật vềBHTN thì hệ thống pháp luật về BHTN phải đầy đủ, toàn diện, thuận tiện chomọi chủ thể liên quan trong tiếp cận và sử dụng Nội dung của pháp luật vềBHTN phải rõ ràng, công khai, minh bạch để các chủ thể dễ dàng tiếp cận, nắmbắt, hiểu biết và tự giác tổ chức thực hiện trên thực tế Bên cạnh đó, hệ thốngpháp luật về BHTN phải có đầy đủ điều kiện để bảo đảm tổ chức thực thi trênthực tế

1.3.2 Yếu tố kinh tế - xã hội

Yếu tố kinh tế bao gồm tổng thể các điều kiện, hoàn cảnh về kinh tế - xãhội, hệ thống các chính sách kinh tế, chính sách xã hội và việc triển khai thựchiện, áp dụng chúng trong thực tế xã hội Nền kinh tế - xã hội phát triển năngđộng, bền vững sẽ là điều kiện thuận lợi cho hoạt động thực hiện pháp luật vềBHTN, tác động tích cực tới việc nâng cao hiểu biết pháp luật về BHTN Cụ thểnền kinh tế phát triển thì vấn đề việc làm của NLĐ cũng được giải quyết nên sốlượng NLĐ bị mất việc làm sẽ ít đi, quỹ BHTN không phải chi trả nhiều, đảmbảo sự ổn định của quỹ Ngược lại, nền kinh tế - xã hội chậm phát triển, kémnăng động và hiệu quả khiến nhiều NLĐ bị mất việc làm thì số lượng ngườihưởng BHTN tăng lên Điều đó sẽ có thể ảnh hưởng tiêu cực tới việc thực hiệnpháp luật về BHTN bởi nhiều NLĐ sẽ nghĩ đến việc trục lợi quỹ BHTN

1.3.3 Yếu tố chính trị

Yếu tố chính trị là toàn bộ yếu tố tạo nên đời sống chính trị của xã hội ởtừng giai đoạn lịch sử nhất định, bao gồm môi trường chính trị, hệ thống các

Trang 25

chuẩn mực chính trị, chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và quá trình tổchức, thực hiện chúng; các quan hệ chính trị và ý thức chính trị, hoạt động của

hệ thống chính trị Cùng với đó là nền dân chủ xã hội và bầu không khí chính trị

- xã hội Yếu tố chính trị có ảnh hưởng mạnh mẽ tới hiệu quả của hoạt động thựchiện pháp luật về BHTN của các chủ thể Một đất nước có môi trường chính trị

ổn định là điều kiện thuận lợi đối với hoạt động thực hiện pháp luật về BHTN.Một đất nước bất ổn về chính trị sẽ dẫn đến việc thực hiện pháp luật về BHTNkhông tốt

1.3.4 Yếu tố ý thức pháp luật của các chủ thể

Ý thức pháp luật của các chủ thể tham gia quan hệ BHTN cũng là mộttrong các yếu tố có ảnh hưởng quan trọng trong việc thực thi pháp luật vềBHTN Ý thức pháp luật của các chủ thể thể hiện ở việc nhận thức và hiểu biếtpháp luật của các chủ thể về BHTN Để pháp luật BHTN được thực thi pháp luậtmột cách thống nhất, hiệu quả, đòi hỏi các chủ thể phải nhận thức đầy đủ vềpháp luật; đặc biệt, phải nâng cao nhận thức pháp luật các chủ thể trực tiếp thựcthi, áp dụng pháp luật về BHTN như NLĐ, NSDLĐ, cơ quan lao động, BHXH Nhận thức pháp luật bao gồm hiểu biết kiến thức cơ bản về pháp luật về BHTN.Việc hình thành kiến thức cơ bản về pháp luật giúp cho các chủ thể đạt đượctrình độ hiểu biết nhất định, hình thành lòng tin đối với pháp luật, tự giác điềuchỉnh hành vi xử sự của mình cho phù hợp với quy định của pháp luật Thực tế

đã chứng minh, một trong những nguyên nhân dẫn đến những tồn tại trong việcthực thi pháp luật nói chung và pháp luật BHTN nói chung chính là ý thức phápluật của các chủ thể không tốt Bởi vậy một trong những biện pháp nhằm nângcao hiệu quả thực hiện pháp luật về BHTN chính là nâng cao ý thức pháp luậtcủa các chủ thể trong lĩnh vực này mà đặc biệt là NLĐ, NSDLĐ và các cán bộtrong các cơ quan lao động, cơ quan BHXH …

Kết luận chương 1

Bảo hiểm thất nghiệp là loại hình bảo hiểm hết sức quan trọng trong nềnkinh tế thị trường Khác với các chế độ BHXH khác, không phải quốc gia nào

Trang 26

cũng có quy định về BHTN Chính vì vậy việc nghiên cứu cơ sở lý luận vềBHTN cũng như pháp luật về BHTN có ý nghĩa quan trọng làm nền tảng cho sựđánh giá các quy định của pháp luật Chương 1 của luận văn chủ yếu đề cập đếnmột số khái niệm về BHTN và pháp luật về BHTN Những khái niệm, đặc điểmnày được thừa nhận chung thông qua các văn bản, hiệp ước quốc tế do Tổ chứclao động thế giới ban hành Tuy nhiên, tùy vào điều kiện hoàn cảnh của từngquốc gia, các quy định về BHTN sẽ có sự thay đổi cho phù hợp với chính sánhkinh tế, chính trị và an sinh xã hội của họ Từ đó, cho ta có cái nhìn sâu sắc hơn

về BHTN và pháp luật BHTN theo quy định của pháp luật hiện hành

Trang 27

Chương 2 THỰC TRẠNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT

VỀ BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP VÀ THỰC TIỄN THỰC HIỆN

TẠI TỈNH HÒA BÌNH

2.1 Thực trạng quy định của pháp luật về bảo hiểm thất nghiệp

Chính sách về BHTN được quy định tại Luật Việc làm năm 2013, Nghịđịnh số 28/2015/NĐ-CP ngày 12/3/2015 của Chính phủ quy định chi tiết thihành một số điều của Luật Việc làm về BHTN, Quyết định số 77/2014/QĐ-TTgngày 24/12/2014 của Thủ tướng Chính phủ quy định mức hỗ trợ học nghề đốivới NLĐ tham gia BHTN, Thông tư số 28/2015/TT-BLĐTBXH của Bộ Laođộng - Thương binh và xã hội ban hành ngày 31/07/2015 hướng dẫn thực hiệnđiều 52 của Luật Việc làm và một số điều của Nghị định số 28/2015/NĐ-CPngày 12 tháng 3 năm 2015 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điềucủa Luật việc làm về BHTN và các văn bản hướng dẫn khác với các nội dungchủ yếu sau đây

2.1.1 Về đối tượng tham gia bảo hiểm thất nghiệp

Đối tượng phải tham gia BHTN là NLĐ và NSDLĐ

Người lao động bắt buộc phải tham gia BHTN là công dân Việt Nam

được giao kết các loại hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc với NSDLĐ Cụthể: với loại hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc xác định thời hạn từ đủ mườihai tháng đến ba mươi sáu tháng hoặc hợp đồng lao động, hợp đồng làm việckhông xác định thời hạn; hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một côngviệc nhất định có thời hạn từ đủ 03 tháng đến dưới 12 tháng Tuy nhiên, vớinhững đối tượng đang được hưởng lương hưu, người được hưởng trợ cấp mấtsức lao động hàng tháng, người giúp việc gia đình dù có giao kết hợp đồng laođộng, hợp đồng làm việc cũng không thuộc đối tượng tham gia BHTN

Người sử dụng lao động tham gia BHTN bao gồm cơ quan nhà nước,

đơn vị sự nghiệp công lập, đơn vị vũ trang nhân dân; tổ chức chính trị, tổ chức

Trang 28

chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức

xã hội - nghề nghiệp; cơ quan, tổ chức nước ngoài, tổ chức quốc tế hoạt độngtrên lãnh thổ Việt Nam; doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ gia đình, hộ kinh doanh, tổhợp tác, tổ chức khác và cá nhân có thuê mướn, sử dụng lao động thuộc đốitượng tham gia BHTN Ngoài ra trong trường hợp NLĐ giao kết và đang thựchiện nhiều hợp đồng lao động thì NLĐ và NSDLĐ của hợp đồng lao động giaokết đầu tiên có trách nhiệm tham gia BHTN

So với những quy định trước đây, đối tượng tham gia BHTN theo LuậtViệc làm đã được mở rộng và bao quát hơn Tuy nhiên, đối tượng tham giaBHTN như hiện nay vẫn còn hẹp, cần phải được mở rộng hơn cho phù hợp vớithực tế đời sống xã hội, cũng như pháp luật các nước

2.1.2 Các chế độ bảo hiểm thất nghiệp

Theo Luật việc làm, BHTN có bốn chế độ BHTN bao gồm: Trợ cấp thấtnghiệp; Hỗ trợ tư vấn, giới thiệu việc làm; Hỗ trợ Học nghề; Hỗ trợ đào tạo, bồidưỡng, nâng cao trình độ kỹ năng nghề để duy trì việc làm cho NLĐ Cụ thểnhư sau:

2.1.2.1 Chế độ hỗ trợ đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ kỹ năng nghề để duy trì việc làm cho người lao động.

Chế độ này nhằm mục đích hỗ trợ NSDLĐ trong việc đào tạo, bồidưỡng, nâng cao trình độ kỹ năng nghề để duy trì việc làm cho NLĐ, tránh tìnhtrạng NLĐ bị mất việc làm

Về điều kiện hưởng

Điều 47 Luật Việc làm 2013 quy định về điểu kiện hưởng chế độ hỗ trợđào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ kỹ năng nghề để duy trì việc làm choNLĐ Theo đó: NSDLĐ được hỗ trợ kinh phí đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình

độ kỹ năng nghề để duy trì việc làm cho NLĐ đang đóng BHTN khi có đủ cácđiều kiện sau đây:

- Đóng đủ BHTN cho NLĐ thuộc đối tượng tham gia BHTN liên tục từ

đủ 12 tháng trở lên tính đến thời điểm đề nghị hỗ trợ;

Trang 29

- Gặp khó khăn do suy giảm kinh tế hoặc vì lý do bất khả kháng khácbuộc phải thay đổi cơ cấu hoặc công nghệ sản xuất, kinh doanh;

- Không đủ kinh phí để tổ chức đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ kỹnăng nghề cho NLĐ;

- Có phương án đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ kỹ năng nghề vàduy trì việc làm được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt

Thời gian, mức hỗ trợ

Mức hỗ trợ kinh phí đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ kỹ năng nghề

để duy trì việc làm cho NLĐ tối đa 01 triệu đồng/người/tháng (Khoản 1 Điều 4Nghị định 28/2015/NĐ-CP) Mức hỗ trợ cụ thể được tính theo tháng, thời gianhọc thực tế của từng nghề hoặc từng khóa học nhưng không quá 06 tháng Cụthể như sau:

- Đối với trường hợp khóa đào tạo được thực hiện tại cơ sở dạy nghề thìmức hỗ trợ kinh phí cụ thể để đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ kỹ năngnghề để duy trì việc làm của NLĐ được tính theo tháng, thời gian học thực tế,mức thu học phí của từng nghề hoặc từng khóa đào tạo nghề theo quy định của

cơ sở dạy nghề nhưng không quá mức hỗ trợ quy định tại Khoản 1 Điều 4 Nghịđịnh 28/2015/NĐ-CP

- Đối với trường hợp khóa đào tạo do NSDLĐ thực hiện thì mức hỗ trợkinh phí đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ kỹ năng nghề để duy trì việc làm

cụ thể của NLĐ được tính theo tháng, thời gian học thực tế của từng nghề hoặctừng khóa đào tạo nhưng không quá mức hỗ trợ quy định tại Khoản 1 Điều 4Nghị định 28/2015/NĐ-CP

- Đối với trường hợp khóa học nghề có những ngày lẻ không đủ thángthì mức hỗ trợ được tính theo nguyên tắc: Dưới 15 ngày tính là ½ tháng, từ đủ

15 ngày trở lên thì tính là 01 tháng để xác định mức hỗ trợ kinh phí đào tạo, bồidưỡng, nâng cao trình độ kỹ năng nghề để duy trì việc làm cho NLĐ

Người sử dụng lao động có trách nhiệm tổ chức đào tạo, bồi dưỡng, nângcao trình độ kỹ năng nghề và sử dụng lao động theo phương án đã được phê

Trang 30

duyệt; sử dụng nguồn kinh phí đúng đối tượng, đúng mục đích và thực hiện báocáo kết quả tổ chức đào tạo cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền sau khi kếtthúc khóa đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ kỹ năng nghề NLĐ có tráchnhiệm thực hiện quy định của pháp luật về đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ

kỹ năng nghề

2.1.2.2 Chế độ trợ cấp thất nghiệp

Trợ cấp thất nghiệp là khoản trợ cấp nhằm trợ giúp cho NLĐ trong thờigian không có việc làm, tìm kiếm việc làm mới Theo quy định của Luật Việclàm, NLĐ sẽ được hưởng trợ cấp thất nghiệp như sau:

* Về điều kiện hưởng:

Theo quy định tại điều 49, Luật Việc làm năm 2013, NLĐ được hưởnghưởng trợ cấp thất nghiệp khi đảm bảo các điều kiện sau:

Thứ nhất, Đã chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc, trừ

trường hợp NLĐ đơn phương chấm dứt hợp đồng trái pháp luật hoặc đối vớinhững người đang hưởng lương hưu, trợ cấp mất sức lao động hàng tháng

Thứ hai, NLĐ đã giao kết hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc

không xác định thời hạn, có xác định thời hạn cần phải đóng BHTN từ đủ 12tháng trở lên trong thời gian 24 tháng, trước khi chấm dứt hợp đồng vớiNSDLĐ Đối với trường hợp NLĐ thực hiện giao kết hợp đồng theo mùa vụhoặc theo một công việc nhất định có thời hạn từ đủ 3 tháng đến dưới 12 thángthì NLĐ cần phải đóng từ đủ 12 tháng trở lên trong thời gian 36 tháng trước khichấm dứt hợp đồng lao động

Thứ ba, trong thời hạn 3 tháng kể từ ngày chấm dứt hợp đồng lao động

hoặc hợp đồng làm việc, NLĐ chưa có việc làm cần nộp hồ sơ đề nghị hưởngtrợ cấp thất nghiệp đến trung tâm dịch vụ việc làm tại địa phương nơi người ấymuốn nhận trợ cấp thất nghiệp, đây cũng là một yêu cầu bắt buộc trong điềukiện hưởng BHTN

Thứ tư, NLĐ trong 15 ngày từ khi nộp hồ sơ hưởng trợ cấp BHTN mà

chưa có việc làm sẽ được xét duyệt hồ sơ được hưởng trợ cấp thất nghiệp Tuy

Trang 31

nhiên, với những người thuộc đối tượng như: đang thực hiện nghĩa vụ quân sự,nghĩa vụ công an; đang đi học có thời hạn từ đủ 12 tháng trở lên; đang chấphành quyết định áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dụcbắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc; đang bị tạm giam; chấp hành hình phạt tù;hoặc ra nước ngoài định cư; đi lao động ở nước ngoài theo hợp đồng; hoặc đãchết sẽ không được xét để hưởng trợ cấp thất nghiệp

* Về mức trợ cấp và thời gian hưởng trợ cấp thất nghiệp:

Theo quy định tại điều 50 của Luật việc làm năm 2013 thì mức trợ cấpthất nghiệp hằng tháng đối với NLĐ sẽ bằng 60% mức bình quân tiền lương, tiềncông tháng đóng BHTN của sáu tháng liền kề trước khi NLĐ bị mất việc làmhoặc chấm dứt hợp đồng lao động Tuy nhiên, NLĐ tối đa không nhận quá 5 lầnmức lương cơ sở đối với NLĐ thuộc đối tượng thực hiện chế độ tiền lương doNhà nước quy định hoặc không quá 5 lần mức lương tối thiểu vùng theo quyđịnh của Bộ luật Lao động đối với NLĐ đóng BHTN theo chế độ tiền lương doNSDLĐ quyết định tại thời điểm chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làmviệc Việc giới hạn mức hưởng trợ cấp thất nghiệp hàng tháng này cũng là mộttrong những điểm mới do với các quy định trước đó về hưởng trở cấp thấtnghiệp

Về thời gian hưởng trợ cấp thất nghiệp hằng tháng phụ thuộc vào thờigian làm việc có đóng BHTN của NLĐ tức là được tính theo số tháng đóngBHTN của NLĐ Cụ thể, NLĐ đóng đủ 12 tháng đến đủ 36 tháng thì đượchưởng 03 tháng trợ cấp thất nghiệp, sau đó, cứ đóng đủ thêm 12 tháng thì đượchưởng thêm 01 tháng trợ cấp thất nghiệp nhưng tối đa không quá 12 tháng

Thời điểm hưởng trợ cấp thất nghiệp sẽ được tính từ ngày thứ 16, kể từngày nộp đủ hồ sơ hưởng trợ cấp thất nghiệp theo quy định của pháp luật

Tạm dừng, chấm dứt hưởng trợ cấp thất nghiệp:

Với những NLĐ đang hưởng trợ cấp thất nghiệp cần phải thông báo vềviệc tìm kiếm việc làm theo đúng quy định của pháp luật, với những ngườikhông thông báo về việc tìm kiếm việc làm hàng tháng theo quy định, trung tâm

Trang 32

dịch vụ việc làm có thể xin quyết định về việc tạm dừng hưởng trợ cấp thấtnghiệp với NLĐ

Người đang hưởng trợ cấp thất nghiệp bị chấm dứt hưởng trợ cấp thấtnghiệp trong các trường hợp như: hết thời hạn hưởng trợ cấp thất nghiệp; cóviệc làm; thực hiện nghĩa vụ quân sự; hưởng lương hưu hàng tháng; sau hai lần

từ chối nhận việc làm do trung tâm dịch vụ việc làm giới thiệu mà không có lý

do chính đáng; không thông báo về tình hình việc làm với trung tâm dịch vụviệc làm trong ba tháng liên tục; ra nước ngoài để định cư, đi làm việc có thờihạn ở nước ngoài theo hợp đồng, đi học có thời gian từ đủ 12 tháng trở lên; bị

xử phạt vi phạm hành chính về hành vi vi phạm pháp luật BHTN; đã chết hoặcchấp hành quyết định áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáodục, cơ sở cai nghiện bắt buộc; bị tòa tuyên mất tích hoặc bị tạm giam, chấphành hình phạt tù Với những đối tượng như thế này đều bị chấm dứt hưởng trợcấp thất nghiệp

Tuy nhiên, đối với những NLĐ thuộc đối tượng có việc làm mới; đangthực hiện nghĩa vụ quân sự, nghĩa vụ công an; đang đi học; đang chấp hànhquyết định biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sởcai nghiện bắt buộc; người bị tòa tuyên mất tích hoặc người đang bị tạm giam,chấp hành hình phạt tù thì sẽ được bảo lưu thời gian đóng BHTN làm căn cứ đểtính thời gian hưởng trợ cấp thất nghiệp cho lần tiếp theo khi đủ điều kiện hưởngtrợ cấp thất nghiệp theo quy định của pháp luật

Thời gian bảo lưu sẽ được tính bằng tổng thời gian đóng BHTN trừ đithời gian đóng đã hưởng trợ cấp thất nghiệp, theo nguyên tắc mỗi tháng đãhưởng trợ cấp thất nghiệp tương ứng 12 tháng đã đóng BHTN

2.1.2.3 Chế độ hỗ trợ tư vấn, giới thiệu việc làm, học nghề cho NLĐ

Người lao động đang đóng BHTN mà bị chấm dứt hợp đồng lao độnghoặc hợp đồng làm việc thì sẽ được Trung tâm dịch vụ việc làm giới thiệu việclàm miễn phí

Ngoài ra, với NLĐ đã đóng BHTN từ đủ 9 tháng trở lên trong thời hạn

24 tháng trước khi chấm dứt hợp đồng lao động còn được hỗ trợ học nghề

Trang 33

Người sử dụng lao động được hỗ trợ kinh phí đào tạo, bồi dưỡng, nângcao trình độ kỹ năng nghề để duy trì việc làm cho NLĐ khi có đủ các điều kiện:đóng đủ BHTN cho NLĐ thuộc đối tượng tham gia BHTN liên tục từ đủ 12 thángtrở lên tính đến thời điểm đề nghị hỗ trợ; gặp khó khăn do suy giảm kinh tế hoặc

vì lý do bất khả kháng khác buộc phải thay đổi cơ cấu hoặc công nghệ sản xuất,kinh doanh; không đủ kinh phí để tổ chức đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ

kỹ năng nghề cho NLĐ; có phương án đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ kỹnăng nghề và duy trì việc làm được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt

Thời gian hỗ trợ đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ kỹ năng nghề đểduy trì việc làm cho NLĐ theo phương án được phê duyệt và không quá 06 tháng.Chính phủ quy định chi tiết mức hỗ trợ kinh phí đào tạo, bồi dưỡng, nâng caotrình độ kỹ năng nghề để duy trì việc làm cho NLĐ, bảo đảm cân đối quỹ BHTN

Như vậy, có thể thấy Nhà nước và các cấp ban ngành rất quan tâm đếnviệc đào tạo nghề cho những NLĐ, giúp họ có tay nghề và kỹ thuật cao hơn, từ

đó để họ có thể tìm được những công việc có mức thu nhập cao hơn, nâng caođời sống của bản thân và gia đình họ

Như vậy, có thể thấy các chế độ BHTN hiện nay mang tính toàn diện, về

cơ bản đã phù hợp với mục tiêu của BHTN, đó là vừa có chế độ trợ cấp cho NLĐ

để đảm bảo cuộc sống cho NLĐ trong thời gian thất nghiệp, lại vừa có các chế độ

để hỗ trợ NLĐ quay trở lại thị trường lao động Tuy nhiên trong từng chế độ vẫncòn có những quy định chưa hợp lý như chưa có sự phân tách trường hợp ngườithất nghiệp vì lý do chủ quan và NLĐ thất nghiệp vì lý do khách quan, cũng như

về độ tuổi được hưởng trợ cấp thất nghiệp Ngoài ra, hiện nay chưa có văn bản nàohướng dẫn chi tiết việc thực hiện chi - thu trong hỗ trợ tư vấn giới thiệu việc làmnên BHXH chưa thực hiện thanh toán khoản này cho Trung tâm tư vấn việc làm

2.1.3 Thủ tục hưởng chế độ bảo hiểm thất nghiệp

2.1.3.1 Thủ tục hưởng trợ cấp thất nghiệp

Hồ sơ đề nghị hưởng trợ cấp thất nghiệp

Hồ sơ đề nghị hưởng trợ cấp thất nghiệp bao gồm:

Trang 34

Đề nghị hưởng trợ cấp thất nghiệp theo mẫu do Bộ trưởng Bộ Lao động Thương binh và Xã hội quy định.

Bản chính hoặc bản sao có chứng thực của một trong các giấy tờ sauđây xác nhận về việc chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc:

+ Hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc đã hết hạn hoặc đã hoànthành công việc theo hợp đồng lao động;

+ Quyết định thôi việc;

+ Quyết định sa thải;

+ Quyết định kỷ luật buộc thôi việc;

+ Thông báo hoặc thỏa thuận chấm dứt HĐLĐ hoặc hợp đồng làm việc.Trường hợp NLĐ tham gia BHTN theo quy định tại Điểm c Khoản 1Điều 43 Luật Việc làm thì giấy tờ xác nhận về việc chấm dứt hợp đồng lao độngtheo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn từ đủ 03 tháng đếndưới 12 tháng là bản chính hoặc bản sao có chứng thực của hợp đồng đó

Trình tự thực hiện

Trong thời hạn 03 tháng kể từ ngày chấm dứt hợp đồng lao động hoặchợp đồng làm việc, NLĐ chưa có việc làm và có nhu cầu hưởng trợ cấp thấtnghiệp phải trực tiếp nộp 01 bộ hồ sơ đề nghị hưởng trợ cấp thất nghiệp cho trungtâm dịch vụ việc làm tại địa phương nơi NLĐ muốn nhận trợ cấp thất nghiệp

Người lao động được ủy quyền cho người khác nộp hồ sơ hoặc gửi hồ sơtheo đường bưu điện nếu thuộc một trong các trường hợp: Ốm đau, thai sản cóxác nhận của cơ sở y tế có thẩm quyền; Bị tai nạn có xác nhận của cảnh sát giao

Trang 35

thông hoặc cơ sở y tế có thẩm quyền; Hỏa hoạn, lũ lụt, động đất, sóng thần, địchhọa, dịch bệnh có xác nhận của Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn.Ngày nộp hồ sơ đề nghị hưởng trợ cấp thất nghiệp trong các trường hợp nêu trên

là ngày người được ủy quyền trực tiếp nộp hồ sơ hoặc ngày ghi trên dấu bưuđiện đối với trường hợp gửi theo đường bưu điện

Trung tâm dịch vụ việc làm có trách nhiệm tiếp nhận, kiểm tra hồ sơ, ghiphiếu hẹn trả kết quả theo mẫu do Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xãhội quy định và trao phiếu trực tiếp cho người nộp hồ sơ hoặc gửi qua đườngbưu điện đối với người nộp hồ sơ qua đường bưu điện; trường hợp hồ sơ khôngđúng theo quy định thì trả lại người nộp và nêu rõ lý do

Trung tâm dịch vụ việc làm có trách nhiệm xem xét, trình Giám đốc SởLao động - Thương binh và Xã hội quyết định về việc hưởng trợ cấp thất nghiệpcủa NLĐ trong thời hạn 20 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ theo quyđịnh, trường hợp hồ sơ đề nghị hưởng trợ cấp thất nghiệp gửi theo đường bưuđiện thì ngày nhận hồ sơ được tính là ngày chuyển đến ghi trên dấu bưu điện

Người lao động chưa tìm được việc làm trong thời hạn 15 ngày làm việc

kể từ ngày nộp hồ sơ đề nghị hưởng trợ cấp thất nghiệp được Giám đốc Sở Laođộng - Thương binh và Xã hội quyết định hưởng trợ cấp thất nghiệp thì trungtâm dịch vụ việc làm xác nhận về việc đã giải quyết hưởng trợ cấp thất nghiệpcủa NLĐ vào sổ BHXH và gửi lại NLĐ cùng với quyết định hưởng trợ cấp thấtnghiệp sau khi chụp sổ BHXH để lưu hồ sơ

Thời điểm hưởng trợ cấp thất nghiệp của NLĐ được tính từ ngày thứ 16theo ngày làm việc kể từ ngày nộp hồ sơ đề nghị hưởng trợ cấp thất nghiệp

Quyết định về việc hưởng trợ cấp thất nghiệp được trung tâm dịch vụviệc làm gửi: 01 bản đến BHXH tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đâyviết tắt là BHXH cấp tỉnh) để thực hiện chi trả trợ cấp thất nghiệp và cấp thẻBHYT cho NLĐ; 01 bản đến NLĐ được hưởng trợ cấp thất nghiệp Quyết định

về việc hưởng trợ cấp thất nghiệp thực hiện theo mẫu do Bộ trưởng Bộ Laođộng - Thương binh và Xã hội quy định

Trang 36

Trường hợp NLĐ không được hưởng trợ cấp thất nghiệp thì trung tâmdịch vụ việc làm phải thông báo bằng văn bản và nêu rõ lý do.

Tổ chức BHXH thực hiện chi trả trợ cấp thất nghiệp tháng đầu tiên củaNLĐ trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được quyết định hưởngtrợ cấp thất nghiệp Tổ chức BHXH thực hiện chi trả trợ cấp thất nghiệp choNLĐ từ tháng hưởng trợ cấp thất nghiệp thứ 2 trở đi trong thời hạn 05 ngày làmviệc, tính từ thời điểm ngày thứ 07 của tháng hưởng trợ cấp thất nghiệp đó nếukhông nhận được quyết định tạm dừng hoặc chấm dứt hưởng trợ cấp thất nghiệpđối với NLĐ Trường hợp thời điểm ngày thứ 07 nêu trên là ngày nghỉ thì thờihạn chi trả trợ cấp thất nghiệp được tính từ ngày làm việc tiếp theo

Sau thời hạn 02 ngày làm việc kể từ ngày ghi trong phiếu hẹn trả kếtquả, nếu NLĐ không đến nhận quyết định về việc hưởng trợ cấp thất nghiệp thìđược coi là không có nhu cầu hưởng trợ cấp thất nghiệp trừ trường hợp: Ốmđau, thai sản có xác nhận của cơ sở y tế có thẩm quyền; Bị tai nạn có xác nhậncủa cảnh sát giao thông hoặc cơ sở y tế có thẩm quyền; Hỏa hoạn, lũ lụt, độngđất, sóng thần, địch họa, dịch bệnh có xác nhận của Chủ tịch Ủy ban nhân dân

xã, phường, thị trấn Trong thời hạn 07 ngày làm việc kể từ ngày NLĐ khôngđến nhận quyết định về việc hưởng trợ cấp thất nghiệp theo quy định, trung tâmdịch vụ việc làm trình Giám đốc Sở Lao động - Thương binh và Xã hội quyếtđịnh về việc hủy quyết định hưởng trợ cấp thất nghiệp của NLĐ

Quyết định về việc hủy quyết định hưởng trợ cấp thất nghiệp được trungtâm dịch vụ việc làm gửi: 01 bản đến BHXH cấp tỉnh để không chi trả trợ cấpthất nghiệp cho NLĐ; 01 bản đến NLĐ Quyết định về việc hủy quyết địnhhưởng trợ cấp thất nghiệp thực hiện theo mẫu do Bộ trưởng Bộ Lao động -Thương binh và Xã hội quy định

Sau thời hạn 03 tháng kể từ ngày NLĐ hết thời hạn hưởng trợ cấp thấtnghiệp theo quyết định hưởng trợ cấp thất nghiệp nhưng NLĐ không đến nhậntiền trợ cấp thất nghiệp và không thông báo bằng văn bản với tổ chức BHXHnơi đang hưởng trợ cấp thất nghiệp thì NLĐ đó được xác định là không có nhu

Trang 37

cầu hưởng trợ cấp thất nghiệp Thời gian đóng BHTN tương ứng với số tiền trợcấp thất nghiệp mà NLĐ không đến nhận được bảo lưu làm căn cứ để tính thờigian hưởng trợ cấp thất nghiệp cho lần hưởng trợ cấp thất nghiệp tiếp theo khi

đủ điều kiện hưởng trợ cấp thất nghiệp theo quy định

Trong thời hạn 07 ngày làm việc sau thời hạn nêu trên, tổ chức BHXHphải thông báo bằng văn bản với trung tâm dịch vụ việc làm nơi NLĐ đanghưởng trợ cấp thất nghiệp về việc NLĐ không đến nhận tiền trợ cấp thất nghiệp.Thông báo về việc NLĐ không đến nhận tiền trợ cấp thất nghiệp thực hiện theomẫu do Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội quy định

Trong thời hạn 10 ngày làm việc kể từ ngày nhận được thông báo của tổchức BHXH, trung tâm dịch vụ việc làm có trách nhiệm xem xét, trình Giámđốc Sở Lao động - Thương Binh và Xã hội quyết định về việc bảo lưu thời gianđóng BHTN cho NLĐ

Thời gian hưởng trợ cấp thất nghiệp được tính theo số tháng đóngBHTN theo quy định tại Khoản 2 Điều 50 Luật Việc làm NLĐ có thời gianđóng BHTN trên 36 tháng thì những tháng lẻ chưa giải quyết hưởng trợ cấp thấtnghiệp được bảo lưu làm căn cứ để tính thời gian hưởng trợ cấp thất nghiệp cholần hưởng trợ cấp thất nghiệp tiếp theo khi đủ điều kiện hưởng trợ cấp thấtnghiệp theo quy định

2.1.3.2 Về thủ tục hưởng chế độ hỗ trợ học nghề

* Hồ sơ đề nghị hỗ trợ học nghề

- Đối với người đang hưởng trợ cấp thất nghiệp, NLĐ nộp kèm Đề nghị

hỗ trợ học nghề theo mẫu do Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hộiquy định khi làm hồ sơ hưởng trợ cấp thất nghiệp

- Hồ sơ đề nghị hỗ trợ học nghề đối với người thất nghiệp có thời gianđóng BHTN từ đủ 09 tháng trở lên nhưng không thuộc diện hưởng trợ cấp thấtnghiệp:

+ Đề nghị hỗ trợ học nghề

+ Bản chính hoặc bản sao có chứng thực của một trong các giấy tờ theoquy định tại Khoản 2 Điều 16 Nghị định 28/2015/NĐ-CP;

Ngày đăng: 07/08/2022, 19:58

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
13. Chính phủ (2015), Quyết định số 63/2015/QĐ-TTg ngày 10/12/2015 của Thủ tướng Chính phủ về chính sách hỗ trợ đào tạo nghề và giải quyết việc làm cho người lao động bị thu hồi đất, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 63/2015/QĐ-TTg ngày 10/12/2015 củaThủ tướng Chính phủ về chính sách hỗ trợ đào tạo nghề và giải quyếtviệc làm cho người lao động bị thu hồi đất
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2015
14. Chính phủ (2015), Nghị định số 88/2015/NĐ-CP ngày 7/10/2015 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 95/2013/NĐ-CP ngày 22/8/2013 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lao động, bảo hiểm xã hội, đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Nghị định số 88/2015/NĐ-CP ngày 7/10/2015 sửa đổi,bổ sung một số điều của Nghị định số 95/2013/NĐ-CP ngày 22/8/2013quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lao động, bảohiểm xã hội, đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoàitheo hợp đồng
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2015
15. Chính phủ (2016), Nghị định số 30/2016/NĐ-CP ngày 28/04/2016 quy định chi tiết hoạt động đầu tư từ quỹ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 30/2016/NĐ-CP ngày 28/04/2016 quy địnhchi tiết hoạt động đầu tư từ quỹ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảohiểm thất nghiệp
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2016
16. Nguyễn Văn Cương và Hồ Ngọc Hiển (2014), "Mối quan hệ giữa chính sách công và pháp luật", Kỷ yếu hội thảo khoa học: Nghiên cứu và đào tạo tiếp cận đa ngành, liên ngành, Học viện Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mối quan hệ giữa chính sáchcông và pháp luật
Tác giả: Nguyễn Văn Cương và Hồ Ngọc Hiển
Năm: 2014
17. Nguyễn Văn Định (2008), Giáo trình Bảo hiểm, Nxb Đại học Kinh tế quốc dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Bảo hiểm
Tác giả: Nguyễn Văn Định
Nhà XB: Nxb Đại học Kinh tế quốcdân
Năm: 2008
18. Nguyễn Văn Định (Chủ nhiệm) (2000), Tổ chức bảo hiểm thất nghiệp ở Việt Nam trong điều kiện kinh tế thị trường, Đề tài nghiên cứu khoa học, Trường Đại học Kinh tế quốc dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổ chức bảo hiểm thất nghiệp ở ViệtNam trong điều kiện kinh tế thị trường
Tác giả: Nguyễn Văn Định (Chủ nhiệm)
Năm: 2000
19. Hoảng Thị Hải (2018), Pháp luật bảo hiểm thất nghiệp và thực tiễn thực hiện tại tỉnh Lạng Sơn, Luận văn thạc sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pháp luật bảo hiểm thất nghiệp và thực tiễn thựchiện tại tỉnh Lạng Sơn
Tác giả: Hoảng Thị Hải
Năm: 2018
20. Lương Thị Hòa (2016), Pháp luật về bảo hiểm thất nghiệp và thực tiễn thực hiện tại tỉnh Thái Bình, Luận văn thạc sĩ Luật học, Viện Đại học Mở Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pháp luật về bảo hiểm thất nghiệp và thực tiễn thựchiện tại tỉnh Thái Bình
Tác giả: Lương Thị Hòa
Năm: 2016
22. Nguyễn Văn Phần (1993), "Một số ý kiến về trợ cấp thất nghiệp và trợ cấp hưu trí", Trong sách: Một số vấn đề về chính sách bảo hiểm xã hội ở nước ta hiện nay, Nxb Lao động, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số ý kiến về trợ cấp thất nghiệp và trợ cấphưu trí
Tác giả: Nguyễn Văn Phần
Nhà XB: Nxb Lao động
Năm: 1993
26. Lê Thị Hoài Thu (2008), Chế độ bảo hiểm thất nghiệp trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam, Luận án tiến sĩ Luật học, Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: hế độ bảo hiểm thất nghiệp trong nền kinh tế thịtrường ở Việt Nam
Tác giả: Lê Thị Hoài Thu
Năm: 2008
27. Ngô Thị Thủy (2013), Hoàn thiện pháp luật về bảo hiểm thất nghiệp ở Việt Nam hiện nay, Luận văn thạc sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàn thiện pháp luật về bảo hiểm thất nghiệp ở ViệtNam hiện nay
Tác giả: Ngô Thị Thủy
Năm: 2013
28. Hà Thị Thanh Thủy (2017), Chế độ bảo hiểm thất nghiệp từ thực tiễn tỉnh Vĩnh Phúc, Luận văn thạc sĩ Luật học, Viện Đại học Mở Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chế độ bảo hiểm thất nghiệp từ thực tiễn tỉnhVĩnh Phúc
Tác giả: Hà Thị Thanh Thủy
Năm: 2017
29. Mạc Văn Tiến (2012), "Lý luận về bảo hiểm thất nghiệp", Tạp chí Bảo hiểm, (6) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận về bảo hiểm thất nghiệp
Tác giả: Mạc Văn Tiến
Năm: 2012
31. Tổ chức Lao động Quốc tế (1952), Công ước số 102 về quy phạm tối thiểu về an toàn lao động Khác
32. Tổ chức Lao động Quốc tế (1988), Công ước số 168 về xúc tiến việc làm và bảo vệ chống lại thất nghiệp Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w