Sửa chữa nhỏ là công việc khắc phục các hư hỏng cục bộ, ngẫu nhiên của các chi tiết trong các cụm máy, có thể tháo một phần hoặc thay thế một số cụm, chi tiết bằng chi tiết mới hoặc chỉ
Trang 3Lei nói đầu
Ô tô đang ngày càng được sử dụng rộng rãi ở nước ta như một
phương tiện di lại cá nhân cũng như vận chuyển hành khách và hàng
hoá Sự gia tăng nhanh chóng số lượng ô tô sử dụng trong xã hội, đặc
biệt là các loại ô tô đời mới, đang kéo theo nhu cầu đào tạo rất lớn về nguồn nhân lực phục vụ bảo dưỡng và sửa chữa ô tô ‘
Giáo trình Kỹ thuật sửa chữa ô tô được biên soạn nhằm cung cấp ' cho cán bộ hướng dẫn, học viên học nghề và thợ sửa chữa ô tô những kiến thức cơ bản cả về lý thuyết và thực hành bảo dưỡng, sửa chữa ô tô Kiến thức trong giáo trình được sắp xếp lôgic từ đặc điểm cấu tạo và nguyên tắc hoạt động của các cơ cấu, hệ thống đến cách phân tích các
hư hỏng, phương pháp kiểm tra và quy trình thực hành sửa chữa lần
lượt từng bộ phận của động cơ, của phần gầm và hệ thống điện của ô
tô Do đó, người đọc có thể hiểu một cách dễ dàng mà không cần phải
tham khảo các giáo trình liên quan khác
Trong quá trình biên soạn giáo trình này, tác gia đã kết hợp kinh
nghiệm giảng dạy lý thuyết ở trường với kinh nghiệm hướng dẫn
thực hành và thực tiễn sửa chữa ô tô ở các cơ.sở, trạm và nhà máy
sửa chữa Tác giả đã cố gắng cập nhật những kiến thức mới nhằm đáp ứng yêu cầu sửa chữa các xe đời mới, hiện đại Đó là kiến thức về kiểm tra, sửa chữa hệ thống phun xăng điện tử, bộ chế hòa khí điện
tử và hệ thống đánh lửa bán dẫn trên các xe dùng động cơ xăng hiện
đại; kiểm tra, sửa chữa thiết bị nhiên liệu diesel hiện đại trên các xe
dùng động cơ diesel cũng như kiểm tra, sửa chữa biến mô thủy lực và
hộp số tự động Nội dung chẩn đoán các hư hỏng theo mã code hư
hỏng chỉ báo trên các xe hiện đại cũng được đề cập
Đối với học viên học nghề sửa chữa ô tô, nội dung giáo trình được
dự định dạy trong 180 tiết lý thuyết và dạy xen kẽ trong quá trình - học thực hành sửa chữa từng bộ phận của ô tô Số tiết học thực hành sửa chữa trung bình ít nhất là một buổi ứng với mỗi tiết lý thuyết
Tuy nhiên, tổng số tiết thực hành cho mỗi chương có thể được điều
Trang 4chỉnh, thay đối tuy thuộc vào đốt tượng đào tạo và phương tiện thực hành sẵn có của mỗi cơ sở đào tạo
Giáo trình cũng được dùng làm tài liệu tham khảo cho thợ sửa
chữa ô tô trong quá trình làm việc, cho sinh viên các trường đại học
và cao đẳng liên quan đến ngành động cơ và ô tô trước khi đi thực tập
ở các cơ sở và nhà máy sửa chữa ô ô tô
Mặc dù đã rất cố gắng nhưng chắc chắn không tránh khỏi sai sót, tác giả rất mong nhận được ý kiến đóng góp của người đọc để lần
xuất bản sau giáo trình được hoàn chỉnh hơn Mọi ý kiến đóng góp
xin gửi về Nhà xuất bản Giáo dục - 81 Trần Hưng Đạo, Hà nội
Tác giả
Trang 5
Chương I
CAU TAO CHUNG CUA 6 TO
VÀ YÊU CẦU BAO DUGNG, SUA CHUA
_ 1,1 CẤU TAO CHUNG CUA 0 TO
1.1.1 Phân loại ô tô
_ Ô tô là loại phương tiện tự hành (không cần lực kéo bên ngoài), dùng dé van
chuyển hành khách, hàng hoá hoặc thực hiện một nhiệm vụ chuyên môn nhất định
Chiếc ô tô sử dụng động cơ đầu tiên được ra đời vào cuối thế kỷ XIX, tương đối thô
sơ, nhưng đến nay, ô tô đã phát triển đến đỉnh cao về kỹ thuật, đa dạng về công dụng và kết cấu
Về công dụng, có các loại xe như:
- Xe du lịch và xe thể thao dùng để chở từ I đến 6 người
- Xe buýt, mini buýt và xe ca dùng để chở từ 6 người trở lên
- Xe tải dùng để vận chuyển hàng hoá, trong đó có xe tải nhẹ, xe tải trung bình
và xe tải lớn có thể vận chuyển được từ I đến 30 tấn hàng hoá
- Xe đặc chủng dùng để thực hiện một nhiệm vụ chuyên môn nhất định, ví dụ
các loại xe dùng trong quân đội, cảnh sát, cứu hoả; xe phục vụ kỹ thuật trong sân
bay, xe bồn v.v -
Về kết cấu, có xechạy bằng nhiên liệu xăng, xe chạy bằng nhiên liệu diesel,
xe chạy điện acquy, xe ben, xe có động cơ đặt phía trước, xe có động cơ đặt phía
sau, xe một cầu chủ động (phía trước hoặc phía sau), xe hai cầu chủ động v.v
1.1.2 Cấu tạo chung của ô tô
Ô tô có kết cấu khá phức tạp, bao gồm nhiều bộ phận, hệ thống, cụm và tổng thành lắp ghép với nhau (hình 1.1-1), mỗi bộ phận thực hiện một chức năng nhất định Các bộ phận và hệ thống cơ bản của ô tô bao gồm:
- Động cơ tạo ra lực làm xe chuyển động;
- Hệ thống truyền lực (ly hợp, hộp số, trục truyền và cầu chủ động) truyền
mômen từ động cơ đến các bánh xe chủ động làm quay bánh xe;
Trang 6- Hệ thống treo (nhíp, giảm chấn và các bánh xe) giảm xóc cho thân xe khi xe chạy trên đường;
- Hệ thống lái giúp người
lái có thể điểu khiển xe một
hệ thống ' và phục vụ chiếu Hình 1.1-1 Sơ đồ cấu tạo một xe ô tô du lịch
sáng cho xe; _ 1- động cơ; 2- hộp số; 3- trục truyền; 4- hộp vị sai;
3- cầu chủ động; 6- bánh xe chủ động; 7- thân xe;
- Thân xe, thùng, bệ để 8- bánh xe dẫn hướng
lip các bộ phận, hệ thống của
xe , lap khoang chở người và chở hàng hoá
1.2 YEU CAU BAO DUGNG, SUA CHUA O TO
Như đã nói ở trên, ô tô là một cỗ máy có kết cấu phức tạp, được lắp ghép từ nhiều bộ phận với tổng số chỉ tiết lap ghép có thể lên tới trên 15.000 chỉ tiết, trong
đó có rất nhiều cặp chỉ tiết có chuyển động tương đối với nhau Trong quá trình làm việc, do chịu tải trọng và ma sát nên các chỉ tiết thường bị mòn, biến dạng hoặc gãy
vỡ, hỏng hóc làm mất tính năng hoạt động bình thường của xe Kết quả là làm giảm công suất động cơ, tăng tiêu hao nhiên liệu, giảm mức độ tin cậy và an toàn
trong sử dụng xe; nói chung là hiệu quả kinh tế trong khai thác sử dụng xe giảm
Để khai thác hết khả năng làm việc và tăng hiệu quả sử dụng xe, trong quá
trình sử dụng người ta phải thực hiện bảo dưỡng kỹ thuật và sửa chữa nhằm ngăn ngừa sự mòn nhanh và khắc phục các hỏng hóc bất thường để đảm bảo duy trì trạng
thái kỹ thuật bình thường của xe Nội dung công việc bảo dưỡng và sửa chữa có sự
khác nhau
- Bảo dưỡng: là những công việc được tiến hành có kế hoạch và có hệ thống nhằm ngăn ngừa hư hỏng, đảm bảo duy trì trạng thái kỹ thuật tốt và kéo dài tuổi thọ của xe Bảo dưỡng được tiến hành hằng ngày và định kỳ theo thời gian sử dụng
hoặc theo số kiômet xe chạy Bảo dưỡng bao gồm một loạt công việc bắt buộc, chủ yếu tập trung vào kiểm tra trạng thái kỹ thuật, tẩy rửa, bất chặt, thay dầu mỡ, chẩn
đoán tình trạng kỹ thuật và điều chỉnh các cụm máy Bảo dưỡng được chia thành
bảo dưỡng ngày và hai cấp bảo dưỡng định kỳ là bảo dưỡng 1 và bảo đưỡng 2
Trang 7và sau khi vận hành xe Công việc chủ yếu gồm kiểm tra và bổ sung nhiên liệu, Bảo dưỡng ngày được thực hiện hằng ngày chủ yếu bởi chính người lái xe trước
dau,.nuéc, kiểm tra sự rò rỉ của các đường ống, kiểm tra sự hoạt động Bình thường
của các hệ thống chiếu sáng và an toàn
Bảo dưỡng định kỳ thường được thực hiện ở các gara hoặc xưởng sửa chữa xe
và do thợ chuyên môn thực hiện Chu kỳ và nội dung công việc cần thực hiện ở mỗi
cấp bảo dưỡng thường được nhà chế tạo quy định cụ thể trong các số tay hướng dẫn
sử dụng, nhưng nói chung có thể thấy như ở bảng 1.2-I
Bảng 1.2-1 Chụ kỳ bảo đưỡng các loại xe trong điều kiện đường sá tốt
Bảo dưỡng cấp I Bảo dưỡng cấp 2
bơm mỡ vào các vú mỡ, kiểm tra sự làm việc của các loại “ong! hồ, các cơ cấu và hệ
thống như phanh, lái, xiết chặt bulông các hệ ‘thong an toàn v.v
Nội dung bảo dưỡng cấp 2 bao gồm các công việc như của bảo dưỡng cap | va thực hiện thêm các công việc điều chỉnh khe hở nhiệt, điều chỉnh góc đánh lửa,
thay dầu động cơ và đầu các hệ thống, thay các lõi lọc, thay chất lỏng làm mát,
kiểm tra tất cả các cụm, hệ thống và điều chỉnh nếu cần
- Sửa chữa: là những công việc duy trì và phục hồi tính không hỏng và khả năng làm việc bình thường của xe Có 2 dạng sửa chữa là sửa chữa nhỏ và sửa chữa lớn Sửa chữa nhỏ là công việc khắc phục các hư hỏng cục bộ, ngẫu nhiên của các
chi tiết trong các cụm máy, có thể tháo một phần hoặc thay thế một số cụm, chi tiết bằng chi tiết mới hoặc chỉ tiết sửa chữa
Sửa chữa lớn (đại tu) được tiến hành theo định kỳ để phục hồi khả năng làm
việc đầy đủ của tất cả các chi tiết, cụm bằng cách phục hồi hoặc thay thế tất cả các chi tiết mòn, hỏng bằng chỉ tiết mới hoặc chỉ tiết sửa chữa Đặc trưng của sửa chữa
lớn là tháo toàn bộ xe để sửa chữa, thay thế các chỉ tiết, bộ phần rồi lắp lại như mới
Yêu cầu xe phải được phục hồi khả năng làm việc bằng ít nhất 80% so với xe mới
Sửa chữa lớn thường được thực hiện trong các xưởng sửa chữa có đầy đủ trang thiết
bị cơ bản phục vụ tháo, lắp, gia công cơ khí và kiểm tra.
Trang 8Xe hoặc các cụm máy cần phải sửa chữa lớn khi các chỉ tiết cơ bản bị hỏng cần
phải sửa chữa hoặc thay thế (khung xe đối với ô tô hoặc thân máy đối với động cơ),
hoặc các chỉ tiết chính bị mòn đến mức làm cho việc sử dụng phương tiện không đảm bảo tính kinh tế Trong điều kiện sử dụng bình thường, xe và động cơ thường được sửa chữa lớn sau khi chạy được khoảng 150.000 - 250.000 km tuỳ thuộc loại
xe Xe tải có chu kỳ sửa chữa lớn ngắn hơn xe du lịch
Trong xưởng sửa chữa ô tô, quá trình sửa chữa lớn gồm các công đoạn sau đây:
i Tiếp nhận xe vào sửa chữa, rửa ngoài
2 Tháo các cụm ra khỏi xe
3 Tháo rời chỉ tiết từ các cụm
4 Rửa và kiểm tra, phân loại chỉ tiết
3 Sửa chữa, phục hồi các chỉ tiết và cụm máy
6 Lắp, điều chỉnh, chạy rà, thử nghiệm các cụm
7 Lắp xe, thử xe, sơn xé và giao xe
Việc tổ chức sửa chữa tuỳ thuộc vào năng lực chuyên môn, vốn đầu tư, năng lực sản xuất và số lượng khách hàng của các xưởng Các xưởng có thể bố trí thợ làm việc theo cách chuyên môn hoá (mỗi thợ làm một loại công việc nhất định) nếu
công việc nhiều hoặc theo cách làm sam (một thợ có thể làm được tất cả các loại
công việc sửa chữa xe từ động cơ đến các hệ thống gầm) nếu ít việc
1.3 THIẾT BỊ VÀ DỤNG CỤ DÙNG TRONG SỬA CHỮA
Để thực hiện yêu cầu sửa chữa đảm bảo an toàn, năng suất và chất lượng, các
xưởng sửa chữa thường được trang bị các loại trang thiết bị và dụng cụ sau đây:
Trang 9tời, kích thuỷ lực, giá tháo lắp các cụm (hình 1.3-1) để có thể nâng, hạ xe hoặc cẩu Thiết bị vận chuyển và nâng đố: Thiết bị thuộc loại này gồm các loại balăng,
các tổng thành như động cơ, hộp số v.v ra khỏi xe để sửa chữa và sau đó cẩu lắp trở lại xe Trong các xí nghiệp sửa chữa lớn, người ta thường trang bị các hệ thống cầu chuyển, tời điện và các loại giá nâng đỡ xe tự động thay cho các loại balang va kích nói trên
Thiết bị gia công cơ khí, sơn, 8ò hàn và các thiết bị phục vụ: Đối với các xưởng nhỏ, các thiết bị này gồm máy nén khí, máy ép, các thiết bị vạn năng phục vụ công việc khoan, mài, doa, cắt, gò hàn đơn giản trong sửa chữa, còn các cong viéc gia công chính xác thì thuê ngoài Tuy nhiên, đối với các xưởng lớn hoặc các xí nghiệp
sửa chữa, người ta thường trang bị một số thiết bị gia công cơ khí chuyên dùng để
gia công sửa chữa trục khuỷu, trục cam, xilanh Và một số chi tiết cần sửa chữa khác của Ô tô
(c)- đầu tháo, lấp dùng khí nén: (d)- tay vặn cờilê lực
Trang 10Các loại đồ gá chuyên dùng: gồm các loại giá phục vụ tháo lắp các cụm của xe như giá tháo lắp động cơ (hình 1.3-1 b), giá tháo lắp hộp số, ly hợp v.v và các loại
đồ gá để lắp các cơ cấu, cụm hệ thống của các tổng thành hoặc của xe
Dụng cụ tháo lắp: gồm các loại vam, các loại cờlê điện, cờlê khí nén, cờiê lực dùng tay và các loại dụng cụ tháo, lắp cầm tay như tuýp, cờlê, mỏ lết, kìm v.v:
Dụng cụ đo kích thước: Các loại dụng cụ đo kích thước chính xác được dùng
phổ biến trong sửa chữa ô tô gồm thước cặp, panme và đồng hồ so Thước lá và các loại dưỡng cũng được dùng để đo kích thước hoặc độ mòn cho phép cửa các chỉ tiết
\ 4 I- mỗ cố định; 2- thân thước cặp; 3- bộ phận di trượt:
5 4- mỏ di động: 5- mặt tì đo kích thước lỗ; 6- mặt tì đo kích thước trục: 7- chỉ tiết trục cần đo kích thước
kích thước lỗ: (c)- panme đo độ sâu:
]- thang do chính; 2- thang đo phần lẻ; 3- thanh nốt dài: +4- kích thước độ sâu
(h)
Trang 11
Thước cặp (hình 1.3-3) cho phép đo được cả kích thước trong và ngoài của chỉ tiết với sai số 0,025 mm Thước cặp thường được dùng để đo các kích thước thô
hoặc các kích thước không đòi hỏi độ chính xác cao Kết quả đo bằng tổng của giá
trị đọc trên thang chính trước vạch 0O của thang trượt và giá trị đọc trên thang trượt tại vạch trùng với một vạch nào đó trên thang chính
Panme loại đo kích thước ngoài (hình 1.3-4a), panme
đo kích thước trong (hình 1.3-4b) và loại đo độ sâu (hình 1.3-4c) thường có độ chính xác (sai lệch đọc được) đến
0,1 mm Trong sửa chữa ô tô, panme thường được sử dụng để đo kiểm tra đường kính các cổ trục hoặc các kích
- thước lỗ lớn được yêu cầu gia công chính xác của các chỉ
tiết hoặc dùng để do kiểm tra kích thước của các dưỡng
Kết quả đo bằng tổng của giá trị đọc trên thang chính và
giá tri đọc trên thang xoay - Đồng hồ so (hình I 3- 5) thể hiện kết quả do bằng ' kim chỉ và thường có độ chính xác khoảng 0,01 mm
Khi sử dụng, đồng hồ được lắp cố định trên giá đồng — ng /.3-5 Đỏng hỏ so
hồ, còn mũi tì (mãi đo) của đồng hồ được tì lên bể mặt 1- mũi do: 2- kim chỉ phản cần kiểm tra, mũi tì dịch chuyển sẽ làm cho kim đồng hồ ch nhân lệ c quá do: 3 kim
quay đi một số vạch phản ánh khoảng dịch chuyển của +- vó đồng hồ
mũi tì Do vậy, đồng hồ so sẽ chỉ ra vị trí của điểm đo so với một điểm chuẩn ban đầu nào đó Ví dụ, khi dùng đồng hồ so để kiểm tra độ rơ dọc của trục cam, người
ta lắp giá đồng hồ cố định lên thân máy, cho mũi tì tì vào mặt đầu trục cảm theo
phương dọc trục, đẩy trục dịch hết về phía trước thì kim đồng hồ sẽ chỉ một trị số nào đó, sau đó đẩy cho trục dịch hết về
phía sau thì kim đồng hồ sẽ quay đi một khoảng tính theo vạch chịa so với lúc
trước và phản ánh độ dịch chuyển của
” Hình 1.3-6 Dụng cụ
Khi sử dụng đồng hồ so làm đồng hồ đo đường kính xilanh
x eo a a ` Z : Ja Cá tr
đo lỗ, ví dụ đồng hồ đo đường kính xilanh, và các lỗ trụ
ông hồ được lắp trê te a I tay cầm; 2- đồng hồ
đồng hồ c uc lắp trên giá của dụng cụ đO so: 4_ chet i định vị
Giá của dụng cụ đo có chốt lò xo tự định cho đầu đo xuyên tâm
tâm am am bao duong tam của mũi Ì CỦA š_ chối lò xo ép cho đảm bao duo ta 3, fi ti ct lỗ cần do; 4- dau do;
đồng hồ luôn đi qua tâm xianh Kích hai chốt định vị luôn tì
thước chuẩn (kích thước so sánh) được lên mặt lỗ cẩn do
diéu chỉnh bằng kích thước danh nghĩa
(kích thước nguyên thuỷ) của xilanh, khi
Trang 12đo, kim đồng hồ sẽ chỉ độ chênh của kích thước đo so với kích thước danh nghĩa
của xilanh Do đó, kích thước do D sẽ bằng kích thước chuẩn cộng với chỉ số đọc
Thước lá (hình 1.3-7) có nhiều lá với độ dày khác nhau được đùng để đo khe
hở giữa hai bộ phận hoặc hai chỉ tiết, ví dụ đo khe hở giữa đuôi xupáp và đầu cần bẩy Khi do, chỉ cần thử từng lá, độ lớn của khe hở sẽ là chiều đày của lá dày nhất
_có thể đưa qua được khe hở Các dưỡng đo có loại có kích thước cố định, có loại có kích thước điều chỉnh được theo kích thước đo, kích thước của dưỡng đo được kiểm
đo lực, áp suất, điện, các thiết bị đo tốc độ,
mômen, công suất, phân tích khí thải v.v
Tuy nhiên, các xưởng nhỏ có thể không có
Hình 1.3-8 Dưỡng đo lỗ
„ eae „ Í- nắm chính kích thước; 2- thân dưỡng;
các thiết bị đo mômen, công suất, phân tích 3 đầu đo của dưỡng; 4- lỗ cẩn đo; khi thai 5- panme đo kích thước đầu dưỡng
1⁄4 YEU CAU VE AN TOAN TRONG SỬA CHỮA
Việc đảm bảo an toàn lao động là một trong những yêu cầu đặt ra trước tiên đối với thợ sửa chữa nên người thợ phải hiểu được các nguy cơ gây mất an toàn và chấp hành nghiêm các quy định an toàn trong xưởng
Các nguyên nhân gây mất an toàn:
Các nguy cơ gây mất an toàn có thể do một số ố thói quen không đúng của người thợ sửa chữa như:
- Hút thuốc trong quá trình làm việc, đặc biệt là trong lúc tiếp xúc với xăng đầu
và các chất đễ cháy nổ hoặc cẩu thả và không chấp hành các quy định khi làm việc với các chất dễ cháy nổ
- Để vật chướng ngại chắn các lối thoát hiểm nên khi có hoả hoạn khó thoát ra 12
Trang 13- Để dầu mỡ vấy bẩn nền nhà xưởng dễ gây trượt chân ngã, gây tai nạn khi đi
lại, làm việc trong xưởng
- Không mang đủ trang phục bảo hộ lao động nhữ giầy, quần áo, mũ, kính và
không chấp hành quy định an toàn khi làm việc với các máy quay như máy mài,
khoan, quạt giÓ v.V
- Để khí độc xả ra xưởng, không xả vào các hệ thống thoát khí
Sự hỏng hóc hoặc sử dụng thiết bị không đúng quy cách cũng rất dễ gây tai nạn nguy hiểm, ví dụ:
- Các máy móc có bộ phận chuyển động như quạt nền xưởng, dây cua-roa máy nén khí, trục truyền của các Đăng thử v.v không được che chắn an toàn
- Các dây dẫn điện bị hỏng lớp cách điện
+ Cất giữ và sử dụng các bình khí nén không đúng quy định
- Các thiết bị điện không nối đất an toàn hoặc để hoạt động mà không chú ý
- Các giá nâng xe không an toàn
- Các dụng cụ cầm tay bần, dính dầu mỡ hoặc nứt vỡ
Các quy định chung đối với thợ sửa chữa để đảm bảo an toàn trong sửa chữa:
- Khong hút thuốc hoặc bật lửa châm thuốc gần xăng dầu hoặc các chất dễ cháy nổ khác
- Phải đảm bảo nhà xưởng sạch sẽ và thông gió tốt _
- Xăng dầu và các chất đễ cháy phải được bảo quản theo quy định an toàn
- Biết rõ nơi đặt các bình cứu hoả và biết cách sử dụng chúng
- Làm việc một cách yên tính và luôn chú ý đến công việc đang làm -
- Sử dụng các thiết bị và dụng cụ cầm tay đúng quy cách
- Không nối thêm tay đòn cho dụng cụ khi xiết các bulông, đai ốc
- Không dùng cờlệ hệ inch để van
các đai ốc hệ mét và ngược lại
~ Khi dùng mỏ lết phải chú ý chiều
tác dụng lực (hình 1.3-9)
- Không nên để tuốcnovít, dao cắt
hoặc các vật nhọn trong túi quần, túi áo
vì chúng có thể làm bị thương trong quá (a)
trinh lam viéc Hình 1.3-9 Chiều văn thường dùng của mỏ lết
(a)- chiều vặn đúng; (b)- chiều vặn sai.
Trang 14- Mang trang phục bảo hộ lao động và quấn tóc gọn gàng đúng quy định trong quá trình làm việc
- Dụng cụ cầm tay và tay nếu dính đầu mỡ phải lau sạch
- Không để đầu mỡ chảy ra nền nhà xưởng, nếu có phải lau sạch ngay để tránh trơn trượt trong khi làm việc
- Kê kích xe và chèn cần thận khi làm việc đưới gầm xe
- Sử dụng đúng dụng cụ cho mỗi loại công việc
- Đọc kỹ hướng dẫn trước khi dùng các thiết bị có sử dụng điện hoặc khí nén
CAU HOI ON TAP
1 Gidi thiéu tom tắt cấu tạo chung của ô tô và công dụng của các bộ phận chính của ô tô
2 Tại sao phải tiến hành bảo dưỡng ô tô định kỳ? Sự khác nhau giữa bảo dưỡng và sửa chữa là gì?
3 Nêu phương pháp sử dụng thước cặp, panme và dưỡng để đo các kích thước của chỉ tiết
4 Tại sao cần phải giữ tay và dụng cụ cầm tay không dính dầu mỡ trong quá trình làm việc?
5 Khi kích xe lên để sửa chữa các bộ phận dưới gầm xe cần phải chú ý biện pháp an toàn như thế nào?
6 Tại sao không được dùng cờlê hệ ¡inch để vặn các đai ốc hệ mét và ngược lại? Khi dùng mỏ lết thì tác dụng lực theo chiều nào so với miệng mỏ lết là thích hợp, tại sao?
7 Tại sao không nên nối thêm tay đòn cho dụng cụ cầm tay khi vặn các bulông va dai 6c?
L4
Trang 15Chương 2
NGUYÊN LÝ HOẠT ĐỘNG VÀ CẤU TẠO CHUNG CỦA
ĐỘNG CƠ Ô TÔ
2.1 PHÂN LOẠI ĐỘNG CƠ Ô TÔ
Động cơ ô tô thuộc về động cơ đốt trong, là một loại động cơ nhiệt biến đổi nhiệt năng (do nhiên liệu cháy trong xilanh tạo ra) thành cơ năng làm quay trục
khuỷu để dẫn động máy công tác (như ô tô, xe lửa, tàu thuỷ, máy phát điện v.v )
Động cơ ô tô có nhiều loại, khác nhau ở nhiên liệu sử đụng, nguyên lý hoạt
động và kết cấu
Dựa theo loại nhiên liệu sử dụng, động cơ ô tô được chia thành động cơ xăng, động cơ diesel và động cơ ga (dùng nhiên liệu khí)
Dựa theo số hành trình của pit-tông để thực hiện một chu trình công tác, động
cơ ô tô được chia thành động cơ bốn kỳ và động cơ hai kỳ
Dựa theo phương pháp làm mát, động cơ ô tô được chia thành động cơ được
làm mát bằng nước và động cơ được làm mát bằng gió
Dua theo đặc điểm cấu tạo, động cơ ô tô được chia thành động cơ một xilanh, động cơ nhiều xilanh, động cơ xilanh bố trí một hàng, động cơ hai hàng xilanh bố
trí hình chữvV -
Hiện nay, trên ô tô sử dụng phổ biến là động cơ bốn kỳ nhiều xilanh, làm mat
bằng nước và chạy bằng xăng hoặc dầu diesel Động cơ xăng thường được dùng nhiều cho các xe du lịch, còn động cơ diesel được dùng nhiều cho các loại xe tải Động cơ hai kỳ và động cơ ga được sử dụng không nhiều
_2.2 CHU TRÌNH LÀM VIỆC CỦA DONG CO BON KY
2.2.1 Sơ đồ cấu tạo |
Hình 2.2-1 giới thiệu sơ đồ cấu tạo của một động cơ bốn kỳ Động cơ gồm có
cơ cấu trục khuỷu thanh truyền (trục khuỷu 1, thanh truyền 2 va pit-tong 3), xilanh
4, xupáp nạp 6, xupáp thải 8, các đường ống nạp 5, ống thải 9 và bugi hoặc vòi phun 7 Trong quá trình làm việc, pit-tông chuyển động tịnh tiến lên xuống trong xIlanh, thông qua thanh truyền làm trục khuỷu chuyển động quay tròn.
Trang 16.2.2.2 Những thuật ngữ cơ bản (hình 2.2-2)
a) Điểm chết: là vị trí của pit-tông mà tại đó pit-tông đổi chiều chuyển động
Có hai điểm chết là điểm chết trên (ĐCT) và điểm chết dưới (CD) ĐCT là điểm chết tương ứng với vị trí pit-tông ở xa tâm trục khuỷu, khi đó buồng công tác của
xilanh có thể tích nhỏ nhất gọi là thể tích buồng cháy V, ĐCD là điểm chết tương
ứng với vị trí pit-tông ở gần tâm trục khuỷu, khi đó buồng công tác của xilanh có thể tích lớn nhất V, gọi là thể tích toàn phần Tương ứng với điểm chết của pit-tông, trục khuỷu ở một vị trí nhất định Thông thường, vị trí góc quay của trục khuỷu ứng với ĐCT của pit-tông xilanh thứ nhất được đánh dấu trên puli hoặc bánh đà của động cơ, trùng với một dấu cố định trên thân máy
“Hình 2.2-I Sơ đỗ cấu
tạo của động cơ bốn kỳ
c) Thể tích công tác của xilanh Vị: là thể tích xilanh tương ứng với hành trình
S của pit-tông và được tính như sau:
nD? a
Trong d6: D - đường kinh xilanh (dm); S - hanh trinh pit-tong (dm)
Thể tích công tác của động cơ là tổng thể tích công tác của các xilanh trong động cơ Ví dụ, động cơ xe Toyota Camry 2.4 có tổng thể tích công tác của các
xiianh là 2,4 Đối với động cơ cỡ nhỏ dưới 11, thể tích công tác thường được tính theo cm * (thường gọi là cc)
d) Thể tích buông cháy V„: là thể tích không gian giữa nắp xilanh và đỉnh pit-tông khi pit-tông nằm ở vị trí ĐCT
V, =
16
Trang 17
e) Thể tích toàn phần của xilanh V„ là thể tích không gian giữa nắp xilanh và
_đỉnh pit-tông khi pit-tông nằm ở vị trí ĐCD Thể tích V, bằng tổng của V, và Vụ
(V, =V, + Vụ)
g) Ty sé nén €: 1a ty s6 gitta thể tích toàn phần của xilanh V, và thể tích buồng
V
chay V., [e- = ts Tỷ số nén là một thông số kết cấu quan trọng của động cơ, ảnh
hưởng tới quá trình cháy và hiệu suất của động Cơ Động cơ xăng thường có tỷ số nén bằng 8 - 11, động cớ diesel có tỷ số nén cao hơn nhiều, bằng khoảng 14 - 22
h) Kỳ: là một phần chu 4rình làm việc của động cơ xảy ra trong thời gian pit-tong dịch chuyển một hành trình Chu trình làm việc của động cơ 4 kỳ được thực hiện trong thời gian của 4 hành trình pit-tông, hay 2 vòng quay của trục khuýu 2.2.3 Chu trình làm việc của động cơ bốn kỳ
Chu trình làm việc của động cơ bốn kỳ được thực hiện trong bốn hành trình của
pit-tông tương ứng với bốn quá trình theo trình tự nạp (hú, nén, cháy dãn nở và
thải khí Chu trình này được lặp di lặp lại trong suốt quá trình làm việc của động cơ
(b)
Ninh 2.3-3 Chu trình làm việc của động cơ 4 kỳ (a)- kỳ nạp; (b)- kỳ nén; (6)- kỳ cháy va dain nở; (đ)- kỳ thải
Hình 2.2-3 giới thiệu sơ đồ chuyển động của pit-tông và sự đóng mở của các
Xupáp ứng với mỗi kỳ (mỗi hành trình của pit-tông) trong chu trình làm việc của động cơ
8) Kỳ nạp: diễn ra sau khi khí cháy trong xilanh đã được thải sạch Ở kỳ nạp
(hình 2.2-3a), xupáp nạp mở, xupáp thải đóng, pit-tông di chuyển từ ĐCT xuống
ĐCD, tạo ra chênh áp hút khí nạp mới vào xilanh qua cửa nạp Đối với động cơ xăng, khí nạp mới là hỗn hợp của hơi xăng và không khí, còn đối với động cơ diesel, khí nạp mới là không khí
Do sức cẩn của cửa nạp và do trong xilanh còn dư một lượng khí đã cháy có
nhiệt độ cao không thải hết ở chu trình trước nên lượng khí nạp mới vào xilanh
Trang 18thường nhỏ hơn lượng khí có thể chứa được trong xilanh ở nhiệt độ và áp suất bên ngoài Người ta mong muốn nạp được càng nhiều khí càng tốt để động cơ làm việc
khỏe nên xupáp nạp thường được mở sớm hơn một chút trước khi bắt đầu hành
trình nạp để đến khi bắt đầu hành trình nạp thì xupáp đã mở to
b) Kỳ nén: diễn ra sau kỳ nạp Ở kỳ nén (hình 2.2-3 b), các xupáp nạp va
xupáp thải đều đóng, pit-tông di chuyển từ ĐCD lên ĐCT, thực hiện nén khí trong
xilanh Khí bị nén làm cho áp suất và nhiệt độ tăng lên Nhiệt độ khí cuối kỳ nén
đối với động cơ xăng đạt khoảng 350 - 400C, thấp hơn nhiều so với nhiệt độ tự cháy của xăng, còn đối với động cơ diesel, nhiệt độ đạt khoảng 600 - 650°C, vượt
Gan cudi ky nén thi bugi bat tia lửa điện để đốt cháy hỗn hợp không khí và hơi nhiên liệu trong xilanh (đối với động cơ xăng) hoặc vòi phun dầu diesel dưới dạng
sương mù vào không khí nén ở nhiệt độ cao trong xilanh và tự bốc cháy (đối với
động cơ diesel) Quá trình cháy bắt đầu ở cuối kỳ nén và tiếp diễn sang kỳ tiếp theo c) Kỳ cháy và đấn nở (kỳ nổ): diễn ra sau kỳ nén Ở kỳ này (hình 2.2-3 c), cdc xupáp vẫn đóng kín, quá trình cháy hỗn hợp nhiên liệu và không khí diễn ra rất mãnh liệt ở đầu hành trình khi pit-tông đã qua DCT, làm tăng nhiệt độ và áp suất _khí cháy lên rất cao Nhiệt độ và áp suất khí cháy có thể đạt đến 2.200 - 2.500°C và
35 - 50 at đối với động cơ xăng, 1.800 - 2.000°C và 60 - 100 at đối với động cơ
diesel Áp suất khí cháy cao gây áp lực lớn lên pit-tông và day pit-tông chuyển động xuống ĐCD, thông qùa thanh truyền làm quay trục khuýu Khi pi- tong di xuống thì áp suất trong xilanh giảm dần
d) Kỳ thải: diễn ra sau kỳ cháy dãn nở Ở kỳ này (hình 2.2-3 đ), xupáp nạp vẫn đóng kín, xupáp thải mở, pit-tông di chuyển từ ĐCD lên ĐCT đẩy khí đã cháy ra
ngoài qua cửa thải
Vì áp suất trong xilanh ở cuối kỳ cháy dãn nở vẫn còn khá cao nên xupáp thải bất đầu mở ở cuối kỳ dãn nở khi trục khuỷu còn cách ĐCD khoảng 40 - 60° géc
quay để khí đã cháy tự thoát bớt ra ngoài, làm giảm bớt lực cản đối với chuyển động trong kỳ thải và để thải được sạch hơn
Kết thúc kỳ thải là kết thúc một chu trình làm việc của động cơ, sau đó chuyển động của pit-tông tiếp tục lặp lại theo trình tự của chu trình làm việc như trên
Nhận xét về chu trình làm việc của động cơ bốn kỳ:
- Trong bốn kỳ, chỉ có duy nhất kỳ cháy dãn nở là kỳ sinh công làm quay trục
khuỷu, các kỳ còn lại là các kỳ cản được trục khuỷu dẫn động nhờ năng lượng tích trữ (động năng) của bánh đà và nhờ công của các xilanh khác (động cơ nhiều xilanh) trong quá trình làm việc Khi khởi động động cơ, phải quay trục khuỷu bằng động cơ điện hoặc tay quay để thực hiện ba kỳ cản cho tới khi động cơ bắt đầu làm việc
Trang 19- Để bảo đảm phần lớn nhiên liệu được cháy khi pit-tông ở lân cận ngay sau
ĐCT, tia lửa điện phải được bật sớm hoặc nhiên liệu diesel phải được phun sớm để quá trình cháy bắt đầu trước ĐCT Thời điểm bật tia lửa điện hoặc phun nhiên liệu diesel trước ĐCT được tính theo góc quay 0 trục khuyu va duoc goi la góc đánh lửa sớm hoặc góc phun sớm
- Để thải sạch khí thải và nạp đầy khí nạp mới vào trong xilanh để cho động cơ làm việc khỏe cần phải mở sớm và đóng muộn các xupáp với ĐCT và ĐCD Các góc mở sớm, đóng muộn vào khoảng 20' - 60°.góc quay trục khuỷu |
Xupáp nạp được mở ở cuối kỳ thải trước khi pit-tông tới ĐCT (mở sớm so với DCT) va đóng ở đầu kỳ nén sau khi pit-tông qua ĐCD (đóng muon so với PCD) dé cho trong kỳ nạp xupáp luôn ở trạng thái mở to, hút được nhiều khí nap mới
Xupáp thải được mở ở cuối kỳ dan nd trước khi pit-tông đến ĐCD (mở sớm so
với ĐCD) để tận đụng chênh áp cho khí cháy tự thoát ra ở cuối kỳ đãn nở, đồng
thời để cho xupap đạt độ mở to trong kỳ thai làm giảm sức cản và: thải sạch Xupap _ thải được đóng ở đầu kỳ nạp sau khi pit-tông đã qua ĐCT (đóng: muộn so-với ĐCT)
để duy trì độ mở to của xupáp trong kỳ thải để thải sạch sở
Như vậy, có một khoảng thời gian tương Ứng với góc quay của trục khuýu, trong đó cả xupáp nạp và xupáp thải đểu mở được gọi là thời kỳ: trùng điệp Glai đoạn từ lúc mở đến lúc đóng của các > Xupấp tính theo gÓC quay trục khuỷu được gọi
2.2.4 Dong co nhiéu xilanh
Nhu đã giới thiệu ở trên, trong bốn hành trình của động c cơ bốn kỳ chỉ có hành trình “cháy dãn nở” là sinh công làm quay trục khuỷu, còn bạ hành trình nạp, nén -
và thải được dẫn động từ trục khuỷu và tiêu thụ công tích trữ ở bánh đà Vì vậy, tốc
độ quay của động cơ bốn kỳ một xilanh không đều, quay nhanh ở cuối “hành trình -cháy dãn nở và quay chậm ở cuối hành trình nén Để khắc phục nhược điểm trên người ta phải sử dụng động cơ nhiều xilanh hoặc tăng khối lượng bánh: đà
Trong hầu hết các động cơ nhiều xilanh, kích thước các chỉ tiết ở các, xilanh là như nhau nên đặc điểm chu trình làm việc của các xilanh cũng giống nhau, chỉ lệch pha về góc quay giữa các khuyu truc trén truc khuyu Do do, diéu kiện bảo đảm cho tốc độ động cơ quay đều là các kỳ “cháy dãn nở” (hay gợi là kỳ nổ) của các xilanh phải được phân chia đều trong thời gian ứng với một chu trình (hai: yong quay cua truc khuyu) Néu gọi @ là khoảng cách tính theo góc quay trục khuyu giữa hai kỳ
nổ của hai xilanh nổ kế tiếp nhau và ¡ là số xilanh thì ì điều kiện để trục Khuyu quay
Trang 20Việc bố trí thứ tự nổ của các xilanh phải làm sao để tránh tải trọng tập trung quá nhiều vào một hoặc một số cổ trục nào đó để trục có sức bền đồng đều Do vậy, thứ tự nổ thường được bố trí không theo tuần tự các xilanh từ đầu đến cuối dãy mà
xen kẽ nhau Ví dụ, động cơ 4 xilanh một hàng có thể có thứ tự nổ là 1- 3 - 4 - 2 hoặc 1- 2 -.4 - 3, động cơ 6 xilanh một hàng có thứ tự nổ I- 5 - 3 - 6 - 2 - 4 Xilanh
thứ nhất được tính từ phía đầu động cơ
<p @®
180° (a) | (b) (c)
Hình 2.2-4 Một số dạng trục khuỷu của động cơ nhiều xilanh (a)- động cơ 4 xilanh một hàng; (b)- động cơ 6 xilanh một hàng;
(c)- động cơ 8 xilanh hai hàng chữ V với góc lệch 901
Như vậy, trong động cơ bốn kỳ, 4 xilanh trong hai vòng quay của trục khuỷu
có 4 lần nổ của 4 xilanh, trong đó cứ 180° hoặc nửa vòng quay của trục khuỷu thì
có 1 xilanh nổ Các kỳ khác của các xilanh cũng cách nhau 180° Để thực hiện được
góc lệch giữa các lần nổ bằng nhau, các khuỷu trục trên trục khuỷu của động cơ 4 xilanh phải lệch nhau 180° và có đạng như ở hình 2.2-4 a với thứ tự nổ của các
xilanh là 1- 3 - 4 - 2 hoặc 1- 2 - 4 - 3
Theo nguyên tắc tương tự, trục
khuỷu của động cơ 6 xilanh bố trí
thẳng hàng có góc lệch khuỷu của hai
“ A 3 (a)- động cơ I xilanh: (b)- động cơ I hang xilanh;
chấp nhận trục khuyu quay khong (c)- déng co 2 hang xilanh chit V; (d)- động cơ 2
đều nhưng dễ cân bằng trục khuyu hàng xilanh nằm ngang: (e)- déng co 3 -hang
Động cơ có số xilanh từ 2 - 4 thường bố trí kết cấu dạng một hàng xilanh, còn động cơ có số xilanh nhiều hơn như động cơ 6, 8 hoặc 12 xilanh thường bố trí thành hai hàng xilanh dạng hình chữ V (hình 2.2-5) Góc lệch giữa hai hàng xilanh có thể 20
Trang 21
là 60° hoặc 90° Tuy nhiên, cũng có một số động cơ 4 xilanh được bố trí thành hai
hàng hình chữ V trong khi có một số động cơ 6 xilanh bố trí một hàng
Động cơ hai hàng xilanh chữ V thường dùng kết cấu lắp hai thanh truyền của hai xilanh ở hai hàng trên cùng một chốt khuỷu Hình 2.2-4c giới thiệu một đạng trục khuỷu của động cơ 8 xilanh bố trí thành hai hàng hình chữ V (V- 8) với góc lệch giữa 2 hàng xilanh là 90° và dùng một chốt khuỷu chung cho hai thanh truyền
2.2.5 Động cơ tăng áp
Phương pháp hiệu quả để tăng công suất động cơ trong khi động cơ vẫn nhỏ
gọn là tăng lượng khí nạp mới vào xilanh nhờ nén khí trước khi nạp vào động cơ
Như vậy, khí nạp sẽ qua máy nén và được đẩy vào xilanh động cơ Máy nén có thể
được dẫn động trực tiếp từ trục khuỷu của động cơ gọi là tăng áp cơ khí hoặc được dẫn động từ một tuabin hoạt động nhờ năng lượng khí thải Khí thải từ động cơ được dẫn vào tuabin để làm quay tuabin và tuabin lại dẫn động máy nén Tuabin và máy nén được làm thành một cụm tuabin - máy nén có trục quay chung, khi động
cơ chạy toàn tải, tốc độ cụm tuabin - máy nén có thể tới 100.000 vòng/phút (v/p) 2.3 CÁC CHỈ TIEU KINH TE, KY THUAT CUA DONG CƠ
Công chỉ thị cia mét chu trinh L,: 1a cong do Ap luc khi thé trong xilanh ép lén pit-tông làm pit-tông chuyển động Trong quá trình cháy dãn nở, áp lực khí thể đẩy
pit-tông chuyển động nên sinh công nhưng trong quá trình nén áp lực khí lại gây cản trở chuyển động của pit-tông nên tiêu thụ công Do đó, công của chu trình bằng
hiệu của công trong kỳ cháy dãn nở và công cản trong kỳ nén Công cản trong quá
trình nạp và thải không đáng kể so với công dãn nở va nén
Công suất chỉ thị của động cơ NÑ là công chỉ thị của các xilanh tao ra trong
thời gian một giây (1s)
Công suất có ích của động cơ N, (công suất của động cơ): là công suất do được
trên đuôi trục khuỷu của động cơ để kéo máy công tác Công suất thường được tính
bằng mã lực (hp) hoặc kW, (1 mã lực = 0,7457 kW)
Lượng chênh lệch giữa N, và N, là công suất tổn hao cơ giới N„, N„ =N,-N,, dùng để khắc phục các lực cản trong động cơ, bao gồm:
- Lực cản do ma sát giữa các bề mặt cặp chỉ tiết có chuyển động tương đối với nhau;
- Lực cản do dẫn động các cơ cấu và hệ thống như cơ cấu phân phối khí, bơm
nước, bơm nhiên liệu, bơm dầu, quạt gió v.v
Mômen của động cơ M: là mômen đo được trên đuôi trục khuỷu của động cơ
Giữa mômeri và công suất có mối liên hệ sau:
Trang 22Từ (2.3-1) ta có:
N.= M,n 9,55
Để xác định công suất của động cơ, người ta đo tốc độ và mômen trên đuôi trục khuỷu động cơ trên băng thử rồi tính công suất theo công thức (2.3-2)
(2.3-2)
Hiệu suất của động cơ T7? : là tỷ số giữa nhiệt lượng chuyển thành công có ích
chia cho nhiệt lượng sinh ra do nhiên liệu cháy trong xilanh được.tính trong cùng
một đơn vị thời gian
1 = Ne _- (2.3-3)
Gy Qu — _
Trong d6: G,, - lượng nhiên liệu cấp cho động cơ trong I giây (kg/$);
Q„¡ - nhiệt trị thấp của 1kg nhiên liệu (J/kg);
N, công suất động cơ (W)
Suất tiêu hao nhiên liệu g„: là lượng nhiên liệu tiêu thụ tính theo gam cho một
mã lực hoặc kW trong l giờ (g/mãlực.h hoặc g/kW h)
suất tiêu hao nhiên liệu thể hiện tính kinh tế của động cơ, động cơ có tính kinh
tế càng cao thi g, càng nhỏ Động cơ ô tô có g, khoảng 210 - 250 g/mãlực.h đối với
động cơ xăng và 160 - 190 g/mãlực.h đối với động cơ diesel
Các thông số làm việc chính của động cơ: là các thông số liên quan đến quá
trình vận hành và sử dụng động cơ, gồm các thông s s6 sau đây ứng với tay ga Ở Vị trí
mở hoàn toàn:
- Tốc độ vòng quay thiết kế (bình thường), tốc độ vòng quay cực đại, cực tiểu;
- Công suất thiết kế (công suất ứng với tốc độ thiết kế) và công suất cực đại;
- Mômen thiết kế (mômen ứng với tốc độ thiết kế) và mômen cực đại;
- Suất tiêu hao nhiên liệu
2.4 SO SÁNH ĐỘNG CƠ DIESEL VỚI ĐỘNG CƠ XĂNG
Uu điểm của động cơ diesel là có hiệu suất cao hơn động cơ xăng Với công suất như nhau, lượng nhiên liệu tiêu thụ của động cơ diesel ít hơn động cơ xăng khoảng 20 - 25% Nhiên liệu diesel lại rẻ hơn so với xăng nên sử dụng: động cơ diesel kinh té hon
22
Trang 23
Tuy nhiên, động cơ diesel có nhược điểm là do tỷ số nén lớn nên khởi động
nặng và khó khởi động, chạy không êm, các chi tiết phải được chế tạo cứng, vững
hơn, bền hơn nhưng động cơ thường có tuổi thọ thấp hơn động cơ xăng
_ 2.5 NHIÊN LIỆU VÀ MÔI CHẤT CÔNG TÁC CỦA ĐỘNG CƠ
Hiện nay, xăng và đầu diesel là các loại nhiên liệu được dùng chủ yếu trong động cơ ô tô Các nhiên liệu này là sản phẩm được tinh chế từ đầu mỏ và là tổng hợp của nhiều loại cacbuahydrô, trong đó xăng chứa nhiều cacbuahyđrô nhẹ, còn
dầu diesel chứa nhiều cacbuahydrô nặng
Một số tính chất và đặc điểm cháy của xăng và đầu diesel:
- Tỷ trọng của xăng khoảng 0,7 - 0,75 kg/1, của dau diesel khoảng 0,8 - 0,9 kg/l ’
- Nhiệt trị thấp (lượng nhiệt sinh ra khi đốt cháy Ikg nhiên liệu) của xăng là 44.000 kJ/kg, của dầu diesel là-42.500 kJ/kg
- Tỷ lệ không khí và nhiên liệu thích hợp cho quá tr trình chdy trong động cơ: Luong không khí lý thuyết để đốt cháy hoàn toàn Ikg nhiên liệu xăng là 14,8 kg
không khí/Ikg nhiên liệu, dầu diesel là 14,4 kg không khí/1kg nhiên liệu Tuy
nhiên, trong động cơ, tỷ lệ hòa trộn giữa không khí và nhiên liệu có khác tỷ lệ lý thuyết một chút do điều kiện cháy trong động cơ khác xa so với điều kiện cháy lý
tưởng Để tiện so sánh, người ta gọi tỷ lệ giữa lượng không khí thực tế nạp vào xilanh ứng với Ikg nhiên liệu và lượng không khí lý thuyết cần thiết để đốt cháy
hoàn toàn lkg nhiên liệu là hệ số dư lượng không khí œ Trong động cơ xăng, lượng không khí nạp vào xilanh ứng với 1kg nhién liéu bang 0,8 - 1,1 lần lượng không khí
lý thuyết để đốt cháy hết lkg nhiên liệu (œ = 0,8 - 1,1), trong khi trong động cơ diesel tỷ lệ này là œ = 1/2 - 1,6
- Đánh giá tính tự cháy của nhiên liệu diesel: Trong động cơ diesel, nhiên liệu
tự bốc cháy khi được phun vào xilanh ở cuối quá trình nén Để đánh giá tính tự cháy của nhiên liệu diesel, người ta dùng một đại lượng gọi là số Xetan có giá trị
trong khoảng 0 - 100, số Xetan càng cao nhiên liệu càng dễ tự cháy và ngược lại
- Đánh giá tính chống kích nổ của xăng:
Trong động cơ xăng, hỗn hợp hơi xăng và không khí được đốt cháy nhờ tia lửa điện và quá trình cháy sẽ lan nhanh từ vị trí tia lửa điện ra toàn bộ buồng cháy Đó
là hiện tượng cháy bình thường
Cháy kích nổ là hiện tượng cháy không bình thường trong động cơ xăng liên quan đến tính tự cháy của nhiên liệu Khi hiện tượng cháy kích nổ xảy ra, trong
buồng cháy xuất hiện nhiều tâm tự cháy gây ra các sóng áp suất lên thành buồng
cháy, tạo tiếng gõ kim loại và gây nhiều tác hại nghiêm trọng cho động cơ Các nguyên nhân làm cho động cơ nóng hơn bình thường đều có xu hướng tăng khả
Trang 24
23-năng cháy kích nổ Với mỗi loại xăng nhất định, nếu dùng với động cơ có tỷ số nén
càng cao thì xu hướng bị cháy kích nổ càng lớn
Để đánh giá tính chống kích nổ của xăng, người ta dùng số ôc-tan (số ôc-tan: MON và số ôc-tan RON có trị số khác nhau) Xăng có.số ôc-tan càng cao, có tính chống kích nổ càng cao Các loại xăng trên thị trường hiện nay có số 6c-tan RON
từ 90 - 98 Với mỗi loại động cơ, nhà chế tạo quy định sử dụng loại xăng có một số ôc-tan tối thiểu nhất định Người sử dụng không nên sử dụng xăng có số ôc-tan thấp hơn giới hạn này vì sẽ làm tăng khả năng kích nổ
2.6 CAU TAO CHUNG CUA DONG CO
Hinh 2.6-1 giới thiệu kết cấu
của một động cơ bốn kỳ, hình 2.6-2
giới thiệu các chỉ tiết chính của động
cơ Động cơ gồm có các bộ phận
chính sau: ˆ
- Thân máy: là khung xương để ổn G
lắp xilanh và các cơ cấu cũng như to
các hệ thống phục vụ của động cơ , y 32 :cẽ
i)
- Nap xilanh: 18 chi tiét day kin
xilanh va để lắp xupáp, ống nạp, ống
thải và các chi tiết khác i ~
- Cơ cấu trục khuỷu - thanh
truyền: gồm các nhóm chi tiết chính
là trục khuyu, thanh truyền, pi(-tông
và các chỉ tiết lấp ghép trong cơ cấu
Đây là cơ cấu chính của động cơ
Trên pit-tông có lắp xécmăng để bao
kín khe hở giữa pit-tông và thành
xilanh - Cơ cấu phân phối khí: gồm Hình 2.6-1 Kết cấu của một động cơ 4 “hanh
‹ se ae 1- truc cam; 2- xupdp; 3- pii-tông; 4- thanh
xupap, trục cam và các chi ti€t trung —gruyén: 5- trac khuỷu
gian để điều khiển xupáp đóng, mở
Ngoài ra, động cơ còn có các hệ thống phục vụ đảm bảo động cơ làm việc bình
thường không thể hiện trên hình vẽ Các hệ thống này gồm:
- Hệ thống cung cấp nhiên liệu: thực hiện cung cấp nhiên liệu và hòa trộn
nhiên liệu với không khí ở tỷ lệ thích hợp cho động cơ làm việc
- Hệ thống đánh lửa: bật tia lửa điện đúng thời điểm để đốt nhiên liệu đối với động cơ xăng
24
Trang 25- Hệ thống làm mát: thực hiện tản nhiệt cho các chỉ tiết, duy trì trạng thái nhiệt
ồn định cho động cơ ở mức không nóng quá và cũng không n nguội quá để động CƠ làm việc bình thường
- Hệ thống bôi trơn: đảm bảo cung cấp dầu bôi trơn cho các chỉ tiết ma sát để giảm mài mòn
- Hệ thống khởi động: để khởi động động cơ khi cần vận hành
Xécmang
Pit-tông _ Truc khuyu Thanh truyền Đạc lót ổ trục
Trang 26CÂU HOI ON TAP
1, Trình bày nguyên lý hoạt động của động cơ bốn kỳ
2 Nhiệt năng do nhiên liệu cháy trong xilanh được biến đổi thành cơ năng
làm quay trục khuyu nhu thé nao?
3 Các kỳ nạp, nén và thải của động cơ a các kỳ gây cản, tiêu hao một năng, lượng nhất định, năng lượng này đến từ đâu?
4 Giải thích tai sao trục khuỷu của động cơ đốt trong quay không đều như
các loại động ‹ cơ điện? _
cỐ, Tại sao động cơô 6 thường được chế tạo ở dạng động co nhiéu xilanh?
6 Banh da có vai trò gì trong động cơ?
1 Các xupáp đóng, mở vào lúc nào thì được gol lan mở sớm và đóng muộn?
Tại SaO Các xupáp cần phải được mở sớm và đóng muộn?
8 Tai sao qua | trinh ¡cháy cần phải được bát đâu ¿ sớm trước điểm chết trên Ở
9.- Khi nói đến một t động cơ, người ta thường quan tâm đến những thông số
nào đầu tiên? ST
10 Khi mua xăng cho ô tô cần chú ý đến thông số nào của a xăng?
1 Động cơ xăng có ưu, nhược điểm gi So với động cơ diesel?
26 4.GTKTSC.ÔTÔ.B
Trang 27ì
Chương 3
THÁO ĐỘNG CƠ, RỬA VÀ KIỂM TRA CHI TIẾT
3.1 CHẨN ĐOÁN HƯ HỎNG CỦA ĐỘNG CƠ TRƯỚC KHI THÁO Động cơ là một cỗ máy có kết cấu rất phức tạp, bao gồm nhiều cụm và chỉ tiết lắp ghép có chuyển động tương đối với nhau Trong quá trình làm việc, các chỉ tiết chịu tải trọng và chịu ma sát nên bị mòn, biến đạng hoặc hỏng hóc, dẫn đến làm thay đổi các thông số lam việc của động cơ Ví dụ, sự mài mòn lớn của các chỉ tiết xếcmăng, pit-tông và xilanh sẽ làm công suất động cơ giảm và tiêu hao nhiên liệu
tăng Khi các chỉ tiết bị mòn và biến dạng đến một mức độ nhất định hoặc bị hỏng
hóc, động cơ sẽ không thể làm việc bình thường Khi đó, cần phải sửa chữa để phục
hồi lại khả năng làm việc của động cơ, nếu không, động cơ có thể bị phá hỏng
không thể sửa chữa được hoặc nếu sửa chữa thì chỉ phí sửa chữa sẽ rất lớn, không
Như vậy, việc xác định thời điểm tháo động cơ để sửa chữa lớn sẽ ảnh hưởng
đến tính kinh tế trong sử dụng động cơ Không nên tháo hoàn toàn động cơ để kiểm tra chỉ tiết bên trong khi chưa phán đoán được các bộ phận có hỏng hóc hay không
vì với các chi tiết không hỏng, đang làm việc bình thường nếu tháo ra rồi lắp lại sẽ làm mất tính rà trơn và do đó làm giảm tuổi thọ của chúng Cho nên, cần phải phán
đoán các hư hỏng dựa trên các thông số làm việc của động cơ trước khi quyết định
tháo một cụm nào đó hoặc tháo toàn bộ động cơ để sửa chữa, phục hồi
Nói chung, sự mòn hỏng của các chỉ tiết trong động cơ sẽ làm thay đổi đặc
điểm làm việc của động cơ như công suất giảm, thành phần độc hại trong khí thải
tăng, áp suất nén trong xilanh giảm, áp suất dầu bôi trơn giảm, độ bẩn của đầu bôi
trơn tăng, lượng tiêu hao dầu bôi trơn tăng, tiếng ồn tăng hoặc động cơ quá nóng,
v.v Sự mài mòn và hư hỏng của mỗi chỉ tiết quan trọng trong động cơ sẽ làm thay
đổi một số thông số làm việc nhất định của động cơ ở các mức độ khác nhau
Vi dụ, xécmăng dầu bị gãy sẽ làm tăng tiêu hao dầu, khí thải khói xanh và chảy dầu
ở ống thải, xécmăng khí gãy hoặc kẹt sẽ gây lọt hơi và giảm công suất, tăng tiêu hao nhiên liệu của động cơ Vì vậy, có thể dựa vào đặc điểm của các thông số làm việc của động cơ để chẩn đoán các hư hỏng trước khi quyết định tháo động cơ để
sửa chữa
27
Trang 28Để chẩn đoán nhanh và chính xác các bộ phận và chỉ tiết có hư hỏng, cần thực
hiện và phân tích theo các bước sau:
1 Nghe thông tin phàn nàn của người sử dụng về đặc điểm vận hành không bình thường của động cơ
2 Khởi động cho động cơ làm việc, nếu cần thì chạy thử xe trên đường (nếu có thể) để xác định rõ tình trạng làm việc của động cơ và các dấu hiệu làm việc không
bình thường của động cơ
3 Kiểm tra các hệ thống liên quan đến các dấu hiệu làm việc không bình thường của động cơ
4 Phân tích, kiểm tra các bộ phận của các hệ thống được nghi có hư hỏng
5 Tổng hợp các thông tin vừa kiểm tra, kết hợp với hiểu biết về hư hông của
động cơ để xác định đúng bệnh của động cơ
Sau đây giới thiệu cách chẩn đoán hư hỏng dựa trên một số thông số làm việc của động cơ
3.1.1 Chấn đoán hư hỏng dựa vào công suất động cơ
Công suất động cơ giảm so với định mức có thể nhận thấy khi lái xe trên đường, thể hiện bởi động cơ kéo tải yếu, máy lì, khi nhấn bàn đạp ga đến một mức
độ nhất định nhưng xe vẫn không đạt tới tốc độ mong muốn Tuy nhiên, điều này chỉ có thể đễ dàng cảm nhận được khi công suất động cơ giảm đột ngột hoặc giảm nhiều so với định mức
Để đánh giá chính xác mức độ giảm công suất của động cơ, có thể kiểm tra
bằng cách đưa xe lên băng thử phanh để đo mômen trên bánh xe chủ động, từ đó tính dược mômen và công suất của động cơ Trong trường hợp động cơ đã được tháo khỏi xe, có thể đưa động cơ lên băng thử công suất để đo trực tiếp mômen và công suất động cơ rồi so sánh với công suất thiết kế để xác định mức độ giảm Công suất của động cơ giảm do rất nhiều nguyên nhân như: các chi tiết bao kín
buồng cháy bị mòn, hỏng làm giảm độ kín khít và gây lọt khí; cơ cấu phân phối khí làm việc không tốt, làm cho quá trình nạp đây và thải sạch kém; chất lượng quá trình cháy kém do hư hỏng ở hệ thống cung cấp nhiên liệu và hệ thống dánh lửa; trạng thái nhiệt của động cơ không bình thường (động cơ quá nóng) do hư hỏng ở
hệ thống làm mát v.v Do đó, công suất động cơ giảm là dấu hiệu cho thấy động
cơ có hư hỏng, nhưng cần phải kiểm tra thêm các thông số làm việc của các cơ cấu
và hệ thống liên quan để chẩn đoán các hư hỏng cụ thể Ví dụ, cần kiểm tra áp suất
nén để xác định tình trạng mòn, hỏng của các chi tiết xilanh, pit-tông, xécmăng và xupáp; kiểm tra khí thải để xác định tình trạng của hệ thống nhiên liệu và hệ thống đánh lửa; kiểm tra hệ thống làm mát v.v
ND oF
Trang 29Đặc điểm của khí thải cĩ liên quan chặt chẽ với đặc điểm hịa trộn khơng khí 3.1.2 Chẩn đốn hư hồng dựa vào phân tích khí thải
với nhiên liệu của hỗn hợp và đặc điểm của quá trình cháy của động cơ Đĩ là tỷ lệ
giữa khơng khí và nhiên liệu của hỗn hợp cháy, sự hịa trộn đồng đều của hỗn hợp cháy, các tạp chất trong hỗn hợp cháy, trạng thái nhiệt của động cơ, tình trạng của
hệ thống đánh lửa trong động cơ xăng, chất lượng phun nhiên liệu trong động cơ diesel v.v Vì vậy, khi phát hiện thấy màu và mùi khí thải khác thường nên phân
tích kỹ để phán đốn hư hỏng
a) Quan sát màu của khí thải Khí thải khơng màu hoặc cĩ màu nâu nhạt cho biết quá trình cháy bình thường Khí thải màu nâu thẫãm hoặc đen chứng to nhiên liệu cháy khơng triệt để
Nguyên nhân là hỗn hợp cháy quá đậm nhiên liệu do thiếu khơng khí hoặc thừa nhiên liệu so với trạng thái làm việc bình thường, hoặc tỷ lệ hỗn hợp bình thường
nhưng cháy khơng triệt để do hịa trộn khơng tốt hoặc hệ thống đánh lửa kém Các
hư hỏng cĩ thể là bầu lọc khí tắc, đường ống nạp cĩ cản trở lớn, bướm giĩ mở khơng hết, điều chỉnh lượng nhiên liệu cấp lớn hơn tiêu chuẩn hoặc vịi phun nhiên liệu kém làm nhiên liệu phun khơng tơi
Khí thải cĩ màu xanh xám chứng tỏ cĩ hiện tượng cháy dầu bơi trơn do dầu lọt vào xilanh Nguyên nhân là xécmăng - xilanh khơng bảo đảm kín khít làm dầu sục
lên buồng cháy từ phía cacte, gioăng chấn dầu đuơi xupáp hỏng làm đầu chảy theo
ống dẫn hướng xupáp nạp vào xilanh Cần kiểm tra thêm áp suất nén trong xilanh
để kết luận sự mài mịn của xécmăng
Khí thải cĩ màu trắng thể hiện chứa nhiều hơi nước Nguyên nhân là do rị rỉ nước từ khoang nước làm mát vào trong xilanh do hiện tượng thổi giộng nắp máy (cháy gioăng), nứt thân máy hoặc nắp máy
b) Phản tích thành phần khí thải
Cĩ thể dùng các thiết bị đo nhanh cắm vào ống thải để đo các thành phần
ơxytcacbon (CO), hyđrơcacbon (HC), ơxytnitơ (NO,) đối với động cơ xăng và đo
thêm muội than đối với động cơ diesel rồi so sánh với tiêu chuẩn để đánh giá
Nếu hàm lượng CO và HC lớn hơn bình thường chứng tỏ thừa nhiên liệu hoặc thiếu khơng khí Nguyên nhân như đã nĩi ở trên
Nếu chỉ riêng HC tăng lớn thì cĩ thể cĩ hiện tượng bỏ máy (một xilanh nào đĩ khơng làm việc do bugi hỏng)
Nếu lượng khí NO, quá lớn là do động cơ quá nĩng
Muội than nhiều là do nhiên liệu phun khơng tơi và lượng nhiên liệu phun quá
lớn trong động cơ diesel hoặc do các chỉ tiết bao kín buồng cháy mịn, gây lọt khí nhiều nên quá trình cháy kém
29
Trang 303.1.3 Chẩn đoán hư hỏng dựa vào trạng thái nhiệt của động cơ
Trạng thái nhiệt của động cơ rất dễ nhận biết qua đồng hồ báo nhiệt độ nước làm mát và qua nhiệt độ cụm ống thải Tình trạng động cơ quá nóng liên quan chủ yếu đến hệ thống làm mát kém và quá trình cháy trong động cơ không bình thường Các hư hỏng có thể là bơm nước hỏng, dây dai ching, van hằng nhiệt bị liệt hoặc
luôn đóng, quá trình cháy quá muộn do đặt lửa sai hoặc cháy kích nổ
3.1.4 Chẩn đoán hư hồng dựa vào áp suất nén của xilanh ˆ
Áp suất cuối kỳ nén liên quan đến tình trạng nạp đây xilanh và độ kín khít của các chỉ tiết bao kín buồng cháy như xécmăng - xilanh, đệm nắp máy, xupap - đế
xupáp Áp suất nén giảm so với tiêu chuẩn có thể do các nguyên nhân sau đây:
- Sức cản trên đường ống nạp lớn do tắc lọc gió hoặc bướm gió không mở hết;
~ Pha phân phối khí bị sai (thường ít gặp);
- Hở xupáp do cháy rỗ xupáp và đế xupáp, không có khe hở nhiệt;
~ Hở đệm nắp xilanh;
- Mòn xilanh - xécmăng - pit-tông, gãy hoặc ket xécmăng trong rãnh
Áp suất nén trong xilanh giảm làm cho công suất động cơ giảm nên khi phát
hiện thấy máy yếu nên kiểm tra áp suất nén để xác định hư hỏng
Việc đo áp suất cuối kỳ nén được thực hiện theo quy trình sau:
1 Vận hành động cơ đạt đến trạng thái nhiệt bình thường (nhiệt độ nước làm
mát trong phạm vi 85 - 90)
2 Dừng máy và tháo tất cả bugi hoặc vòi phun khỏi động c‹ cơ
3 Mở hết cỡ bướm ga và bướm gió
4 Ngắt điện đến hệ thống đánh lửa
5 Lắp đồng hồ đo áp suất vào lỗ lắp bugi hoặc lỗ lắp vòi phun
6 Dùng máy khởi động làm quay động cơ ít nhất 10 vòng
7 Đọc giá trị ấp suất nén chỉ trên đồng hồ đo áp suất
Nếu giá trị áp suất nén đo được nhỏ hơn số liệu tiêu chuẩn thì có thể kết luận
buồng cháy không kín Để kiểm tra thêm, đổ 20 - 25 cmẺ dầu bôi trơn vào xilanh đó qua lỗ lắp bugi (hoặc lỗ lấp vòi phun), do lại áp suất nén, nến áp suất không tăng chứng tỏ xupáp không kín, nếu áp suất tăng rõ rệt thì kết luận do hỏng nhóm
plt-tông - xécmăng - xilanh
3.1.5 Chẩn đoán hư hỏng dựa vào đặc điểm của dầu bôi trơn
a) Chẩn đoán hư hỏng theo áp suất dầu
Áp suất đầu bôi trơn được chỉ thị trên đồng hồ báo áp suất Độ lớn của ấp suất dầu được nhà chế tạo quy định cụ thể đối với mỗi loại động cơ Khi động cơ hoạt
30
Trang 31động ở chế độ tốc độ định mức, áp suất dầu thường vào khoảng 2 - 4 kg/cm”? đối với động cơ xăng và 3 - 6 kg/cm? đối với động cơ diesel Khi động cơ hoạt động ở chế
độ chạy chậm thì áp suất dầu yêu cầu không được thấp hơn 0,5 kg/cm”
Nếu áp suất dầu quá thấp so với quy định thì có thể phán đoán do các hư hỏng
- Độ nhớt của dầu quá thấp do lẫn nhiên liệu khác vảo
Trong một số trường hợp, có thể có hiện tượng áp suất dầu tăng cao do tắc,
đường dầu chính trong khi van điều tiết áp suất bị liệt Tuy nhiên, hiện tượng áp suất đầu tăng thường ít gặp hơn là áp suất dầu giảm
b) Chẩn đoán bư hỏng theo lượng tiêu hao dầu
Lượng tiêu hao dầu lớn có thể do xécmăng dầu bị mon, gay hoặc kẹt làm cho
_ đầu sục lên buồng cháy của xilanh và cháy hoặc có thể do nứt vỡ thân máy làm dầu
chảy vào áo nước Khi phát hiện lượng tiêu hao dầu lớn cần kiểm tra thêm khí thải
va nước làm mát trong két để có kết luận hư hỏng chính xác
c) Chẩn đoán hư hỏng theo độ bẩn của dầu -
Nếu trong dầu có nhiều mạt kim loại hoặc các mảnh kim loại nhỏ có thể phán
đoán có hiện tượng tróc rỗ bạc lót, xécmăng, pit-tông hoặc xilanh Nếu đầu đen và
khét là do khí cháy lọt xuống quá nhiều do xécmăng, xilanh mòn hỏng
3.1.6 Chẩn đoán hư hỏng dựa vào tiếng gõ trong động cơ -
Động cơ khi làm việc thường phát ra tiếng ồn Tuy nhiên, trong điều kiện làm
việc bình thường, đó là tiếng ồn phản ánh các hiện tượng khí động trong quá trình nạp, thải và cháy của động cơ Nếu động cơ phát
ra tiếng va đập hay tiếng gõ kim loại thì có thể
nghi vấn có hiện tượng mòn hỏng không bình
thường trong động cơ Tiếng va đập thường là do
các cặp chỉ tiết lắp ghép mờn, gây khe hở vượt
mức cho phép hoặc do dầu bôi trơn cung cấp
- không đủ hoặc áp suất dầu thấp, hoặc trong một
số trường hợp do một chỉ tiết nào đó bị gãy, vỡ
Khi đó, cần kiểm tra để phát hiện các vùng có
a ~' 32 1z a 3 x Hình 3.1-1 Dụng cụ nghe tiếng gõ
tiếng gõ để phán đoán hư hỏng Dụng cụ kiểm tra trong động cơ
phổ biến là tai nghe có đầu dò cộng hưởng - đầu dò cộng hưởng; 2- tai nghe
31
Trang 32(hình 3.1-1) Đặt đầu dò tì lên thân máy ở các vùng gần trục khuỷu, vùng xilanh,
vùng trục cam, vùng con đội và khu vực giàn đòn bẩy, xupáp v.v để nghe, phát
hiện và phân biệt tiếng va đập của các chi tiết và cơ.cấu bên trong
Có thể kết hợp tăng, giảm tốc độ để thấy rõ hiện tượng va đập và đánh giá
chính xác hơn sự mòn hỏng của chỉ tiết gây va đập Ví dụ, khi thay đổi tốc độ đột
ngột, nếu nghe thấy tiếng va đập trầm đục và mạnh ở khu vực trục khuyu là do va
đập của cổ chính và bạc; tiếng gõ ở cổ biên nếu có thường vang hơn và phát ra từ
khu vực giữa trục khuỷu và xilanh; tiếng gõ của chốt pit-tông thường danh và phát
ra từ khu vực vị trí ĐCT của pit-tông Xupáp và đòn bẩy nếu bị mòn thường phát
ra tiếng gõ lách tách nhẹ, đều ở mọi chế độ làm việc nhưng rất dễ phân biệt ở chế
độ chạy chậm của động cơ
3.2 VÊU CẦU VÀ NGUYÊN TÁC THÁO ĐỘNG CƠ
Tháo các cụm, tổng thành ra khỏi xe và tháo rời các chỉ tiết là công đoạn
không thể thiếu trong quá trình sửa chữa ô tô Khối lượng công việc tháo nhiều
hay ít sơ với tổng khối lượng công việc sửa chữa phụ thuộc vào yêu cầu, đặc thù
và cấp độ sửa chữa đối với từng xe Với các xe vào sửa chữa lớn, tức là cần sửa
chữa và phục hồi khả năng làm việc của tất cả các cụm và hệ thống trên xe, khối _ lượng công việc tháo chiếm tới 10% hoặc hơn trong tổng khối lượng công việc
sửa chữa Đây cũng là công đoạn quan trọng ảnh hưởng đến chất lượng và hiệu
quả kinh tế của quá trình sửa chữa, vì nếu tháo không cẩn thận và không đúng
quy trình có thể sẽ làm hỏng các chỉ tiết trong số các chỉ tiết đáng ra có thể được
sử dụng lại mà không cần phải sửa chữa Do vậy, công việc tháo phải tuân theo các quy trình kỹ thuật hợp lý, đáp ứng các yêu cầu và nguyên tắc nhất định
Yêu cầu quan trọng của công đoạn tháo là không được làm hỏng các chỉ tiết
trong quá trình tháo, phải đảm bảo chất lượng của các chi tiét không sửa chữa (các chi tiết được dùng lại mà không phải sửa chữa)
Về nguyên tắc, khi tháo cần tuân thủ các nguyên tắc sau đây:
- Đảm bảo các quy tắc an toàn lao động trong sửa chữa như đã nói ở chương 2
- Sử dụng đúng dụng cụ, nên sử dụng các dụng cụ chuyên dùng, hạn chế sử
dụng các dụng cụ vạn năng và tránh sử dụng các dụng cụ không thích hợp trong
quá trình tháo đối với từng bộ phận hoặc chỉ tiết cụ thể Ví dụ, để tháo các chi tiết
ghép căng như bánh răng đầu trục khuỷu hoặc bánh răng đầu trục cam phải dùng vam, không được dùng búa đóng ra vì sẽ làm sứt mẻ hoặc biến dạng bánh răng, sau này không dùng lại được; để tháo các bulông hoặc đai ốc nắp xilanh nên dùng tròng hoặc tuýp, không dùng cờlê hoặc mỏ lết vạn năng
- Tuân thủ quy trình tháo Quy trình tháo dựa trên nguyên tắc tháo từ ngoài vào trong để dễ dàng thao tác và tránh biến dạng hoặc nứt vỡ các chỉ tiết do ứng suất
gây ra; các chỉ tiết như ống nối, thanh giằng, nắp, vỏ tháo trước, các cụm tháo sau
Ge we
Trang 33~ Các chỉ tiết tháo ra cần tập trung theo bộ Và cụm, các chỉ tiết đổi lẫn thì phân - theo chủng loại, các chỉ tiết không đổi lẫn đi theo bộ cần đánh dấu để tránh lần lộn
c." Công việc tháo › xe và các tổng thành được tiến hành trong các phân: xưởng
tháo, có thiết bị nâng, hạ và vận chuyển Các cụm, tổng thành sau khi tháo TỜi khỏi
xe được đưa về các phân xưởng sửa chữa cụm để tháo rời chỉ tiết Mỗi: cụm có một quy trình tháo nhất định Các quy trình này được phân xưởng lập trên cơ SỞ tham khảo ci các tài liệu tướng dẫn sử dụng và sửa chữa do nhà chế tạo cung cấp
3, 3 THAO DONG CƠ TREN} XE XUONG
-Tuỳ thuộc vào khối lượng công việc yêu cầu sửa chữa đối với động cơ mà việc
sửa chữa có thể được thực hiện ngay trên xe hoặc tháo rời dong cỡ khỏi xe để sửa
chữa trong phân xưởng riêng Ví dụ, nếu việc sửa chữa chỉ gồm thay xécmăng,
pit-tong hoặc thay xupap thì có thể thực hiện ngay trên xe, tức là vẫn để động cơ trên xe, chỉ cần tháo nắp xilanh và cacte ra rồi thực hiện công việc sửa chữa và thay
thế chi tiết Tuy nhiên, khi công việc sửa chữa nhiều hoặc cần sửa chữa lớn phải tháo động cơ ra khỏi xe và đưa vào phân xưởng riệng để sửa chữa Nếu phân xưởng tháo có đầy đủ phương tiện mang giữ và vận chuyển như hệ thống tời, cầu chuyển, balăng thì việc tháo động cơ ra khỏi xe và lắp lại cũng không tốn nhiều công sức lam trong khi công việc sửa chữa động cợ ở dưới lại thuận tiện và dễ dàng hơn rất nhiều
so với thực hiện ở trên xe Điều đó ,gÓp phần tăng năng suất và chất lượng sửa chữa
Khi tháo động cơ ra khôi xe, cần phải tuân thủ những quy: 4rình nhất: định Các
quy trình này có thể có một số khá nhau nhỏ nhỏ đối với mỗi loại và:mẫu xe khác nhau hay với: Các kiểu và kích thước động cơ khác nhau Do đó, nếu có thể i tham khảo thêm các tài liệu hướng sửa chữa sẵn có đo nhà chế tạo cung cấp để nắm - -được quy trình sửa chữa chỉ tiết của mỗi loại xe Nói chung, việc tháo động cơità
khỏi, xe có thể tuân theo: quy trình sau đây:
3 3 1, Công việc ở phía trên động cơ (phía nắp cabô)
1 Dùng vải mềm phủ các phần cạnh sắc hoặc sơn ở tai xe, đầu xe để bảo vệ, tránh sự va chạm làm bong sơn hoặc biến dạng các chỉ tiết nay trong quá trình: tháo
- động cơra khỏi &e
2 Tháo nắp cabô ra khỏi xe Chú ý tránh va chạm làm xước kính hoặc sơn 3 Chú ý quan sát toàn bộ khoang động cơ; ghi nhớ sự bố trí, sắp xếp của các
_ cụm, hệ thống liên quan, nếu cần có thể đánh dấu các đường dây, đường ống cần tháo bằng mực hoặc băng dính có ghi chú để sau này khỉ lấp lại đỡ bị lúng túng và
_ nhầm lẫn, đặc biệt là với các loại xe mới tiếp xúc dân đầu Các chỉ tiết nhỏ tháo ra
nên để vào các hộp và ghi chú ở ngoài :
4 Tháo bình acquy và tháo đây cáp nối động cơ với thân xe
5.GTKTSC.OTOA 33
Trang 3453 Xá nước khỏi hệ thống làm mát nhờ van ở kết nước và trên thân động cơ
6 Tháo các ống nối giữa động cơ và khoang trên và khoang dưới của két
nước Các ống này là ống mềm nối với đầu cút trên động cơ và được kẹp chặt bằng dai-vit nén ding tudcnovit cé thé ndi long va tháo ra dễ dang
7 Với xe có sử dụng bơm trợ lực lái; bơm dầu của hệ thống phanh và bơm
đầu của hộp số tự động cần phải ngắt các đường dầu nối từ các bơm này vì các bơm
dầu này thường lắp vào thân động cơ và sẽ được đưa ra khỏi xe cùng với động cơ
Tháo tất cả các ống nối từ động cơ đến các hệ thống khác trên xe như đường ống _ nhiên liệu, đường chân không dẫn động các hệ thống khác nếu có Chú ý thao tác
cần thận khi tháo các đầu ống nối để tránh lầm hỏng chúng Các đường ống dầu,
khí hay nhiên liệu sau khi ngắt cần bịt các đầu nối lại bằng mũ chuyên dùng hoặc
vải để tránh va đập làm hỏng đầu nối hoặc bần, bụi dính vào làm tắc đường ống
8 Tháo các dây điều khiển hệ thống nhiên liệu, đường điện từ các cảm biến
trên động cơ như cảm biến đo áp suất dầu bôi trơn, cảm biến đo nhiệt độ nước làm mát, cảm biến đo độ mở bướm ga, cảm biến đo độ chân không trong hệ thống nạp - Với các xe đời mới, các đường điện thường được quấn và bọc lại thành đường cáp p iển và có các đầu cắm ra các cảm biến nên chỉ cần rút ra, nhưng chú ý nên đánh dấu các đầu cấm bằng băng dính có ghi chú thích trước khi rút ra để tránh nhầm lẫn
khi lắp lại
9 Tháo các lá chắn, tấm hướng gid, kết nước và quạt gió ra khỏi xe
10 Tháo máy nén của hệ thống điều hoà (nếu có) ra khỏi khoang máy
11 Tháo bộ chế hoà khí khôi động cơ để tránh bị va chạm, làm hỏng động cơ khi đưa động cơ ra khỏi Xe
12 Có thể tháo bộ chia điện và các day dien cao > ap ra khoi dong cơ hoặc để lại tháo sau
13 Tháo máy phát điện Trong một số trường hợp, máy phát điện có thể được
tháo sau khi đưa động cơ ra khỏi xe
14 Quan sát lại lần cuối trong khoang máy xem còn gì đính với động cơ cần
phải tháo không `
3.3.2 Công việc ở phía gầm động cơ (phía gâm xe)
- Các công việc dưới gầm xe bao gồm:
Nâng xe lên bằng giá nâng hoặc kích
Xã dầu động cơ -_ |
‘Théo đường ống xả khỏi cụm ống xả của động cơ
Tháo bulông hoặc đai ốc giữ phần trước của động cơ trên giá xe
Trang 356 Với xe sử dụng hộp số thường, tháo cần nối Hy hop
7 Với các xe sử dụng hộp số thường (hộp số diéu khiển bằng 1y) phải tháo -
mối nối giữa động co va hop SỐ
8 VỚI xe sử dụng hộp số tự động (hộp số thuỷ lực hay hộp biến mô "thuỷ lực) cần đánh đấu vị trí lấp giữa bộ biến mô thuỷ lực và di ĩa.chủ động để sau nay lap lại _vẫn đảm bảo cân bằng, sau đó tháo ngất biến mô khỏi đĩa động
9.- Tháo bulông giữ vỏ: hộp SỐ hoặc vỏ bộ biến mô với động cơ
10 Hạ thấp xe xuống, chú ý chống đỡ hộp số hoặc hộp biến mô
3 3 3 Nâng động cơ ra khỏi xe
Công đoạn này gồm Các bước sau:
1 Lap dây xích nâng vào động cơ Thường trên nắp xilanh có 2 con bulông
_ ding cho nâng chuyển, hãy móc móc xích vào các bulong này Chú ý, bulông phải
- được vặn chặt vào động cơ với chiều sâu ít nhất bằng 1,5 lần đường kính bulông để đảm bảo an toàn vì động cơ khá nặng, có thể gây chờn ren bulong va roi trong qua trình nâng nếu lắp bulông không đảm bảo yêu cầu an toàn này -
2 Dùng cần cẩu máy hoặc balăng tay để nâng động cơ lên và kéo về phía
trước ra khỏi hộp số hoặc bộ biến mố Hộp số hoặc bộ biến mô nằm lại trên giá xe
3 Dat dong co xuống sàn với sự chống đỡ cần thận hoặc lấp động cơ lên giá ˆ
tháo để phục vụ công đoạn tháo rời các chỉ tiết tiếp theo Ghi chú: Đối với một số loại xe, đặc biệt là xe du lịch, người ta có thể đưa cả cụm liền động cơ và hộp số ra khỏi xe, sau đó mới tháo hộp số ra khỏi: động cơ ở
ngoài Cách này tuy khối lượng nâng nặng hơn và khi đưa cụm động cơ - hộp số ra ngoài có thể khó hơn, dễ gây va chạm ở khoang máy nhưng việc tháo hộp SỐ ra 'khỏi động cơ được thực hiện ở ngoài sẽ dễ dàng hơn, nhất là đối với các xe sử dụng hộp số tự động Việc tháo hộp SỐ ra khỏi động cơ được thực hiện theo quy trình giới thiệu ở mục 3.3.4 dưới đây
3.3.4 Công việc sau khi đưa cụm động cơ - hộp số ra khỏi xe
Tháo hộp số và bộ ly hợp (hoặc hộp biến mô) ra khỏi động cơ Với các xe sử
dụng hộp số điều khiển bằng tay thì luôn có bộ ly hợp cơ khí, còn đối với các xe SỬ dụng hộp số tự động thì hộp số tự động đóng luôn vai trò ngắt nối và truyền động
Do vậy, quy: trình tháo các hộp số này ra khỏi động cơ có sự khác nhau
Quy trình tháo hộp số và bộ ly hợp ra khỏi động c‹ cơ của các xe sử dụng hộp số
điều khiển bằng tay được thực hiện như sau: ˆ
1 Tháo các bulông nối hộp số với hộp bánh đà, sau đó rút thẳng hộp số ra
khỏi động cơ Chú ý, khi tháo các bulông phải kê động cơ và hộp số sao cho chúng
vẫn nam 6 vị trí lắp để tránh làm hỏng lỗ then hoa của các đĩa aly hợp khi hộp số gây uốn đối với trục then hoa nối với bộ ly hợp
35“
Trang 362 Tháo các bulông nối hộp bánh đà với thân động cơ rồi cẩn thận tháo hộp
bánh đà ra Chú ý không làm hỏng cần điều khiển bộ ly hợp
3 Nới lỏng dần dần và đều các bulông lắp vỏ bộ ly hợp lên bánh đà và tháo
bộ ly hợp khỏi bánh đà Chú ý, đánh đấu vị trí lắp giữa vỏ bộ ly hợp và bánh đà để khi lắp lại vẫn đảm bảo hệ thống cân bằng
Quy trình tháo hộp số tự động ra khỏi động cơ của các xe sử dụng hộp số điều khiển tự động được thực hiện như sau:
1 Xả dầuở trong hộp số
2 Tháo nắp bộ biến mô khối thân hộp số
3 Tháo các bulông hoặc đai ốc lắp bộ biến mô với đĩa chủ động Chú ý đánh dấu vị trí lắp giữa chúng để khi lắp lại vẫn đảm bảo được sự cân bằng
4 Tháo các bulông lắp thân hộp số với thân máy và rút hộp số ra Chú ý giữ -
bộ biến mô nằm trong thân hộp số để tránh va đập gây hư hỏng
3.4 THÁO RỜI CÁC CỤM VÀ CHI TIẾT CỦA ĐỘNG CƠ
Khi tháo rời các chi tiết của động cơ cũng phải tuân thủ những quy trình tháo ˆ
nhất định đối với các động cơ Trong quá trình tháo nên kết hợp quan sát để nhận -
biết các chi tiết bị mài mòn hoặc hư hỏng, đồng thời xác định nguyên nhân dẫn
đến tình trạng động cơ làm việc không bình thường đã được chẩn đoán trước khi tháo Điều này giúp cho người thợ một mặt dự kiến sớm được phương án sửa chữa, mặt khác khẳng định được việc phán đoán các hư hỏng của động Cơ trước lúc tháo có chính xác không, từ đó giúp họ có thêm kinh nghiệm để về sau có thể phán đoán chính xác các hư hỏng của động cơ và quyết định phương án sửa chữa trước khi tháo máy Động cơ được lắp trên giá tháo hoặc đặt trên sàn xưởng và kê chèn cẩn thận ở các tư thế thích hợp để thực hiện công việc tháo được thuận lợi và
an toàn Quy trình chỉ tiết để tháo rời động cơ cũng được các nhà chế tạo cung © cấp trong tài liệu hướng dẫn sửa chữa cho các đại lý bán xe hoặc các xưởng sữa chữa do họ uỷ nhiệm Quy trình chung bao gồm các bước sau:
3.4.1 Các bước công việc tháo ở phía nắp xilanh ˆ
Để động cơ đặt ở vị trí đứng và thực hiện các công việc theo trình tự sau:
1 Lap động cơ lên giá tháo hoặc kê, chèn động cơ trên sàn nhà xưởng
2 Xã nước và đầu nếu công việc này chưa được làm ở trên xe Khi xả dầu
nên kết hợp kiểm tra xem dầu xả ra có gì khác thường không để có thể xác định hư
hong, vi du xem dầu có lẫn nước Tung, có nhiều mạt kim loại, dat cat khéng, dau
.3 Tháo bộ chia điện và các dây điện cao áp nếu việc này chưa được thực hiện
Ở trên xe.
Trang 374, Tháo ‹ các 'bugi, ‘chu ý kết hợp kiểm tra luôn n bugi bing mat dé đánh giá SƠ 5
sẽ bộ đặc điểm làm việc của động cơ trước đó `
5 Tháo bộ lọc đầu, bơm nhiên liệu Và CÁC đường ống
6 Tháo bộ chế hoà khí đối với động CƠ xăng nếu việc này chưa được thực
hiện ở trên xe
7 Tháo bơm nước, các dây đai, ống nối và các chỉ tiết liên quan không thuộc -
cụm ống nạp xem có hiện tượng hỏng hóc gì Không, vi du hiện tượng nứt, vỡ cụm
ống nạp hay rách gioăng và rò nước qua đó v.v
10 Tháo cụm ống xả và kiểm tra sơ bộ các chỉ tiết đã được tháo ra
1 1 Tháo nắp chụp trên nap xilanh (nap chup giàn xupáp)
12 Tháo giàn cần bẩy trên nap ‘xilanh va.cdc ống dẫn dấu bôi trơn giàn cần bẩy Chú ý, nới lỏng bulông
đều và đối xứng từ hai đầu vào:
giữa giàn (hình 3.4-1) để tránh
Buléng lap giàn cần bẩy trên nắp: xilanh
© Trục giàn cần bẩy: ` — ` Đầu máy
sự biến dạng do ứng suất ¬ - ¬ \ oo —>
phát hiện các hư hỏng thấy rõ 7 n4 8 3 I
O một số loại động cơ, độ dài Hinh 34-1 Trình tự tháo các bulông lắp trục giần ‹ cò mổ
đữa đẩy có thể khác nhau đối _ trên nắp xilanh
ẨÖVỚI các xilanh khác nhau,
trong trường hợp này nên đánh dấu thứ tự r để Sau u này lap lại không bị lúng túng
14 Đối với các động CƠ CÓ kết cấu trục cam đặt trên nắp xilanh, tháo bánh rang cam, nap 6 truc cam, truc cam và bạc hoặc vòng bị Lắp nắp ổ lại trên nắp xilanh để tránh thất thoát hoặc lẫn lộn giữa các 6
.15 Tháo nắp xilanh khỏi thân máy Chú ý, khi tháo nới lỗng các bulông dần dần và đều theo thứ tự đối xứng từ hai đầu vào giữa để tránh biến đạng nắp xilanh
_ do ứng suất, ví dụ nới bulông và đai ốc nap xilanh theo trình tự như hình 3.4-2, sau
đồ nâng đều và thẳng nắp xilanh lên rồi nhấc ra Nếu nắp xilanh bị dính chặt vào thân máy qua gioăng đệm (gioăng quy lát) thì xiết bulông kích ở trên nắp mát để
Trang 38tách nắp xilanh khỏi thân
máy rồi nhấc ra, không dùng Buiông kích Bulông - bắt
“tudcnovit bẩy vào mặt lấp „ HẾP xilanh nắp xilanh
ghép và gioăng đệm
16 Đối với động cơ có
kết cấu trục cam đặt trên
con đội đáy bằng, có thể Tướng đầu máy——?>
tháo bằng cách rút lên theo Hình 3-4-2 Trình tự nới lỏng các bulong nắp xilanh khi tháo
chiều đữa đẩy trước khi tháo
trục cam Còn đối với con đội hình nấm, phải chờ tháo trục cam trước rồi đẩy con đội xuống để tháo ra
17 Sau khi tháo nắp xilanh khỏi thân máy, tháo xupáp và kiểm tra sơ bộ khu vực buồng cháy trên nắp xilanh và kiểm tra xilanh, xupấp bằng mắt để phát hiện
các hư hỏng bất thường Nên tháo xupáp bằng vam chuyên dùng để tránh tai nan vi’
nếu dùng đòn bẩy hoặc búa có thé gay tai nạn do bat 1d xo
3.4.2 Các bước công việc tháo ở phía đầu động cơ
1 Tháo êcu răng sói đầu trục khuỷu, sau đó tháo puli hoặc bộ giảm chấn (nếu có) ra khỏi đầu trục Khi tháo puli phải sử dụng vam chuyên dùng để kéo puli rạ, không được dùng búa Để tránh trục khuỷu bị xoay khi tháo, có thể dùng tuôcnovit
hăm vào răng bánh đà
2 Tháo nắp hộp truyền động bánh răng (hoặc bộ truyền xích) dẫn động trục cam ở đầu trục khuỷu Với một số động cơ, có thể phải tháo cacte trước rồi mới
tháo được nắp hộp truyền động này
3 Tháo vách chắn đầu đầu trục khuẩn: và ghi nhớ hướng lap dé sau nay lap lai
khong bi nhầm
—4 Tháo các bộ phận căng xích (hoặc đai) của hệ thống truyền động nếu có
5 Tháo xích hoặc đai dẫn động trục cam Có thể phải tháo bánh răng cam trước rồi mới tháo được xích Chú ý, kết hợp kiểm tra sơ bộ các chỉ tiết bang mat
thường để phát hiện các hư hỏng bất thường
6 Tháo bánh răng trục khuỷu nếu có thể, khi tháo phải dùng vam chuyên dùng Trong nhiều trường hợp, bánh Tăng trục khuỷu có thé duoc tháo sau khi tháo trục khuýu ra khỏi động CƠ
7 Tháo các trục và bánh răng dẫn động các bộ phận khác nếu có
8 Tháo trục cam khỏi động cơ bằng cách tháo bulông giữ bích chặn rồi rút trục cam ra ©
9 Tháo các con đội bằng cách đẩy chúng xuống dưới rồi lấy ra
38
Trang 39
3.4.3 Câc bude « cong viĩc thâo ở phía cacte động cơ
_ Sau khi thực hiện câc công VIỆC thâo nói ở trín, xoay nghiíng động cơ trín giâ hoặc chỉn cẩn thận trín săn vă thực hiện câc công việc còn lại theo trình tự sau đđy:
1 Thâo cacte đầu vă kiểm tra câc chất lắng cặn ở đđy cacte xem có gì bất thường để đânh giâ sơ bộ tình trạng lăm việc của động cơ trước đó Ví dụ, nếu đây cacte chứa nhiều mạt kim loại hoặc có mảnh vụn kim loại thì có thể phỏng
đoân có hiện tượng tróc hoặc vỡ bĩ mặt câc chỉ tiết nhự con đội, bạc câc ổ trục,
_pit-tông v.v Có thể căn cứ văo đặc điểm của mạt kim loại để phân đoân được chi tiết năo bị tróc vỡ như đê nói-ở trín Nếu đây cacte chứa nhiều đất, cât lă do bầu lọc dầu mat tac dung
2 Thâo bơm dầu vă phao: lọc Việc năy c có thể bao gồm ‹ cả thâo hệ thống trục dẫn động bơm đầu
3 Kiếm tra ký hiệu vă đânh dấu SỐ thứ t tự của câc: thanh truyền vă câc nắp ổ,
._ chính trục khuỷu trước khi thâo để trânh nhầm lẫn vị trí của chúng khi lắp lại: Với
thợ chưa quen, nín quan sât kỹ cả \ chiíu lắp của thanh truyền vă nếu cần thì đânh -
dấu lại trước khi thâo _ Si
4 Lăm sạch gờ muội than trín thănh xilanh ở khu vực gần mặt mây để chuẩn
bị thâo nhóm pit-tông - thanh truyền Việc năy được thực hiện bằng câch quay trục
khuỷu cho pit-tông đi xuống, sau: đó kiểm tra khủ vực điểm chết trín rồi lấy giấy râp đânh sạch
5 Thâo câc nhóm thanh truyền - pit-tông khỏi động cơ Khi cần thao nl nhóm hi thanh truyền năothì quay trục khuỷu cho khuỷu trục của thanh truyền đó quây'
xuống dưới rồi thâo nắp đầu to thanh truyền, sau đó đẩy thanh truyền từ phía _ cacte lín phía mặt mây vă rút nhóm thanh truyền - pit-tông ra khỏi động cơ ở phía
mặt mây Có thể dùng búa gỗ gõ nhẹ để đẩy pit-tông ra Sau khi thâo thanh truyền
khỏi động cơ cần lắp câc bạc lót vă nắp đầu to văo thđn thanh truyền để trânh bị
nhầm lẫn nắp vă bạc của thanh truyền năy với thđn thanh truyền kia Đđy lă điều không cho phĩp trong sửa chữa Kiểm tra sơ bộ câc chi tiết vă ghi nhớ câc hong
hóc bất thường
6 Thâo xĩcmăng, chốt pit-tông vă kiểm tra sơ ơ bộ câc chi tiết Nếu câc chi tiết
được sử dụng lại thì phải để đúng bộ, trânh nhầm lẫn câc chi tết của nhóm năy
sang nhóm khâc
7 'Thầ bânh đă hoặc đĩa chủ động dẫn hộp số tự động Đôi khi bânh đă chưa
cần thâo khỏi trục khuỷu lúc năy, nố được thâo khỏi động cơ cùng trục khuyu để có
thể đặt trục khuỷu ở tư thế đứng bằng bânh đă giúp cho việc kiểm tra trục khuyu
thuận lợi hờn
8 Thâo câc nắp ổ trục khuỷu cùng bạc lót vă nđng trục khuỷu ra khỏi động cơ
39
Trang 409 Tháo nửa bạc trên và lấp các nắp ổ lại, đánh dấu các bạc theo bộ và theo - | thứ tự ổ trục để sau này nếu đùng lại thì lúc lắp không bị nhầm lẫn giữa các ổ
10 Tháo các phớt chấn đầu đuôi trục trên thân máy
11., Tháo các nút trên thân máy, bao gồm các nút bao kín đường dầu và "bộ phận lắp ghép
12 Tháo các bạc ổ trục cam nếu cần thay Bạc ổ trục cam là bạc liền và ghép căng trên thân ổ, không phải bạc hai nửa như bạc ổ trục khuỷu nên được tháo bằng
dụng cụ chuyên dùng như trục vam Bac cam sau khi tháo ra khỏi ổ không lắp lại
để dùng tiếp được vì khi tháo chúng đã bị biến dạng do ghép căng
13 Kiểm tra lại thân máy và tháo các chi tiết phi kim loại còn lại trên thân
may ra
Như vậy, động cơ đã được tháo rời hoàn toàn
3.4.4 Tháo để sửa chữa động cơ ngay trên xe
- Trong trường hợp yêu cầu chỉ sửa chữa một vài bộ phận hoặc thay thế một số
chỉ tiết trong động cơ thì có thể thực hiện công việc sửa chữa ở ngay trên xe mà
không cần phải tháo động cơ ra khỏi xe Trong trường hợp này, động cơ chỉ cần
được tháo các chi tiết và bộ phận cần sửa chữa hay thay thế mà không cần phải tháo toàn bộ động cơ như đã nói ở trên Công việc được thực hiện khi động cơ ở trạng thái nguội hoàn toàn, tránh tháo bất kỳ chỉ tiết nào khi động cơ vừa hoạt động xong vẫn còn ở trạng thái nóng
- Nếu chỉ kiểm tra và sửa chữa xupáp thì chỉ cần tháo nắp xilanh rồi đưa xuống
để sửa chữa ở đưới Trước khi tháo phải xả nước khỏi hệ thống làm mát rồi thực hiện tháo nắp xilanh theo các bước như đã nói ở trên Chú ý, không làm thay đổi góc dẫn động giữa trục khuýu và trục cam (góc phối khí) Ví dụ, nếu trục cam ở trên nắp xilanh thì khi tháo bánh răng cam ra khỏi trục cam để tháo nắp xilanh, hãy
cứ để nguyên bánh răng cam ăn khớp với xích
- Nếu cần thay xécmăng hoặc pit-tông hay bạc lót ổ trục cần phải kích nâng xe lên, xả dầu, tháo cacte rồi sau đó thực hiện tháo các chi tiết cần sửa chữa hay thay thế trong động cơ theo các bước như đã nói ở trên _
3.5 RỬA VÀ LÀM SẠCH CHI TIẾT
Tẩy rửa nhằm đảm bảo vệ sinh công nghiệp chỗ làm việc, nâng cao năng suất |
và chất lượng quá trình sửa chữa Chất lượng công việc tẩy rửa ảnh hưởng trực tiếp tới chất lượng quá trình kiếnh tra, phân loại và gia công cơ khí sửa chữa chỉ tiết cũng như sự làm việc bình thường của động cơ sau sửa chữa Cặn bẩn có thể từ rác rudi, dat cát, dầu mỡ, các chất hoá học, trầm (ích cacbon, cặn khoáng, chất ăn mon,
các lớp sơn cũ v.v bám dính và keo lại trên bề mặt ngoài của xe, cụm, tổng thành cũng như trên bề mặt chi tiết, gây khó khăn cho việc kiểm tra, phân loại, gia công 40