1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Điểm lại các nghiên cứu hóa học và hoạt tính sinh học một số loài sinh vật biển Việt Nam trong giai đoạn 2013 - 2017

19 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 19
Dung lượng 1,57 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Điểm lại các nghiên cứu hóa học và hoạt tính sinh học một số loài sinh vật biển Việt Nam trong giai đoạn 2013‐2017 Tạp chí Hóa học, 2018, 56(1), 1 19 Bài tổng quan DOI 10 15625vjc 2018 0001 1 Wiley O.

Trang 1

DOI: 10.15625/vjc.2018-0001

Điểm lại các nghiên cứu hóa học và hoạt tính sinh học

một số loài sinh vật biển Việt Nam trong giai đoạn 2013-2017

Nguyễn Xuân Cường 1 , Nguyễn Xuân Nhiệm 1 , Nguyễn Văn Thanh 1

, Bùi Hữu Tài 1 , Đoàn Thị Mai Hương 1 , Phạm Văn Cường 1

, Nguyễn Hoài Nam 1 , Phạm Quốc Long 2

, Phan Văn Kiệm 1 , Châu Văn Minh 1*

1 Viện Hóa sinh biển, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VAST)

2 Viện Hóa học các Hợp chất thiên nhiên, VAST

Đến Tòa soạn 01-9-2017; Chấp nhận đăng 15-12-2017

Abstract

This paper reviews the investigations on marine natural products in Vietnam published in period of 2013-2017 from sponges, corals, echinoderms, mollusks, and microorganisms About 415 compounds were isolated and structure elucidated including 33 saponins (15 new compounds), 143 steroids (30 new compounds), 38 steroid glycosides (20 new compounds), 33 diterpenes (20 new compounds), 53 sesquiterpenes (27 new compounds), 12 cyclopeptides, 7 pyrrole and furan oligoglycosides (6 new compounds), 10 biscembranoids (2 new compounds), 15 triterpenes (14 new compounds), and 71 other compounds (8 new compounds) Many compounds have unique structures and exhibited potential biological effects including cytotoxic, anti-inflammatory, and anti-microbial activities

Keywords Vietnam marine natural product, sponge, coral, echinoderm, mollusk, marine microorganism

1 GIỚI THIỆU CHUNG

Ở giai đoạn trước đây, nghiên cứu hóa học các hợp

chất thiên nhiên biển ở Việt Nam đã tập trung về

thành phần hóa học, hoạt tính sinh học và tiềm năng

ứng dụng của các loài sinh vật biển thuộc nhóm hải

miên (sponges), san hô mềm (soft coral), da gai

(echinoderms) và một số loài khác, các kết quả này

đã được trình bày tóm tắt trong công trình tổng quan

giai đoạn 2006-2012.[1]

Trong bài tổng quan này, chúng tôi tiếp tục trình bày tóm tắt các nghiên cứu

về thành phần hóa học và hoạt tính sinh học một số

loài sinh vật biển Việt Nam trong giai đoạn

2013-2017 nhằm đem đến cho độc giả bức tranh về nghiên

cứu các chất có hoạt tính sinh học từ các loài sinh

vật biển ở Việt Nam hiện nay

2 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU HÓA HỌC VÀ

HOẠT TÍNH SINH HỌC

Tiếp nối các kết quả đã đạt được trong các giai đoạn

trước, các nghiên cứu về sinh vật biển Việt Nam

trong giai đoạn 2013-2017 tập trung chủ yếu vào các

nhóm hải miên, san hô mềm, da gai, thân mềm và vi

sinh vật biển Kết quả cho thấy các hợp chất chiết

xuất được thuộc các nhóm chất: saponin, steroit,

steroit glycosit, đitecpen, sesquitecpen,

cyclopeptide, tritecpen và một số nhóm chất khác

Ngoài ra, kết quả nghiên cứu hoạt tính sinh học cho thấy các nhóm chất này có tiềm năng về khả năng gây độc các tế bào ung thư thử nghiệm, kháng sinh, kháng viêm

2.1 Nhóm chất saponin

Một nhóm các hợp chất rất đặc trưng, thường được phát hiện từ các sinh vật ngành da gai đó là các saponin Các saponin ở hải sâm là các tritecpen glycosit, hầu hết thuộc khung holostane, còn các saponin từ sao biển lại là các asterosaponin, các

steroit glycosit Từ loài hải sâm Stichopus chloronotus, một hợp chất saponin mới là

stichloroside F (1) cùng với stichoposide D (2),

stichloroside A2 (3), stichoposide E (4), neothyonidioside (5) và holothurin B (6) đã được

phân lập và xác định cấu trúc.[2]

Hợp chất 6 và echinoside B (7) cũng được phân lập từ hải sâm

Holothuria atra.[3] Các nghiên cứu tiếp theo của nhóm tác giả đã phân lập được năm hợp chất

saponin mới là cercodemasoide A–E (8–12) cùng với colochiroside A (13) và philinopside A (14) từ

loài hải sâm Cercodemas anceps Trong số các hợp

chất đã phân lập được, hai hợp chất 8 và 13 thể hiện

hoạt tính gây độc tế bào rất mạnh trên hai dòng tế bào ung thư KB (biểu mô) và Hep-G2 (gan) với giá trị IC50 từ 30 đến 70 nM và thể hiện hoạt tính mạnh

Trang 2

trên các dòng tế bào ung thư LNCaP (tuyến tiền

liệt), MCF7 (vú) và SK-Mel2 (da) với giá trị IC50

trong khoảng từ 0,11 đến 0,24 M Hoạt tính mạnh

cũng được ghi nhận ở hợp chất 9 và 14 trên tất cả

năm dòng tế bào ung thư được thử nghiệm với giá trị

IC50 trong khoảng từ 0,11 đến 1,47 M và ở các hợp

chất 10-12 trên hai dòng tế bào KB và MCF7 (IC50

từ 0,32 đến 1,37 M) và 10 trên dòng tế bào

SK-Mel2 (IC50 = 1,25±0,22 M) Hoạt tính này của các

saponin mạnh hơn chất đối chứng dương ellipticine

Ngoài ra, các hợp chất 10-12 thể hiện hoạt tính tốt

trên hai dòng tế bào LNCaP và Hep-G2 với giá trị

IC50 từ 1,92 đến 6,08 M và hai hợp chất 11 và 12

thể hiện hoạt tính tốt trên dòng SK-Mel2 với IC50 =

4,09±0,26 và 7,36±0,46 M.[4]

Gần đây, từ loài hải sâm Stichopus horrens, bốn

hợp chất saponin mới là stichorrenoside A D

(15-18) cùng với stichoposide A (19), stichoposide B

(20), 3β-O-[β-D-xylopyranosyl-(1 2)-β-D

-xylopyranosyl]-23S-acetoxyholost-7-ene (21) và

3β-O-[β-D-xylopyranosyl-(1 2)-β-D

-xylopyran-osyl]-23S-hydroxyholost-7-ene (22) đã được phân lập và

xác định cấu trúc Hợp chất 16 có chứa đơn vị

đường 4-O-sodium sulfate-β-D-glucopyranose rất

hiếm gặp và đây lần đầu tiên được tìm thấy ở các

hợp chất saponin từ hải sâm Các hợp chất 18, 19 và

21 thể hiện hoạt tính gây độc tế bào mạnh trên tất cả

năm dòng tế bào ung thư được thử nghiệm là

Hep-G2, KB, LNCaP, MCF7 và SK-Mel2 với giá trị IC50

trong khoảng từ 1,92 đến 3,13 µM, khi so sánh với

chất đối chứng dương: ellipticine (IC50 từ 1,34 đến

1,95 µM) Các hợp chất 17 và 20 thể hiện hoạt tính

đáng kể với IC50 từ 5,28 đến 11,00 µM, trong khi

các hợp chất còn lại thể hiện hoạt tính trung bình với

giá trị IC50 từ 33,48 đến 59,31 µM.[5]

Từ loài sao biển Astropecten monacanthus, bốn

hợp chất asterosaponin mới là astrosterioside A−D

(23-25 và 27), cùng với hai hợp chất đã biết là psilasteroside (26) và marthasteroside B (28) đã

được phân lập và xác định cấu trúc.[6]

Hai hợp chất

26 và 28 gần đây được nhóm tác giả phân lập từ loài

sao biển Astropecten polyacanthus.[7]

Hợp chất

asterosaponin mới novaeguinoside E (29) cùng với

6α-[(O-β-D-fucopyranosyl-(l 2)-O-β-D -galacto-pyranosyl-(l 4)-O-[β-D-quinovopyranosyl-(l

2)]-O-β-D-xylopyranosyl-(l 3)-O-β-D

-quinovopyran-osyl)oxy]-5-α-pregn-9(11)-en-20-one (30) được

phân lập từ loài sao biển Culcita novaeguineae;[8]

30

và thornasteroside A (31) từ loài sao biển

Acanthaster planci;[9] và gần đây maculatoside (32)

và protoreasteroside (33) từ loài sao biển

Pentaceraster gracilis.[10]

Nghiên cứu hoạt tính sinh học của các hợp chất

asterosaponin từ sao biển cho thấy: Hợp chất 27, với

hai nhóm keton ở mạch nhánh, thể hiện khả năng ức chế rất mạnh sự sản sinh của protein tiền viêm IL-12

p40, IL-6 và TNF-α với giá trị IC50 lần lượt là 0,60±0,02, 3,51±0,25 và 1,21±0,06 M Hoạt tính

của hợp chất 27 tương đương với chất đối chứng

dương được sử dụng là SB203580 (IC50 tương ứng

là 5,00±0,15, 3,50±0,25 và 7,50±0,21 µM) Các hợp

chất 23 và 28 ức chế mạnh sự sản sinh IL-6.[6]

Với cấu trúc hóa học độc đáo và hoạt tính sinh học tiềm

năng, hợp chất 23 đã được các nhà khoa học trên thế

giới nghiên cứu tổng hợp toàn phần.[11]

Ngoài ra,

hợp chất 27 thể hiện hoạt tính mạnh trên cả ba dòng

Trang 3

tế bào ung thư thử nghiệm là HL-60 (ung thư máu

cấp tính), PC-3 (tuyến tiền liệt) và SNU-C5 (ruột)

với giá trị IC50 trong khoảng từ 4,31 đến 6,99 μM

Nghiên cứu tiếp theo cho thấy cặn chiết MeOH loài

sao biển A monacanthus và hợp chất 27 kích thích

quá trình chết theo chương trình (apoptosis) ở tế bào

HL-60 được xác nhận bởi sự gia tăng các thể

apoptosis ở các tế bào được xử lý khi nhuộm với

thuốc nhuộm Hoechst 33342 và thông qua việc điều

tiết giảm con đường ERK 1/2 và C-myc ở tế bào

HL-60, PC-3 và SNU-C5.[12]

2.2 Nhóm chất steroit

Nhóm chất steroit được phân lập phổ biến ở các loài

hải miên, san hô mềm và da gai Từ loài hải miên

Clathria vulpina, nhóm tác giả đã phân lập và xác

định cấu trúc hóa học của ba hợp chất steroit là

3β-hydroxycholest-5-en-7-one (34),

stigmast-4-ene-3-one (35) và stigmast-4-ene-3,6-distigmast-4-ene-3-one (36) có chứa

nhóm chức xeton ở C-3, C-6, hoặc C-7.[13]

Các hợp chất này thể hiện tác dụng gây độc tế bào yếu với

các dòng ung thư HepG-2, KB, LU-1, MCF-7

LNCaP, SW-480, MKN-7, HL-60 với giá trị IC50

nhỏ nhất 37,12 µg/mL Steroit 34 sau đó còn được

phân lập từ loài hải miên Halicona varia[14]

và sò

huyết Anadara granosa.[15]

Hai hợp chất

polyhydroxy steroit với cấu hình 24S là

(24S)-ergostane-3β,5α,6β,25-tetraol-25-acetate (37)

(24S)-ergostane-1β,3β,5α,6β,25-pentaol-25-acetate

(38), đã được phân lập từ hai loài hải miên Petrosia

nigricans và Amorphinopsis excavans Cả hai hợp

chất này không thể hiện khả năng gây độc tế bào với

các tế bào ung thư thử nghiệm.[16,17]

Nghiên cứu về hóa học loài hải miên Haliclona

subarmigetra và Ianthella basta, nhóm tác giả đã

phân lập và xác định được cấu trúc hóa học của năm

hợp chất steroit từ loài H subarmigeta (39-43) và

một hợp chất steroit từ loài I basta (44) bao gồm

cholesterol (43) và năm dẫn xuất của nó,

ergosta-1β,3β,5α,6β-tetraol (39), saringosterol (40),

24-hydroperoxy-24-vinylcholesterol (41),

5,8-epidioxy-cholest-6-en-3-ol (42), 24-oxocholesterol (44).[18,19]

Trong đó, saringosterol (40) và hợp chất tương tự

saringosterol với nhóm thế hydroperoxy tại C-24

(41), 5,8-epidioxycholestrol (42) thể hiện tác dụng

gây độc tế bào tốt trên tám dòng tế bào ung thư người thử nghiệm là HepG-2, KB, LU-1, MCF-7, LNCaP, SW-480, MKN-7 và HL-60 với giá trị IC50 trong khoảng 1,23-26,06 µg/mL Đáng lưu ý là

steroit 42 gây chết các tế bào ung thư thử nghiệm ở

các giá trị IC50 nhỏ hơn 3,00 µg/mL Saringosterol sau đó còn được phân lập từ một số loài hải miên

khác như Stylissa flabelliformis, Haliclona oculata,

Acanthella obtusa Đồng thời, hợp chất 42 cũng

được tìm thấy có trong các loài S flabelliformis, Haliclona varia, Acanthella obtusa và Dysidea fragilis

Ngoài ra, hai steroit khác với cấu trúc 5α,8α-epidioxy là 5α,8α-

5α,8α-epidioxycholesta-6,9(11)-dien-3β-ol (45) và 5α,8α-epidioxy-24(S)-methylch5α,8α-epidioxycholesta-6,9(11)-dien-3β-olesta- 5α,8α-epidioxy-24(S)-methylcholesta-6,22-dien-3β-ol (46) cũng lần lượt được phân lập từ

hai loài hải miên Acanthella obtusa và Haliclona varia.[20] Bên cạnh đó, từ loài hải miên H varia

nhóm nghiên cứu còn phân lập được năm steroit là

solomonsterol A (47), 22(E)-3β-hydroxycholesta-5,22-dien-7-one (48), 3β,7α-dihydroxycholest-5-ene (49), 3β,7β-dihydroxycholest-5-ene (50) và

3β,6α-dihydroxy-4-ene-cholestane (51).[14,20] Hợp chất 48

cũng được phân lập từ sò huyết A granosa.[15]

Trong

đó, steroit 47 được xác định là solomonsterol A có

cấu trúc hóa học khá đặc biệt bao gồm ba nhóm thế natri sulfat Sự có mặt của ba nhóm chức này đã được xác định dựa trên phân tích phổ khối lượng bằng các phân mảnh ion có sự mất dần các nhóm natri sulfat.[20] Trong số các steroit này, hợp chất 48

Trang 4

thể hiện hoạt tính gây độc tế bào mạnh nhất với giá

trị IC50 9,32, 7,38, 8,22, 6,22, 9,44, 8,74, 3,60, 8,30

và 5,97 µg/ml lần lượt trên các dòng tế bào ung thư

KB, MCF-7, LU-1, HepG2, LNCaP, SKMeI2, P388,

SW480 và PC-3

Hai steroit 49 và 50 được xác định là đồng phân

epimer của nhau tại C-7 Kết quả thử hoạt tính gây

độc tế bào ung thư cho thấy steroit 50 với nhóm OH

tại C-7 định hướng beta thể hiện hoạt tính gây độc tế

bào ung thư trên cả tám dòng tế bào thử nghiệm với

giá trị IC50 từ 6,18 đến 52,47 µg/mL Trong khi đó,

steroit 49 chỉ có tác dụng gây độc trên hai dòng tế

bào ung thư thử nghiệm P388 và PC-3 (IC50 = 31,37

và 81,93 µg/mL) Đồng thời, steroit 51 với cấu trúc

steroit có liên kết đôi ở C-4/C-5 và nhóm hydroxi tại

C-6 cũng không thể hiện hoạt tính gây độc tế bào

trên các dòng tế bào ung thư thử nghiệm

Bên cạnh các steroit trên, từ các loài hải miên

Amorphinopsis excavans, Stylissa flabelliformis và

Haliclona oculata, nhóm nghiên cứu còn phân lập

được thêm các steroit

24-methylenecholest-4-en-3β,6β-diol (52), 3β-hydroxy-5-cholenic acid methyl

ester (53), ergosta-6,22-dien-3β,5α,8α-triol (54),

(24S)-ergostane-3β,5α,6β,25-tetraol (55),

29-hydroxystigmasta-5,24(28)-dien-3β-ol (56)

cholest-7-en-3β,5α,6β-triol (57).[21,22] Trong số các

steroit 52 57, hợp chất 57 thể hiện tác dụng gây độc

tế bào ung thư tốt hơn cả với giá trị IC50 trong

khoảng 10,32-13,99 µg/mL Hợp chất 57 và hai

steroit khác có cấu trúc vòng cầu epoxy tại C-5/C-6

(24S)-5α,6α-epoxy-24-methylcholest-8(14)-en-3β,7α-diol (58) (24S)

5α,6α-epoxy-24-ethylcholest-8(14)-en-3β,7α-diol (59) cũng phân lập

được từ loài hải miên Haliclona cinera Hợp chất 59

thể hiện tác dụng gây độc tế bào trên cả tám dòng tế

bào ung thư thử nghiệm với giá trị IC50 từ 28,08 đến

50,03 µg/mL Tiếp đó, một seteroit

5α,6α-epoxy-24-ethylcholesta-8-en-3β,7α-diol (60) là đồng phân về

vị trí liên kết đôi (tại C-8/C-9) của 59, cùng với bốn

hợp chất steroit khác là

5α,8α-epidioxy-24R-ethylcholest-6-en-3β-ol (61), 24-norcholesta-5,22-dien-3β-ol (62), 24-methylenecholest-5-en-3β-ol

(63) và hợp chất 46 đã được tìm thấy khi nghiên cứu

về thành phần hóa học loài hải miên Tethya aurantium.[23]

Các steroit có cấu trúc vòng epoxy tại C-5/C-6 còn được phát hiện thấy có trong loài hải miên

Ircinia echinata bao gồm melithasterol A (64), 5α,6α-epoxycholest-8(14)-ene-3β,7α-diol (65) và

topsentisterol B5 (66).[24,25] Các hợp chất này đều thể hiện tác dụng gây độc tế bào đáng kể với giá trị IC50

từ 4,53 tới 23,99 µg/mL trên các dòng tế bào ung thư HepG2, HL-60, KB, LNCaP, LU-1 và MCF-7

Ngoài ra, các hợp chất steroit 34, 42, 57 cũng được

phát hiện thấy có trong loài I echinata.[24]

Bên cạnh các steroit có cấu trúc cầu epoxy tại

C-5/C-6, từ loài hải miên Dysidea fragilis nhóm nghiên

cứu đã phân lập được ba hợp chất steroit có cấu trúc

cầu epoxy tại C-9/C-11, 9α,11α-epoxycholest-7-en-3β,5α,6α-triol (67),

9α,11α-epoxycholest-7-en-3β,5α,6α,19-tetrol 6-acetate (68), hay cầu epoxy tại

Trang 5

C-19/C-11 ở dysideasterol F (69).[26] Hai trong số ba

steroit này (67 và 68) đã được đánh giá tác dụng gây

độc tế bào trên các dòng tế bào ung thư KB, LU1,

HL-60, LNCaP, SK-Mel2, HepG2 và MCF-7 Kết

quả cho thấy hai hợp chất này gây chết các tế bào

ung thư thử nghiệm với giá trị IC50 từ 4,22 đến 12,66

µg/mL.[27]

Ngoài các hợp chất steroit phổ biến với cấu trúc

khung từ 27 tới 29 cacbon, từ loài hải miên

Gelliodes fibulata, nhóm nghiên cứu còn phân lập

được hai hợp chất steroit với cấu trúc khung

pregnane với 21 cacbon là

3β-hydroxypregn-5-en-20-one (70) và 15-O-acetylpregna-1,4,20-trien-3-one

(71).[28] Steroit 70 không thể hiện tác dụng gây độc

tế bào ung thư trong khi steroit 71 lại có hoạt tính

gây độc tế bào ung thư đáng được lưu ý với IC50 từ

7,79 đến 21,57 µg/mL đối với các dòng tế bào KB,

LU-1, HL-60, LNCaP, SK-Mel2, HepG2 và MCF-7

Sáu hợp chất steroit khung pregnane cũng được

phân lập và xác định cấu trúc từ loài san hô Carijoa

riisei trong đó có một chất mới

4,20-dien-3-one (72) cùng với

15β-hydroxypregna-1,4,20-trien-3-one (73),

15β-acetoxypregna-1,4,20-trien-3-one (74),

18-hydroxypregna-1,4,20-trien-3-one (75), 18-acetoxypregna-1,4,20-trien-3-18-hydroxypregna-1,4,20-trien-3-one (76)

và 20R-acetoxypregna-1,4-dien-3-one (77) Hợp

chất 76 thể hiện hoạt tính gây độc trên tất cả tám

dòng tế bào ung thư thử nghiệm là HepG2, HL-60,

KB, LNCaP, LU-1, MCF7, SK-Mel2 và SW480 với

giá trị IC50 từ 22,29 đến 48,73 µM.[29] Hợp chất

24-ethylcholesta-4,24(28)-dien-3-one (78) được phân

lập từ loài hải miên Penares sp.[30]

Từ loài hải miên Xestospongia testudinaria, một

nhóm chất steroit có cấu trúc độc đáo với sự có mặt

của vòng cyclopropan ở mạch nhánh đã được phân

lập và xác định cấu trúc, trong đó có ba chất mới là

aragusterol I (79), 21-O-octadecanoyl-xestokerol A

(80) và 7β-hydroxypetrosterol (81), cùng với

aragusterol B (82), xestokerol A (83), 7

-hydroxypetrosterol (84), 7-oxopetrosterol (85) và

petrosterol (86) Hợp chất mới

21-O-octadecanoyl-xestokerol A (80) và aragusterol B (82) thể hiện hoạt

tính chống bám cặn (antifouling) mạnh với giá trị

gần tương đương so với các giá trị được công bố của tributyltin oxide.[31] Lớp chất này trước đây cũng đã được nhóm nghiên cứu phân lập từ loài hải miên

Ianthella sp.[1]

Một số hợp chất steroit có cấu trúc vòng cyclopropan ở mạch nhánh cũng được phân lập từ

một số loài san hô mềm Từ loài Sinularia dissecta,

một steroit mới là dissesterol (87) cùng với (24R)-gorgost-4-en-3-one (88), (24S)-ergost-4-en-3-one (89), (24 methylene)-ergost-4-en-3-one (90),

(24S)-ergost-4-en-3,6-dione (91),

24-methylene-cholest-4-en-3,6-dione (92),

3β,7α-dihydroxy-ergosta-5,24(28)-dien (93), 7

-methoxyergosta-5,24(28)-dien-3 -ol (94), cholesta-5,24(28) methoxyergosta-5,24(28)-dien-3β-ol-7-one (95) và ergosta-5,24 dien-3β-ol (96) đã được phân

lập và xác định cấu trúc Hợp chất 87 thể hiện hoạt

tính ức chế mạnh sự sản sinh cytokin tiền viêm IL-12 p40 ở tế bào hình tua có nguồn gốc từ tủy xương (BMDCs) được kích thích bởi LPS với IC50 =

4,0±0,1 μM trong khi hợp chất 95 thể hiện khả năng

ức chế sản sinh IL-6 với giá trị IC50 =9,4±1,2 μM.[32]

Steroit mới sarcopanol A (97) cùng với ergost-1β,3β,5α,6β-tetraol-25-monoacetate (98) và (24S)-ergost-25-ene-1β,3β,5α,6β-tetraol (99) được phân

lập từ loài Sarcophyton pauciplicatum Hai hợp chất

98 và 99 thể hiện hoạt tính ức chế sự hoạt hóa

NF-κB với EC50 tương ứng là 26,07±5,59 và 98,27±13,28 μM và ức chế sự biểu hiện mRNA của iNOS, COX-2 và ICAM-1.[33]

Trang 6

Tiếp theo, hai steroit mới 7-oxogorgosterol

(100) và 16α-hydroxysarcosterol (101) cùng với 93,

sarcophytosterol (102),

3β-hydroxypregna-5,16-dien-20-one (103) được phân lập từ loài Sinularia

microspiculata;[34] các hợp chất 87, 95 và 101 cũng

được nhóm tác giả phân lập từ loài san hô mềm

Sinularia nanolobata cùng với hai chất mới

3β,4α-dihydroxyergosta-5,24(28)-diene (104) và

24(S),28-epoxyergost-5-ene-3β,4α-diol (105) và chất đã biết

sarcophytosterol (106) Cấu hình tuyệt đối tại vị trí

C-24 của hợp chất 105 được xác định bằng phổ

lưỡng sắc tròn (CD) Hợp chất 105 thể hiện hoạt tính

gây độc tế bào ung thư ở mức độ trung bình trên

dòng HL-60 (IC50 = 33,53±4,25 M) và yếu trên

dòng HepG2 (IC50 = 64,35±7,00 M) và SW480

(IC50 = 71,02±4,00 M).[35] Hợp chất mới

crassumsterol (107) cùng với (22R,23R,24R)5 ,8

-

epidioxy22,23methylene24methylcholest6en3 ol (108), ergosterol peroxide (109) và epidioxy22,23methylene24methylcholest6en3

-hydroxyandrost-5-en-17-one (110) được phân lập từ

loài san hô mềm Lobophytum crassum Các hợp

chất, 108 và 109 thể hiện hoạt tính ức chế sự hoạt

hóa NF- B với giá trị IC50 tương ứng 3,90 và 7,05

µM và ức chế sự biểu hiện mRNA của COX-2 và

iNOS.[36] Bốn steroit bao gồm 43, cerevisterol (111),

24-ethylcholest-7-ene-3β,5α,6β-triol (112) và

(22E)-cholesta-7,22-diene-3β,5α,6β-triol (113) cũng được

phân lập từ loài san hô mềm Dendronephthya mucronata.[37]

Gần đây, năm steroit mới

7α-methoxygorgosterol (114), 7α-methoxy-ergosta-5-ene-3β-ol (115), 3β-hydroxyergosta-4-ene-6-one

(116), 3β-hydroxy-ergosta-4,24(28)-diene-6-one

(117) và ergosta-24(28)-ene-3β,5α,6β-triol-3-acetate

(118) cùng với bảy chất đã biết 93-95,

ergosta-5-ene-3β,7α-diol (119), triol-6-acetate (120), ergosta-24(28)-ene-3β,5α,6β-triol (121) và ergosta-3β,5α,6β-ergosta-24(28)-ene-3β,5α,6β-triol (122) được phân

lập từ loài san hô mềm Sinularia conferta;[38]

hai steroit mới leptosteroid (123) và 5,6

-epoxygorgosterol (124) cùng với các hợp chất 93,

95, 96, 100, 102, 104, 107, 119,

7β-hydroxygorgosterol (125),

3β-hydroxy5-ene-7-one (126), ergost-5-en-3 ,7 -diol (127),

ergosta-5,22,24(28)-trien-3 -ol (128), 3β,7

-dihydroxyergosta-5,24(28)-diene (129) được phân

lập từ loài Sinularia leptoclados;[39]

và steroit mới

sinubrassione (130), cùng với 39, 122,

ergosta-1α,3β,5α,6β,11α-pentaol (131), sarcoaldesterol B

(132) và sarcoaldesterol A (133) được phân lập từ

loài Sinularia brassica.[40] Các hợp chất 93, 110, 120

và 3β-hydroxyandrost-5-ene-17-one (134) cũng

được phân lập từ loài S cruciata.[41]

Cấu hình tại

C-3 của hợp chất 116 được xác định bằng phổ

CD.[38] Kết quả đánh giá hoạt tính sinh học cho thấy

các hợp chất 120-123, 127, 129 và 130 thể hiện hoạt

tính đáng quan tâm trên một số dòng tế bào ung thư thử nghiệm.[38-40]

Từ loài san hô sừng Menella woodin, bốn steroit

mới menellsteroid E-H (135-138) cùng với

cholest-3β,5α,6β,11β-tetraol (139), menellsteroid B (140),

(22E,24S)-24-methyl-5α-cholesta-7,22-diene-3β,5,6β,9-tetraol (141), đã được phân lập Ở nồng độ

10 M các hợp chất 135, 138 và 140 có khả năng

làm giảm mạnh các dạng oxy hoạt động (ROS) ở đại thực bào RAW 264.7 đã được xử lý trước với LPS

từ E coli.[42]

Các loài da gai cũng đã được chứng minh là nguồn cung cấp dồi dào của các hợp chất steroit Từ

loài sao biển Astropecten polyacanthus, bốn steroit

mới là astropectenol A D (142-145) cùng với

Trang 7

5α-cholest-7-ene-3β,6α-diol (146),

5α-cholest-8(14)-ene-3β,7α-diol (147) và

5α-cholest-7,9(11)-diene-3β-ol (148) đã được phân lập Kết quả đánh giá hoạt

tính sinh học cho thấy: cặn chiết diclometan loài sao

biển này và hợp chất 148 thể hiện hoạt tính gây độc

mạnh trên dòng tế bào ung thư HL60 với giá trị IC50

tương ứng là 8,29±0,20 g/ml và 2,70±0,05 M

Nghiên cứu tiếp theo cho thấy cặn chiết diclometan

và hợp chất 148 có khả năng kích thích quá trình tế

bào chết theo chương trình (apoptosis) ở dòng tế bào

HL60.[43] Ngoài ra, các hợp chất 145 và 147 có khả

năng ức chế mạnh sự tạo thành của các cytokin tiền

viêm là IL-12 p40, IL-6 và TNF-α ở tế bào BMDCs

đã được kích thích bằng LPS với IC50 trong khoảng

từ 1,82 đến 7,00 μM Khả năng ức chế mạnh sự sản

sinh IL-12 p40 và IL-6 cũng được ghi nhận ở hợp

chất 142 với IC50 tương ứng là 3,96±0,12 và

4,07±0,13 μM; và ở hợp chất 143 và 144 trên sự sản

sinh IL-12 p40 với IC50 tương ứng là 6,55±0,18 và

5,06±0,16 μM.[44] Hợp chất 142 còn có biểu hiện

hoạt tính diệt mạnh ký sinh trùng Trypanosoma

brucei với giá trị EC50 = 1,57±0,14 μM.[45] Mới đây,

hai steroit là triseramide (149) và

(20R,24S)-3β,6α,8,15β,24-pentahydroxy-5α-cholestane (150)

tiếp tục được nhóm nghiên cứu phân lập từ loài sao

biển này Hợp chất 150 thể hiện hoạt tính gây độc

các dòng tế bào ung thư KB, HepG2, MCF7,

SK-Mel2 và LNCaP với IC50 trong khoảng từ 18,03 đến

21,59 μM.[7]

Mười hai steroit cũng được phân lập từ loài cầu

gai Diadema savignyi bao gồm 42, 43, 49, 50, 57,

8-ene-3β,5α,6β,7α-tetraol (151),

cholest-8(14)-ene-3β,5α,6β,7α-tetraol (152),

cholest-7-ene-3β,5α,6α,9α-tetraol (153),

cholest-7-ene-6-one-3β,5α,9α-triol (154),

cholest-5-ene-7β-methoxy-3β-ol (155), campestercholest-5-ene-7β-methoxy-3β-ol (156) và chcholest-5-ene-7β-methoxy-3β-olest-5-ene-3β-

cholest-5-ene-3β-sulfat sodium (157) Cặn chiết CH2Cl2 và hai hợp

chất 42 and 152 thể hiện hoạt tính gây độc tế bào

mạnh trên ba dòng tế bào ung thư người là HL-60,

PC-3 và SNU-C5 và có khả năng kích thích quá

trình apoptotis ở các dòng tế bào này.[46] Ba steroit

(25S) 5α-cholestane-3β,6α,8β,15α,16β,26-hexol

(158), (25S)

5α-cholestane-3β,6α,7α,8β,15α,16β,26-heptol (159) và (25S)

5α-cholestane-3β,4β,6α,7α,-8β,15α,16β,26-octol (160) được phân lập từ loài sao

biển Protoreaster nodosus Hợp chất 160 thể hiện

khả năng ức chế mạnh sự sản sinh cytokin tiền viêm IL-12 p40 và IL-6 (IC50 = 3,11±0,08 và 1,35±0,03

μM) và hợp chất 158 và 159 ức chế mạnh sự sản

sinh IL-12 p40 (IC50 = 0,01±0,00 và 1,02±0,01 μM)

ở tế bào BMDCs được kích thích bằng LPS.[47]

Ba steroit mới là sodium

(24S)-5α-cholestane-3β,4β,5,6α,7β,8,14,15α,24-nonaol 6-sulfate (161),

sodium

(24E)-24-ene-26-yde-3β,6α,8,-14,15α-pentaol 15-sulfate (162), sodium 5α-cholest-3β,6α,8,14,15α,24,25,26-octaol 15-sulfate (163),

cùng với các hợp chất đã biết

27-nor-5α-cholestane-3β,4β,5,6α,7β,8,14,15α,24α-nonaol 6-sulfate (164),

(24E)-5α-cholest-24-ene-3β,6α,8,14,15α,26-hexaol

15-sulfate (165), sodium 5α-cholest-25(27)-ene-3β,6α,8,14,15α,24,26-heptaol 15-O-sulfate (166),

27-nor-5α-cholestane-3β,4β,5,6α,8,14,15α,24α-octaol (167) (24R)-27-nor-5α-cholestane-3β,4β,5,-6α,7β,8,-14,15α,24-nonanol (168) được

phân lập từ loài sao biển Archaster typicus.[48]

Các

hợp chất 161-168 có cấu trúc hóa học độc đáo và có

thể sử dụng như các chất chỉ thị hóa học cho việc giám định loài sao biển này

Ngoài ra, các hợp chất 56, (22E)-cholesta-7,22-dien-3,5,6-triol (169),

(22E,24S)-methylcholesta-7,22-dien-3,5,6-triol (170), 24-methylcholest-7-en-3,5,6-triol (171) cũng được phát hiện từ loài sên biển

Trang 8

Doriprismatica atromarginata.[49] Từ loài ốc biển

Monodonta labio, nhóm nghiên cứu đã phân lập

được tám steroit là 49, 51, 57,

5β,6-epoxy-cholestan-3β-ol (172), melithasterol A (173),

5α,6α-epoxy-3β,7α-dihydroxycholest-8(14)-ene (174),

cholesta-3β,5α,6β-triol (175) và

3β-hydroxycholesta-5,8-dien-7-one (176) Các hợp chất 174 và 175 thể hiện

hoạt tính gây độc mạnh trên ba dòng tế bào ung thư

thử nghiệm là A-549, Hep3B và Hela với IC50 trong

khoảng từ 0,26 đến 4,04 M.[50]

2.3 Nhóm chất steroit glycosit

Các steroit glycosit thường được tìm thấy nhiều ở

các loài sao biển Sáu steroit glycosit mới là

planciside A F (177 182) cùng với echinasterioside

C (183), linkoside L4 (184), attenuatoside B-I (185),

halityloside D (186) và culcitoside C2 (187) đã được

phân lập từ loài sao biển gai Acanthaster planci.[51-54]

Gần đây, nhóm nghiên cứu đã phân lập được

một steroit glycosit mới là polyacanthoside A (188)

từ loài sao biển Astropecten polyacanthus;[7]

hai

steroit glycosit mới từ loài Pentaceraster gracilis là

pentaceroside A (189) và pentaceroside B (190)

cùng với nodososide (191) và

(5α,25S)-cholestane-3β,6α,8,15β,16β,26-hexol 3-O-[(2-O-methyl)-β-D

-xylopyranoside] (192).[10] Hợp chất 191 cũng được

nhóm nghiên cứu phân lập được từ loài sao biển

Protoreaster nodosus và có hoạt tính ức chế sự tạo

thành cytokin tiền viêm IL-12 p40 và IL-6 ở tế bào

BMDCs được kích thích bằng LPS với giá trị IC50

tương ứng là 12,47±0,38 và 23,18±0,46 M.[47]

Ngoài ra, granulatoside A được phân lập từ loài sao

biển Linckia laevigata;[55]

linckoside B (193), halityloside A (194), halityloside B (195) và

culcitoside C5 (196) được phân lập từ loài sao biển

Culcita novaeguineae Các hợp chất 186, 187, 195

và 196 thể hiện hoạt tính gây độc trung bình trên

năm dòng tế bào ung thư thử nghiệm là LNCaP, MCF7, KB, Hep-G2 và SK-MEL2.[8] Mười steroit

glycosit mới là anthenoside L-U (197-206) cũng

được phân lập và xác định cấu trúc từ loài sao biển

Anthenea aspera[56] và năm steroit glycosit đóng

vòng mới là luzonicoside B-E (207-212) cùng với

luzonicoside A và luzonicoside F được phân lập từ

loài sao biển Echinaster luzonicus.[57]

Gần đây, một hợp chất steroit glycosit mới là

sinubrassioside (213) cùng với pregnedioside A (214) đã được nhóm nghiên cứu phân lập từ loài san

hô mềm Sinularia brassica Hai hợp chất này có chứa đơn vị đường β-D-arabinopyranose rất hiếm

gặp trong thiên nhiên Hợp chất 214 thể hiện hoạt

tính gây độc trung bình trên ba dòng tế bào ung thư người là A-549, HeLa và PANC-1.[40]

2.3 Nhóm chất đitecpen

Các hợp chất đitecpen thường được tìm thấy từ các loài san hô mềm Chín hợp chất đitecpen mới là

sinumaximol A I (215-223) cùng với sethukarailin (224),

(1S,2E,4S,6E,8S,11R)-2,6,12(20)-cembra-triene-4,8,11-triol (225) và isomandapamate (226)

đã được nhóm nghiên cứu phân lập từ loài san hô

mềm Sinularia maxima Các hợp chất 216, 217 và

226 có hoạt tính ức chế mạnh sự sản sinh cytokine

tiền viêm IL-12 p40 ở tế bào BMDCs được kích thích bằng LPS với IC50 trong khoảng từ 4,35 đến 18,04 µM và ức chế trung bình sự sản sinh IL-6 với

IC50 từ 17,72 đến 59,77 µM.[58] Cũng từ loài san hô mềm này, hai hợp chất norđitecpen mới là

12-hydroxy-scabrolide A (227) và 13-epi-scabrolide C

(228) cùng với scabrolide A (229), yonarolide (230),

ineleganolide (231), 5-epi-norcembrene (232) và

norcembrene 5 (233) được phân lập Hợp chất 228

ức chế mạnh sự sản sinh IL-12 và IL-6 với IC50 tương ứng là 5,30±0,21 và 13,12±0,64 μM, trong khi

hợp chất 229 ức chế trung bình sự sản sinh IL-12 và

IL-6 với giá trị IC50 lần lượt là 23,52±1,37 và 69,85±4,11 µM.[59]

Trang 9

Tám hợp chất đitecpen mới thuộc khung

cembranoit là lobocrasol A D (234–237) và

crassumol D–G (238–241) cùng với

(1R,4R,2E,7E,11E)-cembra-2,7,11-trien-4-ol (242),

7S,8S-epoxy-1,3,11-cembratriene-16-oic methyl

ester (243),

2,16:7S,8S-diepoxy-1,3,11,15-cembratetraene (244), (2S,7S,8S)-sarcophytoxide

(245) và (2S,7S,8S)-sarcophine (246) đã được nhóm

nghiên cứu phân lập từ loài san hô mềm

Lobophytum crassum Các hợp chất 234, 235, 239

và 242 ức chế mạnh sự hoạt hóa NF-κB ở tế bào

HepG2 được kích thích bằng TNFα với giá trị IC50

lần lượt là 6,30±0,42, 6,63±0,11, 9,23 1,66 và

1,65 0,20 µM.[60,61]

Một đitecpen mới là

isopimara-2-one-3-ol-8,15-diene (247) được phân lập từ chủng xạ khuẩn

Micromonospora haikouensis, phân lập từ bùn biển

vùng biển Cát Bà Kết quả đánh giá độc tính đối với

hai dòng tế bào ung thư buồng trứng Kuramochi,

OVCAR4 và 2 dòng tế bào buồng trứng lành tính

của chuột MOSE, MOE cho thấy, hợp chất 247

không thể hiện độc tính đối với cả bốn dòng tế bào

thử nghiệm.[62]

2.4 Nhóm chất sesquitecpen

Các hợp chất sesquitecpen phân lập từ hải miên có cấu trúc hóa học khá đặc biệt Chúng có thể là các hợp chất với khung sesquitecpen thông thường, hay

có sự mở vòng, sắp xếp lại cấu trúc phân tử, hay là cấu trúc lai hóa giữa một cấu trúc sesquitecpen với một phân tử khác hình thành một lớp chất gọi chung

là merosesquitecpen Trong các nghiên cứu về thành phần hóa học một số loài hải miên giai đoạn

2013-2017, hầu hết các hợp chất có cấu trúc hóa học mới phân lập được từ hải miên là các hợp chất sesquitecpen hoặc merosesquitecpen Có tới 21 hợp chất mới trong tổng số 36 hợp chất thuộc nhóm sesquitecpen đã được phân lập từ hải miên

Từ loài hải miên Dysidea cinerea, nhóm tác giả

đã phân lập được bảy hợp chất sesquitecpen có cấu trúc hóa học mới thuộc khung muurolane bao gồm

(4R,5R)-muurol-1(6),10(14)-dien-4,5-diol (248),

(4R,5R)-muurol-1(6)-ene-4,5-diol (249),

(4R,5R,10R)-10-methoxymuurol-1(6)-ene-4,5-diol

(250),

(4R)-4-hydroxy-1,10-seco-muurol-5-ene-1,10-dione (215), (4S)-4-hydroxy-1,10-seco-muurol-5-ene-1,10-dione (252),

(6S,10S)-6,10-dihydroxy-7,8-seco-2,8-cyclo-muurol-4(5),7(11)-diene-12-oic

acid (253) và

(6R,10S)-6,10-dihydroxy-7,8-seco-2,8-cyclo-muurol-4(5),7(11)-diene-12-oic acid (254).[63] Trong các hợp chất này, hợp chất 248-250 có khung cacbon là muurolane sesquitecpen, hợp chất 251 và

252 được giả thiết hình hành trên cơ sở oxi hóa mở

vòng sesquiterpen khung muurolane tại C-1/C-10 và

hợp chất 253 và 254 được giả thiết hình thành trên

cơ sở sắp xếp lại vòng của sesquitecpen khung muurolane bằng cách mở vòng tại C-7/C-8 sau đó đóng vòng giữa C-8 và C-2 Hóa lập thể của các hợp

chất 248-254 được xác định dựa trên cơ sở sinh tổng

hợp các hợp chất sesquitecpen khung muurolane, phân tích tương tác không gian của các proton trên phổ NOESY và các hiệu ứng hấp thụ Cotton của trung tâm bất đối ở các hợp chất có nhóm mang màu dạng cyclohexen-2-ol Theo đó, các cặp hợp chất

251 và 252, cặp hợp chất 253 và 254 với hình dạng

phổ CD có các hiệu ứng Cotton đối ngược nhau đã được xác định là các cặp đồng phân epimer của nhau lần lượt tại C-4 và C-6 Tuy nhiên các hợp chất này

Trang 10

không thể hiện tác dụng gây độc tế bào ung thư (IC50

> 100 µg/mL) trên dòng tế bào ung thư thử nghiệm

Từ một loài hải miên khác cũng thuộc giống

Dysidea (D fragilis), nhóm nghiên cứu phân lập

được mười một hợp chất sesquitecpen với khung

cacbon tương tự furodysin và spirodysin bao gồm

tám hợp chất mới đặt tên lần lượt là dysinidine I

(255), dysinidine II (256), dysinidine III (257),

dysinidin A (261), dysinidin B (262), dysinidin C

(258), dysinidin D (259), dysinidin E (260).[26,64,65]

Hợp chất 255 và 256 được xác định là hai

sesquitecpen đồng phân epimer của nhau tại C-3 và

có dạng khung cacbon spirodysin Sự khác biệt về

hóa lập thể tại C-3 của hai hợp chất này được thể

hiện bằng sự khác biệt rõ ràng về độ chuyển dịch

hóa học của C-3 và các tương tác không gian của

proton H-3 với H2-9.[64] Các hợp chất 257-259 lại có

cấu trúc hóa học khung cacbon dạng furodysin.[26,64]

Hợp chất 260 có cấu trúc dạng bissesquitecpen hình

thành bởi sự dime hóa của hai đơn vị sesquitecpen

khung furodysin và được khẳng định bằng phân tích

khối phổ phân giải cao Trong khi đó, cấu trúc hóa

học của hai hợp chất 261 và 262 được xác định như

là các sản phẩm của quá trình oxy hóa phá vỡ vòng,

cắt mạch cacbon của các sesquitecpen spirodysin và

furodysin

Ngoài ra, ba hợp chất sesquitecpen đã biết

furodysinin lactone (263), O-methyl furodysinin

lactone (264) và O-methyl-9-oxofurodysinin lactone

(265) cũng được phân lập từ loài Dysidea fragilis.[66]

Hàm lượng của hợp chất 264 (0,85 %, w/w) trong

cặn chiết methanol loài D fragilis được phân tích

bằng phương pháp HPLC-DAD.[67]

Kết quả đánh giá tác dụng gây độc tế bào ung thư của các

sesquitecpen 255-262 cho thấy hầu hết các hợp chất

không thể hiện tác dụng gây độc tế bào ung thư (IC50

> 100 µg/mL), riêng hợp chất 257 phát hiện có khả

năng gây độc các tế bào ung thư LU-1, LNCaP,

SK-Mel2, HepG2, MCF-7 và PC-3 với giá trị IC50 lần

lượt là 43,51, 40,77, 38,84, 45,43, 42,96 và 48,53 µg/mL

Từ loài hải miên Smenospongia cerebriformis,

nhóm nghiên cứu phân lập được các hợp chất merosesquitecpen có cấu trúc hóa học bao gồm một phần khung sesquitecpen 4,9-friedo drimane liên kết với một cyclopentanon, phenol, hay quinon tại C-15

Mười tám hợp chất merosesquitecpen (266-283) đã

được phân lập từ loài S cerebriformis trong đó có

sáu hợp chất mới được đặt tên lần lượt là

smenohaimien A F (266-271) Hai hợp chất mới

266 và 267 được xếp vào nhóm chất cyclopentenon

merosesquitecpen Ở phần cyclopetenon có chứa hai trung tâm cacbon bất đối, cấu hình tuyệt đối của hai cacbon bất đối này đã được xác định dựa trên phân tích phổ CD của mẫu thực nghiệm kết hợp với tính toán lý thuyết phổ CD cho các dạng cấu hình tuyệt đối phù hợp.[68]

Các hợp chất 268-271 được xếp vào

nhóm các hợp chất phenol và quinon sesquitecpen

Sự có mặt của nguyên tử nitơ trong hợp chất 268,

271 và sự đóng vòng qua cầu oxy ở hợp chất 271 đã

được khẳng định bằng phân tích khối phổ phân giải cao.[68,69] Ngoài ra, các hợp chất merosesquitecpen

khác cũng được phân lập từ loài S cerebriformis bao

gồm dictyoceratin C (272), polyfibrospongol A B (273-274), 19-hydroxy-polyfibrospongol B (275),

ilimaquinone (276), neodactyloquinone (277), dactyloquinone C D (278-279), dactylospongenone

A D (280-283).[70,71] Bốn hợp chất cyclopentenon

merosesquitecpen 280-283 mặc dù đã được phân lập

trước đây từ một loài hải miên thuộc giống

Dactylospongia tuy nhiên sau đó chúng chưa từng

được công bố phân lập và xác định cấu hình tuyệt đối Do đó, bốn hợp chất này đã được nhóm tác giả tiến hành xác định cấu hình tuyệt đối của hai trung tâm bất đối ở phần cyclopentenon bằng phân tích phổ CD Theo đó, cấu hình tuyệt đối ở C-16, C-17

của các hợp chất 280-283 lần lượt được xác định là

(16R,17S), (16S,17R), (16R,17R) và (16S,17S).[72]

Các merosesquitecpen 266-283 được đánh giá

tác dụng gây độc tế bào và tác dụng kháng viêm Kết

Ngày đăng: 07/08/2022, 18:14

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w