Đề tài Sự chấp nhận bệnh trong điều trị của bệnh nhân ung thư Chương 1 Cơ sở lý luận về sự chấp nhận trong điều trị bệnh ung thư 1 1 Tổng quan tài liệu nghiên cứu 1 1 1 Những nghiên cứu về bệnh nhân u.
Trang 1Đề tài: Sự chấp nhận bệnh trong điều trị của bệnh nhân ung thư.
Chương 1: Cơ sở lý luận về sự chấp nhận trong điều trị bệnh ung thư 1.1 Tổng quan tài liệu nghiên cứu
1.1.1 Những nghiên cứu về bệnh nhân ung thư
Ung thư là căn bệnh hiểm nghèo, có rất nhiều loại ung thư khác nhau nhưngnhìn chung các căn bệnh ung thư đều gây tử vong cao Những nghiên cứu vềbệnh nhân ung thư cũng rất nhiều và đa dạng, bao gồm cả những vấn đề liênquan đến những thay đổi sinh lý và tâm lý Trong tâm lý, các nghiên cứu tậptrung vào những yếu tố nhận thức, cảm xúc, suy nghĩ, đời sống,… của bệnhnhân ung thư Trong đề tài này chúng tôi chú ý nhiều hơn đến những nghiên cứuliên quan đến tâm lý và đời sống của bệnh nhân ung thư Bởi nhìn chung bệnhnhân ung thư trải qua những giai đoạn tâm lý khác nhau và thường dễ có nhữngcảm xúc tiêu cực trong quá trình điều trị
Trong tài liệu trong nước, nghiên cứu về tâm lý bệnh nhân ung thư, chúngtôi chú ý đến Đề tài “Người bệnh ung thư đi tìm ý nghĩa cuộc sống” sau đã đượcxuất bản thành sách (NXB Trẻ) đã nghiên cứu một cách sâu sắc những giai đoạntâm lý mà người bệnh ung thư trải qua gồm 4 giai đoạn:
- Giai đoạn phát hiện: Phủ nhận và suy sụp
- Giai đoạn phẫu trị: Chấp nhận và sợ hãi
- Giai đoạn hoá trị: Suy sụp và hy vọng
- Giai đoạn cuối đời: Cô lập và bình an
Cuốn sách không chỉ là một công trình nghiên cứu mà còn được viết bằngnhững trải nghiệm của người trong cuộc Trong thời gian điều trị tác giả đã đisâu vào quá trình tiềm hiểu tâm lý bệnh nhân ung thư, bởi vậy cuốn sách vừa ý
Trang 2nghĩa mà vừa thực tế, đối với những người nghiên cứu cũng như những bệnhnhân, những người làm việc trong lĩnh vực y tế.
Phạm Thị Oanh (1998), Người bệnh ung thư đi tìm ý nghĩa cuộc sống, Nxb Trẻ
Về các phản ứng của bệnh nhân trước bệnh ung thư, có Luận văn thạc sĩ “Phản ứng stress của bệnh nhân ung thư máu với bệnh” (Triệu Thị Biển, 2012)được tiến hành nghiên cứu trên 76 bệnh nhân ung thư máu Nghiên cứu sử dụngphương pháp chính là điều tra bằng bảng hỏi bao gồm các câu hỏi về cảm xúc,thái độ và hành vi của bệnh nhân đối với bệnh ung thư máu và thang đo Trầmcảm – Lo âu – Stress (DASS21) sau đó xử lý số liệu bằng SPSS18 Kết quả chothấy 41,7% bệnh nhân ung thư máu có phản ứng stress, phản ứng ở các mức độkhác nhau và diễn ra khá phức tạp, 73,3% số bệnh nhân có stress đi kèm lo âu,66,7% số bệnh nhân có stress đi kèm trầm cảm, 66,7% bệnh nhân có cả stress, lo
âu và trầm cảm; đáng lưu ý, một số bệnh nhân có ý định tự tử để tự giải thoát(8,3%) Hầu hết bệnh nhân ung thư máu đều cho rằng chấp nhận bệnh tật, sốngchung với bệnh và tạo cho mình tinh thần thật tốt thì chữa bệnh mới hiệu quả(84,7%) và họ luôn giữ thái độ lạc quan, tin tưởng rằng mình sẽ khỏi bệnh(76,4%) Nghiên cứu không những chỉ ra được thực trạng phản ứng stress ởbệnh nhân ung thư máu mà còn chỉ ra cả những yếu tố ảnh hưởng Từ đó giúpnhân viên y tế, những người chăm sóc,…phần nào hiểu hơn và quan tâm nhiềuhơn đến tâm lý bệnh nhân ung thư Tuy nhiên, nghiên cứu mới chỉ điều tra trên
76 bệnh nhân tại viện Huyết Học – Truyền máu Trung ương nên kết quả nghiêncứu không phải là khái quát chung cho bệnh nhân ung thư máu
Triệu Thị Biển (2012), Phản ứng stress của bệnh nhân ung thư máu với bệnh”
Trang 3Trong tài liệu nước ngoài, về tâm lý của bệnh nhân ung thư, đã có rất nhiềunghiên cứu, trong đó có Cuốn sách Cancer Care for the Whole Patient: MeetingPsychosocial Health Needs (Nancy E Adler; Ann EK Page, 2008), cuốn sáchđưa ra một cái nhìn tổng quát về nhiều mặt trong đời sống và chú ý nhiều hơnđến các vấn đề tâm lý xã hội của bệnh nhân ung thư Công tác chăm sóc ung thưngày nay thường cung cấp những trị liệu về mặt sinh học mà ít quan tâm tới cácvấn đề tâm lý xã hội gắn liền với bệnh tật Điều này có thể ảnh hưởng xấu đếnkết quả điều trị, sức khỏe của bệnh nhân ung thư Những vấn đề tâm lý xã hội doung thư gây ra bao gồm trầm cảm, stress, và nhiều vấn đề cảm xúc khác; thiếuthông tin hoặc kĩ năng cần thiết để đối phó với bệnh tật; gián đoạn công việc,học tập, cuộc sống gia đình; căng thẳng tài chính;… có thể làm giảm sự tuân thủđiều trị theo quy định, ảnh hưởng xấu đến sức khỏe bệnh nhân Những đóng gópcủa cuốn sách này là: cung cấp một định nghĩa rõ ràng về dịch vụ y tế tâm lý xãhội (chương 2); xác định các dịch vụ riêng lẻ trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏetâm lý xã hội (chương 3); xác định mô hình chung của dịch vụ tâm lý xã hội vàchiến lược để thực hiện mô hình này (chương 4 và 5);…
Nancy E Adler; Ann EK Page, 2008 Cancer Care for the Whole Patient: Meeting Psychosocial Health Needs Washington (DC): National Academies Press (US)
Trong nghiên cứu của M Keller và đồng nghiệp (2004) nhằm xác định tỉ lệmắc những bệnh thuộc về tâm thần, sự đau khổ trên 189 bệnh nhân ung thư đãđược chuyển sang phẫu thuật và sự nhận biết nỗi đau buồn ở bệnh nhân củanhân viên y tế Nghiên cứu sử dụng bảng câu hỏi đã được chuẩn hóa HospitalAnxiety and Depression Scale và phỏng vấn chuẩn đoán tâm thần (SCID, DSM-IV) Kết quả cho thấy một phần tư số bệnh nhân được xác định là vô cùng đaukhổ, 28% được chẩn đoán rối loạn tâm thần 26% có điểm số cao trên HADS(một công cụ được sử dụng rộng rãi để sàng lọc các căng thẳng tâm lý ở bệnh
Trang 4nhân ung thư) Qua đó, nghiên cứu đã khẳng định bệnh nhân trải qua phẫu thuậtung thư hoặc mới được chuẩn đoán hoặc tái phát lại đặc biệt dễ bị tổn thương.Bác sĩ phẫu thuật nhận biết được những nỗi đau buồn rõ rệt ở 77% bệnh nhân bịrối loạn tâm thần và y tá nhận biết được 75% nhưng những căng thẳng tâm lýnày ở bệnh nhân thường bị các nhân viên y tế bỏ qua và chỉ một tỉ lệ nhỏ bệnhnhân được giới thiệu đến các dịch vụ hỗ trợ tâm lý xã hội (nghiên cứu này đãquan tâm đến phản ứng của các nhân viên y tế đối với trạng thái tâm lý của bệnhnhân ung thư Từ đó đưa ra những thảo luận về việc nâng cao hiệu suất và kĩnăng giao tiếp cũng như kĩ năng giảm nỗi đau buồn cho bệnh nhân của nhânviên y tế.
Recognition of distress and psychiatric morbidity in cancer patients: a
multi-method approach (M Keller và đồng nghiệp (2004)
https://annonc.oxfordjournals.org/content/15/8/1243.long
Nghiên cứu của Nauman A Jadoon, Waqar Munir, Mohammad A Shahzad vàZeshan S Choudhry ( 2010) đánh giá trầm cảm và lo lắng ở bệnh nhân ung thưngoại trú người lớn Nghiên cứu cắt ngang này được thực hiện tại khoa ngoại trúcủa Viện Y học hạt nhân và xạ trị Multan; và bệnh viện Nishtar Medical College,Multan Thang đo Trầm cảm và lo lắng (Aga Khan University Anxiety andDepression Scale – AKUADS) được sử dụng để xác định sự có mặt của bệnhtrầm cảm và lo âu ở những người tham gia nghiên cứu Đây là một công cụ gồm
25 item dùng để đo sự hiện diện của triệu chứng lo âu và trầm cảm ở người lớn.Mẫu bao gồm 150 bệnh nhân đã được chẩn đoán ung thư và 268 người tham giakhông bị ung thư (nhóm đối chứng) Tuổi trung bình của bệnh nhân ung thư là40,85 (SD = 16,46) và thời gian mắc bệnh trung bình là 5,5 tháng, độ tuổi trungbình của nhóm đối chứng là 39,58 năm (SD = 11,74) Nhìn chung kết quả chothấy là 66,0% bệnh nhân ung thư có trầm cảm và lo âu Trong nhóm đối chứng,
109 đối tượng (40,7%) có trầm cảm và lo âu Bệnh nhân ung thư có nhiều khả
Trang 5năng chịu đựng đau buồn hơn so với nhóm chứng (OR = 2,83, 95% CI = 4,25, P = 0,0001) Phân tích hồi quy cho thấy độ tuổi có ảnh hưởng đáng kể đến
1,89-tỷ lệ trầm cảm và lo âu ở những bệnh nhân ung thư, người trẻ được cho là cókhả năng đối mặt với các vấn đề tâm lý tốt hơn.Không có sự khác biệt lớn theothống kê giữa giới tính, tình trạng hôn nhân, địa phương, giáo dục, thu nhập,nghề nghiệp, hoạt động thể chất, hút thuốc, vị trí ung thư, thời gian bệnh vàphương pháp điều trị, phẫu thuật với sự xuất hiện của bệnh trầm cảm, lo âu.Những ung thư có gắn bó chặt chẽ với trầm cảm và lo âu là ung thư dạ dày áctính, u ngực và ung thư vú Điểm mạnh của nghiên cứu là sử dụng các biện pháp
đã tiêu chuẩn hóa, có sử dụng nhóm đối chứng, phân tích các yếu tố có thể ảnhhưởng đến tỷ lệ trầm cảm và lo âu,
Về chất lượng cuộc sống của bệnh nhân ung thư, trên thế giới có rất nhiềunghiên cứu, nhưng ở Việt Nam còn là một mảng chưa được quan tâm nhiều, đaphần là những ý kiến công chúng và báo chí trong việc phản ánh chất lượng dịch
vụ cũng như chất lượng cuộc sống, một nghiên cứu mang ý nghĩa thống kê thực
tế là “Khảo sát chất lượng cuộc sống của bệnh nhân ung thư và một số yếu tốảnh hưởng tại bệnh viện đại học Y Hà Nội năm 2015” được tiến hành trên 175bệnh nhân đã được chẩn đoán xác định bệnh ung thư và đang điều trị tại Bệnhviện Đại học Y Hà Nội trong thời gian từ 18/02/2015 đến 10/05/2015, sử dụng
bộ câu hỏi gồm 3 phần là: thông tin chung, tình trạng sức khỏe bệnh tật, thang
đo FACT-G Kết luận chất lượng cuộc sống của các bệnh nhân ung thư hiện điềutrị tại Khoa Ung bướu và chăm sóc giảm nhẹ tại Bệnh viện Đại học Y Hà Nội làthấp, điểm trung bình theo bộ câu hỏi FACT-G là 47,03 điểm (SD= 13,84).Trong đó, lĩnh vực thể chất có điểm cao nhất là 16,24 điểm (SD= 5,49), thấpnhất là lĩnh vực hoạt động (6,14 điểm – SD= 4,16), hai lĩnh vực quan hệ gia đình
xã hội và tinh thần lần lượt là 12,39 điểm (SD= 2,97), 12,26 điểm (SD= 6,14).Chất lượng cuộc sống của bệnh nhân ung thư có mối tương quan với: trình độ
Trang 6văn hóa, giai đoạn bệnh, thời gian mắc bệnh và phương pháp điều trị Thời gianmắc bệnh dài trên 1 năm sẽ làm chất lượng cuộc sống của bệnh nhân giảm rõnhất, tương tự các bệnh nhân ở các giai đoạn nặng hơn sẽ có chất lượng cuộcsống rất thấp Khi bệnh nặng hơn phải điều trị chăm sóc giảm nhẹ, người bệnh
có chất lượng cuộc sống là rất thấp Có thể thấy khảo sát đã được thực hiện trên
số lượng khách thể đủ lớn (175) bao gồm cả bệnh nhân ngoại trú và nội trú.Khảo sát đã chỉ ra được thực trạng chất lượng cuộc sống của bệnh nhân ung thưcùng một số yếu tố liên quan Tuy nhiên đây chỉ là một khảo sát, dừng lại ở mô
tả, chưa đưa ra những kiến nghị giúp nâng cao chất lượng cuộc sống của bệnhnhân ung thư
ThS Bùi Vũ Bình, CN Đỗ Thị Ánh, CN Dương Tiến Đỉnh,TS Trương Quang Trung “Khảo sát chất lượng cuộc sống của bệnh nhân ung thư và một số yếu tố ảnh hưởng tại bệnh viện đại học Y Hà Nội năm 2015” http://www.benhvien103.vn/vietnamese/bao-cao-hoi-nghi-khoa-hoc-chao- mung-65-nam-truyen-thong-bvqy103/hoi-nghi-khoa-hoc-dieu-duong/2015- 12/1380.prt
Tóm lại, các nghiên cứu đi trước đã chỉ ra rằng một tỉ lệ lớn các bệnh nhânung thư mắc phải các vấn đề, rối loạn tâm lý như: trầm cảm, stress, buồn chán,rối loạn giấc ngủ, hồi hộp lo lắng,… Chất lượng cuộc sống của bệnh nhân ungthư thấp Ngay cả những bệnh nhân ung thư đã được điều trị khỏi cũng phải chịunhiều ảnh hưởng xấu do ung thư và quá trình điều trị ung thư để lại Mặt khác,yếu tố tâm lý có vai trò quan trọng đối với kết quả điều trị Điều trị ung thưbằng biện pháp tâm lý đã đem lại những kết quả đáng kinh ngạc, nên được ápdụng song song với các phương pháp trị liệu y học Tuy nhiên mặt hỗ trợ tâm lýcho các bệnh nhân ung thư và người nhà của bệnh nhân vẫn chưa được quan tâm
và chú trọng
1.1.2 Nghiên cứu về sự chấp nhận
Trang 7Lý thuyết chấp nhận gần đây đã được quan tâm hơn và các nghiên cứu đãchứng minh được vai trò của sự chấp nhận trong việc giúp con người đương đầuvới những khó khăn, căng thẳng trong cuộc sống; cải thiện chất lượng cuộcsống Dựa trên lý thuyết chấp nhận, các tác giả đã phát triển liệu pháp trị liệucam kết và chấp nhận (ACT) Mục tiêu chính của các trị liệu ACT là thúc đẩytính linh hoạt tâm lý thông qua việc chấp nhận những trải nghiệm tiêu cực mộtcách thoải mái Sáu mặt của tính linh hoạt tâm lý được ACT tập trung vào là:Cái tôi, thời điểm hiện tại, sự chấp nhận, sự buông bỏ, giá trị và hành động camkết.
Trị liệu ACT đã và đang là mối quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu trên thếgiới Theo Steven C Hayes, Jacqueline Pistorello, và Michael E Levin (2012),tại thời điểm này đã có hơn 60 cuốn sách về ACT trong 10 ngôn ngữ Chúngthường là những cuốn sách thuộc về chuyên nghiệp, hoặc sách tự học trong cáclĩnh vực như chấn thương (ví dụ, Follette & Pistorello, 2007), trầm cảm (ví dụ,Zettle, 2007), lo lắng (ví dụ, Eifert & Forsyth, 2005), đau mãn tính (ví dụ, Dahl
et al., 2005), sự tức giận (ví dụ, Eifert, McKay, & Forsyth, 2006), hoặc quản lýcác bệnh mãn tính (ví dụ, Gregg, Callaghan, & Hayes, 2007)
Steven C Hayes, Jacqueline Pistorello, và Michael E Levin, Acceptance and Commitment Therapy as a Unified Model of Behavior Change (2012)- tr 986
Các thử nghiệm lâm sàng đã chứng minh rằng trị liệu ACT là hữu ích chomột loạt các vấn đề bao gồm sự lạm dụng chất gây nghiện, rối loạn tâm thần,đau mãn tính, căng thẳng, chứng động kinh khó chữa,… (Hayes, Luoma, Bond,Masuda, & Lillis, 2006)
Mặc dù còn khá mới nhưng ACT được nhận thấy là một trị liệu hiệu quảcho trầm cảm, lo lắng và cả những vấn đề phổ biến ở đau mãn tính như tiểuđường, ung thư Trị liệu ACT đã đem lại những kết quả tích cực đáng kể cho
Trang 8bệnh nhân ung thư Mức độ ảnh hưởng của ACT có thể so sánh với những thànhtựu đạt được của những trị liệu tâm lý khác liệu (VD: trị liệu nhận thức hành vi–CBT) Ngoài ra, những dữ liệu từ một phép thử ngẫu nhiên được giới thiệutrong một báo cáo luận văn bởi Branstetter và đồng nghiệp khẳng định rằngACT là hữu ích hơn CBT trong việc giải quyết những vấn đề của ung thư giaiđoạn cuối (DanielleL.Feros, Lisbeth Lane, Joseph Ciarrochi, JohnT.Blackledge,2011) Có khá nhiều nghiên cứu đã so sánh trị liệu ACT và CBT truyền thống.Nghiên cứu của Raimo Lappalainen, Tuula Lehtonen, Eerika Skarp, EijaTaubert, Markku Ojanen và Steven C Hayes (2007) về ảnh hưởng của trị liệunhận thức hành vi truyền thống (CBT) và mô hình trị liệu cam kết chấp nhân(ACT) cũng chỉ ra rằng ACT cải thiện triệu chứng tốt hơn CBT CBT cải thiện
sự tự tin nhanh hơn và ACT cải thiện sự chấp nhận tốt hơn
Nghiên cứu của Francisco J Ruiz (2012) nhằm tiến hành việc xem xét có
hệ thống và phân tích tổng hợp các nghiên cứu đã so sánh can thiệp ACT vàCBT trước đó Đầu tiên, những nghiên cứu so sánh ACT và CBT được tìm kiếmbằng những cách khác nhau Tiếp theo, lựa chọn ra các nghiên cứu đủ tiêu chuẩnđưa vào xem xét Sau đó, phương pháp điều trị, người tham gia, phương phápluận, và các biến ngoại lai khác đã được mã hoá để phân tích các đặc điểm củacác nghiên cứu Cuối cùng là tính toán mức độ ảnh hưởng và phân tích thống kê.Phân tích chỉ ra rằng những kết quả chính thu được ủng hộ nhiều cho ACT Mức
độ ảnh hưởng đối với các triệu chứng lo âu là không đáng kể, tuy nhiên ACT đãthu được kết quả tích cực trong trầm cảm (g = 0,27) và chất lượng cuộc sống (g
= 0,25) sau điều trị Nhìn chung, nghiên cứu này cung cấp thêm bằng chứng sơ
bộ rằng ACT đem đến kết quả tốt hơn ở một mức độ nào đó và quy trình hoạtđộng khác với CBT truyền thống
Trang 9Francisco J Ruiz, “Acceptance and Commitment Therapy versus Traditional Cognitive Behavioral Therapy: A Systematic Review and Meta- analysis of Current Empirical Evidence”, 2012
Nghiên cứu “Improving Psychological Adjustment Among Late-StageOvarian Cancer Patients: Examining the Role of Avoidance in Treatment” - Ann
D Rost, Kelly Wilson, Erin Buchanan, Mikaela J Hildebrandt, David Mutch(2012) so sánh sơ bộ giữa ACT và điều trị như thường lệ (TAU) trong điều trịcảm xúc đau buồn ở phụ nữ bị ung thư buồng trứng giai đoạn cuối Bốn mươibảy phụ nữ được chẩn đoán giai đoạn III hoặc IV ung thư buồng trứng đượcphân ngẫu nhiên vào một trong hai điều kiện trị liệu ( ACT hoặc TAU), bao gồm
12 cuộc gặp gỡ trực tiếp với nhà trị liệu Một bảng câu hỏi về nhân khẩu học(thông tin cá nhân, bao gồm cả tuổi tác, chủng tộc, trình độ học vấn, và tìnhtrạng việc làm) được thực hiện trước can thiệp Các đo lường khác về: trầm cảmcủa Beck (thang đo BDI-II), lo lắng (BAI), tâm trạng (POMS), sự kiểm soát cảmxúc (CESC), sự loại bỏ suy nghĩ (WBSI), sự ứng phó (COPE), chất lượng cuộcsống (thang đo FACTG) được hoàn thành trước can thiệp và lặp lại vào cuối cácbuổi can thiệp thứ 4, 8 và cuối cùng (12) Kết quả cho thấy cả hai nhóm đã cónhững cải thiện tâm trạng và chất lượng cuộc sống sau can thiệp Nhóm trị liệutheo ACT cho thấy những cải thiện lớn hơn nhiều so với nhóm TAU Như vậy,nghiên cứu này đã chỉ ra được những ảnh hưởng tích cực của trị liệu ACT vàTAU đồng thời so sánh hai loại hình can thiệp này trong trong việc giảm căngthẳng ở phụ nữ bị ung thư buồng trứng Nghiên cứu cũng nhận ra rằng tổng nỗiđau buồn đã giảm trong điều kiện ACT ở mẫu này là không bình thường Tuynhiên, nhà nghiên cứu đã không tìm được lời giải thích rõ ràng cho điều này vàđây là vấn đề cần được xem xét hơn nữa
Một nghiên cứu về ảnh hưởng của điều trị chấp nhận và cam kết (ACT) đốivới chứng trầm cảm và tính linh hoạt tâm lý ở phụ nữ bị ung thư vú đã được
Trang 10thực hiện Mẫu là những bệnh nhân bị ung thư vú được chia thành 2 nhóm(nhóm thực nghiệm và nhóm đối chứng) Nghiên cứu sử dụng thang đo trầmcảm của Beck (BDI-II); bảng câu hỏi chấp nhận và hành động (AAQ-II) Kếtquả cho thấy trị liệu ACT làm giảm đáng kể điểm số trên BDI-II và tăng số điểmtrên AAQ-II so với nhóm đối chứng (p<0.001) (Bahare Dehghani-Najvani,Hamid Taher Neshatdoost, Mohamad Reza Abedi, Fariborz Mokarian).
Ngoài ra, nghiên cứu của Joanna J Arch ( 2015) về trị liệu chấp nhận vàcam kết (ACT) trên nhóm người đã thoát khỏi ung thư trải qua lo lắng ở giaiđoạn tái hòa nhập Những người tham gia vào trị liệu đã cho thấy những cảithiện về nhiều mặt bao gồm lo âu, trầm cảm, mệt mỏi, nỗi sợ tái phát, cảm nhận
ý nghĩa cuộc sống Nghiên cứu này đại diện cho nghiên cứu và sự thích ứng đầutiên về can thiệp ACT cho những người thoát khỏi ung thư trải qua lo lắng ở giaiđoạn tái hòa nhập
Tuy nhiên, những nghiên cứu về sự chấp nhận đặc biệt là sự chấp nhận trongđiều trị của bệnh nhân ung thư là chưa phổ biến ở Việt Nam Chúng tôi mới chỉtìm được đề tài “Vai trò của niềm tin tôn giáo và sự chấp nhận trong việc giúp vịthành niên giải tỏa căng thẳng trong cuộc sống hàng ngày” ( Luận văn thạc sĩ,Nguyễn Thị Kim Dung, 2013), với khách thể nghiên cứu là 254 trẻ vị thành niên(trong độ tuổi từ 12 – 19) đang sống và sinh hoạt tại huyện Duyên Khánh tỉnhKhánh Hòa và thị xã Gia Nghĩa tỉnh ĐăkNông Các công cụ nghiên cứu đã được
sử dụng là: Thang thông tin chung (giới, tuổi, sự tham gia vào các hoạt động tôngiáo, niềm tin tôn giáo); Thang đo những căng thẳng hàng ngày (The Survey ofRecent Life Experiences); Thang đo trạng thái khỏe mạnh tâm lý (ThePsychological General Well-being Index) và Thang đo mức độ chấp nhận (TheAcceptance subscale of the Philadelphia Mindfulness Scale) Nghiên cứu đã kếtluận rằng: “Sự chấp nhận nhìn chung có tương quan với trạng thái khỏe mạnh
Trang 11tâm lý nhưng những người có mức độ chấp nhận cao sẽ có xu hướng không loâu; không trầm cảm và có khả năng kiểm soát bản thân cao hơn.” (tr 59)
Như vậy, nhìn chung các nghiên cứu cho rằng chấp nhận có vai trò quantrọng trong việc giúp các nhân đương đầu với những khó khăn, căng thẳng trongcuộc sống, từ đó chất lượng cuộc sống được nâng cao Tiếp cận trị liệu dựa trên
lý thuyết chấp nhận cũng chứng minh được hiệu quả của nó đối với các rối loạntâm lý nói chung và những vấn đề tâm lý ở bệnh nhân ung thư nói riêng
Từ những tài liệu nghiên cứu đã tham khảo, chúng tôi dự định tiến hànhtrong đề tài này nghiên cứu các tiêu chí chấp nhận đối với những suy nghĩ vàcảm xúc tiêu cực do bệnh ung thư mang lại ở bệnh nhân, mối tương quan giữachất lượng cuộc sống và sự chấp nhận, đồng thời tìm hiểu những yếu tố ảnhhưởng tới sự chấp nhận của bệnh nhân ung thư
1.2 Một số khái niệm công cụ và vấn đề có liên quan
vị trí, cá nhân hoặc nhóm Liên quan đến điều trị, thái độ thân thiện và cởi mở,
sở hữu bởi chuyên gia trị liệu mà khiến bệnh nhân thoải mái Nghĩa thứ hai liênquan đến nghiện, phụ thuộc rượu và lạm dụng ma túy, chấp nhận là giai đoạnđầu tiên một cá nhân cần đến và trải qua để bắt đầu trị liệu và thành công
What is ACCEPTANCE? definition of ACCEPTANCE (Psychology Dictionary) http://psychologydictionary.org/acceptance/ Truy cập ngày 20/2/2016
Trang 12Theo nghĩa thứ nhất, sự chấp nhận là yếu tố tâm lý của cá nhân, Albert Ellisđặt ra thuật ngữ tự chấp nhận vào những năm 1970 trong tham chiếu đến vấn đề
mà nhiều người có với tự đánh giá Ellis lưu ý rằng một quan điểm tự phê bìnhđược nhìn thấy để dẫn đến trầm cảm và bệnh lý khác, trong khi tự chấp nhậnliên quan đến tâm lý lành mạnh
Macavei, B., &Miclea, M (2008) An empirical investigation of the relationship between religious beliefs, irrational beliefs, and negative emotions Journal of Cognitive and Behavioral Psychotherapies, 8(1),1-16.
Theo nghĩa thứ hai, chấp nhận là yếu tố trị liệu của thân chủ cũng như là yếu
tố cần có của nhà trị liệu đối với thân chủ Elizabeth Kiibler-Ross sử dụng “chấpnhận” như là một giai đoạn của sự trải nghiệm khi một người biết rằng họ khôngthể tránh khỏi cái chết, nhưng nó cũng là một món quà không dành cho tất cảmọi người C Rogers định nghĩa về chấp nhận là " Tạo sự ấm áp cho thân chủmột cách vô điều kiện về giá trị bản thân họ"
Elisabeth Kubler-Ross (1969) “On Death and Dying”
http://psychcentral.com/lib/the-5-stages-of-loss-and-grief/ Truy cập ngày 17/2/2016
Rogers, C R (1957) Becoming a Person Healing: Human and divine: Man's search for health and wholeness through science, faith, and prayer., Pastoral psychology series, 57-67
Như vậy, chấp nhận là ứng phó với những cảm xúc, suy nghĩ hoặc trảinghiệm tiêu cực một cách tự do, công khai, cho phép chúng ta đối xử tốt vớichính mình trong sự hiện diện của nỗi đau, giúp làm lành nhưng nỗi đau bằngcách không trốn chạy hay phản đối lại những sự khó chịu, những nỗi đau ấy Vìvậy, người biết cách chấp nhận thì có thể thay đổi và kiểm soát, còn những gì ta