TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI BÀI THẢO LUẬN HỌC PHẦN KINH TẾ VĨ MÔ Đề tài Phân tích tác động của Chính sách Tiền tệ đến sản lượng và lạm phát ở Việt Nam giai đoạn từ năm 2020 đến năm 2021 Giảng viên hướng.
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
-BÀI THẢO LUẬN HỌC PHẦN KINH TẾ VĨ MÔ
Đề tài: Phân tích tác động của Chính sách Tiền tệ đến sản lượng và lạm phát
ở Việt Nam giai đoạn từ năm 2020 đến năm 2021
Giảng viên hướng dẫn: Th.S Ninh Thị Hoàng Lan
Mã lớp học phần: 2217MAEC0111 Nhóm thực hiện: Nhóm 8 Năm học: 2021-2022
Trang 22.1 Bối cảnh tình hình kinh tế thế giới và Việt Nam giai đoạn từ năm 2020 đến năm 2021 392.2 Các mục tiêu kinh tế vĩ mô ở Việt Nam giai đoạn từ năm 2020 đến năm 2021 452.3 Thực trạng Chính sách Tiền tệ ở Việt Nam giai đoạn từ năm 2020 đến năm 2021 502.4 Đánh giá tác động của Chính sách Tiền tệ đến sản lượng và lạm phát ở Việt Nam giai
2.5 Thành công và hạn chế của Chính sách Tiền tệ ở Việt Nam gia đoạn từ năm 2020 đến
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM THỰC HIỆN HIỆU QUẢ CHÍNH SÁCH
3.1 Triển vọng kinh tế thế giới và Việt Nam năm 2022 673.2 Những mục tiêu kinh tế vĩ mô của Việt Nam trong năm 2022 733.3 Một số giải pháp thực hiện hiệu quả Chính sách Tiền tệ ở Việt Nam nhằm đạt được các
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình hoạt động nghiên cứu và thực hiện đề tài thảo luận, ngoài nhữngnguồn tài liệu chủ chốt trong chương trình học do giảng viên cung cấp, chúng em nhận đượcnhiều sự hỗ trợ và đóng góp to lớn từ những tổ chức, cá nhân thông qua những bài đăng,nguồn tài liệu bổ ích trên các nền tảng mạng xã hội Với lòng biết ơn chân thành ấy, chúng
em, những thành viên của nhóm 8 lớp học phần Kinh Tế Vĩ Mô xin gửi lời cảm ơn đến mọingười đã hỗ trợ và giúp đỡ nhóm chúng em Cảm ơn Ban Giám Hiệu trường Đại HọcThương Mại, khoa Marketing, cùng các thầy cô đã tham gia giảng dạy, quản lý, tạo cơ hộicho chúng em được thực hiện đề tài thảo luận này
Chúng em xin bày tỏ sự biết ơn đặc biệt đến cô giáo đảm nhiệm lớp học phần, cô NinhThị Hoàng Lan - người đã trực tiếp giảng dạy, hướng dẫn, góp ý, giúp chúng em có đủ kiếnthức, phương pháp học của bộ môn để hoàn thành bài thảo luận nhóm này Xin cảm ơn cácthành viên trong nhóm đã nỗ lực hết sức mình để đóng góp cho nội dung thảo luận Mặc dùnhóm chúng em đã rất cố gắng trong suốt quá trình thực hiện đề tài thảo luận song không thểtránh khỏi những thiếu sót Chúng em rất mong nhận được những góp ý của cô và các bạn đểbài thảo luận của chúng em được hoàn thiện hơn nữa, thực sự giúp ích cho nền kinh tế nướcnhà nói riêng và sự phát triển của xã hội nói chung trong một tương lai không xa
Xin chân thành cảm ơn và kính chúc sức khỏe mọi người!
Trang 4LỜI MỞ ĐẦU
Kinh tế học vĩ mô là một phân ngành của kinh tế học tập trung vào việc nghiên cứucác hoạt động của nền kinh tế nói chung và các chính sách điều tiết kinh tế vĩ mô của Chínhphủ Trong bối cảnh kinh tế vĩ mô quốc gia và toàn cầu có những biến động ngày càng phứctạp, việc nắm vững các lý thuyết kinh tế vĩ mô để lý giải các nguyên nhân và tác động có thểxảy ra của những vấn đề kinh tế diễn ra trong thực tiễn là vô cùng quan trọng
Thật vậy, môn học Kinh tế vĩ mô nắm giữ một vai trò cực kỳ quan trọng đối với sựphát triển của một nền kinh tế Bởi lẽ, Kinh tế học vĩ mô nghiên cứu sự vận động và nhữngmối quan hệ kinh tế chủ yếu của một đất nước trên bình diện toàn bộ nền kinh tế quốc dân
Cụ thể, môn học nghiên cứu những vấn đề như sản lượng, tăng trưởng kinh tế, lạm phát, thấtnghiệp, thâm hụt ngân sách, cán cân thanh toán, sự dao động trong lãi suất, tỷ giá hối đoái,cung cấp những kiến thức và công cụ phân tích kinh tế một cách khách quan tạo cơ sở đểChính phủ của mỗi nước có sự lựa chọn đúng đắn trong hoạch định các chính sách kinh tế, trong đó có vấn đề về chính sách tiền tệ
Vậy chính sách tiền tệ là gì? Chính sách tiền tệ là hệ thống các giải pháp và công cụquản lý vĩ mô của Nhà nước về tiền tệ do Ngân hàng Trung ương(NHTƯ) khởi thảo và thựcthi nhằm đạt được các mục tiêu kinh tế vĩ mô Bằng cách điều tiết mức cung tiền và lãi suất,chính sách tiền tệ sẽ làm thay đổi đầu tư tư nhân, từ đó, tác động đến tổng cầu, sản lượng vàviệc làm
Để hiểu rõ lý thuyết cũng như cách áp dụng lý thuyết vào thực tế, nhóm 8 chúng emnghiên cứu vấn đề “Phân tích tác động của chính sách tiền tệ đến sản lượng và lạm phát ởViệt Nam giai đoạn từ năm 2020 đến năm 2021” Đặc biệt, trong bối cảnh giai đoạn 2020 -
2021 được xem là giai đoạn của những khó khăn và thách thức lớn đối với kinh tế thế giớinói chung, trong đó có Việt Nam Kinh tế thế giới được dự báo suy thoái nghiêm trọng nhấttrong lịch sử, tăng trưởng của các nền kinh tế lớn đều giảm sâu do ảnh hưởng tiêu cực củadịch Covid-19 Chính vì lý do đó, nhóm 8 không chỉ phân tích tác động, mà còn tiếp tục đưa
ra những nhận xét và đánh giá về tình hình sản lượng và lạm phát của Việt Nam dưới tácđộng của chính sách tiền tệ từ bức tranh tổng quát nhất đến những khía cạnh cụ thể; cũng nhưchỉ ra những ưu điểm và hạn chế còn tồn tại Cuối cùng, đưa ra các giải pháp trong việc thựchiện chính sách tiền tệ để kích thích quá trình hồi phục và phát triển kinh tế trong bối cảnhdịch bệnh đang có những diễn biến phức tạp như hiện nay
Trang 5CHƯƠNG 1: MỘT SỐ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ
VÀ SỰ TÁC ĐỘNG CỦA CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ ĐẾN SẢN LƯỢNG
Sự tăng trưởng kinh tế là mong muốn làm cho tốc độ tăng của sản lượng đạt được mứccao nhất mà nền kinh tế có thể thực hiện được Với mục tiêu này, cần phải có những chínhsách phù hợp và kịp thời, để không chỉ thúc đẩy quá trình tạo vốn mà còn tăng năng suất laođộng, từ đó tăng khả năng sản xuất của nền kinh tế và tăng nhanh sản lượng tiềm năng
Công bằng xã hội vừa là vấn đề kinh tế, vừa là vấn đề xã hội Bởi lẽ, sự bất bình đẳngluôn tồn tại ở bất cứ đâu Chính vì vậy, chính sách phân phối lại thu nhập, biện pháp thu thuế
và chi tiêu của chính phủ là vô cùng cần thiết, bởi chính sách này ảnh hưởng tới việc phânphối cho ai trong nền kinh tế
b Mục tiêu cụ thể
Về mục tiêu cụ thể, các mục tiêu kinh tế vĩ mô hướng tới: mục tiêu sản lượng, mục tiêu
về giá cả, mục tiêu về việc làm, mục tiêu về kinh tế đối ngoại và mục tiêu về phân phối thunhập
Mục tiêu về sản lượng là mục tiêu đạt được sản lượng thực tế cao, tương ứng với mứcsản lượng tiềm năng Tiếp theo đó là mục tiêu đạt được tốc độ tăng trưởng cao và bền vữngtrong dài hạn Nguồn lực không bị sử dụng quá mức, nên không làm cạn kiệt nguồn lực trongtương lai Thước đo quan trọng nhất của tổng sản lượng là tổng sản phẩm quốc nội (GDP) Mục tiêu về giá cả là mục tiêu duy trì giá cả ổn định trong phạm vi thị trường tự do Cụthể sẽ là ổn định giá cả, duy trì tỷ lệ lạm phát ổn định ở mức 2% - 5%, chú ý đến vấn đề giảmphát (là quá trình giảm mức giá chung của nền kinh tế) Thước đo phổ biến nhất của mức giáchung là chỉ số giá tiêu dùng CPI
Mục tiêu về việc làm là mục tiêu tạo ra công ăn việc làm trong nền kinh tế, mọi ngườilao động muốn lao động đều có việc làm, tỷ lệ thất nghiệp thấp (duy trì ở mức thất nghiệp tựnhiên), tạo được nhiều việc làm tốt, thu nhập cao, cơ cấu việc làm phù hợp… Chỉ tiêu đolường thất nghiệp là tỷ lệ thất nghiệp
Do sự ảnh hưởng của xu thế hội nhập thế giới, các mục tiêu kinh tế đối ngoại là: ổn định
tỷ giá hối đoái, cân bằng cán cân thương mại, cân bằng cán cân thanh toán quốc tế, mở rộngchính sách đối ngoại Trong đó, tỷ giá hối đoái là giá cả tiền tệ của một đồng tiền này được
Trang 6tính bằng tiền tệ của một đồng tiền khác Cán cân thanh toán quốc tế là báo cáo có hệ thống
về tất cả các giao dịch kinh tế giữa một nước và phần còn lại của thế giới, nó phản ánh toàn
bộ lượng ngoại tệ đi vào và đi ra khỏi lãnh thổ một nước
Mục tiêu về phân phối thu nhập là mục tiêu giảm khoảng cách thu nhập giữa các nhómdân cư, mang lại sự công bằng trong cơ hội tiếp cận các nguồn lực xã hội
1.1.2 Sản lượng
a Khái niệm chung về sản lượng
Khái niệm: Sản lượng hay đầu ra là hàng hóa và dịch vụ được sản xuất ra bằng cách kết
hợp các đầu vào nhân tố Sản lượng của quốc gia thường được đo lường bởi các chỉ tiêuGDP, GNP hoặc một vài chỉ tiêu đo lường thu nhập khác
Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) đo lường tổng giá trị thị trường của tất cả các hàng hóa
và dịch vụ cuối cùng được sản xuất ra trong phạm vi lãnh thổ kinh tế của một quốc gia, trongmột thời kỳ nhất định (thường là một năm) GDP bao gồm lượng hàng hóa và dịch vụ docông dân nước sở tại tạo ra ở trong nước và lượng hàng hóa và dịch vụ do công dân nướcngoài tạo ra ở nước sở tại GDP có 2 loại: GDP danh nghĩa (GDPt N) và GDP thực (GDP t
R)GDPt N đo lường tổng giá trị hàng hóa và dịch vụ theo giá hiện hành (giá thực hiện)
Hình 1.1 Công thức tính GDP danh nghĩa
Nguồn: Giáo trình Kinh tế vĩ mô trường Đại học Thương Mại
GDPt
R đo lường tổng giá trị hàng hóa và dịch vụ theo giá cố định (còn gọi là giá so sánh)
Hình 1.2 Công thức tính GDP thực
Nguồn: Giáo trình Kinh tế vĩ mô trường Đại học Thương Mại
t: biểu thị cho thời kỳ tính toán và t = 0 được giả định làm năm cơ sở
Tổng sản phẩm quốc dân (GNP) đo lường tổng giá trị thị trường của tất cả các hàng
hóa và dịch vụ cuối cùng do công dân của một nước sản xuất ra trong một thời kỳ nhất định(thường tính là một năm) GNP bao gồm hàng hóa, dịch vụ do công dân nước sở tại làm ra ởtrong nước và thu nhập do công dân nước sở tại đó tạo ra ở nước ngoài
Trang 7b Mối quan hệ giữa GDP và GNP
GNP = GDP + NIA NIA = A - BTrong đó:
NIA: Thu nhập yếu tố ròng từ nước ngoài
A: Sản lượng (thu nhập) của người dân nước sở tại ở nước ngoài
B: Sản lượng (thu nhập) của người nước ngoài ở nước sở tại
C là chi tiêu cho tiêu dùng của các hộ gia đình C chỉ tính các khoản chi tiêu của hộ giađình khi mua mới các sản phẩm phục vụ tiêu dùng, không tính chi tiêu cho các món đồ cũ đãqua sử dụng, các khoản tự cung, tự cấp, các khoản cho hay chi phí xây dựng và mua nhà mới
I là chi tiêu đầu tư của khu vực tư nhân I bao gồm trang thiết bị là các tài sản cố định củadoanh nghiệp hoặc xây nhà mới của dân cư và chênh lệch hàng tồn kho của các hãng kinhdoanh, không tính các khoản đầu tư tài chính, mua sắm các tư liệu sản xuất đã qua sử dụng
hay tái phân phối tài sản hiện có
Khi đó: Tổng đầu tư = Mua sắm tư bản mới + Thay đổi hàng tồn kho hoặc khi tính theo mục đích đầu tư: Tổng đầu tư = Đầu tư ròng + Khấu hao (De) (Đầu tư thay thế: Đầu tư để bù đắp giá trị của vốn hiện vật (Khấu hao); Đầu tư ròng: Đầu tư để gia tăng quy mô của vốn hiện vật)
G là chi tiêu về hàng hóa dịch vụ của Chính phủ G bao gồm chi trả lương cho bộ máyquản lý hành chính nhà nước, chi đầu tư xây dựng cơ bản, chi an ninh, quốc phòng, khôngtính khoản chi tiêu của chính phủ cho thanh toán chuyển nhượng (trợ cấp, trả nợ, )
NX là xuất khẩu ròng NX là chênh lệch giữa giá trị hàng hóa dịch vụ quốc gia xuất khẩuvới giá trị hàng hóa nhập khẩu: NX= X - IM ( X là xuất khẩu, IM là nhập khẩu)
Phương pháp 2: Phương pháp luồng thu nhập
GDP được tính theo chi phí các yếu tố đầu vào của sản xuất mà các doanh nghiệp phảithanh toán, tổng chi phí đó sẽ trở thành thu nhập của dân chúng Trong trường hợp nền kinh
tế chỉ bao gồm các hộ gia đình và doanh nghiệp, GDP được tính như sau:
GDP = w + i + r + π
Trong trường hợp nền kinh tế có yếu tố Chính phủ và khu vực nước ngoài, GDP cần có 2điều chỉnh như sau:
GDP = w + i + r + π + De + TePhương pháp này gồm các bộ phận cấu thành:
Trang 8w: Thu nhập từ tiền công trả cho lao động
i: Lãi ròng trả cho các khoản vốn vay
r: Thu nhập từ tài sản cho thuê (đất đai & các tài sản khác)
π :Lợi nhuận của công ty
De: Khấu hao
Te: Thuế gián thu (thuế gián tiếp đánh vào thu nhập)
Phương pháp 3: Phương pháp giá trị gia tăng
Giá trị gia tăng (VA) của một doanh nghiệp là phần giá trị tăng thêm của hàng hóa và
dịch vụ doanh nghiệp sử dụng các yếu tố sản xuất tạo ra
Hình 1.3 Xác định GDP bằng phương pháp giá trị gia tăng
Nguồn: Giáo trình Kinh tế vĩ mô trường Đại học Thương Mại
Để tránh tính trùng, chỉ đưa vào GDP những hàng hóa cuối cùng, loại bỏ các hàng hóatrung gian dùng để tạo nên hàng hóa cuối cùng đó, hoặc chỉ cộng giá trị gia tăng ở từng giaiđoạn sản xuất
d Các chỉ tiêu khác về thu nhập
Tổng sản phẩm quốc dân ròng (NNP): Tổng sản phẩm quốc dân ròng là phần còn lại
của GNP sau khi trừ đi khấu hao (De) NNP = GNP - De
Thu nhập quốc dân (Y): Thu nhập quốc dân (Y) là phần còn lại của NNP sau khi trừ đi
thuế gián thu (Te) Y = GNP - De - Te
Y = NNP - Te
Thu nhập có thể sử dụng (YD): Thu nhập có thể sử dụng YD (thu nhập khả dụng) làphần thu nhập quốc dân còn lại sau khi các hộ gia đình nộp lại các loại thuế trực thu hoặc cácloại phí ngoài thuế và nhận được các trợ cấp của chính phủ hoặc các doanh nghiệp
YD = Y - Td + Tr
YD = Y - TTrong đó:
Td: Thuế trực thu
Tr: Trợ cấp
T: Thuế ròng (T = Td – Tr)
e Mối quan hệ giữa sản lượng và chính sách tiền tệ
Chính sách tiền tệ quốc gia là các quyết định về tiền tệ ở tầm quốc gia của cơ quan nhànước có thẩm quyền Chính sách tiền tệ tác động đến khối lượng tiền của nền kinh tế, từ đóảnh hưởng lên mức lãi suất cân bằng, nên trong ngắn hạn chính sách tiền tệ chủ yếu tác động
Trang 9đến tổng chi tiêu dự kiến thông qua ảnh hưởng của sự thay đổi lãi suất đối với tiêu dùng, đầu
tư và xuất khẩu ròng, từ đó tác động đến sản lượng của nền kinh tế
f Sản lượng tiềm năng của nền kinh tế
Sản lượng tiềm năng (Y*) là mức sản lượng tối đa mà một quốc gia đạt được trong điềukiện toàn dụng nhân công và không gây ra lạm phát
Toàn dụng nhân công là mọi người lao động muốn làm việc đều có việc làm, thất nghiệp
ở mức thấp Nghĩa là sử dụng hết lao động muốn đi làm, điều này có nghĩa là trong thực tế,tại mức lao động toàn dụng nhân công nền kinh tế vẫn có thất nghiệp và được gọi là thấtnghiệp tự nhiên Bên cạnh đó, không gây lạm phát là việc tăng trưởng không dẫn đến sửdụng nguồn lực quá mức, vì vậy không gây áp lực tăng giá
Sản lượng tiềm năng phụ thuộc vào việc sử dụng có hiệu quả các yếu tố của sản xuấtnhư là lao động, vốn, công nghệ, các nguồn lực khác sẵn có…Khi sản lượng tiềm năng lớnhơn mức sản lượng thực tế, nền kinh tế lúc này đang suy thoái, chưa đạt trạng thái toàn dụngnhân công, tỷ lệ thất nghiệp cao Khi sản lượng tiềm năng nhỏ hơn mức sản lượng thực tế,nền kinh tế lúc này đang phát triển quá nóng, đã đạt trạng thái toàn dụng nhân công, tỷ lệ thấtnghiệp rất thấp; tuy nhiên lạm phát cao Còn khi sản lượng tiềm năng trùng với mức sảnlượng thực tế, đây là trạng thái lý tưởng của nền kinh tế, vì ở mức này sẽ đồng thời tránhđược cả lạm phát và cả thất nghiệp
1.1.3 Lạm phát
a Khái niệm
Lạm phát là sự tăng lên liên tục của mức giá chung theo thời gian Lưu ý: Sự tăng liên
tục của mức giá hàm ý mức giá tăng liên tục trong một thời gian dài, chứ không phải sự tănglên rồi lại giảm xuống Mức giá chung là mức giá trung bình của tất cả các loại hàng hóa và
có thể được đo bằng các chỉ số như CPI, PPI, DGDP Như vậy, trong thời kỳ lạm phát vẫn cóthể xảy ra trường hợp giá của một số hàng hóa giảm, nhưng giá của các hàng hóa và dịch vụkhác tăng đủ mạnh để khiến cho mức giá chung của tất cả các hàng hóa và dịch vụ tăng lên
b Phân loại lạm phát
Lạm phát luôn là vấn đề nan giải đối với nền kinh tế của nhiều quốc gia trên thế giới Đểhạn chế những hậu quả tiêu cực do lạm phát gây ra, chúng ta cần phân loại và hiểu rõ từng
loại lạm phát Trước hết khi phân loại lạm phát theo “căn cứ định lượng”, ta có 3 loại lạm
phát chính: Lạm phát vừa phải, lạm phát phi mã và siêu lạm phát
Lạm phát vừa phải (hay còn gọi là lạm phát một con số) là lạm phát với tỷ lệ lạm phát
dưới 10% Thông thường, đây là mức lạm phát mà bình thường một nền kinh tế trải qua và ítgây các ảnh hưởng tiêu cực đến nền kinh tế Khi giá tăng ở mức một con số, mọi người vẫnsẵn sàng giữ tiền để thực hiện các giao dịch và ký các hợp đồng dài hạn tính bằng tiền, vì họtin rằng giá cả và chi phí của hàng hóa và dịch vụ sẽ không chênh lệch quá xa
Lạm phát phi mã là loại lạm phát với tỷ lệ lạm phát lên đến hai hoặc ba con số trong một
năm Như vậy, tốc độ tăng giá ở mức khá nhanh, nếu như lạm phát phi mã được duy trì trongthời gian dài thì sẽ gây ra những tác động tiêu cực nghiêm trọng đến nền kinh tế Khi lạmphát phi mã xảy ra, đồng tiền bị mất giá rất nhanh, vì vậy, người dân có xu hướng ít giữ tiềnmặt, thay vào đó, xu hướng tích trữ hàng hóa, mua bất động sản hoặc chuyển sang sử dụngvàng và ngoại tệ mạnh cho các giao dịch có giá trị lớn gia tăng
Trang 10Siêu lạm phát là lạm phát xảy ra khi tỷ lệ lạm phát đột biến tăng lên với tốc độ cao vượt
xa lạm phát phi mã, từ ba đến bốn con số trở lên
Ngoài căn cứ định lượng, ta có thế phân loại lạm phát theo “căn cứ định tính”, bao
gồm: Lạm phát cân bằng và không cân bằng, lạm phát có thể dự đoán trước và lạm phát bấtthường (không thể dự đoán trước)
Lạm phát cân bằng là sự tăng giá tương ứng với thực tế thu nhập của người lao động,
tăng phù hợp với hoạt động sản xuất của từng doanh nghiệp Do đó, tình trạng này không ảnhhưởng đến cuộc sống hằng ngày của người lao động và nền kinh tế nói chung
Lạm phát không cân bằng là sự tăng giá không tương ứng với thu nhập của người lao
động Trên thực tế, loại lạm phát này thường hay xảy ra
Lạm phát có thể dự đoán trước là loại lạm phát xảy ra hằng năm trong thời kỳ tương đối
dài với tỷ lệ lạm phát ổn định Loại lạm phát này có thể dự đoán được tỷ lệ của nó trong cácnăm tiếp theo Về mặt tâm lý, người dân đã quen với tình trạng này và không ảnh hưởngnhiều đến đời sống, kinh tế
Lạm phát bất thường là loại lạm phát xảy ra đột biến mà có thể chưa từng xuất hiện trước
đó Loại lạm phát này ảnh hưởng đến tâm lý và đời sống của người dân vì họ chưa kịp thíchnghi Từ đó gây ra biến động với nền kinh tế và làm giảm niềm tin của nhân dân với chínhquyền
c Biện pháp kiểm soát lạm phát
Đối với mỗi quốc gia, các biện pháp kiểm soát lạm phát, hạn chế hậu quả do lạm phátgây ra để bảo vệ nền kinh tế luôn là điều tiên quyết được đặt lên hàng đầu Để kiểm soát lạmphát, có rất nhiều biện pháp được chính phủ áp dụng Nhưng nhìn chung, ta có thể chia cácbiện pháp thành hai mục sau: Biện pháp kiểm soát lạm phát ngắn hạn và biện pháp kiểm soát
lạm phát dài hạn Trước hết, với biện pháp kiểm soát lạm phát ngắn hạn, chính phủ thường
sử dụng các chính sách như:
Thực hiện chính sách hạn chế (còn gọi là đóng băng tiền tệ): Chính phủ sẽ giảm lượng
tiền giấy trong nền kinh tế thông qua việc ngừng phát hành tiền và lưu thông Khi tỷ lệ lạmphát tăng cao, NHTƯ phải ngay lập tức dùng các biện pháp để tăng cung ứng tiền tệ nhưngừng các nghiệp vụ chiết khấu và tái chiết khấu với các tổ chức tín dụng, mua các chứngkhoán ngắn hạn trên thị trường tiền tệ, không phát hành tiền bù đắp bội chi ngân sách,
Cải cách hệ thống thu chi ngân sách: Chính phủ giảm các khoản chi chưa cần thiết trong
nền kinh tế và cân đối lại ngân sách, cắt giảm chi tiêu đến mức có thể
Khắc phục tình trạng phát hành tiền để bù đắp bội chi ngân sách: Chính phủ sẽ hạn chế
bội chi ngân sách Nhà nước, đặc biệt là bội chi thường xuyên cho chi lương, không sử dụngbiện pháp phát hành tiền để bù đắp bội chi ngân sách
Ổn định sức mua đối ngoại và sức mua đối ngoại của đồng tiền: Việc ổn định nhằm từng
bước củng cố niềm tin của người dân như thực hiện tự do mậu dịch, giảm nhẹ thuế quan,…
Biện pháp cải cách tiền tệ: Đây là biện pháp cuối cùng khi tỷ lệ lạm phát quá cao mà các
biện pháp trên không mang lại hiệu quả mong muốn như thay đổi chế độ tiền tệ này bằng chế
độ tiền tệ khác, phát hành tiền tệ mới,…
Thứ hai, để thực hiện biện pháp kiểm soát lạm phát dài hạn, chính phủ thường đưa ra
hai phương hướng chính, đó là:
Trang 11Xây dựng chiến lược phát triển kinh tế phù hợp: Nhà nước có chính sách quản lý vĩ mô
hiệu quả thông qua các chính sách tài chính, tiền tệ Đồng thời xây dựng và thực hiện một kếhoạch phát triển kinh tế đúng đắn, đưa nền kinh tế phát triển đúng hướng với tốc độ phù hợp,
ổn định lâu dài tránh được khủng hoảng, lạm phát cao, tạo nên một nền tiền tệ ổn định, vữngchắc
Củng cố và phát huy vai trò của các cơ quan quản lý và điều tiết vĩ mô: Các cơ quan cần
củng cố và phát huy vai trò như NHTƯ, bộ tài chính,… Đồng thời thường xuyên chú trọngnâng cao trình quản lý nhà nước, tinh giản biên chế bộ máy nhà nước để giảm thiểu quỹ tiềnlương
1.1.4 Mô hình AD - AS
a Tổng cầu (AD)
Khái niệm: Tổng cầu là tổng khối lượng hàng hóa và dịch vụ mà các tác nhân kinh tế
muốn mua và có khả năng mua ở mỗi mức giá chung, trong một khoảng thời gian nhất định
và trong những điều kiện nhất định (giả định các yếu tố khác không thay đổi)
Trong một nền kinh tế mở, tổng cầu hình thành từ bốn nguồn: (i) Cầu tiêu dùng (C): baogồm chi tiêu mua lương thực, thực phẩm, quần áo, tivi,… do khu vực hộ gia đình trong nướcthực hiện; (ii) Cầu đầu tư tư nhân (I): bao gồm các khoản mà doanh nghiệp chi cho xây dựngnhà xưởng mới, mua sắm máy móc, trang thiết bị mới, hộ gia đình mua nhà ở mới, doanhnghiệp mua bổ sung thêm hàng tồn kho; (iii) Chi tiêu Chính phủ (G): bao gồm hàng hóa vàdịch vụ do Chính phủ mua cho tiêu dùng hiện tại (tiêu dùng công) và hàng hóa, dịch vụ chocác lợi ích tương lai như đường xá, cầu cống,… (đầu tư công); (iv) Cầu xuất khẩu ròng (NX):chênh lệch giữa lượng hàng hóa và dịch vụ được sản xuất trong nước mà người nước ngoàisẵn sàng và có khả năng mua, tức là cầu xuất khẩu (X) và lượng hàng hóa và dịch vụ sản xuất
ở nước ngoài mà các hộ gia đình, doanh nghiệp và Chính phủ trong nước sẵn sàng và có khảnăng mua, tức là cầu trong nước về hàng nhập khẩu (IM) Từ đó, có thể tổng hợp các thành
tố của tổng cầu (ký hiệu là AD) trong phương trình hàm tổng cầu được tính theo công thức
sau:
AD = C + I + G + X - IM
AD = C + I + G + NXPhương trình trên biểu thị cơ cấu của tổng cầu bao gồm cầu tiêu dùng của các hộ giađình, cầu đầu tư của khu vực tư nhân, cầu chi tiêu Chính phủ và cầu về xuất khẩu ròng
Các nhân tố ảnh hưởng đến tổng cầu bao gồm:
Giá cả trong nền kinh tế quốc dân: Khi mức giá chung giảm thì làm cho thu nhập thực tế
của công chúng tăng lên, khối lượng chi tiêu của toàn bộ nền kinh tế có xu hướng tăng lên,làm cho tổng cầu tăng lên và ngược lại
Thu nhập quốc dân (Y): Khi thu nhập của các hộ gia đình, các doanh nghiệp tăng lên sẽ
thúc đẩy tiêu dùng của hộ gia đình và đầu tư của các doanh nghiệp trong nền kinh tế tăng Do
đó tổng cầu sẽ tăng lên và ngược lại
Các chính sách kinh tế vĩ mô: Ví dụ như chính sách thuế, chi tiêu Chính phủ, chính sách
tiền tệ (quy định khối lượng tiền tệ trong nền kinh tế, lãi suất), chính sách thu nhập, chínhsách kinh tế đối ngoại… đều có tác động làm thay đổi tổng cầu Chẳng hạn, nếu Chính phủ
sử dụng các chính sách khuyến khích tăng trưởng kinh tế như CSTK mở rộng (tăng chi tiêu
G, giảm thuế T) thì sẽ làm cho tổng cầu tăng lên và ngược lại
Trang 12Dự đoán của các hãng kinh doanh về tình hình kinh tế: Nếu dự đoán của các hãng về
tình hình kinh tế - xã hội trong tương lai là tốt, tăng trưởng kinh tế tốt, tình hình xã hội chínhtrị ổn định, nhu cầu tiêu dùng của người dân ngày càng nâng cao,… thì các hãng sẽ có xuhướng tăng đầu tư khiến cho tổng cầu tăng và ngược lại
Bên cạnh các nhân tố nêu ra ở trên, một số nhân tố khác như thời tiết, chiến tranh, dân
số, các cú sốc cầu… cũng có thể gây ra những tác động khiến cho tổng cầu của nền kinh tế
thay đổi Từ phương trình hàm tổng cầu và các nhân tố tác động đến tổng cầu, ta có Đường tổng cầu như sau:
Hình 1.4 Đường tổng cầu
Nguồn: Giáo trình Kinh tế Vĩ mô 1- ĐH Thương Mại
Đồ thị đường tổng cầu AD (hình 1.4) như trên được xây dựng dựa trên mối quan hệtương quan giữa AD với mức giá chung Đường tổng cầu cho ta biết lượng hàng hóa và dịch
vụ mà các tác nhân kinh tế muốn mua tại mỗi mức giá chung (các biến số khác ngoài mứcgiá chung được xem là không đổi) Đường tổng cầu có độ dốc âm biểu thị mối quan hệnghịch giữa mức giá chung và lượng tổng cầu Trong đó trục tung biểu thị mức giá chung,trục hoành biểu thị sản lượng thực tế của nền kinh tế
Theo đồ thị phía trên, ta thấy đường tổng cầu dốc xuống Điều đó phản ánh thực tế sựthay đổi của mức giá chung có ảnh hưởng ngược chiều tới lượng tổng cầu Trong bốn thành
tố của tổng cầu (C, I, G, NX), cầu chi tiêu của Chính phủ (G) là biến chính sách do Chínhphủ quyết định tùy thuộc vào mục tiêu và điều tiết kinh tế vĩ mô trong mỗi thời kỳ nên khôngphụ thuộc vào mức giá chung Ba thành tố còn lại bao gồm chi tiêu hộ gia đình (C), đầu tư (I)
và xuất khẩu ròng (NX) đều chịu ảnh hưởng của mức giá chung thể hiện thông qua ba hiệuứng là hiệu ứng tiêu dùng, hiệu ứng lãi suất và hiệu ứng thay thế quốc tế
Theo đó, ta có thể phân tích sự di chuyển và dịch chuyển của đường tổng cầu như sau: Hình 1.5 Sự di chuyển trên đường tổng cầu (sự trượt dọc trên đường tổng cầu)
Nguồn: Giáo trình Kinh tế Vĩ mô 1- ĐH Thương Mại
Trang 13Hiện tượng di chuyển của đường tổng cầu xảy ra do sự thay đổi mức giá chung gây ra.
Hình 1.5 mô tả sự di chuyển trên đường tổng cầu là do sự thay đổi của mức giá chung Giả sửmức giá chung trong nền kinh tế giảm từ P1 xuống P2 sẽ khiến cho thu nhập thực tế củangười dân tăng lên gây ra hiện tượng di chuyển dọc trên đường tổng cầu AD từ A đến B, từ
đó, lượng tổng cầu sẽ tăng từ Y1 đến Y2
Hình 1.6 Sự dịch chuyển của đường tổng cầu
Nguồn: Giáo trình Kinh tế Vĩ mô 1- ĐH Thương Mại
Hiện tượng dịch chuyển đường tổng cầu do các yếu tố ngoài mức giá chung gây ra Cụ
thể, hiện tượng dịch chuyển đường tổng cầu sẽ xảy ra do sự thay đổi trong tiêu dùng của hộgia đình, sự thay đổi trong đầu tư của khu vực tư nhân, sự thay đổi trong chi tiêu Chính phủ
và sự thay đổi trong xuất khẩu ròng Hình 1.6 mô tả sự dịch chuyển của đường tổng cầu Giả
sử Chính phủ thực hiện CSTK mở rộng bằng cách tăng chi tiêu G, điều này sẽ khiến cho tổngcầu tăng lên và dịch chuyển sang phải từ AD sang AD2 Ngược lại, nếu Chính phủ sử dụngCSTK chặt bằng cách giảm chi tiêu G sẽ làm cho tổng cầu giảm và dịch chuyển đường tổngcầu sang trái từ AD sang AD1
b Tổng cung (AS)
Khái niệm: Tổng cung là tổng khối lượng hàng hóa và dịch vụ cuối cùng mà các doanh
nghiệp sẵn sàng cung ứng cho nền kinh tế, tương ứng với mỗi mức giá chung, trong mộtkhoảng thời gian nhất định và trong những điều kiện nhất định
Lượng tổng cung phụ thuộc vào quyết định của các doanh nghiệp trong việc sử dụng laođộng, vốn, công nghệ và các nguồn lực khác để sản xuất ra hàng hóa và dịch vụ bán cho các
hộ gia đình, Chính phủ, các doanh nghiệp khác và xuất khẩu cho thế giới bên ngoài Ngoài
ra, tổng cung liên quan đến khái niệm sản lượng tiềm năng (Y*) Sản lượng tiềm năng là sảnlượng tối đa mà nền kinh tế có thể sản xuất ra trong điều kiện toàn dụng nhân công mà khônggây nên lạm phát Sản lượng tiềm năng phụ thuộc vào việc sử dụng có hiệu quả các yếu tốcủa sản xuất như là lao động, vốn, công nghệ, các nguồn lực khác sẵn có…
Đường tổng cung: Đường tổng cung thể hiện mối quan hệ giữa lượng tổng cung về hàng
hóa và dịch vụ và mức giá chung (giả định các yếu tố khác không đổi) Đường tổng cung cóhai dạng là tổng cung trong ngắn hạn và tổng cung trong dài hạn được biểu thị trong hình 1.7
dưới đây:
Hình 1.7 Đường tổng cung ngắn hạn và dài hạn
Trang 14Nguồn: Giáo trình Kinh tế Vĩ mô 1- ĐH Thương Mại
Đường tổng cung ngắn hạn (AS S ): Đường tổng cung ngắn hạn là đường dốc lên, thể
hiện mối quan hệ thuận giữa mức giá chung và sản lượng cung ứng Trong hình 1.7, đườngtổng cung ngắn hạn ban đầu có độ dốc thấp, tương đối nằm ngang, khi vượt qua mức sảnlượng tiềm năng, đường tổng cung sẽ trở nên dốc đứng Điều này được giải thích là ở nhữngmức sản lượng thấp (dưới mức sản lượng tiềm năng), sự biến động của sản lượng cung ứngkhông hoặc rất ít gây ra sự biến động giá cả Khi sản lượng thực tế vượt quá mức sản lượngtiềm năng thì đường tổng cung bắt đầu dốc lên và sau đó trở nên thẳng đứng tại một mức sảnlượng tối đa, đồng nghĩa với việc sản lượng cung ứng tăng (và chỉ đến mức giới hạn vì nănglực sản xuất vật chất của nền kinh tế là có giới hạn) kéo theo sự tăng lên của mức giá chung
Đường tổng cung dài hạn (AS L ): Đường tổng cung dài hạn là đường thẳng đứng tại
mức sản lượng tiềm năng Trong dài hạn, tổng cung là đường thẳng đứng song song với trụctung và cắt trục hoành tại mức sản lượng tiềm năng Y* (hình 1.7) Đường tổng cung trongdài hạn không thay đổi do nguồn lao động, tư bản, tài nguyên thiên nhiên của nền kinh tế vàcông nghệ quyết định lượng tổng cung về hàng hóa và dịch vụ, cho nên lượng tổng cungkhông thay đổi cho dù điều gì xảy ra với mức giá chung Hay nói một cách khác, trong dàihạn GDP thực được quyết định bởi nguồn cung về lao động, tư bản, tài nguyên thiên nhiên
và công nghệ để chuyển các yếu tố đầu vào này thành đầu ra tương ứng là sản lượng Do vậymức giá chung không ảnh hưởng đến các yếu tố quyết định dài hạn của GDP thực nên đườngtổng cung dài hạn thẳng đứng
Các yếu tố tác động đến tổng cung bao gồm:
Mức giá chung: Khi mức giá chung tăng lên, trong ngắn hạn, người sản xuất trong nền
kinh tế cảm thấy có lợi khi tăng sản lượng, do đó, khối lượng tổng cung trong nền kinh tếtăng lên Ngược lại, khi mức giá chung giảm xuống, người sản xuất trong nền kinh tế cảmthấy không được lợi từ việc sản xuất sản phẩm, do đó, khối lượng tổng cung trong nền kinh
tế giảm xuống Tuy nhiên, khi xét trong dài hạn, giá cả của các yếu tố sản xuất sẽ thay đổitheo cùng tỷ lệ với giá của các hàng hóa cuối cùng, điều đó cũng được hiểu là giá tương đốikhông đổi Khi đó, sự di chuyển các nguồn lực giữa các ngành do cạnh tranh về giá cả khôngcòn và mỗi doanh nghiệp đều đã hoạt động ở mức năng lực sản xuất tối ưu, nền kinh tế đạt ởtrạng thái toàn dụng nhân công
Giá cả của các yếu tố đầu vào cho sản xuất hay chi phí sản xuất của nền kinh tế: Khi giá
cả của các yếu tố đầu vào tăng lên, trong ngắn hạn, người sản xuất sẽ không thấy có lợi từviệc sản xuất hàng hóa, do đó, họ sẽ có xu hướng thu hẹp sản xuất khiến cho tổng cung giảm
và ngược lại Tuy nhiên, trong dài hạn, khi giá bán sản phẩm của doanh nghiệp dần đượcđiều chỉnh theo tốc độ tăng của giá các yếu tố đầu vào thì doanh nghiệp sẽ bắt đầu tăng sảnlượng trở lại, do đó, xét tổng thể trong dài hạn, tổng cung trong dài hạn sẽ không đổi
Trang 15Số lượng, chất lượng nguồn lực: Bao gồm nguồn nhân lực, nguồn lực tài chính, nguồn
lực vật chất khác,… Nếu số lượng, chất lượng các nguồn lực tốt thì sẽ thúc đẩy tổng cungtăng nhanh, ngược lại, nếu số lượng và chất lượng các nguồn lực thấp thì sẽ cản trở sự tăngtrưởng của tổng cung trong nền kinh tế
Trình độ khoa học công nghệ: Nếu trình độ khoa học công nghệ phát triển, ứng dụng
khoa học công nghệ hiện đại vào trong sản xuất nhanh chóng thì tổng cung cao và tăng nhanhchóng; ngược lại, nếu trình độ khoa học công nghệ lạc hậu, chậm phát triển, ứng dụng khoahọc công nghệ kém thì tổng cung trong nền kinh tế thấp và tăng chậm
Ngoài các yếu tố nêu trên, các yếu tố như chính sách của Chính phủ, môi trường, tựnhiên,… cũng có thể tác động đến tổng cung của nền kinh tế
Từ những nhân tố tác động đến tổng cung, ta có thể phân tích sự di chuyển và dịch chuyển của đường tổng cung ngắn hạn như sau:
Hình 1.8 Sự di chuyển trên đường tổng cung ngắn hạn
Nguồn: Giáo trình Kinh tế Vĩ mô 1- ĐH Thương Mại
Hiện tượng di chuyển trên đường tổng cung ngắn hạn xảy ra khi có sự thay đổi của
chỉ số giá cả hay mức giá chung của nền kinh tế Khi mức giá chung tăng lên (giảm xuống),trong ngắn hạn làm cho lượng tổng cung trong nền kinh tế tăng lên (giảm xuống), trong dàihạn, khi mức giá chung thay đổi không có tác động gì đến lượng tổng cung của nền kinh tế
Hình 1.8 mô tả sự di chuyển trên đường tổng cung là do sự thay đổi của mức giá chung
Hình 1.9 Sự dịch chuyển của đường tổng cung ngắn hạn
Nguồn: Giáo trình Kinh tế Vĩ mô 1- ĐH Thương Mại
Hiện tượng dịch chuyển đường tổng cung ngắn hạn do các yếu tố ngoài mức giá
chung gây ra (ví dụ như: chi phí nguyên vật liệu, trình độ người lao động, vốn, tiền lương,công nghệ, tài nguyên thiên nhiên…), sẽ gây hiện tượng dịch chuyển đường tổng cung sangbên trái hoặc bên phải Chẳng hạn như khi chi phí đầu vào sản xuất của nền kinh tế tăng lên(chi phí nguyên vật liệu tăng, tiền lương của người lao động tăng, chi phí thuê vốn tăng…) sẽlàm cho lượng tổng cung trong nền kinh tế sẽ giảm tại mức giá chung cho trước và đường
Trang 16tổng cung sẽ dịch chuyển sang trái Hình 1.9 mô tả sự dịch chuyển của đường tổng cungngắn hạn
c Cân bằng tổng cung và tổng cầu ngắn hạn
Cân bằng tổng cung và tổng cầu ngắn hạn xảy ra tại giao điểm giữa đường tổng cungngắn hạn và đường tổng cầu Mức sản lượng cân bằng ngắn hạn có thể nhỏ hơn hoặc lớn hơnsản lượng tiềm năng
Hình 1.10 Cân bằng tổng cầu - tổng cung ngắn hạn
Nguồn: Giáo trình Kinh tế Vĩ mô 1- ĐH Thương Mại
Theo hình 1.10, trong ngắn hạn, điểm cân bằng được xác định bởi giao điểm của đườngtổng cầu AD0 và đường tổng cung ngắn hạn ASS Tại trạng thái cân bằng ngắn hạn, ta xác
định sản lượng cân bằng của nền kinh tế Khi sản lượng cân bằng nhỏ hơn sản lượng tiềm năng, nền kinh tế cân bằng trong tình trạng thiểu dụng hay khiếm dụng, khi đó tỷ lệ thất nghiệp thực tế cao hơn tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên Khi sản lượng cân bằng lớn hơn sản lượng tiềm năng, nền kinh tế cân bằng trên mức toàn dụng, tỷ lệ lạm phát cao và tỷ lệ thất
nghiệp thực tế thấp hơn tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên
d Cân bằng tổng cung và tổng cầu dài hạn
Cân bằng tổng cung và tổng cầu dài hạn đạt được khi sản lượng cân bằng ở mức sảnlượng tiềm năng Trạng thái cân bằng dài hạn được xác định tại giao điểm giữa đường ASngắn hạn, AS dài hạn và AD
Hình 1.11 Cân bằng tổng cầu và tổng cung trong dài hạn
Nguồn: Giáo trình Kinh tế Vĩ mô 1- ĐH Thương Mại
Trong dài hạn, điểm cân bằng được xác định bởi giao điểm của đường tổng cầu AD vớiđường tổng cung dài hạn ASL và đường tổng cung ngắn hạn ASS (Hình 1.11) Tại trạng tháicân bằng trong dài hạn, sản lượng cân bằng tại mức sản lượng tiềm năng, thị trường lao độngđạt được trạng thái toàn dụng nhân công và giá cả được kiểm soát; do đó, trạng thái này cònđược gọi là trạng thái cân bằng lý tưởng hay trạng thái vàng của nền kinh tế
Trang 17e Phân tích biến động sản lượng, giá cả trên mô hình AD - AS
Tác động từ tổng cầu: Sự thay đổi của tổng cầu có thể xảy ra theo hai hướng là tổng cầu
tăng hoặc giảm (giả định tổng cung không đổi) Khi tổng cầu biến đổi về vị trí sẽ làm thayđổi trạng thái cân bằng của nền kinh tế Từ đó làm thay đổi các mục tiêu kinh tế vĩ mô nhưsản lượng, việc làm và giá cả Tổng cầu tăng dẫn đến sản lượng được làm ra nhiều hơn, việclàm cũng được tạo ra nhiều hơn nên thất nghiệp giảm nhưng mức giá chung trong nền kinh tế
sẽ tăng lên nên gây ra lạm phát Ngược lại nếu tổng cầu giảm sẽ kéo theo sản lượng trong nền
kinh tế giảm, thất nghiệp có xu hướng gia tăng, mức giá chung trong nền kinh tế giảm
Hình 1.12 Minh họa sự tác động của tổng cầu
Nguồn: Giáo trình Kinh tế Vĩ mô 1- ĐH Thương Mại
Giả sử nền kinh tế đạt trạng thái cân bằng dài hạn ban đầu tại E0, khi tổng cầu AD tăng,đường tổng cầu sẽ dịch chuyển sang phải từ AD0 đến AD1, lúc này nền kinh tế đạt trạng tháicân bằng ngắn hạn mới tại E1 Tại E1, nền kinh tế đạt mức sản lượng mới cao hơn mức sảnlượng cũ (Y1 > Y0), thu nhập quốc dân tăng, thất nghiệp giảm Tuy nhiên, tại E1, mức giá cảchung của nền kinh tế tăng lên (P1 > P0) có nghĩa là lạm phát trong nền kinh tế gia tăng
Tác động từ tổng cung ngắn hạn: Sự thay đổi của tổng cung có thể xảy ra theo hai
hướng là tổng cung tăng hoặc giảm (giả định tổng cầu không đổi) Khi đường tổng cung thayđổi vị trí sẽ làm thay đổi trạng thái cân bằng của nền kinh tế, từ đó làm thay đổi các mục tiêukinh tế vĩ mô như sản lượng, việc làm và giá cả Khi có các cú sốc có lợi đối với tổng cung sẽlàm cho đường tổng cung dịch chuyển sang phải Tổng cung tăng dẫn đến sản lượng tăng,việc làm được tạo ra nhiều hơn nên tỷ lệ thất nghiệp giảm, mức giá chung trong nền kinh tếgiảm Các cú sốc làm giảm tổng cung được gọi là cú sốc cung bất lợi Khi xảy ra cú sốc cungbất lợi dẫn đến sản lượng giảm, thất nghiệp tăng và gia tăng lạm phát
Hình 1.13 Sự tác động của tổng cung ngắn hạn
Nguồn: Giáo trình Kinh tế Vĩ mô 1- ĐH Thương Mại
Trang 18Giả sử ban đầu nền kinh tế đang cân bằng tại điểm cân bằng dài hạn E0 Khi nền kinh tếsuy thoái, giá cả các yếu tố đầu vào tăng dẫn đến tổng cung ngắn hạn ASS0 của nền kinh tếgiảm và dịch sang trái từ ASS0 sang vị trí ASS1 Kết quả nền kinh tế đạt trạng thái cân bằngngắn hạn mới tại E1 Tại E1, nền kinh tế đạt mức sản lượng Y1<Y0, khiến cho thất nghiệptăng lên Trong khi đó, mức giá chung của nền kinh tế tăng lên mức P1>P0, có nghĩa là lạmphát tăng Hiện tượng này gọi là đình lạm (lạm phát đi kèm suy thoái).
f Mô hình IS - LM
Đường IS phản ánh trạng thái cân bằng của thị trường hàng hóa với các tổ hợp khác nhaugiữa lãi suất và thu nhập Đường LM là tập hợp của các tổ hợp khác nhau giữa lãi suất và thunhập mà ở đó thị trường tiền tệ cân bằng Kết hợp lại ta được mô hình IS - LM cân bằngđồng thời trên cả hai thị trường hàng hóa và tiền tệ
Hình 1.14: Mô hình IS - LM
Nguồn: Giáo trình kinh tế vĩ mô trường Đại học Thương Mại
Trên hình, giao điểm của hai đường IS và LM là điểm E(r0, Y0) xác định trạng thái cânbằng đồng thời của cả hai thị trường hàng hóa và tiền tệ, với r0 là lãi suất cân bằng chung và
Y0 là thu nhập cân bằng chung Khi đã có phương trình của đường IS và đường LM, ta có thểxác định r0 và Y0 bằng cách giải hệ phương trình là hai phương trình của đường IS và đường
LM
Khi có một cú sốc nào đó xảy ra với thị trường hàng hoá và/hoặc với thị trường tiền tệkhiến cho mức lãi suất thực tế khác r0, mức thu nhập thực tế khác Y0 và ít nhất một thịtrường bị mất cân bằng, nền kinh tế sẽ có sự tự điều chỉnh để đạt tới trạng thái cân bằngchung trên cả hai thị trường
Giả sử có một cú sốc xảy ra đối với thị trường tiền tệ khiến cho thị trường tiền tệ bị mấtcân bằng và bị dư cung tiền, thể hiện bằng điểm A trên hình vẽ Tại điểm A, ta có thể thấy thịtrường hàng hóa cân bằng nhưng thị trường tiền tệ dư cung tiền Do dư cung tiền nên lãi suất
sẽ có xu hướng giảm Khi lãi suất giảm xuống lại kích thích sự gia tăng của đầu tư, tổng chitiêu và thu nhập cân bằng Do vậy, nền kinh tế dần có sự điều chỉnh thể hiện bằng sự dịchchuyển từ điểm A về điểm cân bằng chung E, lãi suất giảm, sản lượng hay thu nhập tăng Tương tự như vậy, nếu thị trường hàng hóa bị mất cân bằng, cụ thể là dư thừa ngoài dựkiến (thể hiện ở điểm B trên hình vẽ), các doanh nghiệp sẽ có xu hướng giảm sản lượng, kéo
Trang 19theo đó là cầu tiền và lãi suất có xu hướng giảm theo, nền kinh tế dần di chuyển từ điểm B vềđiểm cân bằng E
Với lập luận tương tự, ta có thể mô tả trạng thái của nền kinh tế tương ứng tại các gócphần tư tạo bởi hai đường IS, LM lần lượt được kí hiệu là (1), (2), (3) và (4) trên hình Cácđiểm nằm trong góc phần tư thứ 1 cho biết thị trường hàng hóa dư thừa ngoài dự kiến, thịtrường tiền tệ dư cung tiền và ngược lại, các điểm nằm trong góc phần tư thứ 3 cho biết thịtrường hàng hóa thiếu hụt ngoài dự kiến, thị trường tiền tệ dư cầu tiền Các điểm nằm tronggóc phần tư 2 cho biết thị trường hàng hóa dư thừa ngoài dự kiến, thị trường tiền tệ dư cầutiền và các điểm nằm trong góc phần tư thứ 4 cho biết thị trường hàng hóa thiếu hụt ngoài dựkiến, thị trường tiền tệ dư cung tiền Trong mỗi trường hợp này nền kinh tế cũng sẽ đều có sự
tự điều chỉnh để đạt tới trạng thái cân bằng chung (tại điểm E)
g Tác động của chính sách tiền tệ lên mô hình IS- LM.
Thông thường, việc thực thi chính sách tiền tệ thông qua điều tiết cung tiền của nhà nướcTrung ương có thể giúp kiểm soát mặt bằng lãi suất, kiểm soát lạm phát và giúp đưa nền kinh
tế ra khỏi giai đoạn suy thoái
Tác động của chính sách tiền tệ mở rộng: Chính sách tiền tệ mở rộng được sử dụng
nhằm mục tiêu hạ lãi suất và thúc đẩy tăng trưởng của nền kinh tế Hình minh họa tác độngcủa chính sách tiền tệ mở rộng tới lãi suất và thu nhập của nền kinh tế trên mô hình IS-LM
Hình 1.15: Tác động của chính sách tiền tệ mở rộng trên mô hình IS-LM
Nguồn: Giáo trình Kinh tế Vĩ mô 1 - ĐH Thương Mại
Theo hình, giả định nền kinh tế đang đạt trạng thái cân bằng ban đầu tại E với mức lãisuất cân bằng chung r0 và mức thu nhập cân bằng chung Y0 được xác định tại giao điểmgiữa đường IS và đường LM giả định rằng lúc này nền kinh tế đang bị suy thoái, Chính phủ
có thể sử dụng chính sách tiền tệ mở rộng thông qua việc tăng cung tiền trong nền kinh tế,làm dịch chuyển đường LM xuống dưới tới vị trí đường LM1
Khi thu nhập chưa kịp thay đổi, lãi suất sẽ giảm từ r0 xuống r1 Nhưng lãi suất giảm kíchthích đầu tư và tăng thu nhập của nền kinh tế Thu nhập tăng đến lượt nó lại làm tăng cầu tiền
Trang 20và lãi suất Do vậy, cuối cùng nền kinh tế đạt trạng thái cân bằng mới tại điểm E2, xác địnhmức lãi suất cân bằng mới r2 < r0 và mức thu nhập cân bằng mới Y1 > Y0
Nếu mục tiêu của Chính phủ là hạ lãi suất và kích thích thu nhập tăng lên thì mục tiêunày có thể đạt được thông qua việc sử dụng chính sách tiền tệ mở rộng Tuy nhiên, có thểthấy nếu mục tiêu của Chính phủ chỉ là kiểm soát lãi suất mà không gây biến động về thunhập hoặc kích thích sự gia tăng của thu nhập mà không gây ra biến động của lãi suất thì cácmục tiêu này có thể không đạt được
Tác động của chính sách tiền tệ thu hẹp: Thông thường, chính sách tiền tệ thu hẹp
được sử dụng để tăng lãi suất và kiềm chế lạm phát đang tăng cao Hình minh họa tác độngcủa chính sách tiền tệ thu hẹp tới các biến số lãi suất và thu nhập của nền kinh tế trên môhình IS-LM
Hình 1.16: Tác động của chính sách tiền tệ thu hẹp trên mô hình IS-LM
Nguồn: Giáo trình Kinh tế Vĩ mô 1 - ĐH Thương Mại
Theo hình, giả định nền kinh tế đang đạt trạng thái cân bằng ban đầu tại E với mức lãisuất cân bằng chung r0 và mức thu nhập cân bằng chung Y0 được xác định tại giao điểmgiữa đường IS và đường LM
Khi Chính phủ sử dụng chính sách tiền tệ mở rộng thông qua việc giảm cung tiền trongnền kinh tế, làm dịch chuyển đường LM lên trên tới vị trí đường LM2 Ban đầu khi sản lượngchưa điều chỉnh, lãi suất sẽ tăng từ r0 đến r1 Nhưng khi lãi suất tăng lại làm giảm tổng cầu
và thu nhập của nền kinh tế Thu nhập giảm lại khiến cầu tiền và lãi suất giảm Cuối cùngnền kinh tế đạt trạng thái cân bằng mới tại điểm E2, xác định mức lãi suất cân bằng mới r2 >r0 và mức thu nhập cân bằng mới Y2 < Y0
Như vậy, kết quả của chính sách tiền thu hẹp là làm tăng lãi suất và giảm thu nhập củanền kinh tế Nếu mục tiêu của Chính phủ chỉ là tăng lãi suất mà không gây ra biến động vềthu nhập thì mục tiêu này có thể không đạt được bằng việc sử dụng chính sách tiền tệ thuhẹp
Tác động của chính sách tiền tệ kết hợp với chính sách tài khóa trên mô hình IS –
LM Đôi khi, việc sử dụng riêng rẽ các chính sách tài khoá và tiền tệ có thể khiến hiệu quả
Trang 21chính sách không đạt được như mong muốn, các mục tiêu chính sách mà Chính phủ hướngđến có thể không đạt được Do vậy để khắc phục những hạn chế này, một gợi ý là Chính phủ
có thể phối hợp sử dụng các chính sách kinh tế vĩ mô
Các trường
hợp
Lý do phối hợp sử dụng 2 chính sách
=> sản lượng sẽ đượckích thích gia tăngnhanh chóng hơn
Hình 1.17: Tác động của chính sách tài khóa mở rộng
và chính sách tiền tệ mở rộng trên mô hình IS-LM
Nguồn: Giáo trình Kinh tế vĩ
mô trường Đại học Thương Mại
- Giả định ban đầu: Cân bằngtại E (r0, Y0) = IS ⋂ LM
- Chính phủ sử dụng CS tài khóa mở rộng: Tăng
G/Giảm T hoặc cả 2 => ADtăng, IS dịch chuyển sangphải đến IS1
Lúc này, nếu không sử dụng
CS tiền tệ mở rộng, cân
bằng tại E1, sẽ gây thoái lưuđầu tư, r0 tăng đến r1, Y0 chỉtăng đến Y1
- Chính phủ muốn ổn địnhlãi suất nên sử dụng phối
hợp với CS tiền tệ mở rộng,
tăng MS, LM dịch xuốngđến LM1, cân bằng tại E2 (r0,
Y2)
=> Kết quả phối hợp: Sảnlượng tăng nhanh, đẩy nhanhtốc độ tăng trưởng, giảm thấtnghiệp, ổn định lãi suất
Trang 22AD và Y Như vậy sẽlàm r giảm, I tăng, AD
sẽ tăng trở lại => khôngđạt được hiệu quả của
CS ban đầu
- Để AD giảm nhanh, r
ổn định thì Chính phủ
sẽ phối kết hợp sử dụngvới CS tiền tệ thu hẹp
Hình 1.18 Tác động của chính sách tài khóa thu hẹp
và chính sách tiền tệ thu hẹp trên mô hình IS-LM
Nguồn: Giáo trình Kinh tế vĩ
mô trường Đại học Thương Mại
- Giả định ban đầu: Cân bằngtại E (r0, Y0) = IS ⋂ LM
- Chính phủ sử dụng CS tài khóa thu hẹp: Giảm G/Tăng
T hoặc cả 2 => AD giảm, ISdịch sang trái đến IS1
Lúc này, nếu không sử dụng
CS tiền tệ thu hẹp => r giảm
=> AD tăng, nền kinh tế cânbằng tại E1 (r1, Y1)
=> Kết quả phối hợp: Sảnlượng giảm nhanh, thoátkhỏi tình trạng tăng trưởngnóng, giảm lạm phát, ổn địnhlãi suất
- Chú ý: Nếu Chính phủmuốn:
+ Thu hẹp tài khóa nhiều: r
có thể giảm
+ Thu hẹp tiền tệ nhiều: r
có thể tăng
=> Chính phủ có thể điềuchỉnh lãi suất tùy ý mà vẫngiúp nền kinh tế thoát khỏi
Trang 23tư theo hướng giảm đầu
tư công và tăng đầu tư
tư nhân thì Chính phủ
có thể sử dụng phốihợp 2 chính sách này
Hình 1.19: Tác động của chính sách tài khóa thu hẹp
và chính sách tiền tệ mở rộng trên mô hình IS-LM
Nguồn: Giáo trình Kinh tế vĩ
mô trường Đại học Thương Mại
- Giả định ban đầu: E0 (r0,
Lúc này, nếu không sử dụngphối hợp với chính sách tiền
tệ lỏng, điểm cân bằng mới
sẽ là E1(r1, Y1) với r1 < r0, Y1
< Y0
- Chính phủ muốn giữ ổnđịnh thu nhập nên sử dụng
chính sách tiền tệ nới lỏng
thông qua việc tăng MS
=> LM dịch xuống dướithành LM1
Lúc này, điểm cân bằng mới
là E2(r2, Y0), với r2 < r1 < r0
và Y0
=> Kết quả phối hợp: sảnlượng/ thu nhập ổn định, cơcấu đầu tư có xu hướng giảmmức đầu tư ở khu vực côngtrong chi tiêu Chính phủ vàtăng đầu tư tư nhân
- Chú ý: Nếu Chính phủ
muốn:
+ Mở rộng tiền tệ nhiều hơn thu hẹp tài khóa: sản lượng
Trang 24có khả năng tăng lên.
+ Thu hẹp tài khóa nhiều hơn mở rộng tiền tệ: sản
lượng có khả năng giảmxuống
=> Chính phủ có thể điềuchỉnh sản lượng theo ý muốn
mà lãi suất vẫn giảm
ở khu vực tư nhân thìChính phủ có thể phốihợp sử dụng 2 chínhsách này
Hình 1.20 Tác động của chính sách tài khóa mở rộng
và chính sách tiền tệ thu hẹp trên mô hình IS-LM
Nguồn: Giáo trình Kinh tế vĩ
mô trường Đại học Thương Mại
- Giả định ban đầu: E0(r0, Y0)
là điểm cân bằng E0 = IS ⋂LM
- Chính phủ sử dụng chínhsách tài khóa mở rộng thôngqua tăng G và/hoặc giảm T
=> AD tăng => IS dịch sangphải tới IS1.
Nếu không sử dụng phối hợpvới chính sách tiền tệ thuhẹp, điểm cân bằng mới sẽ là
E1(r1, Y1) với r1 > r0 và Y1 >
Y0
- Để giữ cho sản lượng ổnđịnh, Chính phủ sử dụng kếthợp với chính sách tiền tệthu hẹp thông qua việc giảmMS
=> LM dịch chuyển lên trênthành LM1
Lúc này, điểm cân bằng mới
sẽ là E2(r2, Y0) với r2 > r1 >
r0 và Y0
=> Kết quả phối hợp: khônglàm thay đổi sản lượng mà
Trang 25chỉ cơ cấu lại các khoản đầu
tư theo hướng gia tăng đầu
tư công trong chi tiêu Chínhphủ và giảm đầu tư tư nhân(do mặt bằng lãi suất tăngcao)
mà mặt bằng lãi suất vẫntăng
1.1.5 Thị trường tiền tệ
a Cung tiền (MS)
Khái niệm: Cung tiền là khối lượng tiền sẵn sàng cho việc thực hiện các giao dịch trong
nền kinh tế, nó đo lường tổng số tiền trong nền kinh tế tại một thời điểm cụ thể Cung tiềnbao gồm tiền mặt đang lưu hành trong dân chúng (M0) và các khoản tiền gửi không kỳ hạntại các NHTM (D) Kí hiệu cung tiền là MS thì ta có công thức tính:
MS = M0 + DPhải phân biệt mức cung tiền danh nghĩa (MS) và mức cung tiền thực (MS/P) Mức cungtiền danh nghĩa là tổng lượng (giá trị) tiền sẵn sàng cho các giao dịch hiện có trong khi mứccung tiền thực thể hiện sức mua của lượng tiền danh nghĩa đó
b Một số khái niệm liên quan
Tiền mặt (M0) là lượng tiền giấy và tiền xu do dân chúng giữ (không bao gồm tiền dự trữ của
các NHTM)
Tiền gửi (D) là lượng tiền mà dân chúng giữ dưới dạng tiền gửi không kỳ hạn tại các NHTM Tiền dự trữ ® là số tiền NHTM nhận gửi của dân chúng nhưng không cho vay, mà giữ lại
(theo quy định của NHTƯ hoặc để dự phòng thêm)
Tiền cơ sở/ tiền mạnh (MB) là lượng tiền (tiền giấy hoặc tiền xu) do NHTƯ phát hành vào
nền kinh tế
Trang 26Tỷ lệ dự trữ ® là tỷ lệ giữa số tiền dự trữ của NHTM trên tổng số tiền gửi của khách hàng (r
= R/D) Công thức tính tỷ lệ dự trữ như sau
c Hệ thống ngân hàng và quá trình tạo tiền gửi
Hệ thống ngân hàng được tạo ra bởi mô hình 2 cấp: ngân hàng cấp 1 và ngân hàng cấp 2.
Ngân hàng cấp 1 là NHTƯ thực hiện chức năng quản lý nhà nước về tiền tệ và hoạt động củacác NHTM Ngân hàng cấp 2 gồm hệ thống các NHTM thực hiện chức năng chính là kinhdoanh tiền tệ - nhận tiền gửi và cho vay hưởng chênh lệch lãi suất, đồng thời cung cấp cácdịch vụ thanh toán
Quá trình tạo tiền gửi (D) của hệ thống NHTM: Với giả thiết, không có tiền mặt rò rỉ
trong lưu thông (dân chúng không giữ tiền mặt) và các NHTM tuân thủ đúng theo tỷ lệ dự trữbắt buộc (ra = rb = r ) Mô phỏng quá trình bằng sơ đồ dưới đây:
Hình 1.21 Sơ đồ hệ thống ngân hàng và quá trình tạo tiền gửi
Nguồn: Slide bài giảng
Trong đó:
NHTW: Ngân hàng Trung ương
NHTM: Ngân hàng Thương mại
Quá trình tạo ra tiền gửi thực chất là sự mở rộng nhiều lần số tiền gửi ban đầu và đượcthực hiện bởi hệ thống các NHTM Từ lượng tiền cơ sở ban đầu là MB, tổng tiền gửi không
kỳ hạn, thông qua hoạt động của hệ thống ngân hàng đã tạo ra số lượng tiền là 1/r*MB, lớnhơn 1/r lần tiền cơ sở ban đầu
d Mối quan hệ giữa mức cung tiền (MS) và tiền cơ sở (MB)
Khi mở rộng giả thiết: Dân chúng không gửi hết tiền vào ngân hàng mà giữ lại một phần
dưới dạng tiền mặt, các NHTM dự trữ nhiều hơn quy định của NHTƯ:
ra= re + rb
Trang 27Hình 1.22 Sơ đồ biểu diễn mức cung tiền và tiền cơ sở
Nguồn: Slide bài giảng
Ta có được MS = s +ra s +1 x MB Đặt mM = s +ra s +1 => MS = mM x MB
Trong đó, mM là số nhân tiền tệ (Số nhân tiền tệ: mM = s +ra s +1 , cho biết mỗi đơn vị tiền cơ
sở do NHTƯ phát hành thêm sẽ làm tăng mức cung tiền trong nền kinh tế là bao nhiêu.)
e Các yếu tố ảnh hưởng đến cung tiền danh nghĩa MS
MS = s +ra s +1 x MBTrong đó:
Hệ số ưa thích tiền mặt (s) phụ thuộc vào thói quen giữ tiền của người dân Khi hệ số Stăng, mM giảm và do đó MS giảm
Tỷ lệ dự trữ thực tế (ra) phụ thuộc vào hoạt động của NHTƯ và các NHTM trong nềnkinh tế Nếu ra tăng thì MS sẽ giảm
Tiền cơ sở (MB) phụ thuộc vào hoạt động của NHTƯ Nếu MB tăng thì MS tăng vàngược lại
f Đường cung tiền
Mức cung tiền tệ thực tế = MS/PTrong đó: MS là cung tiền tệ danh nghĩa và P là mức giá chung
Giả định: MS cố định và bằng M => Với mức giá P không đổi thì cung tiền thực tế làhằng số: MS P =M P
Với giả định này thì cung về số dư tiền thực không phụ thuộc vào lãi suất Như vậy, MS
là một đường thẳng đứng
Hình 1.23 Đường cung tiền
Nguồn: Slide bài giảng
Trang 28Khi lãi suất tăng hoặc giảm sẽ không ảnh hưởng đến lượng cung tiền thực
Tuy nhiên, lượng cung tiền thực sẽ thay đổi khi mức giá chung thay đổi và/hoặc khiNHTƯ thực hiện các chính sách tác động làm thay đổi mức cung tiền danh nghĩa Khi cungtiền tăng, MS/P sẽ dịch chuyển sang phải và ngược lại Chẳng hạn, khi NHTƯ phát hànhthêm tiền cơ sở sẽ làm tăng mức cung tiền danh nghĩa Giả sử mức giá chung không đổi khi
đó mức cung tiền thực tăng Trên đồ thị đường MS/P dịch chuyển sang phải và ngược lại
g Cầu tiền (LP)
Khái niệm: Cầu tiền là lượng tiền mà mọi người muốn nắm giữ dưới dạng tiền mặt và
tiền gửi không kỳ hạn tại các NHTM nhằm đáp ứng nhu cầu giao dịch trong nền kinh tế Nhucầu nắm giữ tiền xuất phát từ 3 động cơ: giao dịch, phòng ngừa và đầu cơ
Cầu tiền có thể bị tác động bởi các yếu tố như: thu nhập quốc dân danh nghĩa, tỷ lệ lãisuất trên tài sản hoặc các nhân tố khác Thu nhập quốc dân danh nghĩa (Y): Y càng lớn, chitiêu cho hàng hóa, dịch vụ càng lớn và nhu cầu về số dư tiền hoạt động càng lớn Tỷ lệ lãisuất trên tài sản (r): r càng cao, chi phí cơ hội nắm giữ tiền càng lớn và do đó nhu cầu đầu cơ
về tiền càng thấp Các nhân tố khác: mức độ rủi ro của thị trường tài chính, mức độ hiện đạicủa phương thức thanh toán, tâm lý, tập quán tiêu dùng và giao dịch…
Hàm cầu tiền và đường cầu tiền
Hàm cầu tiền: Trong trường hợp đơn giản hóa, có thể biểu diễn hàm cầu tiền dưới dạng
tuyến tính như sau:
LP = LP + kY - hrTrong đó: LP là mức cầu tiền thực tế
LP là cầu tiền dự định
Y là thu nhập quốc dân
r là lãi suất
k: Hệ số phản ánh sự nhạy cảm của cầu tiền với thu nhập
h: hệ số phản ánh sự nhạy cảm của cầu tiền với lãi suất
Hàm cầu tiền cho biết cầu tiền tỷ lệ thuận với thu nhập và tỷ lệ nghịch với lãi suất
Đường cầu tiền thể hiện mối quan hệ giữa lãi suất và lượng cầu tiền tại một mức thu
nhập cho trước (giả định các yếu tố khác không đổi)
Hình 1.24 Đồ thị của hàm cầu tiền
Nguồn: Giáo trình Kinh tế Vĩ mô 1- ĐH Thương Mại
Đường cầu về tiền là một đường dốc xuống Độ dốc được tính bằng -1/h (h là hệ số nhạycảm của cầu tiền so với lãi suất) Lãi suất gây ra sự di chuyển (trượt dọc) trên đường cầu tiền,
Trang 29h càng lớn thì đường cầu tiền càng thoải và ngược lại Các yếu tố ngoài lãi suất sẽ dẫn đến sựdịch chuyển đường cầu tiền Ví dụ, khi thu nhập quốc dân (Y) tăng, cầu về tiền giao dịch sẽtăng tại mỗi mức lãi suất cho trước, khi đó đường cầu tiền sẽ dịch chuyển sang phải.
h Cân bằng của thị trường tiền tệ
Thị trường tiền tệ đạt trạng thái cân bằng khi cung tiền thực (MS/P) bằng cầu tiền thực
(LP)
Hình 1.25 Trạng thái cân bằng của thị trường tiền tệ
Nguồn: Giáo trình Kinh tế Vĩ mô 1 - ĐH Thương Mại
Khi đó:
E0 là điểm cân bằng của thị trường tiền tệ
r0 là điểm lãi suất cân bằng
M0 là lượng tiền tệ cân bằng
Đặc biệt:
r = r0: Thị trường tiền tệ cân bằng
r > r0: Thị trường tiền tệ dư cung tiền
r > r0: Thị trường tiền tệ dư cung tiền
Trạng thái cân bằng này đạt được thông qua những thay đổi về lãi suất Tại bất kỳ giá trịnào của lãi suất r khác r0, thị trường tiền tệ sẽ không cân bằng và thị trường sẽ có sự điềuchỉnh trở lại trạng thái cân bằng tại lãi suất r0 Thật vậy, tại mức lãi suất lớn hơn r0, thị trườngtiền tệ dư cung tiền; ngược lại, tại mức lãi suất thấp hơn r0, thị trường tiền tệ sẽ dư cầu tiền
Thay đổi trạng thái cân bằng của thị trường tiền tệ
Thị trường tiền tệ thay đổi trạng thái cân bằng khi có sự thay đổi của cung tiền, cầu tiềnlàm đường cung tiền và cầu tiền dịch chuyển Trước hết, ta xem xét sự thay đổi của cung tiềnđến lãi suất cân bằng của thị trường tiền tệ
Hình 1.26 Thay đổi trạng thái cân bằng của thị trường tiền tệ do cung tiền
Nguồn: Giáo trình Kinh tế Vĩ mô 1- ĐH Thương Mại
Trang 30Giả sử, tại điểm E0 là điểm cân bằng ban đầu của thị trường tiền tệ, là giao điểm của (MS/P)0 và LP0; mức lãi suất cân bằng ban đầu là r0 Khi cung tiền tăng, thị trường tiền tệ xuất hiện dư cung tiền Tại r0, mọi người không muốn nắm giữ lượng tiền mới tăng này nên chuyển qua mua trái phiếu Cầu trái phiếu tăng và làm giảm lãi suất Khi lãi suất giảm sẽ làm cho lượng cầu tiền tăng cho đến khi lãi suất cân bằng mới được thiết lập Trên hình 1.19a, khi mức cung tiền tăng, đường (MS/P)0 dịch chuyển sang phải đến (MS/P)1 Điểm cân bằng dịch chuyển từ E0 đến E1 Lãi suất cân bằng giảm từ r0 xuống r1.
Ngược lại, khi cung tiền giảm, khi đó thị trường tiền tệ xuất hiện dư cầu tiền Tại r0, lượng tiền nắm giữ không đủ nên mọi người sẽ chuyển 1 phần trái phiếu sang tiền Cung trái phiếu tăng và làm tăng lãi suất Khi lãi suất tăng sẽ làm lượng cầu tiền giảm cho đến khi lãi suất cân bằng mới được thiết lập Trên hinh 1.19b, khi mức cung tiền giảm, đường (MS/P)0dịch chuyển sang trái đến (MS/P)1 Điểm cân bằng dịch chuyển từ E0 đến E1 Lãi suất cân bằng tăng từ r0 lên r1
Tiếp theo, ta sẽ xem xét ảnh hưởng của cầu tiền đến lãi suất cân bằng của thị trường tiền
tệ
Hình 1.27 Thay đổi trạng thái cân bằng của thị trường tiền tệ do cầu tiền
Nguồn: Giáo trình Kinh tế Vĩ mô 1- ĐH Thương Mại
Giả sử ban đầu thị trường tiền tệ cân bằng tại giao điểm E0 giữa đường cung tiền (MS/P)0
và đường cầu tiền LP0, mức lãi suất cân bằng ban đầu là r0 Khi cầu tiền tăng, khi đó thị trường tiền tệ sẽ xuất hiện dư cầu tiền, lãi suất cân bằng sẽ tăng Trên hình 1.20a, khi cầu tiềntăng, đường cầu dịch chuyển sang phải từ LP, đến LP1 Điểm cân bằng dịch chuyển từ E0 đến
E1 Lãi suất cân bằng tăng từ r0 lên r1
Ngược lại, khi cầu tiền giảm, khi đó thị trường tiền tệ xuất hiện dư cung tiền, lãi suất cân bằng sẽ giảm Trên hình 1.20b, khi cầu tiền giảm, đường cầu tiền sẽ dịch chuyển sang trái, từ
LP0 đến LP1 Điểm cân bằng dịch chuyển từ E0 đến E1 Lãi suất cân bằng giảm từ r0 xuống r1
1.2 KHÁI NIỆM, MỤC TIÊU VÀ CÔNG CỤ CỦA CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ
1.2.1 Khái niệm Chính sách Tiền tệ
Khái niệm: Chính sách tiền tệ là chính sách kinh tế vĩ mô của Chính phủ được thực hiện
bởi NHTƯ Chính sách tiền tệ liên quan đến quản lý về mức cung tiền và lãi suất được Chínhphủ của một quốc gia sử dụng nhằm đạt được các mục tiêu kinh tế vĩ mô như tăng trưởng,lạm phát
Phân loại: Chính sách tiền tệ được chia làm 2 loại: chính sách tiền tệ mở rộng và chính
sách tiền tệ thắt chặt
Chính sách tiền tệ mở rộng là chính sách NHTƯ mở rộng mức cung tiền lớn hơn so vớibình thường Lãi suất giảm xuống, tăng tổng cầu, thúc đẩy sản xuất kinh doanh, tạo ra việc
Trang 31làm cho người lao động.Điều này khiến kinh tế được mở rộng, GDP tăng, giảm tình trạngthất nghiệp Tuy nhiên, để thực hiện chính sách này, NHTƯ thường thực hiện 1 trong 3 cáchhoặc thực hiện cùng một lúc 2 đến 3 cách: Hạ thấp tỷ lệ dự trữ bắt buộc; Mua chứng khoán;
Hạ thấp mức lãi suất chiết khấu
Chính sách tiền tệ thắt chặt là chính sách mà NHTƯ tác động nhằm giảm mức cung tiềntrong nền kinh tế Lãi suất thị trường tăng lên, tổng cầu thu hẹp, mức giá chung giảm Thôngthường, chính sách này sẽ được áp dụng khi kinh tế đang có dấu hiệu lạm phát Để thực hiệnchính sách này, NHTƯ thường sử dụng một trong những biện pháp sau: Bán ra trên thịtrường chứng khoán; Tăng mức dự trữ bắt buộc; Tăng lãi suất chiết khấu, kiểm soát chặt chẽhoạt động tín dụng
1.2.2 Mục tiêu của chính sách tiền tệ
Bất kì một chính sách kinh tế vĩ mô nào của chính phủ khi đề ra thường hướng tới cácmục tiêu kinh tế vĩ mô cơ bản như đạt tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, bền vững, giá cả ổnđịnh, thất nghiệp thấp, cân bằng cán cân thanh toán quốc tế chính sách tiền tệ được đưa racùng với mục tiêu như trên nhưng mục tiêu chính thường được xác định là ổn định giá cả vàlạm phát Ngoài ra, chính sách tiền tệ còn được thiết kế nhằm để duy trì sự ổn định của hệthống tài chính và các tổ chức tài chính
Trên thực tế, các mục tiêu trên đây không thể đồng thời đạt được, vì vậy sẽ có sự đánhđổi giữa các mục tiêu này Chẳng hạn giữa mục tiêu kiểm soát lạm phát và tăng trưởng kinh
tế, ở những thời kỳ tăng trưởng cao thì thường đi liền với lạm phát và ngược lại, khi chốnglạm phát thì thường làm suy giảm tăng trưởng kinh tế Vì vậy, các nhà hoạch định chính sáchcần phải cân nhắc khi lựa chọn mục tiêu ưu tiên
1.2.3 Công cụ của Chính sách Tiền tệ
Để thực hiện chính sách tiền tệ, NHTƯ thường sử dụng nhiều chính sách khác nhau,trong đó tập trung vào các chính sách chủ yếu như: dự trữ bắt buộc, nghiệp vụ thị trường mở(OMO), lãi suất, công cụ tái cấp vốn, hạn mức tín dụng…
Công cụ của chính sách tiền tệ được chia làm 2 loại chính là: công cụ chủ yếu và công
cụ bổ trợ bao gồm tỷ lệ dự trữ bắt buộc, tái cấp vốn, nghiệp vụ thị trường và lãi suất, hạnmức tín dụng, tỷ giá hối đoái… Các công cụ chính sách này sẽ tác động vào cung tiền và lãisuất, rồi nhờ ảnh hưởng của lãi suất đến đầu tư mà tác động vào tổng cầu, từ đó đưa nền kinh
tế về trạng thái cân bằng
1.3 CÁC BIỆN PHÁP ĐIỀU TIẾT MỨC CUNG TIỀN CỦA NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG
1.3.1 Nghiệp vụ thị trường mở
a Khái niệm nghiệp vụ thị trường mở
Nghiệp vụ thị trường mở (OMO - Open Market Operation) là nhiệm vụ mua hoặc báncác giấy tờ có giá ngắn hạn (gọi chung là trái phiếu) của NHTƯ Giấy tờ có giá ngắn hạn màNHTƯ giao dịch trên OMO thường là tín phiếu kho bạc hay trái phiếu Chính phủ Đôi khiNHTƯ cũng tự phát hành tín phiếu để thu hút tiền ra khỏi lưu thông thay vì bán tín phiếu khobạc mà NHTƯ đang nắm giữ Mục đích của hoạt động này nhằm thay đổi mức cung tiền
Trang 32Nghiệp vụ thị trường mở của nhà nước thường có 2 loại: Mua bán giấy tờ có giá dài hạn
và mua bán giấy tờ có giá ngắn hạn Nghiệp vụ thị trưởng mở được thực hiện bằng hình thứcmua, bán ngắn hạn các loại giấy tờ có giá thông qua hình thức đấu thầu
b Các chủ thể tham gia thị trường mở
Ngân hàng Nhà nước là tổ chức xây dựng và vận hành hoạt động của thị trường mở theo
chính sách tiền tệ Đây là tổ chức đưa ra quyết định trong việc sử dụng các loại nghiệp vụ thịtrường mở và tần sử sử dụng nó Ngân hàng Nhà nước sẽ tham gia thị trường mở bằng việcmua bán các giấy tờ có giá như tín phiếu ngân hàng Nhà nước, trái phiếu chính phủ để tácđộng đến việc dự trữ của hệ thống ngân hàng đồng thời tác động đến lãi suất thị trường theomục tiêu Đây cũng là tổ chức được quyền can thiệp thị trưởng khi cần bằng cách thực hiệnchức năng người cho vay cuối cùng để kiểm soát tiền tệ, đảm bảo đủ phương tiện thanh toáncho tổ chức tín dụng, đảm bảo nhu cầu tín dụng của nền kinh tế Chính vì thế mà ngân hàngNhà nước tham gia vào thị trường mở để quản lý và điều tiết thị trường giúp chính sách tiền
tệ thực hiện theo các mục tiêu xác định của nó
Các thành viên bao gồm các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài được
thành lập, hoạt động theo Luật các tổ chức tín dụng (trừ tổ chức tài chính vi mô, quỹ tín dụngnhân dân) và được Ngân hàng Nhà nước công nhận là thành viên nghiệp vụ thị trường mở
c Cơ chế hoạt động của thị trường mở
Phương thức mua hoặc bán giấy tờ có giá gồm nhiều phương thức khác nhau, có thể kểđến như phương thức mua có kỳ hạn, phương thức bán có kỳ hạn hoặc nhiều phương thức
khác Mua có kỳ hạn là việc Ngân hàng Nhà nước mua giấy tờ có giá và nhận quyền sở hữu
giấy tờ có giá từ thành viên, đồng thời thành viên cam kết sẽ mua lại giấy tờ có giá đó sau
một thời gian nhất định Bán có kỳ hạn là việc Ngân hàng Nhà nước bán giấy tờ có giá và
chuyển quyền sở hữu giấy tờ có giá cho thành viên, đồng thời cam kết sẽ mua lại giấy tờ có
giá đó sau một thời gian nhất định Mua hẳn là việc Ngân hàng Nhà nước mua giấy tờ có giá
và nhận quyền sở hữu giấy tờ có giá từ thành viên, không kèm theo cam kết bán lại giấy tờ
có giá Bán hẳn là việc Ngân hàng Nhà nước bán giấy tờ có giá và chuyển quyền sở hữu giấy
tờ có giá cho thành viên, không kèm theo cam kết mua lại giấy tờ có giá
d Phương thức đấu thầu giấy tờ có giá
Nghiệp vụ thị trường mở được thực hiện thông qua phương thức đấu thầu khối lượnghoặc đấu thầu lãi suất Trong đó, đấu thầu khối lượng là việc xét thầu trên cơ sở khối lượnggiấy tờ có giá dự thầu của các thành viên, khối lượng giấy tờ có giá cần mua hoặc bán củaNgân hàng Nhà nước và lãi suất do Ngân hàng Nhà nước thông báo
e Cách thức nghiệp vụ thị trường mở tác động đến mức cung tiền
Phân tích dựa trên công thức: Mức cung tiền = Số nhân tiền tệ * Tiền cơ sở
( MS=m × MB)
TH1: Khi NHTƯ bán trái phiếu chính phủ (tức là: NHTƯ rút bớt tiền ra khỏi thị trường)
Hình 1.28: Ngân hàng Trung ương bán trái phiếu chính phủ
Trang 33Nguồn: Slides bài giảng Dựa vào công thức: Khi NHTƯ rút bớt tiền trên thị trường thực tế dẫn đến giảm lượng
tiền cơ sở trong nền kinh tế từ đó tiền cơ sở MB giảm và mức cung tiền MS cũng giảm theo
TH2: NHTƯ mua trái phiếu kho bạc (tức là: NHTƯ đưa thêm tiền vào thị trường)
Hình 1.29: Ngân hàng Trung ương mua trái phiếu kho bạc
Nguồn: Slides bài giảng Dựa vào công thức: Khi NHTƯ đưa thêm tiền vào thị trường thực tế dẫn đến lượng tiền
cơ sở trong nền kinh tế tăng lên từ đó kéo theo tiền cơ sở MB tăng và mức cung tiền MS cũng tăng theo
f Vai trò của nghiệp vụ thị trường mở
Nghiệp vụ thị trường mở có vai trò quan trọng trong việc phát triển thị trường tiền tệ tạiViệt Nam Sau khi các quy định của pháp luật về nghiệp vụ thị trường mở chính thức có hiệulực, thị trường mua bán các loại giấy tờ có giá trở nên sôi động hơn với sự tham gia các ngânhàng Nhà nước và các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài
Thị trường mở cũng tạo điều kiện cho các tổ chức tín dụng sử dụng nguồn nhàn rỗi hiệu quả hơn đồng thời giúp các tổ chức tín dụng đa dạng các nghiệp vụ kinh doanh của mình.
Nhờ đó mà các tổ chức tín dụng không chỉ đơn thuần thực hiện các nghiệp vụ kinh doanhtruyền thống như cho vay, thẻ, bảo lãnh mà còn sử dụng vốn để mua bán các giấy tờ có giá
Thực hiện nghiệp vụ thị trường mở giúp ngân hàng Nhà nước chủ động điều hành chính sách tiền tệ thông qua việc điều tiết cung cầu về vốn ngắn hạn cho các tổ chức tín dụng Thực hiện nghiệp vụ thị trường mở còn giúp ngân hàng Nhà nước phát tín hiệu ra ngoài thị trường về điều hành chính sách tiền tệ trong tương lai đồng thời đưa ra định hướng về lãi suất thị trường để hạn chế những biến động của lãi suất.
Thông qua hoạt động của nghiệp vụ thị trường mở, ngân hàng Nhà nước có thể là chủ động điều tiết vốn khả dụng của các tổ chức tín dụng và kiểm soát lãi suất thông qua việc mua hoặc bán các chứng từ có giá ngắn hạn, nhằm thực hiện các mục tiêu của chính sách
tiền tệ trong từng thời kỳ
1.3.2 Tỷ lệ dự trữ bắt buộc
a Khái niệm tỷ lệ dự trữ bắt buộc
Tỷ lệ dự trữ bắt buộc (Reserve requirements) là một quy định của NHTƯ về tỷ lệ giữatiền mặt và tiền gửi mà các NHTM bắt buộc phải tuân thủ để đảm bảo tính thanh khoản Đâyđược hiểu là tỷ lệ dự trữ tối thiểu mà các NHTM phải duy trình theo quy định của NHTƯ Các ngân hàng có thể giữ tiền mặt cao hơn hoặc bằng tỷ lệ dự trữ bắt buộc nhưng khôngđược phép giữ tiền mặt ít hơn tỷ lệ này Nếu thiếu hụt tiền mặt các NHTM phải vay thêm tiềnmặt, thường là từ NHTƯ để đảm bảo tỷ lệ dự trữ bắt buộc Đây là một trong những công cụcủa NHTƯ nhằm thực hiện chính sách tiền tệ bằng cách làm thay đổi số nhân tiền tệ
Trang 34b Đặc điểm tỷ lệ dự trữ bắt buộc
Dự trữ bắt buộc là một trong ba công cụ chính của chính sách tiền tệ, hai công cụ còn lại
là nghiệp vụ thị trường mở và lãi suất chiết khấu Các ngân hàng cho khách hàng vay tiềndựa trên một phần tiền mặt mà họ có trong tay Chính phủ đưa ra yêu cầu để đổi lấy khả năngnày: dự trữ một khoản tiền gửi nhất định để trang trải cho việc rút tiền có thể xảy ra Số tiềnnày được gọi là dự trữ bắt buộc, và đó là tỉ lệ mà các ngân hàng phải giữ trong dự trữ vàkhông được phép cho vay
Như vậy, có thể thấy rằng công cụ dự trữ bắt buộc mang tính chất của sự áp đặt trực tiếp, đầy quyền lực và cực kỳ quan trọng để điều khiển lạm phát, theo đó có thể khôi phục
hoạt động kinh tế trong trường hợp nền kinh tế phát triển chưa ổn định và khi các công cụ thịtrường mở tái chiết khấu chưa đủ mạnh để có thể đảm trách điều hoà mức cung tiền tệ chonền kinh tế
Bên cạnh đó rất dễ nhận ra công cụ dự trữ bắt buộc quá nhạy cảm Khi thay đổi nhỏ
trong tỷ lệ dự trữ bắt buộc đã làm cho khối lượng tiền tăng lên rất lớn khó kiểm soát Bêncạnh đó, một điều bất lợi nữa là khi sử dụng công cụ dự trữ bắt buộc để kiểm soát cung ứngtiền tệ như việc tăng dự trữ bắt buộc có thể gây nên vấn đề khả năng thanh khoản ngay đốivới một ngân hàng có dự trữ vượt mức quá thấp, thay đổi tỷ lệ dự trữ bắt buộc không ngừngcũng gây nên tình trạng không ổn định cho các ngân hàng Chính vì vậy sử dụng công cụ dựtrữ bắt buộc để kiểm soát cung tiền tệ qua đó kiểm soát lạm phát ít được sử dụng trên thế giới
và đặc biệt là những nước phát triển , có nền kinh tế ổn định
c Cách tỷ lệ dự trữ bắt buộc tác động đến mức cung tiền
Phân tích dựa trên công thức:
MS=m × MB(1)
m= s+1
s +rb+ℜ (2)
TH1: Khi tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc (tăng rb), các ngân hàng sẽ phải dự trữ nhiều hơn thì
theo công thức số 2 số nhân tiền tệ sẽ giảm xuống từ đó với cùng một lượng tiền cơ sở ban đầu sẽ kéo theo mức cung tiền MS giảm (theo công thức số 1) Từ đây ta thấy, NHTƯ đang
áp dụng chính sách tiền tệ thắt chặt Thực tế được minh họa bởi hình vẽ dưới đây:
Hình 1.30: Ngân hàng Trung ương áp dụng Chính sách tiền tệ thắt chặt
Nguồn ảnh: Slides bài giảng
TH2: Khi giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc (giảm rb) Thì theo công thức số 2, số nhân tiền tệ sẽ
tăng lên từ đó kéo theo mức cung tiền MS giảm (theo công thức số 1) Từ đây ta thấy, NHTƯđang áp dụng chính sách tiền tệ nới lỏng
d Vai trò của dự trữ bắt buộc trong việc kiểm soát lạm phát
Trong hoạt động tín dụng và thanh toán, các NHTM có khả năng biến những khoản tiềngửi ban đầu thành những khoản tiền gửi mới cho cả hệ thống, khả năng sinh ra bội số tíndụng, tức là khả năng tạo tiền Để khống chế khả năng này, NHTƯ buộc các NHTM phải
Trang 35trích một phần tiền huy động được theo một tỷ lệ quy định gửi vào NHTƯ không đượchưởng lãi.
Khi lạm phát cao, NHTƯ tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc, khả năng cho vay và khả năng thanhtoán của các ngân hàng bị thu hẹp cụ thể đó là do số nhân tiền tệ giảm, khối lượng tín dụngtrong nền kinh tế giảm thì cung tiền giảm dẫn tới lãi suất tăng, đầu tư giảm do đó tổng cầugiảm và làm cho giá giảm thì tỷ lệ lạm phát giảm Ngược lại nếu NHTƯ quyết định giảm tỷ
lệ dự trữ bắt buộc tức là tăng khả năng tạo tiền, thì cung về tín dụng của các NHTM cũngtăng lên, khối lượng tín dụng thì cung tiền tăng và khối lượng thanh toán có xu hướng tăngdẫn tới lãi suất giảm, đồng thời tăng xu hướng mở rộng khối lượng tiền Lý luận tương tựnhư trên thì việc tăng cung tiền sẽ dẫn tới tăng giá thì tức là tỷ lệ lạm phát tăng
Các công cụ dự trữ bắt buộc cực kỳ quan trọng để điều khiển lạm phát, khôi phục hoạtđộng kinh tế trong trường hợp nền kinh tế phát triển chưa ổn định và khi các công cụ thịtrường mở tái chiết khấu chưa đủ mạnh để có thể đảm trách điều hoà mức cung tiền tệ chonền kinh tế
Ngân hàng Trung ương cũng có thể tác động tới cung ứng tiền tệ thông qua tỉ lệ dự trữbắt buộc Tỉ lệ dự trữ bắt buộc ảnh hưởng đến lượng tiền mà hệ thống ngân hàng có thể tạo ra
từ mỗi đồng dự trữ Sự gia tăng tỉ lệ dự trữ bắt buộc hàm ý các ngân hàng phải dự trữ nhiềuhơn, do đó cho vay ít hơn từ mỗi đồng mà nó nhận được dưới dạng tiền gửi Kết quả là, nólàm tăng tỉ lệ dự trữ, làm giảm số nhân tiền và làm giảm cung tiền Ngược lại, biện pháp cắtgiảm tỉ lệ dự trữ bắt buộc làm tăng số nhân tiền và cung tiền
Nhìn chung, các ngân hàng trung ương rất ít khi thay đổi tỉ lệ dự trữ bắt buộc bởi vì sựthay đổi thường xuyên có thể làm gián đoạn hoạt động kinh doanh của ngành ngân hàng
1.3.3 Lãi suất chiết khấu
a Khái niệm lãi suất chiết khấu
Công cụ thứ ba mà ngân hàng trung ương có thể sử dụng để kiểm soát cung tiền là lãisuất chiết khấu, tức lãi suất mà ngân hàng trung ương áp dụng khi cho các ngân hàng thươngmại vay tiền Khi không đủ dự trữ bắt buộc, ngân hàng thương mại phải vay tiền của ngânhàng trung ương Tình huống này có thể xảy ra bởi vì ngân hàng đã cho vay quá nhiều hoặcbởi vì có quá nhiều các khoản tiền được rút ra Khi ngân hàng trung ương cho một ngân hàngvay tiền, hệ thống ngân hàng sẽ có nhiều dự trữ hơn và họ có thể tạo ra nhiều tiền hơn Ngânhàng trung ương có thể thay đổi cung ứng tiền tệ bằng cách thay đổi lãi suất chiết khấu Lãisuất chiết khấu càng cao, các ngân hàng càng ít vay tiền của ngân hàng trung ương để bù đắp
dự trữ
Đồng thời, để có thể đáp ứng được nhu cầu rút tiền của khách hàng trong khi ít vay tiềnhơn từ ngân hàng trung ương, các ngân hàng thương mại có xu hướng tăng tỉ lệ dự trữ và làmgiảm số nhân tiền Bởi vậy, biện pháp tăng lãi suất chiết khấu có xu hướng làm giảm cơ sởtiền và số nhân tiền, dẫn đến cung ứng tiền tệ giảm Ngược lại, biện pháp giảm lãi suất chiếtkhấu sẽ khuyến khích các ngân hàng vay tiền nhiều tiền hơn từ ngân hàng trung ương và dựtrữ với tỉ lệ thấp hơn, dẫn tới cơ sở tiền và số nhân tiền tăng và cung ứng tiền tệ tăng
b Cách lãi suất chiết khấu tác động đến mức cung tiền
Phân tích dựa trên công thức:
MS=m × MB(1)
Trang 36m= s+1
s +rb+ℜ (2)Khi NHTƯ tăng lãi suất chiết khấu, các NHTM phải trải giá cao hơn cho các khoản vay
từ NHTƯ, NHTM vay NHTƯ ít hơn và tăng dự trữ bổ sung (tăng re) Khi đó tỷ lệ dự trữthực tế của các NHTM tăng làm hạn chế khả năng tạo tiền của các NHTM ( khi đó, theocông thức số 2 thì số nhân tiền tệ sẽ giảm) và do đó mức cung tiền MS giảm theo Ngoài ra,khi NHTM giảm vay của NHTƯ sẽ làm cho lượng tiền cơ sở MB có thể giảm nên, theo côngthức số 1, mức cung tiền MS giảm theo Ngược lại, khi NHTƯ giảm lãi suất chiết khấu, theonhư phân tích trên, cung tiền sẽ tăng
c Tác động của lãi suất chiết khấu đối với Ngân hàng Thương mại
Bản chất của lãi suất chiết khấu cho thấy rõ vai trò quan trọng của nó Qua đó, có thể kể
đến những tác động sau: Mức lãi chiết khấu do NHTƯ quy định mang đến những tác động
lớn Theo đó đầu tiên với các NHTM thì nó chính là căn cứ quan trọng Hơn hết các ngânhàng luôn theo dõi, cập nhật sát sao mức lãi chiết khấu
Lãi chiết khấu ảnh hưởng trực tiếp đến tỷ lệ dự trữ tiền mặt từ các ngân hàng Nó là căn
cứ giúp các NHTM quyết định giảm hay tăng tỷ lệ dự trữ Cụ thể các NHTM luôn so sánh lãichiết khấu với lãi thị trường Nếu trường hợp lãi chiết khấu cao hơn thì ngân hàng sẽ khôngthể để tỷ lệ tiền dự trữ quá thấp Nhất là ngân hàng tránh tỷ lệ tiền dự trữ chạm mốc an toàn.Đặc biệt ngân hàng còn có xu hướng tăng tỷ lệ dự trữ để đảm bảo không xảy ra rủi ro khikhách hàng rút tiền
Ngược lại nếu lãi chiết khấu bằng hay thấp hơn thì ngân hàng sẽ có thể thoải mái chovay Chỉ cần dừng lại ở mức tỷ lệ an toàn tối thiểu là được Bởi lúc này nếu thiếu tiền mặtngân hàng hoàn toàn có thể vay từ ngân hàng nhà nước, mức lãi suất ngân hàng được hưởng
sẽ không gây ra những rủi ro
d Tác động của lãi suất chiết khấu đối với Ngân hàng Trung ương
Lãi chiết khấu tác động đến các NHTM là điều dĩ nhiên Tuy nhiên quan trọng hơn nóvẫn là công cụ đắc lực của ngân hàng nhà nước NHTƯ sẽ quy định lãi chiết khấu để điều tiếtcung tiền Theo đó nếu ngân hàng muốn tăng lượng cung tiền thì sẽ giảm lãi cho vay, ngượclại cho ngân hàng muốn giảm lượng cung tiền thì sẽ tăng lãi chiết khấu; bởi vì khi lãi chiếtkhấu tăng thì NHTM sẽ giảm cho vay
1.4 CƠ CHẾ TÁC ĐỘNG CỦA CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ
Chính sách tiền tệ làm thay đổi mức cung tiền, thay đổi lãi suất, tác động đến tiêu dùng(C), đầu tư (I) và xuất khẩu ròng (NK), từ đó tác động đến tổng cầu, làm thay đổi sản lượng,giá cả và việc làm trong nền kinh tế
1.4.1 Cơ chế tác động của chính sách tiền tệ thắt chặt
Khi nền kinh tế tăng trưởng nóng, lạm phát cao, Chính phủ dùng chính sách tiền tệ thắt
chặt để giảm tổng cầu, từ đó giảm lạm phát và giảm tăng trưởng nóng
Đồ thị 1.31: Thị trường tiền tệ khi áp dụng chính sách tiền tệ thắt chặt
Trang 37Nguồn: Slide bài giảng Kinh tế vĩ mô
Cung tiền giảm (MS1 → MS2) làm tăng lãi suất (r1 → r2)
Đồ thị 1.32 Thị trường đầu tư khi áp dụng chính sách tiền tệ thắt chặt
Nguồn: Slide bài giảng Kinh tế vĩ mô
Lãi suất tăng ⇒ giảm đầu tư I (I1 → I2), ngoài ra còn làm giảm C, NX
Đồ thị 1.33: Mô hình AD-AS khi áp dụng chính sách tiền tệ thắt chặt
Nguồn: Slide bài giảng Kinh tế vĩ mô
Tổng cầu giảm (AD1 → AD2) làm cho sản lượng cân bằng và giá cả giảm (Y1 → Y*, P1 → P0)
1.4.2 Cơ chế tác động của chính sách tiền tệ mở rộng
Khi nền kinh tế suy thoái, thất nghiệp cao, Chính phủ dùng chính sách tiền tệ mở rộng để
tăng tổng cầu, từ đó thúc đẩy tăng trưởng, giảm thất nghiệp
Đồ thị 1.34 Thị trường tiền tệ khi áp dụng chính sách tiền tệ mở rộng
Trang 38Nguồn: Slide bài giảng Kinh tế vĩ mô
Cung tiền tăng (MS1 → MS2) làm giảm lãi suất (r1 → r2)
Đồ thị 1.35 Thị trường đầu tư khi áp dụng chính sách tiền tệ mở rộng
Nguồn: Slide bài giảng Kinh tế vĩ mô
Lãi suất giảm ⇒ tăng đầu tư I (I1 → I2), ngoài ra còn làm tăng C, NX
Đồ thị 1.36 Mô hình AD-AS khi áp dụng chính sách tiền tệ mở rộng
Nguồn: Slide bài giảng Kinh tế vĩ mô
Tổng cầu tăng (AD1 → AD2) làm cho sản lượng cân bằng và giá cả tăng (Y1 → Y*, P1
Trang 39tiễn) dài hơn CSTK Không những thế, chính sách tiền tệ có khả năng mất tác dụng khi mứclãi suất đã tương đối thấp Lúc này mở rộng cung tiền không tác động nhiều đến đầu tư.Ngoài ra, lạm phát vẫn cao, mặt bằng lãi suất quá cao, có phần chưa được hợp lý Trongbối cảnh áp lực lạm phát toàn cầu ngày càng tăng cao, nhu cầu sản xuất và tiêu dùng tăng lên,giá nguyên nhiên vật liệu đầu vào cho sản xuất, giá cước vận chuyển liên tục tăng Việc nhậpkhẩu nguyên liệu với mức giá cao sẽ ảnh hưởng đến chi phí sản xuất, giá thành sản phẩm, từ
đó đẩy giá hàng hóa tiêu dùng trong nước lên cao, tạo áp lực cho lạm phát
Huy động vốn NHTM khó khăn, thanh khoản trong hệ thống ngân hàng thường căngthẳng, nhưng về tốc độ tăng dư nợ của các NHTM vẫn cao Có thể lý giải bởi các nguyênnhân như: dịch vụ ngân hàng ngoài hoạt động tín dụng chưa được mở rộng và phát triển tốt,thu lãi từ hoạt động tín dụng vẫn là nguồn thu chủ yếu của các NHTM, cơ chế chính sách vàmôi trường kinh doanh nói chung lại tạo động lực và có dư địa để các ngân hàng tăng trưởng
tín dụng mạnh mẽ: huy động vốn với lãi suất cao; lãi suất cho vay không bị khống chế (Khan Aubhik et al., 2003)
Một hạn chế khác của chính sách tiền tệ là thị trường liên ngân hàng chưa được tổ chức
và kiểm soát tốt Trong những năm trước đây, khi mà lạm phát có xu hướng tăng cao, ngânhàng nhà nước vẫn điều hành chính sách tiền tệ theo hướng tiếp tục giữ nguyên mức lãi suấtđiều hành của ngân hàng nhà nước, chỉ tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc với VND và ngoại tệ nhằm
hạn chế gia tăng tín dụng, hút tiền từ lưu thông (Theo Hồng Anh, 2021).
Kỷ luật thị trường chưa được nghiêm minh, hoạt động ngân hàng còn thiếu minh bạch.Thị trường chứng khoán phụ thuộc nhiều vào dòng vốn tài trợ từ hệ thống ngân hàng và hiệnnay đang suy giảm mạnh
Trang 40CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ VÀ SỰ TÁC ĐỘNG CỦA CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ ĐẾN SẢN LƯỢNG VÀ LẠM PHÁT Ở VIỆT
NAM GIAI ĐOẠN TỪ NĂM 2020 ĐẾN NĂM 2021
2.1 BỐI CẢNH TÌNH HÌNH KINH TẾ THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM GIAI ĐOẠN TỪ NĂM 2020 ĐẾN NĂM 2021
2.1.1 Bối cảnh kinh tế thế giới năm 2020 - 2021
a Năm 2020
Năm 2020 có lẽ sẽ đi vào lịch sử thế giới như một năm đen tối nhất bởi sự suy thoái chưatừng có tiền lệ kể từ Chiến tranh thế giới thứ II Đại dịch COVID-19 gây ra những tác độngnghiêm trọng và chưa từng có tiền lệ đối với kinh tế thế giới, khi khủng hoảng y tế dẫn đến
sự suy giảm của các hoạt động kinh tế thế giới do các biện pháp đối phó với dịch bệnh nhưcách ly, phong tỏa, hạn chế đi lại Dịch bệnh đã làm đứt gãy chuỗi cung ứng, thu hẹp cả tổngcung và tổng cầu, đưa nền kinh tế thế giới vào vòng suy giảm, ngay cả các cường quốc (Hoa
Kỳ, Trung Quốc, EU, Nhật Bản, ) cũng phải lao đao
Thương mại phục hồi nhưng còn khá mong manh: Theo Tổ chức Thương mại Thế
giới (WTO), thương mại hàng hóa thế giới phục hồi mạnh mẽ nhưng việc duy trì tăng trưởngtrong tương lai vẫn chưa rõ ràng Chỉ số Thước đo thương mại hàng hóa tăng mạng là do
“đơn đặt hàng xuất khẩu” tăng, nhưng các kết quả khác nhau ở các yếu tố khác và sự daidẳng của dịch COVID-19 có thể ảnh hưởng đến thương mại trong thời gian tới Làn sóng lâynhiễm COVID-19 thứ hai diễn ra ở Châu Âu và Bắc Mỹ dẫn đến một đợt đóng cửa kinh
doanh và kiệt quệ tài chính
Theo Ngân hàng Thế giới (WB), thương mại toàn cầu cải thiện không đồng đều Dữ liệugần đây cho thấy tốc độ phục hồi của thương mại toàn cầu đang chậm lại Trong tháng10/2020, các đơn hàng xuất khẩu mới của lĩnh vực chế biến chế tạo giảm 0,5 điểm xuống còn51,2 điểm và lĩnh vực dịch vụ giảm hơn 75% trong tháng 9
Giá cả trên thị trường hàng hóa có xu hướng phục hồi: Giá hàng hóa có xu hướng tăng
nhờ tín hiệu tích cực từ sản xuất vaccine Trong tháng 11, một số mặt hàng, đặc biệt là dầuthô, đã tăng giá mạnh do việc công bố vaccine COVID-19 có hiệu lực đã làm tăng niềm tincủa các nhà đầu tư, thúc đẩy triển vọng phục hồi nhu cầu dầu Trong tháng 12/2020, giá kimloại tăng nhẹ đồng thời giá hàng hóa nông nghiệp tiếp tục có mức tăng khiêm tốn
Dòng vốn đầu tư nước ngoài có xu hướng phục hồi: Báo cáo của WB cho thấy tâm lý
lạc quan đã thúc đẩy sự phục hồi dòng vốn đầu từ vào các nền kinh tế mới nổi và đang pháttriển Hầu hết các thị trường chứng khoán của các quốc gia này đã phục hồi trong tháng 11,nhưng vẫn ở mức trước đại dịch
IMF nhận định lợi suất nợ công tại các thị trường mới nổi nhìn chung đã giảm trongnhững tháng gần đây Thị trường chứng khoán tại các thị trường mới nổi và các nền kinh tếđang phát triển cũng đã tăng lên kể từ tháng 6 (đặc biệt là Trung Quốc) Các bước hỗ trợthanh khoản đồng đô la cùng với sự phục hồi tại Trung Quốc, đã giúp khơi dậy dòng vốn đầu
tư vào một số thị trường mới nổi Tuy nhiên, sự phục hồi của dòng vốn đầu tư gián tiếpkhông đồng đều giữa các quốc gia đang phát triển và mới nổi