NỘI DUNGI, Năng lực chủ thể của cá nhân trong quan hệ pháp luật dân sự Năng lực chủ thể của cá nhân được tạo thành bởi năng năng lực pháp luật và năng lực hành vi của cá n
Trang 1BÀI TẬP HỌC KỲ MÔN: LUẬT DÂN SỰ
ĐỀ BÀI: 05
Hà Nội, tháng 5 năm 2019
1
Trang 2MỞ ĐẦU
Cuộc sống xung quanh là tổng hòa các mối quan hê ̣giữa con người với con người, trong đó con người phụ thuôc,̣ ràng buôc ̣với nhau tất cả các quyền và nghĩa vụ liên quan để đáp ứng nhu cầu của mình Viêc ̣xác lâp ̣giao dịch dân sự phát sinh từ đó và luôn tồn tại hiêṇhữu Pháp luâṭcho phép mọi người tự do giao dịch dân sự hợp pháp với nhau, không hạn chế quyền và nghĩa vụ Trong đó, cá nhân là chủ thể đầu tiên của các quan hệ xã hội, là “tổng hòa các quan
hệ xã hội” Cá nhân – con người là trung tâm của các chính sách kinh tế, xã hội mà Đảng và Nhà nước ta đã và đang thực hiện với mục đích phục vụ con người, vì con người Trong các quan hệ tài sản và quan hệ nhân thân mà luật dân sự điều chỉnh thì cá nhân là chủ thể nguyên sinh, đầu tiên và các chủ thể khác tham gia vào các quan hệ dân sự cũng thông qua hành vi của con người Để tham gia vào các quan hệ xã hội nói chung và quan hệ dân sự nói riêng, cá nhân phải có tư cách chủ thể để tham gia vào các quan hệ dân sự Thực tiễn giải quyết tại Tòa án cho thấy, việc vi phạm điều kiện về năng lực chủ thể trong các giao dịch dân sự là một vấn đề gây nhiều tranh cãi
Chính vì muốn tìm hiểu thêm về vấn đề này cũng như củng cố kiến thức
đã được học, em xin chọn đề số 05: “ Phân tích năng lực chủ thể của cá
nhân, xác định các trường hợp giao dịch vô hiệu do vi phạm điều kiện về năng lực chủ thể và cho ví dụ minh họa đối với mỗi nội dung phân tích, xác định” Do vốn kiến thức còn hạn hẹp, em rất mong nhận được sự chỉ dẫn
chi tiết của thầy cô tổ bộ môn Em xin chân thành cám ơn !
Trang 3NỘI DUNG
I, Năng lực chủ thể của cá nhân trong quan hệ pháp luật dân sự
Năng lực chủ thể của cá nhân được tạo thành bởi năng năng lực pháp luật và năng lực hành vi của cá nhân đó
1, Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân
1.1, Khái niệm năng lực pháp luật dân sự của cá nhân
Theo khoản 1 điều 16 BLDS năm 2015, “Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân là khả năng của cá nhân có quyền dân sự và nghĩa vụ dân sự” Có thể thấy, năng lực pháp luật dân sự của cá nhân là khả năng, tiền đề, điều kiện cần thiết để công dân có quyền, có nghĩa vụ; là thành phần không thể thiếu được của cá nhân với tư cách chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự, là một mặt của năng lực chủ thể
1.2, Đặc điểm của năng lực pháp luật của cá nhân
Thứ nhất, năng lực pháp luật dân sự của cá nhân được Nhà nước ghi
nhận vào trong các văn bản pháp luật mà nội dung của nó phụ thuộc vào các điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội; vào hình thái kinh tế - xã hội tại thời điểm lịch sử nhất định Năng lực pháp luật dân sự đóng vai trò thiết yếu của cá nhân, tuy nhiên nó không tồn tại hiển nhiên, mà do mỗi nhà nước ghi nhận và quy định cho công dân của nhà nước đó Bởi vậy, năng lực pháp luật dân sự của công dân mang bản chất giai cấp Đặc biệt, năng lực dân sự của mỗi nước khác nhau, thậm chí trong cùng một nước, vào những thời điểm lịch sử khác nhau thì cũng được quy định khác nhau
Thứ hai, mọi cá nhân đều bình đẳng về năng lực pháp luật Năng lực dân
sự của cá nhân không bị hạn chế bởi bất cứ lí do nào (độ tuổi, địa vị xã hội, giới tính, tôn giáo, dân tộc, ) Mọi cá nhân đều có khả năng hưởng quyền như nhau và gánh chịu nghĩa vụ như nhau Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân không đồng nghĩa với quyền dân sự chủ quan của cá nhân mà chỉ là tiền
Trang 4đề để cho công dân có các quyền dân sự cụ thể Tuy nhiên, chủ thể không có khả năng hưởng quyền thì cũng không thể có quyền dân sự cụ thể được
Thứ ba, năng lực pháp luật dân sự của cá nhân không thể bị hạn chế, trừ
trường hợp do pháp luật quy định Và có hai trường hợp bị hạn chế theo quy định của pháp luật như sau:
_ Văn bản pháp luật chung quy định một loại người nào đó không được phép thực hiện các giao dịch dân sự cụ thể
_ Quyết định đơn hành của cơ quan nhà nước có thẩm quyền
Tuy vậy, về bản chất, đây không phải là tước bỏ năng lực pháp luật dân sự mà chỉ là tạm đình chỉ khả năng này – khả năng biến quyền khách quan thành quyền chủ quan của chủ thể riêng biệt
Thứ tư, tính đảm bảo của năng lực pháp luật dân sự
Khả năng có quyền và nghĩa vụ vẫn chỉ tồn tại là những quyền khách quan mà pháp luật quy định cho các chủ thể Để biến những “khả năng” này thành các quyền dân sự cụ thể, cần phải có những điều kiện khách quan là những điều kiện kinh tế, xã hội Nhà nước tạo mọi điều kiện để đảm bảo năng lực pháp luật dân sự của nhân dân được thực hiện, biến những khả năng ấy trở thành thực tế Tạo ra hành lang pháp lí thông thoáng, mềm dẻo là tạo điều kiện cho khả năng biến năng lực pháp luật của cá nhân thành các quyền dân sự cụ thể
1.3, Nội dung năng lực pháp luật dân sự của cá nhân
Nội dung của năng lực pháp luật dân sự của cá nhân phụ thuộc vào điều kiện chính trị, kinh tế, xã hội trong những điều kiện lịch sử nhất định Những quyền dân sự của cá nhân được ghi nhận ở rất nhiều văn bản pháp luật khác nhau nhưng quan trọng nhất vẫn là Hiến Pháp 2013 và được cụ thể hóa trong BLDS 2015 Điều 17 BLDS năm 2015 quy định nội dung năng lực pháp luật dân sự của cá nhân, những quyền dân sự cụ thể của cá nhân được ghi nhận trong tất cả các phần của BLDS Có thể chia quyền dân sự của cá nhân thành
ba nhóm chính:
Trang 5_ Quyền nhân thân không gắn với tài sản Đặc điểm quan trọng nhất trong các
quy định về quyền nhân thân trong BLDS năm 2015 là xác nhận lại các quyền nhân thân đã được ghi nhận trong các văn bản pháp luật trước đó và các quyền nhân thân lần đầu tiên được ghi nhận (quyền về đời sống riêng tư, bí mât cá nhân, bí mật gia đình, chuyển đổi giới tính, quyền nhân thân trong hôn nhân và gia đình,…) Ngoài ra, bảo vệ, tôn trọng quyền nhân thân còn được ghi nhận là một nguyên tắc quan trọng của BLDS
_ Quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản, quyền thừa kế Cụ thể hóa
các quy định của Hiến pháp năm 2013, BLDS năm 2015 quy định tài sản thuộc sở hữu tư nhân không bị hạn chế về số lượng và giá trị, bao gồm thu nhập hợp pháp, của cải để dành, nhà ở, tư liệu sản xuất, tư liệu sinh hoạt, vốn, hoa lợi, lợi tức và các tài sản hợp pháp khác Cá nhân chỉ bị hạn chế quyền sở hữu đối với các tài sản mà pháp luật quy định không thuộc quyền sở hữu tư nhân
_ Quyền tham gia vào quan hệ pháp luật dân sự và có các quyền, nghĩa vụ phát sinh từ quan hệ đó Tham gia vào các quan hệ dân sự thông qua các giao
dịch dân sự (hành vi pháp lí đơn phương hoặc hợp đồng) là biện pháp quan trọng và thông dụng nhất làm phát sinh các quyền và nghĩa vụ dân sự Các quyền này được thể hiện trong các nguyên tắc của luật dân sự “tự do, tự nguyện cam kết” (Diều 3 BLDS) và được thể hiện cụ thể, chi tiết trong Phần thứ ba của BLDS Ngoài ra, nghĩa vụ dân sự của các chủ thể còn phát sinh từ các căn cứ khác (bồi thường thiệt hại, thực hiện công việc không có ủy quyền…)
1.4, Bắt đầu và chấm dứt năng lực pháp luật dân sự của cá nhân “Năng
lực pháp luật dân sự của cá nhân có từ khi người đó sinh ra và
chấm dứt khi người đó chết” (khoản 3 – điều 16 BLDS) Với quy định này, pháp luật thừa nhận năng lực pháp luật dân sự của cá nhân là thuộc tính gắn liền với cá nhân suốt đời và không bị ảnh hưởng bởi trạng thái tinh thần, tuổi tác, hoàn cảnh, tài sản,…
2, Năng lực hành vi dân sự của cá nhân
Trang 62.1, Khái niệm năng lực hành vi dân sự của cá nhân
Tư cách chủ thể chỉ đầy đủ hoàn thiện độc lập khi họ có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, ngoài năng lực pháp luật dân sự vốn là thuộc tính được pháp luật ghi nhận cho mọi cá nhân “Năng lực hành vi dân sự của cá nhân là khả năng của cá nhân bằng hành vi của mình xác lập, thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự” - Điều 19 BLDS năm 2015 Nếu năng lực pháp luật dân sự là tiền đề là quyền dân sự khách quan của chủ thể thì năng lực hành vi là khả năng hành động của chính chủ thể để tạo ra các quyền, thực hiện quyền và nghĩa vụ của họ Ngoài ra, năng lực hành vi dân sự còn bao hàm cả năng lực tự chịu trách nhiệm dân sự khi vi phạm nghĩa vụ dân sự Cùng với năng lực pháp luật, năng lực hành vi dân sự là thuộc tính của cá nhân, tạo thành tư cách chủ thể độc lập của cá nhân trong các quan hệ dân sự
2.2, Mức độ năng lực hành vi dân sự của cá nhân
Nếu pháp luật quy định năng lực pháp luật của mỗi cá nhân là như nhau thì lại xác định năng lực hành vi của cá nhân không giống nhau Căn cứ vào khả năng của cá nhân về nhận thức và điều khiển được hành vi và hậu quả của hành vi, pháp luật phân biệt mức độ năng lực hành vi dân sự của cá nhân Độ tuổi của cá nhân được xem là tiêu chí chung nhất để phân biệt mức độ năng lực hành vi của cá nhân
2.2.1, Năng lực hành vi đầy đủ
Người thành niên là người từ đủ 18 tuổi trở lên có năng lực hành vi dân sự đầy đủ trừ trường hợp bị tuyên bố mất năng lực hành vi hoặc hạn chế năng lực hành vi dân sự Những người này có đầy đủ tư cách chủ thể, toàn quyền tham gia vào quan hệ dân sự với tư cách là chủ thể độc lập và tự chịu trách nhiệm về những hành vi do họ thực hiện Những người từ đủ 18 tuổi trở lên được suy đoán là có năng lực hành vi dân sự đầy đủ Họ chỉ bị mất năng lực hành vi hoặc bị hạn chế năng lực hành vi khi có quyết định của tòa án về việc hạn chế hoặc mất năng lực hành vi dân sự
2.2.2, Năng lực hành vi một phần
Trang 7Người có năng lực hành vi một phần không đầy đủ là người chỉ có thể xác lập, thực hiện quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm trong một giới hạn nhất định do pháp luật dân sự quy định
Theo điều 21 BLDS năm 2015, cá nhân dưới 18 tuổi là những người có năng lực dân sự một phần Họ có thể bằng hành vi của mình tạo ra quyền và phải chịu những nghĩa vụ khi tham gia các giao dịch để thỏa mãn những nhu cầu thiết yếu hàng ngày phù hợp với lứa tuổi Người đại diện của những cá nhân ở lứa tuổi này có thể yêu cầu tuyên bố những giao dịch do người chưa thành niên thực hiện mà không có sự đồng ý của họ là vô hiệu và tòa án xem xét trong những trường hợp cụ thể để chấp nhận yêu cầu đó theo quy định tại điều 125 BLDS năm 2015 Nếu những người đại diện không yêu cầu tòa án xem xét tính hiệu lực của những người của những giao dịch này thì những giao dịch đó mặc nhiên được coi là có hiệu lực Những người từ đủ 15 tuổi đến 18 tuổi có thể tự mình xác lập, thực hiện các giao dịch trong phạm vi tài sản riêng mà họ có trừ giao dịch dân sự liên quan đến bất động sản, động sản phải đăng ký giao dịch và giao dịch dân sự khác theo quy định của pháp luật được người đại diện theo pháp luật đồng ý
2.2.3, Mất năng lực hành vi dân sự sự và hạn chế năng lực hành vi dân sự
Thông thường, năng lực hành vi của cá nhân chấm dứt cùng với sự chấm dứt của năng lực pháp luật của cá nhân đó (chết hoặc tòa án tuyên bố là đã chết) Tuy nhiên người thành niên có thể bị tuyên bố mất năng lực hành vi khi có những điều kiện, với những trình tự thủ tục nhất định Nếu cá nhân bị tâm bị bệnh tâm thần hoặc các bệnh khác mà không thể nhận thức và làm chủ được các hành vi của mình thì bị coi là mất năng lực hành vi dân sự (điều 22 BLDS năm 2015) Trên cơ sở kết luận của tổ chức giám định có thẩm quyền, tòa án có thể tuyên bố một người bị mất năng lực hành vi theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan Mọi giao dịch dân sự của những người này
do người đại diện của họ xác lập, thực hiện Trong trường hợp vì những nguyên nhân mà do đó họ bị tuyên bố là mất năng lực hành vi nhưng nay
Trang 8không còn tồn tại nữa thì họ hoặc những người có quyền lợi ích liên quan có quyền yêu cầu tòa án hủy bỏ quyết định tuyên bố mất năng lực hành vi
Năng lực hành vi của người đã thành niên có thể bị hạn chế trên cơ sở những điều kiện và thủ tục được quy định tại điều 24 BLDS năm 2015 Năng lực hành vi của người thành niên bị hạn chế khác với năng lực hành vi một phần của người chưa thành niên từ đủ 6 tuổi đến dưới 18 tuổi, mặc dù về hình thức có vẻ giống nhau Năng lực hành vi của người từ đủ 6 tuổi đến dưới 18 tuổi mặc nhiên được công nhận là năng lực hành vi đầy đủ khi đạt độ tuổi nhất định, còn việc hạn chế năng lực hành vi phải thông qua tòa án theo trình tự tố tụng dân sự và được áp dụng với những người nghiện ma túy và các chất kích thích dẫn đến hậu quả phát tán tài sản gia đình
Nghiện ma túy và các chất kích thích khác phải là nguyên nhân dẫn đến phát tán tài sản của gia đình và việc yêu cầu tòa án tuyên bố hạn chế năng lực hành vi không chỉ thuộc những người có quyền, lợi ích liên quan mà quan trọng hơn là các cơ quan hoặc tổ chức hữu quan cũng có quyền yêu cầu tòa án Điều này tạo điều kiện tốt hơn để quy định này được thực thi về mặt thực tế mà không chỉ về pháp lí
Căn cứ vào tình trạng thực tế và theo yêu cầu của những người có quyền lợi ích liên quan, tổ chức hữu quan, tòa án có thể ra quyết định tuyên bố một người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự Người đại diện theo pháp luật của người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự và phạm vi đại diện do tòa án quyết định Giao dịch dân sự liên quan đến tài sản của người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự phải có sự đồng ý của người đại diện theo pháp luật trừ giao dịch nhằm phục vụ nhu cầu sinh hoạt hàng ngày
Khi không còn căn cứ tuyên bố một người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự thì theo yêu cầu của chính người đó hoặc của người có quyền, lợi ích liên quan cơ quan, tổ chức hữu quan, tòa án ra quyết định hủy bỏ quyết định tuyên bố hạn chế năng lực hành vi dân sự
2.2.4, Người có khó khăn trong nhận thức và làm chủ hành vi
Trang 9Đây là chủ đề mới được ghi nhận tại điều 23 BLDS năm 2015 Nếu sau này không có các căn cứ trên và có kết luận giám định pháp lý tâm thần là họ có khả năng nhận thức và điều khiển hành vi một cách bình thường thì tòa sẽ
ra quyết định hủy bỏ quyết định tuyên bố người có khó khăn trong nhận thức và làm chủ hành vi
II, Giao dịch dân sự và các trường hợp giao dịch dân sự vô hiệu do vi phạm điều kiện về năng lực chủ thể của cá nhân 2.1, Giao dịch dân sự
2.1.1, Khái niệm và ý nghĩa của giao dịch dân sự
Giao dịch dân sự là một sự kiện pháp lý (hành vi pháp lý đơn phương hoặc đa phương - một bên hoặc nhiều bên) làm phát sinh hậu quả pháp lý Tuỳ từng giao dịch cụ thể mà làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quan hệ dân sự Trong giao dịch dân sự có ý chí và thể hiện ý chí của chủ thể tham gia giao dịch Thiếu sự thống nhất này, giao dịch dân sự có thể bị tuyên bố là vô hiệu
Mục đích của giao dịch chính là hậu quả phát lý phát sinh từ giao dịch mà các bên mong muốn đạt được khi xác lập giao dịch Cũng có những trường hợp hậu quả pháp lý phát sinh không phù hợp với mong muốn ban đầu (với mục đích pháp lý) Điều đó có thể xảy ra do một trong hai nguyên nhân chính Nguyên nhân thứ nhất là khi giao dịch đó là bất hợp pháp Thứ hai là
do chính các bên không tuân thủ nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch có hiệu lực Mục đích pháp lý của giao dịch khác với động cơ xác lập giao dịch Mục đích luôn luôn được xác định còn động cơ có thể được xác định hoặc không Tuy nhiên, động cơ của giao dịch có thể được các bên thoả thuận và mang ý nghĩa pháp lý Trong trường hợp này động cơ đã trở thành điều khoản của giao dịch, là một bộ phận cấu thành của giao dịch đó (như cho vay tiền để sản xuất -mục đích của người vay là quyền sở hữu số tiền nhưng họ chỉ được dùng tiển đó để sản xuất mà không được sử dụng vào hoạt động khác)
2.1.2, Phân loại giao dịch dân sự
Trang 10Tất cả các giao dịch dân sự đều có điểm chung tạo thành bản chất của giao dịch: Đó là ý chí của chủ thể tham gia giao dịch Căn cứ vào các bên tham gia vào giao dịch cớ thể phần biệt giao dịch dân sự thành hai loại: Hợp đồng và hành vi pháp lý đơn phương
2.1.2.1,Hợp đồng dân sự
Hợp đồng dân sự là giao dịch trong đó thể hiện ý chí của hai hay nhiều bên nhằm làm phát sinh, thay đổi chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự (xem Phần thứ ba BLDS năm 2015 - Nghĩa vụ và hợp đồng) Hợp đồng dân sự là loại giao dịch dân sự phổ biển nhất trong đời sống hàng ngày Hợp đồng dân sự là sự thoả thuận ý chí của hai hay nhiều bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự “Thỏa thuận" vừa là nguyên tắc, vừa là đặc trưng của hợp đồng dân sự và được thể hiện trong tất cả các giai đoạn của quan hệ hợp đồng: từ giao kết đến thực hiện hoặc sửa đổi, chân dứt hợp đồng dân sự
2.1.2.2, Hành vi pháp lý đơn phương
Hành vi pháp lý đơn phương là giao dịch trong đó thể hiện ý chí của một bên nhằm làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự Trong nhiều trường hợp hành vi pháp lý đơn phương chỉ phát sinh hậu quả pháp lý khi có nhũng người khác đáp ứng được những điều kiện nhất định do người xác lập giao dịch đưa ra Những người này phải đáp ứng được các điều kiện đó mới làm phát sinh nghĩa vụ của người xác lập giao dịch Hành vi pháp
lý đơn phương là một giao dịch cho nên nội dung và hình thức phải phù hợp với các điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự (Điều 117 BLDS năm 2015)
2.1.2.3, Giao dịch dân sự có điều kiện
Giao dịch có điều kiện là giao dịch mà hiệu lực của nó phát sinh hoặc huỷ
bỏ phụ thuộc vào sự kiện nhất định Khi sự kiện đó xảy ra thì giao dịch phát sinh hoặc huỷ bỏ Sự kiện được coi là điều kiện của giao dịch do chính người xác lập giao dịch định ra (trong hợp đồng thì điều kiện đó do chính các bên